nghiên cứu tác động các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước, Down Jones, dầu thô WTI và giá vàng đến TTCK Việt Nam, dự báo xu hướng thị trường bằng phầm mềm Stata, kết hợp Eviews (đính kèm bộ dữ liệu KTVM, giá dầu, DJIA, câu lệnh và kết quả chạy Stata, Eviews). Phù hợp cho các học viên cao học tham khảo làm LV ThS khi nghiên cứu về TTCK Việt Nam và các yếu tố kinh tế vĩ mô.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG ANH TUẤN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- DỰ BÁO XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã chuyên ngành: 6040201
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh.Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Lanh
Người phản biện 1: TS Nguyễn Vĩnh Hùng
Người phản biện 2: TS Nguyễn Hoàng Hưng
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ TrườngĐại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 09 tháng 04 năm 2019
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Trần Huy Hoàng - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Nguyễn Vĩnh Hùng - Phản biện 1
3 TS Nguyễn Hoàng Hưng - Phản biện 2
4 TS Bùi Hữu Phước - Ủy viên
5 TS Nguyễn Thị Tuyết Nga - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: HOÀNG ANH TUẤN MSHV: 16003841
Ngày, tháng, năm sinh: 04 – 08 – 1974 Nơi sinh: TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng Mã chuyên ngành: 60340201
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - DỰ BÁO XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG.
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
TTCK Việt Nam ra đời và chính thức giao dịch từ T7/2000, đến nay, trải qua hơn
18 năm hoạt động, TTCK đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng trong nền kinh
tế, đặc biệt là nơi tập trung, cung cấp vốn cho nền kinh tế, là một trong những bộphận quan trọng của thị trường tài chính, nơi giúp các nhà đầu tư đến gần hơn vớidoanh nghiệp, nhờ đó các doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn để
mở rộng sản xuất, kinh doanh
Mặc dù vậy, TTCK Việt Nam vẫn được xem là một TTCK non trẻ, rất nhạy cảmtrước các thông tin từ biến động của kinh tế thế giới, giá cả các hàng hóa cơ bảntrên thế giới, các biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước, hành vi và tâm
lý của các nhà đầu tư…
Câu hỏi đặt ra là: có hay không sự tác động giữa các nhân tố vĩ mô trong nước, biếnđộng của TTCK quốc tế, giá dầu mỏ thế giới đến TTCK Việt Nam? Có khả năng dựbáo được xu hướng biến động của TTCK Việt Nam trước các yếu tố trên haykhông?
Trang 4Nhằm giải quyết những câu hỏi trên, đề tài lựa chọn các yếu tố kinh tế vĩ mô nhưlạm phát, cung tiền, lãi suất, chỉ số DJIA và giá dầu WTI và tiến hành đo lường tácđộng của các yếu tố này đến TTCK Việt Nam thông qua chỉ số VN-Index.
Đề tài sẽ thực hiện xây dựng một phương pháp dự báo xu hướng VN-Index, đạidiện cho TTCK Việt Nam trước tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô bằng mô hìnhkinh tế lượng Mục tiêu là có thể áp dụng mô hình trong thực tiễn nhằm dự báo xuhướng VN-Index Thông tin dự báo từ mô hình có thể được xem là một kênh thamkhảo cho nhà đầu tư trong các quyết định đầu tư trên TTCK Việt Nam
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: QĐ 523 / 26.01.2018
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: …./03/2019
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thị Lanh.
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng 03 năm 2019
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký) TRƯỞNG KHOA/VIỆN(Họ tên và chữ ký)
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từquý thầy cô, đồng nghiệp và gia đình Đặc biệt, trong quá trình thực hiện luận vănnày, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Tài chính –Ngân hàng đã tạo mọi điều kiện học tập tốt nhất và giúp đỡ tôi suốt quá trình theohọc tại trường
PGS TS Lê Thị Lanh, người hướng khoa học, đã chỉ dẫn nhiệt tình, luôn tạomọi điều kiện thuận lợi và thường xuyên kiểm tra tiến độ, có những góp ý chuyênmôn trong quá trình tôi thực hiện luận văn
Ban lãnh đạo Tổng công ty Thương mại Kỹ thuật và Đầu tư – CTCP TEC), đặc biệt, TS Huỳnh Đức Trường, TV.HĐQT, Tổng giám đốc PETEC, đã cónhững góp ý, những nhận xét rất hữu ích để tôi hoàn chỉnh luận văn
(PE-Cha mẹ, gia đình của tôi, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập và thực hiện luận văn
Vì thời gian nghiên cứu và kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nêntrong quá trình nghiên cứu luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mongđược sự góp ý quý báu của quý thầy cô và bạn bè
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Đề tài nghiên cứu này đo lường tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô gồm: chỉ sốgiá tiêu dùng (đại diện cho yếu tố lạm phát), cung tiền M2, lãi suất cơ bản và chỉ sốchứng khoán Dow Jones, giá dầu thô WTI tác động đến sự biến động của Thịtrường chứng khoán Việt Nam (đại diện là chỉ số VN-Index) thông qua mô hìnhvector hiệu chỉnh sai số (VECM) và sử dụng mô hình VECM để tiến hành dự báoVN-Index Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong dài hạn, lạm phát có tác động tiêucực đến VN-Index, các yếu tố cung tiền, chỉ số DJIA và giá dầu WTI có tác độngcùng chiều lên VN-Index, yếu tố lãi suất cơ bản có tác động cùng chiều nhưngkhông đáng kể đến VN-Index Kết quả back-testing đối với dữ liệu quá khứ trongmẫu của mô hình VECM cho kết quả đáng tin cậy, trên cơ sở đó đề tài đề xuất sửdụng mô hình VECM để dự báo xu hướng VN-Index trong tuơng lai
Từ khóa: yếu tố kinh tế vĩ mô, DJIA, WTI, chỉ số giá chứng khoán, VN-Index,VAR/VECM, dự báo
Trang 7The aim of this study is to measure the impact of macroeconomic factors to thevolatility of the Vietnam stock market (represented by VN-Index), including con-sumer price index (as inflation), money supply M2, basic interest, Dow Jones stockindex, and WTI crude oil price The study is implemented by the application ofVector Error Correction Model (VECM) and conducted the forecast on VN-Index interm of VECM’s results The research shows that, in the long term, inflation has anegative relationship on VN-Index The money supply, DJIA and WTI have posi-tive relationship with VN-Index The basic interest is not significantly positive re-lated to VN-Index The back-testing result for the historical data in the VECMmodel shows reliable results Thus, there is a recommendation of using VECM toforecast the future VN-Index trend
Keywords: Macroeconomic factors, DJIA, WTI, stock market indices, VN-Index,VAR/VECM, forecast
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫnkhoa học của PGS.TS Lê Thị Lanh Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trongluận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hìnhthức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn vàghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Học viên
Hoàng Anh Tuấn
Trang 9MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
1.6 Kết cấu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VỚI TTCK 6
2.1 Tổng quan về TTCK Việt Nam 6
2.1.1 Khái niệm, vai trò, chức năng của TTCK 6
2.1.2 Công thức tính VN-Index 8
2.1.3 Diễn biến chỉ số VN-Index từ T7/2000 – T6.2018 9
2.2 Lý thuyết nền về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đến TTCK 16
2.2.1 Lý thuyết Thị trường hiệu quả (EMH) 16
2.2.2 Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) 16
2.3 Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến TTCK 17
2.3.1 Tác động của lạm phát đến TTCK 17
2.3.2 Tác động của Cung tiền đến TTCK 18
2.3.3 Tác động của lãi suất đến TTCK 19
2.3.4 Tác động của DJIA đến VN-Index 20
2.3.5 Tác động giá dầu thô đến TTCK 21
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 26
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
Trang 103.4.1 Thống kê mô tả 29
3.4.2 Kiểm định nghiệm đơn vị 29
3.4.3 Xác định độ trễ tối ưu 31
3.4.4 Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen 31
3.4.5 Mô hình nghiên cứu 32
3.4.5.1 Mô hình vector tự hồi quy VAR 32
3.4.5.2 Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM 34
3.4.6 Kiểm định nhân quả Granger Causality Test 34
3.4.7 Phân tích hàm phản ứng xung 35
3.4.8 Phân rã phương sai 35
3.4.9 Dự báo xu hướng thị trường 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 36
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến 37
Hệ số tương quan giữa các biến 38
4.2 Kiểm định nghiệm đơn vị, tính dừng của các biến 39
4.3 Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen 40
4.3.1 Xác định độ trễ tối ưu 40
4.3.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết 40
4.4 Kết quả ước lượng mô hình VECM 42
4.4.1 Kết quả mô hình VECM giai đoạn T7/2000 – T6/2018 42
4.4.2 Kết quả mô hình VECM giai đoạn sau khủng hoảng 2008 43
4.4.3 Kết quả mô hình VECM giai đoạn trước khủng hoảng 2008 45
Hệ số hiệu chỉnh sai số ECT của mô hình 46
4.5 Kiểm định mô hình 47
4.5.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 47
4.5.2 Kiểm định sự ổn định của mô hình 47
4.6 Kiểm định nhân quả Granger 48
4.7 Kết quả hàm phản ứng xung 49
4.8 Phân rã phương sai 50
4.9 Dự báo xu hướng VN-Index 51
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 54
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 56
5.2.1 Đối với các nhà đầu tư 56
5.2.2 Đối với các doanh nghiệp niêm yết và phát hành 58
Trang 115.2.3 Đối với các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng 59
5.2.4 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 60
5.3 Những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 61
5.3.1 Hạn chế của đề tài 61
5.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Tài liệu tiếng Việt 63
Tài liệu tiếng Anh 64
PHỤ LỤC 69
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 105
Trang 12DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Diễn biến chỉ số VN-Index từ T7/2000 - T6/2018 9
Hình 2.2 Tăng trưởng vốn hóa thị trường cổ phiếu 15
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 25
Hình 3.2 Sơ đồ trình tự các bước nghiên cứu 28
Hình 4.1 Kết quả kiểm định nghịch đảo nghiệm đơn vị gốc đa thức AR 47
Hình 4.2 Biểu đồ hàm phản ứng xung của LVNI trước cú sốc của các yếu tố 49
Hình 4.3 Kết quả backtesting dữ liệu trong mẫu của mô hình VECM 51
Hình 4.4 Dự báo LVNI cho 12 kỳ tiếp theo 53
Trang 13DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tóm tắt nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến được sử dụng trong mô hình 26
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 37
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 38
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến 39
Bảng 4.4 Kết quả xác định độ trễ mô hình 40
Bảng 4.5 Kiểm định đồng liên kết Johansen 41
Bảng 4.6 Hệ số hiệu chỉnh sai số ECT của mô hình 46
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định nhân quả Granger dựa vào mô hình VECM 48
Bảng 4.8 Kết quả phân rã phương sai của các biến 50
Bảng 4.9 Dự báo VN-Index cho 12 kỳ tiếp theo 53
Trang 14DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADF Kiểm định Dickey – Fuller mở rộng (Augmented Dickey – Fuller)
AIC Tiêu chuẩn thông tin AIC (Akaike Information Criteria)
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)
CTCK Công ty chứng khoán
DJIA Chỉ số chứng khoán Dow Jones Industrial Average
Eviews10 Phần mềm thống kê (Econometric Views) phiên bản 10
FED Cục dự trữ Liên bang Mỹ
HNX Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hà Nội
HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
IR Lãi suất cơ bản Ngân hàng Nhà nước
IRF Hàm phản ứng xung (Impulse Response Function)
LVThS Luận văn Thạc sĩ
M2 Cung tiền mở rộng
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
OLS Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least
Squares)
PP Phương pháp Phillip – Perron
Stata 15 Phần mềm thống kê Stata phiên bản 15
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCK Ủy ban chứng khoán
UPCoM Sàn giao dịch chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết
VAR Mô hình hệ các phương trình vector tự hồi quy (Vector Autoregression
Models)
VECM Mô hình vector hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model)
VN-Index Chỉ số giá chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh WTI Dầu thô West Texas Intermediate
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
Trang 15CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại, TTCK giữ vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống tàichính của mỗi quốc gia, sự phát triển của TTCK có ảnh hưởng tích cực tới pháttriển kinh tế của một quốc gia TTCK Việt Nam chính thức vận hành vào T7/2000
và chỉ có 02 doanh nghiệp niêm yết với vốn hóa thị trường là 986 tỷ đồng tươngđương 0.28% GDP thì tính đến 30/06/2018, sau 18 năm hoạt động, trên hai SGDCK
Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có 739 công ty niêm yết, ngoài ra trên UPCoM có
756 công ty đăng ký giao dịch TTCK không ngừng được hoàn thiện về khungpháp lý, thể chế chính sách; tăng trưởng về quy mô hàng hóa, số lượng công tyniêm yết lẫn giá trị giao dịch, lượng nhà đầu tư tham gia cũng ngày càng tăng, côngtác tổ chức thị trường cùng với hoạt động quản lý, giám sát ngày được nâng cao.Trải qua hơn 18 năm hoạt động TTCK đang khẳng định vai trò và vị trí quan trọngtrong nền kinh tế, đặc biệt là nơi tập trung, cung cấp vốn cho nền kinh tế TTCKViệt Nam đến nay giúp nền kinh tế huy động một lượng vốn rất lớn đạt gần 2,2 triệu
tỷ đồng, trong đó Chính phủ đã huy động được 1,59 triệu tỷ đồng, doanh nghiệp đãhuy động được khoảng 0,6 triệu tỷ đồng thông qua đấu giá cổ phần hóa và pháthành cổ phiếu, trái phiếu Quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 3,9 triệu tỷ đồng,tương đương 78% GDP Thực tế cho thấy, TTCK đang đóng vai trò là một kênhhuy động vốn quan trọng của nền kinh tế, một trong những bộ phận quan trọng củathị trường tài chính, nơi giúp các nhà đầu tư đến gần hơn với doanh nghiệp, nhờ đócác doanh nghiệp có thể tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn để mở rộng sản xuất, kinhdoanh
Mặc dù vậy, TTCK Việt Nam vẫn được xem là TTCK non trẻ, vừa được FTSE sell công bố đưa vào danh mục theo dõi nâng hạng thị trường mới nổi sơ cấp (haythị trường mới nổi loại 2 - Secondary Emerging) TTCK Việt Nam rất nhạy cảmtrước các thông tin từ biến động của kinh tế thế giới, giá cả các hàng hóa cơ bản
Trang 16Rus-trên thế giới, các biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước, hành vi và tâm
lý của các nhà đầu tư… đều gây nên những biến động thăng trầm đối với TTCKViệt Nam Có thể nhận thấy được điều này khi theo dõi sự biến động của TTCKViệt Nam qua các giai đoạn: sau khi gia nhập WTO năm 2007, TTCK Việt Namtăng trưởng nóng, hình thành bong bóng chứng khoán rồi sụt giảm mạnh do ảnhhưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, các nhà đầu tư (đặc biệt lànhà đầu tư cá nhân) đã gánh chịu rất tổn thất nặng nề và kéo dài Năm 2011-2012,nền kinh tế Việt Nam có nhiều bất ổn với lạm phát tăng cao, sau đó là chính sáchthắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát, TTCK giai đoạn này biến động mạnh trướccác thông tin vĩ mô của nền kinh tế như lạm phát, lãi suất trong nước Ngoài ra,cũng trong giai đoạn này, các nhà đầu tư chứng khoán luôn phải theo dõi sát saobiến động của TTCK thế giới, giá dầu thô để thực hiện quyết định đầu tư trênTTCK Năm 2013-2015, TTCK Việt Nam cũng chịu những đợt sụt giảm mạnh doảnh hưởng các thông tin từ sự kiện Biển Đông, thông tin bắt giữ các lãnh đạo ngânhàng hoặc khi giá dầu thô thế giới lao dốc và xuyên thủng ngưỡng 40 USD/thùngvào đầu giờ sáng 24/8/2015, chỉ số VN-Index mất 30 điểm trong cùng ngày
Câu hỏi đặt ra là: có hay không sự tác động giữa các nhân tố vĩ mô trong nước, biếnđộng của TTCK quốc tế, giá dầu mỏ thế giới đến TTCK Việt Nam? Có khả năng dựbáo được xu hướng biến động của TTCK Việt Nam trước các yếu tố trên haykhông? Giải đáp được những câu hỏi trên sẽ giúp ích rất nhiều các nhà đầu tư trongviệc định hướng trước khi thực hiện các quyết định trên TTCK
Tại Việt Nam, cho đến nay, theo tìm hiểu của tác giả, có nhiều nghiên cứu tác độngcủa các nhân tố vĩ mô đến TTCK, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá ảnhhưởng của biến động TTCK thế giới đến TTCK Việt Nam, đây là một nhân tố kháquan trọng, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.Ngoài ra luận văn còn thực hiện dự báo TTCK Việt Nam với mong muốn hỗ trợ chocác nhà đầu tư cá nhân một phương pháp dự báo khi đầu tư trên TTCK Việt Nam,đây cũng là điểm mới của đề tài nghiên cứu
Trang 17Chính vì vậy, Luận văn đã chọn đề tài “Đánh giá tác động một số yếu tố kinh tế
vĩ mô đến Thị trường chứng khoán Việt Nam - Dự báo xu hướng thị trường”
để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đo lường biến động của TTCK Việt Nam thông qua chỉ số VN-Index trước các thayđổi của chỉ số liên quan đến kinh tế vĩ mô trong nước và biến động của TTCK thếgiới và giá dầu mỏ Bên cạnh đó, tiến hành dự báo tác động của các yếu tố lên VN-Index trong ngắn hạn và dài hạn
Từ kết quả rút ra được trong đề tài, đề xuất các khuyến nghị đối với các nhà hoạchđịnh chính sách nhằm xây dựng và hoàn thiện chính sách trong việc phát triểnTTCK, với các tổ chức và cá nhân có liên quan trên TTCK Đặc biệt là mong muốnđóng góp phương pháp dự báo cho các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân trên TTCKViệt Nam trước những biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô khi ra quyết định trênTTCK
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
TTCK Việt Nam bao gồm nhiều hàng hóa như cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá,chứng khoán phái sinh…Hiện nay, chứng khoán phái sinh chỉ vừa mới triển khai,thị trường trái phiếu còn rất nhỏ và tính thanh khoản thấp, trong khi đó, thị trường
cổ phiếu chiếm đa số hoạt động và giao dịch của toàn thị trường nên đề tài tập trungvào thị trường cổ phiếu được giao dịch trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh(HOSE), cụ thể là chỉ số VN-Index để đại diện cho TTCK Việt Nam làm đối tượngnghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu trước, đề tài lựa chọn một số yếu
tố kinh tế vĩ mô cần nghiên cứu như lạm phát, cung tiền M2, lãi suất, biến động củaTTCK thế giới (đại diện là chỉ số DJIA) và giá dầu mỏ thế giới để xem xét ảnhhưởng của các nhân tố này đến sự biến động của chỉ số VN-Index
Trang 181.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu TTCK Việt Nam từ giai đoạn bắt đầu chính thức giao dịch vàotháng 7 năm 2000 đến 30 tháng 06 năm 2018
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng bằng mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số(VECM) hoặc mô hình vector tự hồi quy (VAR) nhằm lượng hoá tác động giữa sựcác biến kinh tế vĩ mô với biến động của TTCK với sự hỗ trợ của phần mềmEview10 và Stata15
Trước tiên, tác giả kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu, xác định độ trễ thích hợp,kiểm định đồng liên kết của các biến trong mô hình cho chuỗi dữ liệu thời gian.Tiếp theo, tùy thuộc vào kết của hai bước đầu, tiến hành chạy mô hình VECM hoặcVAR Sau đó kiểm định nhân quả Granger, chạy phân rã phương sai và phân tíchhàm phản ứng xung để xem xét mức độ tác động của các biến số trong mô hình, dựbáo xu hướng VN-Index Ngoài ra, đề tài sử dụng với Excel để xử lý dữ liệu từnguồn dữ liệu là chỉ số VN-Index, CPI, lãi suất, cung tiền (M2), chỉ số DJIA, giádầu thô WTI Crude Oil
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu
tố kinh tế vĩ mô lên TTCK Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: đề tài hy vọng đóng góp một phương pháp tính toán và dự báogiúp các tổ chức và nhà đầu tư chứng khoán cá nhân có định hướng trước sự thayđổi của các yếu tố kinh tế vĩ mô và giá thế giới đến TTCK Việt Nam, từ đó có cácquyết định trong đầu tư trên TTCK, tránh các thiệt hại khi tham gia đầu tư trênTTCK Việt Nam
1.6 Kết cấu
Ngoài phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục Nội dung của đề gồm có
5 chương, cụ thể như sau::
Trang 19Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương này bao gồm phần giới thiệu về lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu về TTCKViệt Nam trước những biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô, mục tiêu, đối tượng
và nghiên cứu cũng như và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô với TTCKTrong chương này, đề tài trình bày khung lý thuyết về TTCK, mối quan hệ giữa cácyếu tố kinh tế vĩ mô đối với TTCK, giới thiệu tổng quan về quá trình hình thành và
phát triển của TTCK Việt Nam đồng thời tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm
trong và ngoài nước có liên quan, lý giải các biến được lựa chọn để nghiên cứu.Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này xác định phương pháp thu thập dữ liệu, định nghĩa các biến cũng nhưphương pháp mà đề tài sẽ thực hiện như kiểm định nghiệm đơn vị, xác định độ trễtối ưu cho các biến, kiểm tra đổng tích hợp, mô hình mô hình vector hiệu chỉnh sai
số (VECM) hoặc mô hình vector tự hồi quy (VAR), kiểm định mối quan hệ nhânquả các biến, phân tích hàm phản ứng xung, phân rã phương sai và cơ sở thực hiện
dự báo xu hướng TTCK
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả thực hiện kiểm tra thực nghiệm sẽ được trình bày trong chương này Tácgiả sẽ phân tích cũng như thảo luận về kết quả so sánh với khung lý thuyết… Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Từ kết quả và thảo luận ở chương trước, đề tài đưa ra một số hàm ý chính sách vàkiến nghị với các tổ chức đầu tư và nhà đầu tư cá nhân, với các doanh nghiệp niêmyết trên thị trường và cơ quan quản lý có liên quan đến TTCK Trong chương nàycũng nêu lên những giới hạn của nghiên cứu và đề xuất cho nghiên cứu trong tươnglai
Trang 20CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VỚI TTCK
2.1 Tổng quan về TTCK Việt Nam
2.1.1 Khái niệm, vai trò, chức năng của TTCK
Khái niệm: TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dàihạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉquỹ đầu tư, các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai, quyền chọn… TTCK làthị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhàphát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng vốn đầu
tư dài hạn cho nền kinh tế, ngoài ra TTCK còn là một công cụ hữu hiệu cho Chínhphủ điều hành vĩ mô nền kinh tế
Vai trò, chức năng: TTCK giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó thể hiệnqua các chức năng:
(i), TTCK là công cụ quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi người dân có những khoản tiền nhàn rỗi, họ thường có xu hướng làm sao đểsinh lời trên khoản tiền đó hay làm sao đầu tư hiệu quả thì TTCK chính là nơi thugom mọi nguồn vốn từ dân chúng và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài qua việc cácnhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành Những khoản tiền của họđược các doanh nghiệp phát hành sử dụng vào việc kinh doanh, sản xuất bù lại khikinh doanh hiệu quả các nhà đầu tư sẽ nhận được lợi tức trên chứng khoán đã mua
Vì vậy, TTCK là nơi tạo sự tiếp xúc với cung – cầu về vốn, là nơi các doanh nghiệp
có được các nguồn vốn mong muốn với chi phí thấp thay vì chi phí vay cao cũngnhư sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, thông quaTTCK, Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu
tư vào các dự án cần thiết của mình Ngoài ra, TTCK không chỉ thu hút các nguồn
Trang 21vốn trong nước mà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể thu hút vốn đầu tư
từ nước ngoài thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra thị trường quốc tế
(ii), TTCK cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK là thị trường tự do nhất trong các loại thị trường, ở đó không có sự can thiệp,độc đoán hay cưỡng chế về giá cả Giá mua bán chứng khoán hoàn toàn do cungcầu quyết định Do đó, TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường lành mạnh
và đa dạng với các cơ hội lựa chọn phong phú Mỗi loại chứng khoán trên thịtrường có tính chất, thời hạn và độ rủi ro rất khác nhau, cho phép các nhà đầu tư cóthể lựa chọn các chứng khoán phù hợp với khẩu vị chịu đựng rủi ro của mình, hoặc
đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm hạn chế rủi ro
(iii), TTCK tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Giá cả chứng khoán của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế được phản ánh trênTTCK Biến động của giá cả sẽ sát với sự biến động tích cực hay tiêu cực của hiệuquả kinh doanh của các doanh nghiệp hay của nền kinh tế Giá các chứng khoántăng cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế đang tốt lên, ngược lại giá chứngkhoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì vậy có thể nói,TTCK cung cấp một dự báo hiệu quả về các chu kỳ kinh doanh trong tương lai Do
đó, Chính phủ có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCKnhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế Ngoài ra, lãisuất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc Chính phủ mua bán tráiphiếu để bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Tóm lại, TTCK là một sựphát triển tất yếu của nền kinh tế
(iv), TTCK tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thànhtiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn, với chi phí và thời gian đểchuyển đổi thấp Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn đối vớinhà đầu tư Điều đó khiến các nhà đầu tư có được sự an toàn, linh hoạt đối với
Trang 22khoản đầu tư của mình Vì vậy, tính thanh khoản thị trường cũng là một tiêu chí đểđánh giá hay phản ánh hiệu quả hoạt động TTCK.
(v), TTCK đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Khi các doanh nghiệp kinh doanh lành mạnh, hiệu quả thì triển vọng sẽ có lợi nhuậncao trong tương lai và các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn mua chứng khoán củadoanh nghiệp và nó làm cho giá trị thị trường của chứng khoán công ty cao Vì thếthông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cáchtổng hợp và các nhà đầu tư có thể dễ dàng so sánh các doanh nghiệp với nhau đểđưa ra quyết định đầu tư Từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnhnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiếnsản phẩm
(vi), TTCK hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển
TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp, cũng như việc thành lập vàphát triển của công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá, bảo lãnh pháthành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo thanh khoản cho cổ phiếudoanh nghiệp qua đó thu hút nhà đầu tư góp vốn vào công ty cổ phần Tại ViệtNam, TTCK còn góp phần để thực hiện công cuộc cổ phần hóa và thoái vốn tạidoanh nghiệp nhà nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế, giảm bớtgánh nặng cho ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả
2.1.2 Công thức tính VN-Index
Chỉ số VN Index thể hiện xu hướng biến động giá các cổ phiếu giao dịch tạiSGDCK TP.HCM Chỉ số VN Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trịthị trường cơ sở vào ngày gốc 28/07/2000, ngày đầu tiên TTCK chính thức đi vàohoạt động Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trongcác trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi vềvốn niêm yết
Trang 23Công thức tính: chỉ số VN-Index được tính theo phương pháp bình quân gia quyền(phương pháp Passcher) như sau:
VN-Index =
n
it it
i 1 n
io io
i 1
P x QGi¸ trÞ thÞ tr êng hiÖn hµnh
Trong đó: Pit: giá trị thị trường hiện hành của cổ phiếu i
Qit: số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu iPi0: giá trị thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu iQi0: số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i
i = 1,…,n
2.1.3 Diễn biến chỉ số VN-Index từ T7/2000 – T6.2018
Hình 0.1 Diễn biến chỉ số VN-Index từ T7/2000 - T6/2018
- Giai đoạn 2000-2005: TTCK sơ khai, ít cổ phiếu niêm yết, giá trị giao dịch thấp….
Ngày 20/7/2000, phiên giao dịch đầu tiên được tổ chức chỉ với 02 mã cổ phiếu là
Trang 24trường luôn ở trong trạng thái èo uột với khối lượng giao dịch thấp, ngoại trừ cơnsốt vào năm 2001 (chỉ số VN-Index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm)nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêmyết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Tình hình được cảithiện hơn trong năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng), tốc độ tăng trưởng của TTCK gấp đôi so vớinăm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng Đến hết năm 2005, có 32 DN niêm yếttrên HOSE tổng giá trị TTCK Việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1%GDP
Giai đoạn 2006-2007: tăng trưởng nóng, bong bóng chứng khoán
Với rất nhiều thông tin tốt như Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thươngmại thế giới WTO, Luật Chứng khoán ra đời, các thông tin tốt từ TTCK thế giớinhư Mỹ và Trung Quốc, Tổng thống Mỹ G.W Bush thăm SGDCK Tp.HCM…năm
2006, TTCK Việt Nam có sự tăng trưởng bùng nổ Phiên giao dịch đầu năm vàongày 03/01/2006 VN-Index mở cửa ở mức 306,86 điểm và tại phiên giao dịch ngày29/12/2006 VN-Index đóng cửa ở mức 751,77 điểm, như vậy VN-Index tăng 144%.Hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: SGDCK Tp.HCM, TTGDCK Hà Nội
và trên thị trường OTC Trong sáu tháng đầu năm 2006, với mức tăng trưởng đạt tới60%, TTCK Việt Nam trở thành thị trường có mức tăng “điểm” nhanh thứ 2 thếgiới Tổng giá trị vốn hoá tăng gấp 15 lần chỉ trong vòng 1 năm 2006, đạt 13,8 tỉUSD cuối năm 2006 (22,7% GDP), trong đó giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nướcngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thịtrường Số lượng công ty niêm yết trên hai sàn là 193 tăng gần 5 lần,
Từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta mang tâm lý
“đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theophong trào, bất chấp các yếu tố nội tại của doanh nghiệp cũng như các yếu tố kinh
Trang 25tế vĩ mô, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bong bóng” là cóthật.
Khởi đầu năm 2007 với con số 751,77 điểm, chỉ sau hơn 3 tháng VN-Index đã vọtlên đỉnh 1.170,67 điểm ngày 12/3/2007 Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạtmức tăng trưởng với tốc độ lớn nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng chưađầy 3 tháng giao dịch, là giai đoạn thăng hoa trong lịch sử phát triển của HOSE Tạisàn HOSE, bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HNcũng đạt con số 300 tỷ đồng Từ tháng 4 - tháng 9/2007, TTCK có sự điều chỉnh vàhồi phục mạnh mẽ trong tháng 9 - tháng 10/2007 Tuy nhiên, trong 02 tháng cuốinăm 2007, TTCK VN đã có những dấu hiệu chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu, bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ, VN-Indexđóng cửa phiên giao dịch cuối năm ở mức 927,02 điểm
Giai đoạn 2008-2012: khủng hoảng kinh tế, TTCK sụt giảm mạnh với các bất ổn kinh tế vĩ mô
Năm 2008, cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu, đồng USD mất giá, giá cả hàng hóa thế giới tăng mạnh, đặc biệt
là dầu mỏ, lương thực và nguyên liệu, trong nước, ngay từ những tháng đầu nămlạm phát tăng cao và khó kiểm soát lên đến 25,2% trong tháng 5 và trong tháng 7khi Chính phủ ngừng trợ cấp để kìm giá bán xăng dầu, giá xăng dầu điều chỉnh tăng30% đã gây xáo trộn kéo giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm, vận tải… tăngmạnh, hệ quả là lạm phát trong tháng 8 đạt đỉnh điểm trên 28,5% Trong bối cảnh
đó, TTCK Việt Nam sụt giảm mạnh, năm 2008 có thể xem là một năm thảm họa đốivới nhà đầu tư cá nhân và cả các tổ chức trên TTCK Việt Nam khi chỉ trong vòngchưa đầy 06 tháng, VN-Index rơi từ mốc 927,03 điểm đầu năm xuống mức 366,03điểm vào ngày 20/6/2008, tức giảm hơn 60% giá trị và trở thành TTCK giảm điểmmạnh nhất trong nửa đầu năm 2008 TTCK hồi phục ngắn hạn trong T7-T9/2008,sau đó do sự lan tỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới VN-In-dex lại tiếp tục rơi vào xu hướng giảm, thiết lập đáy của năm 2008 ở mức 286,85
Trang 26điểm vào ngày 10/12/2008 Với mức đóng cửa thị trường ngày 31/12/2008, trongnăm 2008, VNIndex giảm kỷ lục 611,40 điểm, gần 70% so với mức 927,02 điểmcuối năm 2007.
Năm 2009: trong hai tháng đầu năm TTCK luôn trong tình trạng ảm đạm, èo uột,nhà đầu tư mất niềm tin, VN-Index tiếp tục sụt giảm, xác lập mức đáy mới 235,5điểm vào ngày 24/2/2008, đây cũng là mức đáy của VN-Index cho đến nay Trongnăm 2009, để đối phó với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, Chính phủ đãtriển khai 02 gói kích cầu và một số chính sách như miễn, giảm, giãn thuế, hạ lãisuất cơ bản để kích thích đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế với chính sách tiền tệnới lỏng, cung tiền tăng, VN-Index có khoảng hồi phục và đạt 624,10 điểm vàongày 22/10/2009 Tổng kết năm 2009, VN-Index tăng hơn 56%, từ mức 315,62điểm vào ngày 31/12/2008 lên mức 494,77 điểm vào ngày 31/12/2009
Năm 2010: TTCK Việt Nam tương đối ổn định, VNIndex giao động ở mức 450-500điểm với thanh khoản ở mức trung bình thấp
Năm 2011: TTCK Việt Nam là một trong những thị trường sụt giảm mạnh nhất trênthế giới trong năm 2011 Bên ngoài, ảnh cuộc khủng hoảng nợ công còn những diễnbiến khó lường, trong nước, hệ quả từ chính sách nới lỏng tiền tệ và các gói kíchthích kinh tế trước đây đưa đến những bất ổn vĩ mô, lạm phát tăng vọt, Chính phủban hành Nghị quyết 11 (24/2/2011) để rà soát và tái cơ cấu lại hoạt động của nềnkinh tế, ổn định vĩ mô thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, chính sách tài khóa thắtchặt, cắt giảm đầu tư công, hệ thống ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, lãisuất tín dụng tăng cao, có giai đoạn lãi suất cơ bản do NHNN công bố là 14%/năm,lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại ở mức trên 20%/năm vàlãi suất cho vay của các ngân hàng đối với vay ngắn hạn có thời điểm lên đến trên25%/năm, bất động sản đóng băng, phần lớn doanh nghiệp không đạt được kếhoạch doanh thu và lợi nhuận đặt ra Năm 2011 được xem là năm cực kỳ khó khăncủa TTCK Việt Nam Kết thúc phiên giao dịch ngày 30/12/2011, VN-Index đóngcửa với 351,55 điểm và giảm 27,46% so với năm trước
Trang 27Năm 2012: những tháng đầu năm thị trường bứt phá như một lò xo nén sau mộtquãng thời gian dài giảm điểm của năm 2011, VN-Index đã bật tăng mạnh 38.7% từ351.55 điểm vào ngày 30/12/2011 lên mức 487.6 điểm vào ngày 09/05/2012 với cácthông tin lạm phát bước đầu được kiềm chế, tạo điều kiện cho ngân hàng kéo giảmlãi suất, cùng các giải pháp kích cầu thị trường như kéo dài thời gian giao dịch sangbuổi chiều, thiết lập chỉ số VN30, quy định margin, nới tỷ lệ nắm giữa nhà đầu tưnước ngoài tại các công ty chứng khoán lên 100% Tuy nhiên, sau khi Ngân hàngNhà nước công bố tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng lên đến 10% và các giảipháp xử lý nợ xấu được tiến hành, thị trường trở nên thiếu tiền trầm trọng, mặc dùlãi suất đã giảm nhưng các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ngân hàng,TTCK chịu ảnh hưởng và quay đầu giảm điểm Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn
sau ngày 21/8 – ngày được coi là “ngày thứ ba đen tối” của TTCK Việt Nam khi
ông Nguyễn Đức Kiên – Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của ngân hàng ACB bịbắt Tiếp theo đó, một loạt lãnh đạo ngân hàng ACB bị khởi tố, thông tin nhiều lãnhđạo ngân hàng khác bị điều tra đã khiến lòng tin vào thị trường ngày càng lung lay
Cổ phiếu ngân hàng bị bán sàn liên tiếp, bị cắt margin khiến thị trường gần như laodốc trong nửa sau của năm 2012 Dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng VN-Index đóngcửa năm 2012 với 413,73 điểm, tăng tổng cộng 62,18 điểm, tương đương với17,66% so với cuối năm 2011, Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên trong năm
2012 đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2011
Giai đoạn 2013 - 2018: TTCK ổn định, phục hồi, tăng trưởng
Năm 2013, TTCK Việt Nam đã có những diễn biến khả quan nhờ vào những tínhiệu ổn định kinh tế vĩ mô; các giải pháp vĩ mô đã dần phát huy tác dụng và các giảipháp tích cực trong lĩnh vực chứng khoán Tính đến ngày cuối của năm 31/12/2013,chỉ số VN - Index đứng ở 505 điểm, tăng 23% so với cuối năm 2012 TTCK ViệtNam được đánh giá là một trong trong số 10 nước có mức độ phục hồi mạnh nhất
và có mức tăng cao so với các thị trường trên thế giới Mức vốn hóa vào khoảng
964 nghìn tỷ đồng (tăng 199 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2012), tương đương31% GDP
Trang 28Trong năm 2014, với các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, tái cấu trúc nền kinh tế đãđược Chính phủ triển khai đồng bộ, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biếntích cực Tốc độ tăng trưởng kinh tế được dự báo đạt trên 5,9%, lạm phát và tỷ giáđược kiểm soát tốt, mặt bằng lãi suất đã giảm Kết thúc phiên giao dịch ngày31/12/2014, VN-Index đóng cửa ở mốc 545,63 điểm, tăng gần 10% so với 2013.Trong năm, thị trường chứng kiến một số biến động đến từ sự kiện Biển đông khiTrung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trên biển Đông vào đầu tháng 5/2014, VN-Index có một buổi sáng 8/5 "hoảng loạn" khi mất tới 34 điểm chỉ trong vòng hơn 2tiếng giao dịch, đây có thể coi là mức giảm điểm lịch sử của VN-Index và vượt quaphiên giao dịch mất điểm kỷ lục của năm trước đó vào ngày 21/8/2012 Hai thángcuối năm, sự kiện giá dầu thế giới giảm một lần nữa khiến TTCK chao đảo.
Kết thúc năm 2015, VN-Index đóng cửa ở mức 579,03 điểm, tăng 6,4% so với
2014, mặc dù đây không phải là mức tăng mạnh, nhưng trong bối cảnh chung mộtnăm khó khăn của TTCK thế giới thì đây cũng là một mức tăng khả quan và VN-In-dex đã lọt vào Top 5 chỉ số chứng khoán tăng mạnh nhất Châu Á, giá trị vốn hóa thịtrường ngày cuối năm 2015 đạt 1,14 triệu tỷ đồng, tăng 16,41 % so với cuối năm
2014 Trong năm chứng kiến thị trường chịu tác động từ các yếu tố bên ngoài nhưđúng một năm sau sự kiện Biển đông một lần nữa lặp lại vào phiên 4/5/2015, VN-Index mất đi 3,08%, tuy không sụt mạnh như lần trước nhưng cũng khiến cho nhàđầu tư một phen chao đảo, giá dầu thế giới tiếp tục lao dốc và xuyên thủng ngưỡng
40 USD/thùng vào đầu giờ sáng 24/8/2015, chỉ số VN-INDEX mất 30 điểm trongcùng ngày, đây cũng là một nhân tố dẫn tới những bất ổn của TTCK
Cuối năm 2016, VN-Index đóng cửa ở 664,87 điểm, lên cao nhất trong vòng 8 năm,tăng 14,82% so với thời điểm cuối năm 2015, tổng vốn hóa thị trường niêm yếttrong đạt hơn 1,64 triệu tỷ đồng (72 tỷ USD), tăng 345 nghìn tỷ đồng (26,6%) sovới thời điểm cuối năm 2015 Nhìn chung thị trường đứng vững trước nhiều cú sốclớn của thế giới như sự kiện Anh rời khỏi EU (Brexit) ngày 24/6, hay việc tăng lãisuất của FED Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài bán rất mạnh trong 3 tháng cuối nămnhưng thị trường được chống đỡ khá nhiều từ nguồn vốn nội
Trang 29Năm 2017, cùng với mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trong 10 năm, GDP đạt6,81%, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,53%, lãi suất ổn định, thu hút vốn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài đạt mức kỷ lục, thặng dư….chốt phiên giao dịch ngày29/12/2017, chỉ số VN-Index đạt 984,24 điểm Như vậy, trong năm 2017, chỉ số đạidiện của TTCK Việt Nam đã tăng trưởng trên 48,1%, đạt mức cao nhất gần 10 nămtrở lại đây; mức vốn hóa thị trường đạt gần 3.360 nghìn tỷ đồng, tăng 73% so vớicuối năm 2016, tương đương 74,6% GDP nhờ hàng loạt các doanh nghiệp có quy
mô vốn lớn lên sàn TTCK phái sinh chính thức được đưa vào vận hành từ ngày 8-2017 với chỉ 01 sản phẩm là hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index, tuy nhiênkhối lượng hợp đồng giao dịch có xu hướng ngày càng tăng
10-Trong 06 tháng đầu năm 2018, VN-Index đã có lúc đạt 1.204,33 điểm vào ngày09/4/2018, vượt mức đỉnh cũ được thiết lập năm 2007 với khối lượng và giá trị giaodịch cao, tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung,FED nâng lãi suất và dòng tiền ngoại rút khá mạnh khỏi các thị trường mới nổi, đặcbiệt tai khu vực ASEAN, thị trường đã đi vào một chuỗi điều chỉnh mạnh trên diệnrộng với mức điều chỉnh lên tới 25,8% từ đỉnh cao nhất ngày 10/4 Trong quý II,VN-Index đã xuống mức thấp nhất năm ở quanh mức 891 điểm Dù vậy Giá trị vốnhóa thị trường đạt 3.889 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cuối năm 2017, tươngđương 77,7% GDP với 739 công ty niêm yết trên 2 sàn giao dịch HOSE và HNX và
756 công ty đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM
Trang 30Hình 0.1 Tăng trưởng vốn hóa thị trường cổ phiếu
Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
2.2 Lý thuyết nền về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đến TTCK
2.2.1 Lý thuyết Thị trường hiệu quả (EMH)
Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng giá của cổ phiếu phải phản ánh tất cả cácthông tin sẵn có liên quan đến cổ phiếu đó (Fama, 1970) Nói cách khác, nếu thịtrường là hiệu quả thì giá của cổ phiếu sẽ bị tác động bởi nhiều nhân tố, bao gồm cảnhân tố vi mô và vĩ mô Theo đó, biến động giá cổ phiếu sẽ chịu ảnh hưởng của cácyếu tố cơ bản nội tại của chính doanh nghiệp như ngành nghề kinh doanh, thịtrường, doanh thu, thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), cổ tức trên cổ phiếu (DPS),giá thị trường trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), giá thị trường trên giá trị sổ sách (P/B)… ngoài ra, giá cổ phiếu còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô nhưlạm phát, cung tiền, lãi suất, tỷ giá…,
Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, nhữngbiến động của thị trường thế giới cũng có thể tác động không nhỏ đến TTCK củamột nước, sự chu chuyển các dòng vốn quốc tế, đặc biệt vốn đầu tư gián tiếp nướcngoài (FII) có tốc độ ra vào rất nhanh với khối lượng vốn lớn, trực tiếp tác động đến
Trang 31TTCK, ảnh hưởng yếu tố tâm lý và hành vi của nhà đầu tư trong nước, trong nhiềutrường hợp sẽ tác động quá mức đến TTCK theo cả hai hướng tích cực thái quáhoặc bi quan quá mức sẽ làm cho thị trường không còn hiệu quả, giá cổ phiếu biếnđộng rời xa giá trị nội tại của doanh nghiệp Lý thuyết thị trường hiệu quả đôi lúcthất bại ở các thị trường mới nổi.
2.2.2 Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT)
Ngay từ những năm 1930, Fisher (1930) đã bắt đầu nghiên cứu lý thuyết về biếnđộng giá tài sản, rằng các biến số kinh tế vĩ mô có tác động đến giá cổ phiếu Sau
đó, rất nhiều học giả đã tiến hành nghiên cứu sâu về chủ đề này
Vào năm 1976, nhà kinh tế học Stephen A Ross đã đề xuất Lý thuyết kinh doanhchênh lệch giá (APT) để xác định giá cả tài sản APT phát biểu rằng tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ
mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường Vì vậy, theo APT, tỷ suất sinh lợi củachứng khoán (lợi nhuận của chứng khoán) là một hàm số tuyến tính của tập hợp cácyếu tố kinh tế tác động đến tất cả các chứng khoán
Stephen Ross (1976) đã triển khai mô hình APT như sau:
Trong đó: R: tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (lợi nhuận của chứng khoán)
R: tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoánFn: nhân tố vĩ mô thứ n của nền kinh tế
: đặc trưng của từng chứng khoán riêng biệt
Tiếp theo Lý thuyết này, Chen, Roll và Ross (1986) đã nghiên cứu về mối quan hệgiữa các chỉ số kinh tế và hiệu quả TTCK trong thời kỳ đầu Họ khẳng định rằngmối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất và sản xuất côngnghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của cổ phiếu
Trang 322.3 Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến TTCK
2.3.1 Tác động của lạm phát đến TTCK
Lạm phát là thuật ngữ dùng để chỉ mức giá của các hàng hóa và dịch vụ tăng lêntheo thời gian so với một thời kỳ được xác định trước đó Lạm phát tác động đếnTTCK theo nguyên lý như sau: khi lạm phát tăng, đồng tiền bị mất giá, lãi suất sẽ
có xu hướng tăng để đảm bảo lãi suất thực dương, kênh TTCK trở nên kém hấp dẫn,nhà đầu tư có xu hướng chuyển sang đầu tư trái phiếu Chính phủ hoặc tích trữ cáctài sản an toàn, ít bị mất giá như vàng hoặc gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất cao, điềunày dẫn đến cầu cổ phiếu giảm, cung cổ phiếu tăng làm cho TTCK giảm điểm Mặt khác, khi lạm phát gia tăng sẽ làm tăng chi phí đầu vào của công ty, hiệu quảcủa doanh nghiệp có xu hướng giảm, người tiêu dùng có xu hướng tiết kiệm, đưađến vấn đề cầu về hàng hóa thu hẹp lại Trong tương lai, lợi nhuận của doanhnghiệp tất yếu giảm sút, vì vậy sẽ gây ra biến động giảm đối với giá cổ phiếu
Nghiên cứu thực nghiệm của Fama và Schwert (1977), Fama (1981) cho thấy mốiquan hệ tiêu cực giữa lạm phát và giá chứng khoán; Chen, Roll, Ross (1986) vànhiều học giả khác cũng ghi nhận quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và lợi nhuậnvốn cổ phần
Một số nghiên cứu trong nước như Nguyễn Minh Kiều & Nguyễn Văn Điệp (2013),Bùi Kim Yến & Nguyễn Thái Sơn (2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị ThùyDương (2015) cũng đã tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa lạm phát và VN-Index
2.3.2 Tác động của Cung tiền đến TTCK
Các lý thuyết kinh tế cho thấy có sự tác động của chính sách tiền tệ lên TTCK Khithực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì lượng tiền đưa vào trong lưu thông nhiềuhơn sẽ làm giảm lãi suất cho vay cũng như lãi suất tái chiết khấu Việc làm này sẽlàm gia tăng trong tiêu dùng hàng hóa cũng như nhu cầu sử dụng các tài sản tàichính trong đó có cổ phiếu Mặt khác, khi lãi suất cho vay giảm xuống sẽ giúp làm
Trang 33giảm lãi suất chiết khấu của cổ phiếu qua đó làm tăng giá kỳ vọng cũng nhu thunhập của các nhà đầu tư Ở chiều ngược lại, khi chính sách tiền tệ thắt chặt được sửdụng để kiềm chế lạm phát, lãi suất cao hơn sẽ làm giảm giá chứng khoán do tănglãi suất chiết khấu theo các mô hình định giá, giảm xu hướng vay tiền để đầu tưchứng khoán cũng như làm chi chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng, ảnhhưởng đến lợi nhuận gây giảm giá cổ phiếu Như vậy cung tiền và TTCK có mốiquan hệ cùng chiều.
Friedman và Schwartz (1963) đã cho kết quả sự gia tăng cung tiền sẽ làm gia tăngthanh khoản và tín dụng cho nhà đầu tư cổ phiếu, dẫn đến giá cổ phiếu sẽ cao hơn;Sprinkel (1964) đi tiên phong trong nghiên cứu độc quyền về mối quan hệ giữacung tiền và TTCK, sử dụng lý thuyết số lượng tiền và kết luận rằng có mối quan hệmạnh mẽ giữa TTCK và cung tiền tại Hoa Kỳ; Bernanke (2003) phát hiện việc nớilỏng tiền tệ sẽ làm tăng chỉ số giá chứng khoán; Humpe & Macmillan (2009) cũngkết luận có sự tương quan cùng chiều giữa TTCL với cung tiền nhưng không đángkể
Một số nghiên cứu trong nước như Phan Thị Bích Nguyệt & Phạm Dương PhươngThảo, Nguyễn Minh Kiều & Nguyễn Văn Điệp (2013), Bùi Kim Yến & NguyễnThái Sơn (2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị Thùy Dương (2015) cũng xác địnhmối tương quan cùng chiều giữa cung tiền và TTCK
2.3.3 Tác động của lãi suất đến TTCK
Tài chính doanh nghiệp hiện đại chứng minh rằng: giá cổ phần hiện tại chính làtổng hiện giá các dòng tiền thu nhập trong tương lai từ cổ phiếu theo công thức:
Trong đó: P0, Pn : là giá chứng khoán ở thời điểm hiện tại và thời điểm n
CF1, CF2, … CFn : dòng tiền từ của cổ phiếu ở thời điểm 1, 2 …, nr: lãi suất
Trang 34Biểu thức trên cho thấy giữa lãi suất và giá chứng khoán có mối quan hệ ngượcchiều nhau Khi lãi suất tăng thì giá chứng khoán giảm và ngược lại giá chứngkhoán sẽ tăng khi lãi suất giảm Đối với doanh nghiệp có sử dụng vốn vay, lãi suấttăng khiến doanh nghiệp đối diện với một khoản gia tăng chi phí sử dụng vốn dẫnđến kỳ vọng lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, vì vậy giá trị
cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường bị sụt giảm Ngược lại, khi lãi suất giảmchi phí sử dụng vốn rẻ hơn so với trước sẽ giúp các công ty dễ huy động nguồn vốn
để thực hiện các dự án đầu tư, cũng như giảm chi phí cho các công ty sử dụng đònbẩy tài chính lớn từ đó sẽ làm cải thiện lợi nhuận của công ty và làm tăng giá cổphiếu của công ty Ngoài ra, biến động của lãi suất cũng có tác động gián tiếp đếnTTCK Lãi suất tăng sẽ thu hút nhu cầu gửi tiền vào hệ thống ngân hàng vì mứcsinh lời khi gửi tiền tăng, khiến cho dòng tiền đổ vào TTCK bị sụt giảm và do đó sẽảnh hưởng đến lượng cầu cổ phiếu trên của TTCK
Nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả đều cho rằng: lãi suất có tác động ngượcchiều đến TTCK như : Fama (1981); Geske và Roll (1983); French và cộng sự(1987); Mukherjee và Naka (1995); Humpe and Macmillan (2009)
Các số nghiên cứu trong nước như Phan Thị Bích Nguyệt & Phạm Dương PhươngThảo (2013), Trần Thị Minh Phương (2013), Bùi Kim Yến & Nguyễn Thái Sơn(2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị Thùy Dương (2015) cũng xác định tác độngngược chiều giữa lãi suất và TTCK
2.3.4 Tác động của DJIA đến VN-Index
Lý thuyết kinh tế đã lý giải việc đầu tư quốc tế hình thành do có sự chênh lệch vềhiệu quả hay tỷ suất lợi nhuận của việc sử dụng vốn đầu tư, có được từ lợi thế sosánh giữa các quốc gia khác nhau Lý thuyết tài chính quốc tế đã chứng minh có sựchu chuyển các dòng vốn quốc tế, bao gồm vốn cho vay và ODA, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII), đặc biệt hình thứcđầu tư gián tiếp nước ngoài đã phát triển mạnh mẽ từ những năm 90 của thế kỷ 20
Trang 35và có xu hướng tập trung vào các thị trường mới nổi thông qua TTCK trong xuhướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới.
Từ những năm 1970, nghiên cứu biến động của TTCK toàn cầu đã là một đề tàiđược quan tâm Mặc dù toàn cầu hóa thị trường tài chính của thế giới đã đóng gópđáng kể vào lợi ích của các quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh đó, những cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu cho thấy dường như tác động rất lớn và có sự tương quancao trên TTCK, làm giảm lợi ích của đa dạng hóa danh mục đầu tư toàn cầu
TTCK Mỹ, đại diện là chỉ số DJIA là một tấm gương phản ánh sức khỏe của nềnkinh tế Mỹ mà kinh tế Mỹ có ảnh hưởng đến nền kinh tế của các quốc gia khác trênthế giới Do đó, khi có những bất ổn hay tăng trưởng trong nền kinh tế Mỹ đều tạo
ra những hiệu ứng đến thị trường tài chính của các quốc gia khác Ngoài ra, DJIAphản ánh kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp gồm nhiều tập đoàn lớn đa quốcgia Hơn nữa, DJIA phản ánh những quyết định thay đổi lãi suất của FED Nhữngquyết định của FED ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt của nền kinh tế không chỉ ở Mỹ
mà còn ở các quốc gia khác Sự điều chỉnh lãi suất do FED ấn định sẽ tác động đến:(i) chi phí đi vay của các Chính phủ, tổ chức và cá nhân – đặc biệt là các quốc gianước ngoài có các khoản vay bằng đô la Mỹ; (ii) hoạt động xuất nhập khẩu của cácquốc gia; (iii) giá của các hàng hóa cơ bản và (iv) tâm lý của các nhà đầu tư trên thịtrường khi đánh giá và lựa chọn TTCK có lợi suất cao hơn Mặt khác, nền kinh tếViệt Nam ngày càng hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới do đó, cácthông tin trên TTCK Việt Nam cũng sẽ có sự liên thông với TTCK thế giới
Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối tương quan giữa cácTTCK thế giới, theo đó những nghiên cứu từ trước cuộc khủng hoảng tài chính
1997 cho thấy giữa các TTCK có mối tương quan thấp, ủng hộ tự do hóa và đa dạnghóa danh mục đầu tư toàn cầu như: Levy và Sarnat (1970), Solnik (1974), Lessard(1976), Watson (1978) Một số nghiên cứu cho thấy có sự tương quan cao giữa cácTTCK quốc gia, khu vực và quốc tế, xảy ra trong thời kỳ khủng hoảng và làm giảmlợi ích của đa dạng hóa danh mục đầu tư toàn cầu, đó là: Philippatos và cộng sự
Trang 36(1983), Meric và cộng sự (1989, 2008), Ratner & Leal (1996), Christoffersen & runza (2000), Wang và cộng sự (2009), Meric & Meric (2011), Meric và cộng sự(2012).
Er-Theo quan sát của tác giả, TTCK Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ biếnđộng TTCK thế giới, đặc biệt là TTCK Mỹ, có thể thấy rõ điều này, mỗi khi TTCKthế giới có sự biến động mạnh, ngay lập tức sẽ TTCK Việt Nam cũng chịu ảnhhưởng, các phương tiện truyền thông đều đăng bài đưa tin về tác động của TTCKthế giới đến TTCK Việt Nam như thế nào Mặc dù vậy, theo tìm hiểu của tác giả,cho đến nay, chưa có một nghiên cứu chính thức nào lượng hóa mối quan hệ giữabiến động TTCK thế giới đến TTCK Việt Nam
2.3.5 Tác động giá dầu thô đến TTCK
Dầu là một trong những nguồn năng lượng đầu vào quan trọng nhất trong hầu hếtcác hoạt động kinh tế, do vậy sự biến động của giá dầu có tác động trực tiếp đến nềnkinh tế cũng như TTCK ở các quốc gia Kể từ khi giá dầu tăng kỷ lục lần đầu tiênvào những năm 1970 và có những biến động khó lường vào các giai đoạn sau đó, đãgây ra tình trạng lạm phát tăng cao và suy thoái kéo dài tại một số quốc gia thế giới.Biến động giá dầu mỏ đã trở thành mối quan ngại lớn đối với các nhà hoạch địnhchính sách nhằm cố gắng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, giá dầu đã trở thành mộttrong những chỉ báo chính trong các phân tích kinh tế Tại Việt Nam, ảnh hưởngcủa giá dầu tới nền kinh tế cũng không thể bị xem nhẹ do Việt Nam là nước xuấtkhẩu dầu thô nhưng nhập khẩu các sản phẩm từ dầu mỏ Dễ thấy nhất là việc giádầu cùng với giá cả các loại hàng hóa khác trên thế giới tăng mạnh đã gây ảnhhưởng tới lạm phát nội địa và gây khó khăn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát của ViệtNam vào những năm 2008, 2011, ngược lại vào cuối năm 2015 khi giá dầu giảmxuống dưới 40 USD/thùng cũng làm cho công tác xây dự toán ngân sách của Chínhphủ gặp nhiều khó khăn
Khi giá dầu tăng sẽ tạo áp lực lên lạm phát do chi phí đầu vào của các doanh nghiệptăng, ngoài ra làm cho khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp bị thu hẹp, về
Trang 37dài hạn làm giảm tốc độ tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp, kéo theo giảm giá cổphiếu của doanh nghiệp Mặt khác, đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm dầu khí,được hưởng lợi thế khi giá dầu mỏ tăng do đó lợi nhuận tăng kéo theo giá cổ phiếunhóm ngành dầu khí cũng tăng Tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các ngành nănglượng thay thế hay cao su thiên nhiên cũng được kỳ vọng tăng theo sự tăng lên củagiá dầu Như vậy, về lý thuyết, biến động của giá dầu có thể tác động theo hai chiềuđến TTCK.
Từ những năm 1980, các nghiên cứu tiên phong về giá dầu và TTCK đã xuất hiện
và chứng minh được rằng giá dầu và TTCK có tương quan với nhau Chẳng hạnnhư nghiên cứu của Darby (1982), Hamilton (1983), Burbridge và Harrison (1984),Gisser và Goodwin (1986) hay Jones và Kaul (1996) Về mặt lý thuyết, biến độngcủa giá dầu sẽ tác động đến giá trị cổ phiếu; một số nghiên cứu khác của Donoso(2009), Hammoudeh và cộng sự (2004), El-Sharif và cộng sự (2005), Anorou vàMustafa (2007), và Park và Ratti (2008) nhận thấy rằng các cú sốc giá dầu đã cómột tác động mạnh đến lợi nhuận cổ phiếu và TTCK có mối tương quan dương (+)giữa giá dầu với giá chứng khoán trong các nước xuất khẩu dầu mỏ nhưng lại cómối tương quan âm (-) đối với những nước nhập khẩu dầu mỏ; nghiên cứu của Kil-ian (2009), Filis,G và David C Broadstock (2014) kết luận: tương quan giữa giádầu và lợi nhuận cổ phiếu biến đổi theo thời gian; những cú sốc dầu của các loạikhác nhau cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tác động của chúng lợi nhuận TTCK;đối với từng ngành công nghiệp cụ thể, cú sốc giá dầu sẽ có tác động khác nhau;Các nghiên cứu trong nước của Narayan Paresh Kumar và Narayan Seema (2009),Cuong C và M Ishaq Bhatti (2012), Phan Thị Bích Nguyệt (2013), Trần HuyHoàng (2017) đều cho kết quả giá dầu thế giới có tương quan dương với TTCKViệt Nam hoặc nghiên cứu của Huỳnh Đức Trường (2017) cho thấy có hiệu ứng lâylan giữa giá sản phẩm dầu mỏ với TTCK Việt Nam
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Trang 38Yếu tố Bằng chứng thực nghiệm Tương
quan
Lạm
phát
Fama & Schwert (1977); Fama (1981); Chen, Roll, Ross (1986);
Nguyễn Minh Kiều & Nguyễn Văn Điệp (2013); Bùi Kim Yến &
Nguyễn Thái Sơn (2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị Thùy Dương
(2015)
-Cung
tiền
Friedman & Schwartz (1963); Sprinkel (1964); Bernanke (2003);
Humpe & Macmillan (2009); Phan Thị Bích Nguyệt & Phạm Dương
Phương Thảo, Nguyễn Minh Kiều & Nguyễn Văn Điệp (2013), Bùi
Kim Yến & Nguyễn Thái Sơn (2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị
Thùy Dương (2015)
+
Lãi suất
Fama (1981); Geske & Roll (1983); French et al (1987); Mukherjee &
Naka (1995); Humpe & Macmillan (2009); Phan Thị Bích Nguyệt &
Phạm Dương Phương Thảo (2013), Trần Thị Minh Phương (2013), Bùi
Kim Yến & Nguyễn Thái Sơn (2014), Thân Thị Thu Thủy & Võ Thị
Thùy Dương (2015)
-TTCK
quốc tế
Levy và Sarnat (1970); Solnik (1974); Lessard (1976); Watson (1978);
Philippatos et al (1983), Meric et al (1989, 2008), Ratner & Leal
(1996), Christoffersen & Errunza (2000), Wang et al (2009), Meric &
Meric (2011), Meric et al (2012)
+/-Giá dầu
thô
Darby (1982); Hamilton (1983); Burbridge & Harrison (1984); Gisser
& Goodwin (1986); Jones & Kaul (1996); Donoso (2009),
Ham-moudeh et al (2004), El-Sharif et al (2005), Anorou & Mustafa
(2007); Park và Ratti (2008); Kilian (2009); Filis,G & David C
Broad-stock (2014); Narayan Paresh Kumar & Narayan Seema (2009), Cuong
C & M Ishaq Bhatti (2012), Phan Thị Bích Nguyệt (2013), Trần Huy
Hoàng (2017); Huỳnh Đức Trường (2017)
Trang 39cùng với đó là tóm lược các công trình nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đếncác yếu tố kinh tế vĩ mô và TTCK của các tác giả trong và ngoài nước.
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Trên cơ sở xác định các vấn đề nghiên cứu, tác giả đã đặt ra mục tiêu nghiên cứu,dựa trên khung lý thuyết và kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó có liênquan để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất Tiếp theo tác giả sẽ tiến hành thu thập
và xử lý dữ liệu bằng phần mềm Eview/Stata thông qua thực hiện chạy các mô hình
và kiểm định để mô hình có kết quả vững và đáng tin cậy Cuối cùng tác giả sẽ đưa
ra nhận xét và đánh giá về kết quả nghiên cứu
Toàn bộ quy trình nghiên cứu sẽ được thực hiện theo sơ đồ sau:
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
Xác định các vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Khung lý thuyết và các nghiên
cứu trước
Mô hình nghiên cứu
Thu thập và xử lý số liệu bằngphần mềm STATA
Thống kê mô tả
Nhận xét và đánh giá kết quả
nghiên cứu
Mô hình kinh tế lượng đánh giá tác
động của các biến