1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải phát nâng cao hiệu quả của công tác tập huấn trong xây dựng nông thôn mới, tại huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên

65 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu chương trình xây dựng và chủ thể tham gia nông thôn mới Theo thông tư liên tịch Số: 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC hướng dẫn một số nội dung thực hiện quyết định số 800/QĐ -

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Định hướng đề tài: Hướng nghiên cứu Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Thái Nguyên – năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Định hướng đề tài: Hướng nghiên cứu Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Lành Ngọc Tú

Thái Nguyên – năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là thời gian để sinh viên có nhiều cơ hội áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng tự tìm hiểu, nghiên cứu, trau dồi và bổ sung kiến thức chuyên môn, rèn luyện đạo đức, phẩm chất, tác phong của mình

Qua đây em xin cảm ơn tới Ban giám hiệu trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn cùng các thầy, cô giáo đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, giúp em có những kiến thức trong quá trình thực tập tại cơ sở Đặc biệt em xin bày tỏ lòng cảm

ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Lành Ngọc Tú đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ

bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy – HĐND – UBND

và các đoàn thể cán bộ Phòng nông nghiệp huyện Đồng Hỷ đã quan tâm tạo điều kiện để em hoàn thành tốt kỳ thực tập với đề tài này

Trong quá trình hoàn thành khóa luận, mặc dù đã cố gắng hoàn chỉnh khóa luận một cách tốt nhất nhưng do kiến thức em còn hạn hẹp nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận thấy được

Vậy, kính mong thầy cô hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện để khóa luận của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2018

Sinh viên

Lý A Huy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Khái niệm về nông thôn và phát triển nông thôn 4

2.1.2 Giới thiệu chương trình xây dựng và chủ thể tham gia nông thôn mới 5

2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác tập huấn cán bộ cho xây dựng nông thôn mới 12

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số nước trên thế giới 13

2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt nam 17

2.2.1 Thành tựu của quá trình phát triển nông thôn 17

2.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mơi ở các địa phương 20

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

Trang 5

3.2.1 Địa điểm 29

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 29

3.3 Nội dung nghiên cứu 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 30

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 30

3.2.6 Các chỉ tiêu nghiên cứu 30

3.3.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 31

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

4.2 Kết quả xây dựng Nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ 35

4.3 Thực trạng tập huấn cho cán bộ XDNTM tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 40

4.3.1 Thông tin chung về tập huấn cán bộ 40

4.3.2 Thực trạng công tác tập huấn cho cán bộ xây dựng nông thôn mới huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 41

4.3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tập huấn xây dựng nông thôn mới 49

4.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tập huấn công tác xây dựng NTM 51

4.4.1 Giải pháp cho hoạt động tập huấn XD NTM 51

4.4.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách 52

4.4.4 Giải pháp nâng cao trình độ sản xuất của nông dân 58

4.4.5 Giải pháp nâng cao năng lực cán bộ tập huấn XD NTM 52

4.4.6 Giải pháp về sự phối hợp các tổ chức thực hiện hoạt động tập huấn công tác xây dựng NTM 53

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

Trang 6

5.2 Kiến nghị 55

5.2.1 Đối với Nhà nước 55

5.2.3 Đối với BQL xây dựng nông thôn mới huyện Đồng Hỷ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt sử dụng Nội dung

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả tổng hợp vốn thực hiện chương trình 37 xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ 37 Bảng 4.2 Kết quả thực hiện các tiêu chí tại các xã của huyện Đồng Hỷ 38 Bảng 4.3 Một số đặc điểm chung về các cán bộ xây dựng nông thôn mới (3

xã điều tra) 41 Bảng 4.4 Kết quả hoạt động tập huấn cán bộ xây dựng nông thôn mới huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2015-2017 42 Bảng 4.6 Ý kiến của người dân về các nội dung tập huấn 44 Bảng 4.7 Ý kiến của người dân về phương thức tập huấn XD NTM huyện Đồng Hỷ 45 Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về độ dài thời gian tập huấn xây dựng nông thôn mới huyện Đồng Hỷ 46 Bảng 4.8 Nguồn để cán bộ xây dựng lên bài giảng cho các lớp tập huấn 47 Bảng 4.11 Đánh giá khả năng tiếp nhận qua các kênh thông tin của người dân đến việc triển khai các hoạt động 48

Trang 9

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông thôn giữ một vị trí quan trọng Năm 2017, giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm 15,34% GDP, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 2,9% năm (Tổng cục thống kê, 2017) Trước mắt và lâu dài nông nghiệp, nông thôn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước

Do vậy việc xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân là việc làm rất cần thiết và cấp bách Xuất phát từ vị trí quan trọng của nông nghiệp nông thôn, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm thúc đẩy

sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn nói chung và xây dựng mô hình nông thôn mới (NTM) nói riêng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định “Xây dựng NTM ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”

Thái Nguyên là một tỉnh nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm của Trung

du miền núi phía Bắc Hiện nay nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò quan trọng; giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm trên 20% GDP toàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng đạt bình quân 3,5%/năm Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVII xác định nhiệm vụ xây dựng NTM, đến năm 2017 toàn tỉnh có 50% số xã đạt chuẩn NTM Để đạt được mục tiêu đó, công tác nâng cao năng lực cán bộ cơ

sở phụ trách NTM cho xây dựng NTM được đặt lên hàng đầu Chương trình MTQG xây dựng NTM đã được tỉnh Thái Nguyên triển khai thực hiện trên phạm vi rộng khắp và toàn diện từ tỉnh đến cơ sở và khắp mọi người dân ở nông thôn Với sự nỗ lực cố gắng của cán bộ và nhân dân, chương trình xây dựng NTM bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay như hệ thống đường, trường, trại, các dịch vụ, văn hóa,

Trang 10

xã hội, giáo dục, y tế, đời sống tinh thần người dân từng bước được cải thiện

và nâng cao Đạt được những kết quả nói trên, bên cạnh vai trò tham gia tích cực của quần chúng nhân dân, chúng ta cũng thấy rằng nhân tố quan trọng và hết sức cần thiết góp phần cho sự thực hiện thắng lợi chương trình xây dựng NTM đó là đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là các cán bộ tập huấn trong xây dựng NTM Với chức năng nhiệm vụ của mình là giúp việc tham mưu cho cán bộ xây dựng đề án quy hoạch, đội ngũ cán bộ này đã phát huy vai trò tích cực trong công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở triển khai thực hiện có hiệu quả, một cách đồng bộ các biện pháp để từng bước xây dựng và hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM đồng thời trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra Tuy nhiên, trong thực tiễn quá trình xây dựng nông thôn mới, bên cạnh sự tham gia tích cực, có hiệu quả thì vai trò và năng lực của cán bộ tập huấn NTM còn bộc lộ một số vấn đề, hạn chế ảnh hưởng tới kết quả xây dựng NTM như tham mưu xây dựng quy hoạch chỉ mang tính chất tổng thể và thiếu tính chi tiết và lâu dài Vấn đề này xét thấy cần thiết phải được nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ sở lý luận, thực tiễn, đồng thời đề ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực và vai trò của cán bộ trong xây dựng nông thôn mới, góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng NTM của huyện Đồng Hỷ nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải phát nâng cao hiệu quả của công tác tập huấn trong xây dựng nông thôn mới, tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực cán bộ BQL XDNTM tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ BQLXDNTM tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nhằm góp phần thực hiện thành công chương trình MTQG xây dựng NTM tại tỉnh Thái Nguyên

Trang 11

1.3 Mục tiêu của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cán bộ BQLxây dựng nông thôn mới;

- Đánh giá thực trạng năng lực cán bộ BQLxây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ BQL xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

- Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về phát triển nông thôn mới và những chính sách liên quan đến phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay

- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên

- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh

và phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn hiện nay

- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các

cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo của huyện, xã đưa ra những chính sách phát triển mô hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác có điều kiện tương đồng

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Khái niệm về nông thôn và phát triển nông thôn

* Nông thôn: theoSổ tay hướng dẫn xây dựng NTM của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã

* Nông thôn mới: Là khu vực nông thôn được tổ chức thực hiện các hoạt động về kinh tế, văn hóa xã hội, y tế, cơ sở hạ tầng, môi trường, hệ thống chính trị theo một mục tiêu của một chu trình nhất định

Nông thôn mới có các đặc trưng là: Nông thôn phát triển theo quy hoạch,

có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát huy; An ninh tốt, quản lý dân chủ; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

* Cán bộ BQLchương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM):

Là những người trực tiếp tham gia công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM tại địa phương, cơ sở

* Năng lực: Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao

Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ, như vậy mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở

cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó

Trang 13

Năng lực nghề nghiệp có thể được định nghĩa là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại theo tác giả Mạc Văn Trang (2000), năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 yếu tố: tri thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề, và thái độ đối với nghề

2.1.2 Giới thiệu chương trình xây dựng và chủ thể tham gia nông thôn mới

Theo thông tư liên tịch Số: 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC hướng dẫn một số nội dung thực hiện quyết định số 800/QĐ - TTG ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 có quy định như sau:

* Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật

tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

* Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới); Đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)

* Thời gian, phạm vi thực hiện chương trình: Thời gian thực hiện: từ năm 2010 đến năm 2020; Phạm vi: thực hiện trên địa bàn nông thôn của toàn quốc

* Nội dung chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:

Một là: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa

Trang 14

bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

Nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện nội dung 1 “Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ”; Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện nội dung 2: “Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã”; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh 02 loại quy hoạch trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân xã tổ chức lập quy hoạch, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư, trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện các quy hoạch đã được duyệt

Hai là: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

Nội dung: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã

và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa); Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn

xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95%

số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa

Trang 15

xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến

2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí

và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện nội dung 1: “Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân

xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã”; Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện nội dung 2: “Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã”; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện nội dung 3: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã”; Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện nội dung 4: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã”; Bộ Giáo dục hướng dẫn thực hiện nội dung 5: “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã”; Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện nội dung 6: “Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ”; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện nội dung 7: “Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã”; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và

Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng

đề án và tổ chức thực hiện

Ba là: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

Trang 16

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt;

Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao; Tăng cường công tác BQL; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện nội dung 1, 2, 3, 4; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện nội dung 05; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các

xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Bốn là: Giảm nghèo và an sinh xã hội

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Nội dung: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo; Thực hiện các chương trình an sinh xã hội Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện các nội dung trên; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các

xã xây dựng đề án theo các nội dung có liên quan nêu trên; Đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Trang 17

Năm là: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn

Nội dung: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện các nội dung 1, 3; Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện nội dung 2; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng

đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án theo nội dung 1, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân

cư, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện

Sáu là: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn; Nội dung: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề

án và tổ chức thực hiện

Bảy là: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn; Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Trang 18

Phân công quản lý, thực hiện dự án: Bộ Y tế chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Tám là: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa

xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn;

Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; Thực hiện thông tin

và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, hướng dẫn thực hiện nội dung 1; Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, hướng dẫn thực hiện nội dung 2; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;

Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện

Chín là: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân

cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến

2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;

Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải

Trang 19

tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng

dự án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng dự án, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện

Mười là: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

Nội dung: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội

vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới; Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này; Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và

cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nội vụ chủ trì, hướng dẫn thực hiện;

Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung có liên quan; đồng thời chỉ đạo, triển khai thực hiện; Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án theo nội dung 1, 3 và tổ chức thực hiện

Mười một là: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

Trang 20

Nội dung: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh

xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới

Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Công an chủ trì, hướng dẫn thực hiện

đề án; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

* Vốn và nguồn vốn thực hiện chương trình: Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương), bao gồm: Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn: khoảng 23%, Vốn trực tiếp cho chương trình để thực hiện các nội dung theo quy định tại điểm 3 mục VI của Quyết định này: khoảng 17%; Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại): khoảng 30%; Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác

xã và các loại hình kinh tế khác: khoảng 20%; Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: khoảng 10%

Để thực hiện, kiểm tra và đánh giá công tác XD NTM Thủ Tướng chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (Ban hành kèm theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ) Có phụ lục 1 kèm theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới là cơ sở

để đánh giá công nhận các xã đạt tiêu chuẩn NTM Các tiêu chí này được giải thích ở TT Số: 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 08 năm 2009

2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác tập huấn cán bộ cho xây dựng nông thôn mới

Là chương trình mục tiêu quốc gia chiến lược, được thực hiện trên toàn quốc với nhiều mục tiêu mũi nhọn, thực hiện trong nhiều giai đoạn dài nên vấn đề đặt ra tương đối nặng nề, khối lượng công việc lớn

Để thực hiện thành công đầy đủ 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí NTM và

Trang 21

các chỉ tiêu được xác định, vấn đề đào tạo tập huấn cho cán bộ để thực hiện thành công là cốt lõi của vấn đề

Tập huấn cán bộ xây dựng NTM sẽ là yếu tố quyết định thành công của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Tuy nhiên, chiến lược đào tạo và tập huấn cán bộ như thế nào, quy mô

cơ cấu, … sẽ là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ để đáp ứng đủ cho chương mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số nước trên thế giới

Các nước trên thế giới đã thực hiện thành công xây dựng và phát triển nông thôn mới đã làm cho khoảng cách thành thị và nông thôn xích lại gần nhau và điều cơ bản là đã làm cho cuộc sống của nông dân được sung sướng,

ấm no và hành phúc, cơ sở hạ tầng hiện đại và đẹp Trong các nước đó phải

kể đến Mỹ, Hàn quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan Các nước này đã làm gì? Làm như thế nào? Trong quá trình thực hiện gặp những khó khăn gì? Chúng ta cần tìm hiểu và rút ra bài học kinh nghiệm để học tập

Hàn Quốc: Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người

của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy

ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm

1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc

Trang 22

lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ

hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin

Thái Lan: Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân

số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho

Trang 23

nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những

kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển

Tại Trung Quốc: Theo GS-TS Lý Ninh Huy, công cuộc cải cách nông

thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân

Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu

Trang 24

mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực Chẳng hạn, thời điểm sản lượng lương thực giảm trong 5 năm liên tiếp, đến năm 2004, Trung Quốc đã thực hiện trợ cấp trực tiếp giống, mua máy móc, dụng cụ nông nghiệp, trợ cấp giá bảo đảm để nông dân trồng lương thực có lãi Hay khi giá vật tư nông nghiệp, phân hóa học, thuốc trừ sâu…biến động, Chính phủ nước này trợ cấp trực tiếp cho vật tư sản xuất; Hạn chế lấy đất nông nghiệp: Theo các nhà khoa học Trung Quốc, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nước này được quy định rất ngặt nghèo Nếu chuyển đổi mục đích

sử dụng đất, phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên Hiện ở Trung Quốc, nhiều địa phương thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, đã phải trả lại cho nông dân sản xuất nông nghiệp Đồng thời, nước này cũng đang nghiên cứu nông dân có thể dùng đất canh tác thế chấp ngân hàng vay vốn Đối với những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp (sau khi lấy đất nông nghiệp) được chuyển về chính quyền thôn xã Việc lấy đất nông nghiệp có thể thực hiện theo hình thức đất đổi đất, do chính quyền địa phương thực hiện trong quy hoạch, tùy thuộc vào chất lượng, vị trí đất như thế nào Ông Triệu Vân Kỳ, chuyên gia nghiên cứu Viện Nghiên cứu khoa học Tài chính (Bộ Tài chính Trung Quốc) cho biết, tài chính hỗ trợ Tam nông tập trung 3 mục tiêu là nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, và nông dân tăng thu nhập Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị nông nghiệp

và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền

Trang 25

tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng) Theo GS-TS Lý Ninh Huy, từ năm

1978, Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn, lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT, tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn;

hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn

Bài học kinh nghiệm rút ra rừ các nước thực hiện XD và phát triển NTM là: Một là: Thu hút đầu tư vào sản xuất nông nông, sản xuất hoàng hóa và nguyên liệu cho nông dân sử dung, Mở rộng quy mô trang trại, củng cố hoạt động linh hoạt hơn; thực hiện cơ khí hóa nông nghiệp và áp dụng công nghệ khoa học ký thuật cao vào nông nghiệp

Hai là: Thực hiện sản xuất chuyên canh “ Mỗi làng 1 sản phẩm”

Ba là: Động viên nông dân thực hiện 3 tiêu chí cần cù, tự lực và hợp tác cộng đồng; Đổi mới canh tác, Đầu tư xây dựng cơ sở hạn tẩng; Chính phủ hỗ trợ và XD nhiều nhà máy ở nông thôn;

Bốn là: Phát huy nội lực của dân, kinh phí dân tự nguyện đóng góp; chăm lo đời sống cho dân, phát huy quyền dân chủ của người dân: dân biết , dân bàn, dân góp, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng

Năm là: Đào tạo cán bộ quản lý và phát triển nông thôn, mở các lớp tập huấn cho dân, hướng dẫn cho nông dân biết cách làm ăn theo phương châm cầm tay chỉ việc

2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt nam

2.2.1 Thành tựu của quá trình phát triển nông thôn

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế là trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam Trở thành thành viên chính thức của tổ chức

Trang 26

thương mại thế giới đã mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và người dân nông thôn nói riêng

Thực tế cho thấy, các chính sách và các hoạt động về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế luôn là lĩnh vực quan trọng và thu hút rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách cũng như sự quan tâm của người dân nông thôn Phát triển nông thôn là một trong những chiến lược phát triển kinh

tế trong công cuộc đổi mới của đất nước cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ Phát triển nông thôn nước ta đi sau các nước phát triển một bước, đó là một hạn chế, song cũng có thuận lợi vì đây là những kinh nghiệm quý báu để chúng ta tham khảo và vận dụng Trong công cuộc đổi mới đất nước, nông thôn nước ta có sự thay đổi được đánh dấu bằng Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khóa VI, tháng 4/1988), Nghị quyết ban chấp hành Trung ương 5 (Khóa VII tháng 6/1993) và luật đất đai năm 2003 Quy

mô nền kinh tế năm 2017 đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD

so với năm 2016 Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%; khu vực dịch vụ chiếm 41,32%; (tổng cục thống kê, 2017)

Những nét mới của năm 2017 là cơ cấu sản lượng lương thực đã chuyển dịch theo hướng tích cực như vừa đa dạng hóa, vừa tăng chất lượng sản phẩm để đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Sản lượng ngô đạt 5,13 triệu tấn, giảm 114,6 nghìn tấn so với năm 2016 do diện tích gieo trồng giảm 52,9 nghìn ha (năng suất ngô tăng 1,1 tạ/ha) Điều đó đã đáp ứng được yêu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc

mà các năm trước phải nhập khẩu Đó cũng là một nét khởi sắc trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong ngành trồng trọt, phù hợp với tinh thần Nghị quyết

IX của Chính phủ Sản xuất lúa tiếp tục phát triển theo hướng: giảm dần diện tích, tăng năng suất lúa gạo Sản lượng lúa cả năm 2017 ước tính đạt 42,84

Trang 27

triệu tấn, giảm 318,3 nghìn tấn so với năm 2016[7] do cả diện tích và năng suất đều giảm so với năm trước Diện tích lúa cả năm 2017 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016; năng suất lúa cả năm đạt 55,5 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/hasản lượng rau các loại đạt 16,49 triệu tấn, tăng 562,8 nghìn tấn (diện tích tăng 29,5 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 162,3 nghìn tấn, giảm 5,3 nghìn tấn (diện tích giảm 10 nghìn ha) Chăn nuôi tiếp tục phát triển nhanh, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, giảm 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,7 triệu con, tăng 2,9%, đàn lợn có 27,4 triệu con, giảm 5,7%; đàn gia cầm có 385,5 triệu con, tăng 6,6% Chăn nuôi đã có hướng chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã chuyển theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt (tổng cục thống kê, 2017)

- Ngành lâm nghiệp phát triển và đạt được một số thành tựu: Tốc độ

tăng trưởng của ngành lâm nghiệp bình quân đạt 1,4%/năm Năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 241,3 nghìn ha, tăng 1,2%

so với năm 2016, trong đó diện tích rừng sản xuất ước tính đạt 228 nghìn ha, tăng 1,3%; rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 12,7 nghìn ha, giảm 1,5%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán cả năm đạt 99,8 triệu cây, tăng 0,6% Từ năm 2000 đến nay, bình quân hàng năm trồng được gần 200 ngàn ha rừng Các khâu khoanh nuôi tái sinh, khoán quản lý bảo vệ rừng theo phương thức”giao đất khoán rừng” đều đạt và vượt kế hoạch Thành tựu đáng ghi nhận trong việc khai thác và chế biến lâm sản từ rừng là tỷ lệ gỗ khai thác từ trồng đã tăng lên Sản lượng gỗ khai thác năm 2017 ước tính đạt 11,5 triệu m3, tăng 12,4%

- Ngành thuỷ sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông lâm

thuỷ sản Đến năm 2017, Sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 7.225,0 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm trước, trong đó cá đạt 5.192,4 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 887,5 nghìn tấn, tăng 8,8%.Thành tựu đáng chú ý nhất là diện tích và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng trưởng ở mức cao Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đã gắn kết

Trang 28

chặt chẽ Các khâu trọng yếu về hạ tầng kỹ thuật phục vụ nuôi trồng, khai thác, chế biến đã được đầu tư, từng bước hiện đại hoá (tổng cục thống kê, 2017)

- Do kinh tế tăng trưởng cao, thị trường giá cả ổn định nên đời sống vật

chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư được cải thiện Năm 2017, cả nước

có 181,4 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 31,7% so với năm trước,, hệ số chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có hướng thu hẹp, công bằng xã hội được đảm bảo Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ các đối tượng chính sách giúp đỡ người nghèo, vùng bị thiên tai, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng cao được Nhà nước và các đoàn thể xã hội và nhân dân trợ giúp các tỉnh bị hạn hán lũ lụt nặng để nhân dân vùng này sớm ổn định sản xuất và đời sống Đến nay 100% số huyện, 98% số xã có điện lưới quốc gia, hơn 600 xã có điểm bưu điện văn hóa xã, 50% số hộ nông thôn dùng nước sạch (tổng cục thống kê, 2017) Hệ thống đường giao thông nông thôn được nâng cấp, phong trào kiên cố hóa kênh mương thủy lợi phát triển rộng khắp, nhiều trường học, trạm y tế được xây dựng mới theo phương châm nhà nước

và nhân dân cùng làm

2.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương

2.2.2.1 Công tác tập huấn cán bộ xây dựng nông thôn mới

Chương trình xây dựng thí điểm MHNTM trong thời kỳ CNH - HĐH được triển khai thực hiện theo kết luận số 32 - KL/TW ngày 20/11/2008 của

Bộ Chính trị và thông báo kết luận số 238 - TP/TW ngày 7/4/2009 của ban

bí thư về đề án “xây dựng thí điểm mô hình NTM”, nhằm tổ chức thực hiện

Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 5/8/2008 của hội nghị lần thứ 7, BCH

Trung ương Đảng (khóa X) về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

Chương trình đã có bước đầu thành công phải kể đến công tác tập huấn tuyên truyền của các cán bộ tập huấn xây dựng nông thôn mới Tiêu biểu trong công tác tập huấn của một số tỉnh như sau:

Quảng Trị đã tổ chức tập huấn về công tác xây dựng nông thôn mới cho

cán bộ văn hóa xã trên địa bàn toàn tỉnh Tham gia tập huấn là các chuyên

Trang 29

viên chuyên trách phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá

“TDĐKXDĐSVH” của 9 huyện, thị xã và 117 cán bộ văn hóa xã Tại lớp tập huấn các học viên được phổ biến những văn bản về xây dựng đời sống văn hóa và phong trào “TDĐKXDĐSVH”; về công tác quy hoạch, xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao; công tác chỉ đạo, tổ chức hoạt động phong trào thể dục, thể thao quần chúng trong xây dựng nông thôn mới và một số hướng dẫn về thực hiện công tác gia đình Để chia sẻ những kinh nghiệm, những cách làm hay, sáng tạo trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới Thông qua lớp tập huấn các học viên - những người trực tiếp làm công tác văn hóa - xã hội nắm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, qua đó nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “TDĐKXDĐSVH” gắn với xây dựng nông thôn mới; Đây cũng là dịp để các học viên trao đổi những kinh nghiệm hay trong công tác xây dựng nông thôn mới ở từng địa phương, cơ sở

Tại Cao Bằng: Nhằm nâng cao năng lực nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới cấp xã, Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh Cao Bằng đã phối hợp Công ty Cổ phần Pro Phương Nam mở các lớp tập huấn về: “Đào tạo bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp giai đoạn 2016 – 2020 theo quyết định số 4072/QĐ-BNN-VPĐP ngày 05/10/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phê duyệt khung chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn

2016 – 2020” Học viên tham dự lớp tập huấn là: Bí thư hoặc phó bí thư đảng

ủy, phó chủ tịch HĐND, phó chủ tịch UBND, cán bộ địa chính, bí thư đoàn thanh niên, công an, chủ tịch hội nông dân, chủ tịch Mặt trận tổ quốc của 177/177 xã xây dựng nông thôn mới trong toàn tỉnh Các lớp tập huấn tập trung vào các nội dung: Trọng tâm về nông nghiệp, nông thôn bền vững; Quy hoạch chung xây dựng xã và đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã; Công tác giữ gìn, bảo vệ môi trường ở nông thôn; Phát triển văn hóa, xã hội, giữ vững

Trang 30

an ninh trật tự trong xây dựng nông thôn mới; Quy trình triển khai thực hiện

dự án phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội trong nông thôn mới; Phân tích, đánh giá hiện trạng và lập kế hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã có sự tham gia của người dân; Kỹ năng tuyên truyền, vận động người dân trong xây dựng nông thôn mới; Kỹ năng tổ chức, điều hành cuộc họp xử lý mâu thuẫn và xây dựng sự đồng thuận trong cộng đồng; Vai trò, trách nhiệm của các ngành, các cấp và các tổ chức trong xây dựng nông thôn mới….Trong quá trình tập huấn, các giảng viên đều dành quỹ thời gian nhất định để trao đổi, thảo luận với học viên về những vấn đề phát sinh từ thực tế trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

2.2.2.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh

Tại Thanh Hóa: Dù là một tỉnh còn nhiều khó khăn, song Thanh Hóa đã từng bước vượt khó để làm nông thôn mới (NTM) Đặc biệt, tỉnh này đã xây dựng thành công những xã NTM đầu tiên làm điểm để nhân rộng Hiện nay, toàn huyện Yên Định đã có 1 xã hoàn thành 19 tiêu chí, 1 xã hoàn thành 17 tiêu chí, 1

xã hoàn thành 16 tiêu chí, có 3 đơn vị đạt 9 tiêu chí và 22/27 xã còn lại đạt từ 10 – 14 tiêu chí Trung bình của toàn huyện đạt 12 tiêu chí (cao nhất tỉnh) Điển hình là xã Quý Lộc, đã hoàn thành 19/19 tiêu chí Còn huyện miền núi Thạch Thành, lại chọn cho mình cách làm khác Bởi, với địa hình 3/4 diện tích là đồi núi, nhưng từ khi bắt tay xây dựng NTM (31.12.2011), toàn huyện Thạch Thành không có xã nào đạt 10 tiêu chí trở lên Thế nhưng, chỉ sau 1 năm thực hiện Chương trình NTM, Thạch Thành đã đạt trung bình 8,8 tiêu chí (tăng 5,8 tiêu chí, cao nhất tỉnh) Theo báo cáo của BQL xây dựng NTM tỉnh Thanh Hóa, tính đến nay các địa phương trên toàn tỉnh đã huy động được 31.540 ngày công lao động, hiến 900ha đất, góp 1.983 tỷ đồng Toàn tỉnh đã có 573/573 xã phê duyệt xong quy hoạch chung xã NTM Trong 2 năm qua, thu nhập bình quân đầu người ở Thanh Hóa cũng được nâng lên, từ 9,5 triệu (năm 2010) lên 14,5 triệu

Trang 31

đồng/người/năm (năm 2012) Toàn tỉnh đã nâng cấp và xây dựng mới được 3.252 km đường giao thông các loại; cải tạo và nâng cấp 12 chợ

Tại Hà Nội: Đồng thuận, nỗ lực xây dựng nông thôn mới thực hiện chủ trương xây dựng NTM: Hà Nội đã lựa chọn 19 xã điểm, trong đó có 1 xã làm thí điểm của trung ương ở Thụy Hương (huyện Chương Mỹ); 3 xã làm điểm của TP là Song Phượng (huyện Đan Phượng), Mai Đình (huyện Sóc Sơn), Đại Áng (huyện Thanh Trì) và 15 xã điểm của huyện, thị xã Qua hai năm tập trung, quyết liệt thực hiện, phong trào xây dựng NTM ở Hà Nội đã có sự chuyển biến tích cực thu được những thắng lợi rất khả quan Nông thôn mới

đã mới Ngay khi có chủ trương xây dựng NTM, Hà Nội đã nhanh chóng thành lập BCĐ chương trình của TP và BCĐ của 19 huyện, thị xã để tập trung chỉ đạo 19 xã điểm khảo sát, lập đề án xây dựng NTM, trình UBND TP Đồng thời BCĐ TP chỉ đạo 19 xã điểm tập trung nguồn lực, nhân lực thực hiện đề

án theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước cũng như những cơ chế, chính sách đặc thù được áp dụng trong thực hiện xây dựng NTM BQL, BCĐ xây dựng NTM của 19 xã điểm đã tập trung tổ chức nhân dân thực hiện đề án theo quyết định được cấp thẩm quyền phê duyệt Để từng bước nâng cao năng lực chuyên môn về xây dựng NTM, BCĐ TP đã mở các lớp tập huấn cho cán

bộ chủ chốt của 19 huyện, thị xã, 400 xã và 137 thôn của 19 xã điểm Đồng thời, tổ chức 12 đoàn cán bộ đi trao đổi, học tập kinh nghiệm xây dựng NTM

ở trong và ngoài nước Qua hai năm, ngân sách các cấp đã đầu tư vào các Chương trình mục tiêu quốc gia, mục tiêu của TP và chương trình lồng ghép mỗi năm từ 7.000 đến 8.000 tỷ đồng cùng các nguồn lực huy động khác đầu

tư xây dựng NTM rất hiệu quả Đến nay, một số nội dung về xây dựng NTM như: Dồn điền đổi thửa, phát triển sản xuất, làm đường giao thông nông thôn, các công trình y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường đã được cải thiện đáng kể

Thực tế triển khai tại Hà Nội cũng cho thấy nhiều tiêu chí chưa phù hợp,

đề nghị trung ương xem xét: Các tiêu chí về hạ tầng nông thôn (giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục) nên quy định khung và giao quyền cho cấp tỉnh, TP quyết

Trang 32

định cho phù hợp với điều kiện thực tế và nguồn lực của địa phương Tiêu chí về thu nhập quy định xã NTM phải cao gấp 1,5 lần bình quân chung của tỉnh, TP là chưa phù hợp, vì các xã khác cũng phải xây dựng NTM, nên quy định có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm gấp 1,5 lần so với trước khi xây dựng NTM là phù hợp Tiêu chí giảm hộ nghèo và cơ cấu lao động nên quy định khung và có

lộ trình phù hợp với thực tế nông thôn Ngoài ra, không nhất thiết một xã phải có một chợ vì thực tế hai hay nhiều xã có một chợ vẫn bảo đảm phục vụ sinh hoạt của nhân dân Tiêu chí làng văn hóa yêu cầu xã có 70 % số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa rất khó thực hiện

Tại Hà Tĩnh xây dựng nông thôn mới bền vững “Tâm huyết, trách nhiệm và biết làm”: Sau hai năm xây dựng nông thôn mới (NTM) ở Hà Tĩnh, giai đoạn đầu hết sức vất vả, thậm chí có lúc lúng túng vì vấn đề lớn, rộng và đầy rẫy khó khăn Nó mất cân đối giữa cung và cầu, đặc biệt là vấn đề nguồn lực Mong muốn kỳ vọng của dân thì lớn Muốn làm NTM nhanh nhưng khả năng nguồn lực để đáp ứng lại hạn chế Đặc biệt, 2 năm qua lại rơi vào cao điểm khủng hoảng kinh tế, lạm phát toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xây dựng NTM Các xã xây dựng NTM ở Hà Tĩnh phần lớn là xã khó khăn, xã nghèo Hà Tĩnh chịu sự biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt lũ lụt, hạn hán thường xuyên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp Tuy khó khăn là vậy, nhưng những năm qua Hà Tĩnh đã có được kết quả đáng mừng và được Trung ương đánh giá là một trong 3 tỉnh tốp đầu về xây dựng NTM, có cách làm sáng tạo và đúng đắn Cái mừng nhất, đạt kết quả quan trọng nhất ở Hà Tĩnh là chuyển biến được nhận thức của nhân dân

và cán bộ từ thôn xóm cho đến cấp tỉnh Nhờ chuyển biến nhận thức nên khi tỉnh huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc thì đã tạo được sự đồng thuận, ủng hộ rất cao Cho đến nay, Hà Tĩnh là tỉnh duy nhất trong cả nước hỗ trợ lãi suất ở mức 4%/năm cho bà con nông dân phát triển nông nghiệp Thời gian

hỗ trợ kéo dài đến hết năm 2013 Nhờ được tham gia tập huấn hàng trăm cuộc, hàng vạn người dân tham gia, đi tham quan học hỏi những nơi làm hay,

Ngày đăng: 07/06/2019, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w