ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LY SEO DẾ Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ, CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA G
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LY SEO DẾ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ, CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG CAM SÀNH KHÔNG HẠT LĐ6 TẠI
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Thái Nguyên – năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LY SEO DẾ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ, CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG CAM SÀNH KHÔNG HẠT LĐ6 TẠI
HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Giảng viên hướng dẫn : TS Đặng Thị Tố Nga
GS.TS Đào Thanh Vân
Thái Nguyên – năm 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất đối với tất cả các sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học vào thực tế Đồng thời giúp sinh viên có điều kiện làm quen với công việc sản xuất, học hỏi kinh nghiệm nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học Từ đó tạo cho mình tác phong nhanh nhẹn, tính sáng tạo và say mê trong công việc, trở thành người cán bộ khoa học thực thụ góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà
Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự cho phép của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học em đã tiến hành nghiên cứu khóa luận tốt
nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá, chất điều hòa
sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”
Trong thời gian thực tập từ ngày 06/2017 đến /12/2017 em đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình, chỉ bảo của cô giáo TS Đặng Thị Tố Nga và thầy giáo
GS.TS Đào Thanh Vân, các thầy cô giáo trong khoa, các cán bộ phòng nông
nghiệp huyện Lục Yên cùng các anh chị, bạn bè, người thân đã giúp đỡ tận tình
để em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này Đã giúp em không chỉ củng cố được kiến thức lý thuyết về các môn học trên giảng đường mà còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, kỹ năng làm việc và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội Đây chính là cơ sở nền tảng giúp cho em có những bước đi vững chắc sau này để trở thành một kỹ sư nông nghiệp giỏi trong tương lai
Một mặt do điều kiện thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế mặt khắc đây cũng là lần đầu tiên tôi được trực tiếp thực hiện một đề tài khoa học nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vậy em kính mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2018
Sinh viên
Ly Seo Dế
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các loài cam quýt được trồng nhiều trong sản xuất 7
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới năm 2016 8
Bảng 2.3 Diện tích và sản lượng cây cam, quýt ở Việt Nam 10
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cam của Việt Nam 10
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6 32
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cam sành LĐ6 33
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính gốc của cam sành không hạt LĐ6 35
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất hiện của các đợt lộc 36
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của lộc thu của giống cam sành không hạt LD6 37 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của lộc đông của giống cam sành không hạt LD6 38
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng giữ quả của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên 39
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất cam Sành không hạt LĐ6.tại huyện Lục Yên 41
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến sâu bệnh hại trên cây cam sành không hạt LĐ6 42
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Nguồn gốc và phân loại của cam 5
2.2.1 Nguồn gốc 5
2.2.2 Phân loại cam quýt 6
2.3 Tình hình sản xuất cam trên thế giới và Việt Nam 7
2.3.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới 7
2.3.2 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 9
2.3.3 Các vùng trồng cam trong nước 11
2.4 Một số đặc điểm thực vật học của cam quýt 17
2.4.1 Bộ rễ 17
2.4.2 Thân, cành 17
2.4.3 Lá 18
Trang 7v
2.4.4 Hoa 19
2.4.5 Quả, hạt 19
2.5 Yêu cầu sinh thái của cam quýt 20
2.5.1 Nhiệt độ 20
2.5.2 Ánh sáng 20
2.5.3 Nước 20
2.5.4 Đất 21
2.5.5 Dinh dưỡng 21
2.6 Một số giống cam 22
2.6.4 Giống cam Mật 22
2.6.5 Cam sành Hàm Yên 22
2.6.6 Cam V2 23
2.6.7 Cam sành LĐ6 23
2.7 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng 24
2.7.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng 24
2.7.2 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng 27
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.1.3 Dụng cụ nghiên cứu 27
3.1.4 Đặc điểm các vật liệu nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
Trang 8vi
3.4 Phương pháp xử lý số liệu: 31
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cam sành không hạt LĐ6 32
4.1.1 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6 32
4.1.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 33
4.1.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính gốc của cam sành không hạt LĐ6 34
4.1.4 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất hiện và kết thúc các đợt lộc của cam sành không hạt LĐ6 36
4.1.5.Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của lộc thu của giống cam sành không hạt LD6 37
4.1.6 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của lộc đông của giống cam sành không hạt LD6 38
4.1.7 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng giữ quả của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên 39
4.1.8 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất của cam Sành không hạt LĐ6 41
4.1.9 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình trạng sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6 42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây có múi (Citrus) là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao, có hương vị
thơm ngon, được nhiều người ưa chuộng Cây cho quả sớm và có sản lượng cao, năm thứ ba sau trồng cây đã bắt đầu cho quả, những năm về sau năng suất tăng dần và thời gian kinh doanh kéo dài, nếu chăm sóc tốt cây có thể cho thu hoạch trên 50 năm Cam quýt có nhiều giống chín sớm muộn khác nhau, nên có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường tới 6 tháng trong năm, mặt khác, quả chín đúng vào dịp Tết Nguyên Đán nên càng
có giá trị
Ngày nay đời sống xã hội đã được cải thiện thì nhu cầu con người ngày càng cao Ngoài giá trị về mặt kinh tế, cây ăn quả còn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những giá trị dinh dưỡng cho con người Quả tươi là một phần rất cần thiết trong bữa ăn của mỗi gia đình, tăng khẩu phần quả tươi trong mỗi bữa ăn là mức phấn đấu của nhiều nước có nền kinh tế phát triển Đáp ứng đủ nhu cầu quả tươi trong mỗi bữa ăn hàng ngày là bảo đảm dinh dưỡng và an toàn cho mỗi người
Cam sành là cây ăn quả quan trọng đã gắn với người nông dân tại huyện Lục Yên trong nhiều năm nay, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều
hộ nông dân Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây diện tích cam sành đã giảm mạnh, năng suất thấp, chất lượng kém Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình sản xuất hiện nay, trong đó có nguyên nhân giống bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm đặc biệt là bệnh greening, quá trình trồng chăm sóc chưa được người dân đầu tư đúng mức dẫn đến cây thiếu dinh dưỡng còi cọc, chất lượng quả kém Nông dân chưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là tiến
bộ về kỹ thuật lai tạo, nhân giống cam, việc đầu tư chăm sóc còn nhiều hạn chế
Trang 102
Ngoài ra, do đặc điểm của quả cam sành thường có nhiều hạt, đây chính là điều bất lợi cho sản phẩm cam Lục Yên vì rất khó khăn tham gia vào xuất khẩu thị trường thế giới Do đó dù chất lượng khá cao nhưng giá bán cam sành thấp hơn giá bán các loại cam không hạt khác Bên cạnh đó, do đặc điểm cam sành thường chín tập trung từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, nên giá cam thường hay rớt giá khi vào chính vụ Chính vì vậy người dân tại đây rất cần một giống cam mới có thể trồng kết hợp với cây cam sành để rải vụ thu hoạch và có những hướng dẫn quy trình kỹ thuật cụ thể giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân
Trong thời gian qua, giống cam sành không hạt LĐ6, do Viện cây ăn quả miền Nam chọn tạo ra đã được đưa vào trồng khảo nghiệm và tỏ ra thích hợp với điều kiện của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Chất lượng quả tốt và số hạt/quả thấp < 5 hạt/quả, ổn định
Để tạo điều kiện cho sinh trưởng và phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định ảnh hưởng phân bón qua lá, chất điều hòa sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Trang 113
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trong nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi kiến thức, kinh nghiệm thực tế nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày một báo cáo khoa học
- Là cơ sở để tiến hành nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp quy trình
kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện sản xuất cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Lựa chọn được giống cam thích hợp đối với điều kiện sinh thái của vùng để đưa vào nhân rộng trong sản xuất
- Giúp cho người dân bước đầu tiếp cận các biện pháp kĩ thuật mới trong việc trồng và chăm sóc cây cam góp phần tăng năng suất, chất lượng quả, hạn chế sâu bệnh nâng cao thu nhập cho người làm vườn
Trang 124
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng,
ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, dinh dưỡng và khí hậu,
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng
đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời
kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông) Do vậy việc
bổ sung dinh dưỡng, nhất là dinh dưỡng qua lá cho cây giúp cho cây ra được các đợt lộc tốt với số lượng lộc nhiều
Cùng với việc sử dụng phân bón lá, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin Các chất này khuyếch tán vào bầu và
Trang 135
kích thích sự lớn lên của quả Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng Trong số các hoocmon sinh trưởng thì
sinh lý của cây Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả
2.2 Nguồn gốc và phân loại của cam
2.2.1 Nguồn gốc
Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây
ăn quả Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya Trung Quốc vùng quần đảo Philipin, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
Cam ngọt (Citrus sisnensis Osbeck), được xác định có nguồn gốc ở
miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonesia, sau đó cũng giống
như các loài Citrus medica được mang đến trồng ở châu Âu và Địa Trung
Hải, châu Phi vào thế kỉ 13 đến thế kỉ 17 (Trần Như Ý và cs, 2000) [12] Giống cam nổi tiếng thế giới
Cam chua ( Citrus aurantium Osbeck) có nguồn gốc ở Đông Nam châu
Á, có khả năng ở Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc Cam chua không ngừng được đưa về hướng Tây, Bắc Phi và Tây Ban Nha ở thế kỷ đầu tiên sau công
Trang 142.2.2 Phân loại cam quýt
Cam quýt thuộc bộ cam quýt (Rutales), họ cam quýt (Rutaceae), được phân chia làm 130 giống (genera) với những đặc điểm chung như cây có
mang tuyến dầu (chủ yếu phân bố ở lá), bầu lọc nối trên đài hoa, lá phần lớn
có đỉnh viền răng cưa, quả thảo gồm 2 hay nhiều noãn bên trong, 130 giống
này nằm trong họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae)
là có ý nghĩa nhất Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc
“gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thực sự” (True Citrus group) được phân
bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều
giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids),
hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân
tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt Hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng, theo Tanaka, Nhật Bản (Phạm Văn Côn,
1997) [1] Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tế sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt trong quá
trình trồng trọt đã biến dị trở thành giống mới Ông quan sát ghi chép tỷ mỉ đặc điểm hình thái giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới có tên khoa học được bắt đầu bằng tên giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulturre Tanaka, Swingle đã phân
Trang 157
chia cam quýt ra thành 16 loài tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại
này chi tiết đến từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm True
Citrus Group và nhóm con lai được liệt kê ở bảng biểu sau và một số nhóm
con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, có thể được mô tả như sau (Vũ Công Hậu, 2000, Đường Hồng Dật, 2003) [6] [2]
Bảng 2.1: Các loài cam quýt được trồng nhiều trong sản xuất
1 C.sisnensis Osbeck Sweets Orange Cam ngọt
6 C.aurantiforlia
swingle
7 C.triforiate L Trioliate Chanh đắng
8 C.grandis L Shadock(Pummelo) Bưởi
9 C.paradishi L Pomelo(Grapefruit) Bưởi chùm
10 C.fortumenna
swingle
(Nguồn: Vũ Công Hậu, 2000) [6]
2.3 Tình hình sản xuất cam trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới
Hiện nay cam quýt được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam
Trang 168
quýt cũng sớm phát triển và ngược lại
Năm 2016 diện tích cam quýt cho thu hoạch của toàn thế giới là 9.453.478 ha, năng suất trung bình đạt 15,498 tấn/ha, sản lượng đạt 146.429.018 tấn
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2014, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (4.747.821 ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 33.066 ha
- Vùng châu Mỹ: Các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới năm 2016
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018.[16]
Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất nhiều cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất là 4.747.821 ha, chiếm trên 40% tổng diện tích toàn thế giới, tuy nhiên vùng này lại có năng suất trung bình thấp nhất (14,78 tấn/ha)
Trang 179
2.3.2 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước
Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến Từ những năm
1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng Tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác 500ha
Ở nước ta hiện nay có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên , ngoài ra cam quýt còn được trồng ở vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên
và vùng Đông Nam Bộ
Trang 18Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cam của Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2016
(DT: 1000ha)
2011 2012 2013 2014 2015 2016
Tốc độ tăng TB (%)
Với số liệu của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Hội nghị về Hiện trạng
và giải pháp phát triển cây ăn quả tháng 12/2017 thì diện tích sản xuất cam
Trang 1911
tăng bình quân giai đoạn 2011 – 2016 là 8,1% với diện tích năm 2016 là 77.700 ha Năng suất tăng chậm với số liệu là 12,33 tấn/ha Năm 2016 tổng sản lượng cam là 627.000 tấn với tỷ lệ tăng bình quan giai đoạn 2011 – 2016
là 3,6%
2.3.3 Các vùng trồng cam trong nước
2.3.3.1 Vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí địa lý từ 9°15’ đến 10°30’ vĩ độ Bắc và 105°00’đến 106°45’ độ kinh Đông Đây là vùng tận cùng phía Nam đất nước thuộc châu thổ sông Cửu Long, địa hình rất bằng phẳng, bằng hoặc cao hơn mực nước biển 3 - 5 m Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ lượng mưa, độ
ẩm không khí… được phân bố theo 2 mùa trong năm khá rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và sự phân
bố này tương đối ổn định qua các năm
Về chế độ nhiệt: vùng Đồng bằng sông Cửu Long có chế độ nhiệt cao
và rất ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm 25,5 - 29,8 °C, tháng nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình 24 - 25 °C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 21 - 22 °C Tháng nóng nhất là tháng 4, nhiệt độ trung bình 28 -
29 °C, nhiệt độ tối cao không quá 38 - 39 °C Bức xạ nhiệt lớn và ổn định
Về chế độ mưa và độ ẩm: lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long dao động từ 1.300 - 1.600 mm, tập trung vào mùa mưa (90%), chỉ có 10% ở các tháng mùa khô, tháng 11 là mưa ổn định nhất, còn các tháng khác đặc biệt là tháng 7 và tháng 8 số ngày mưa và lượng mưa rất biến động Mùa khô có 2 tháng, tháng 1 và 2 là mưa ít nhất, mỗi tháng chỉ
có 2 - 3 ngày Độ ẩm không khí trung bình 83 - 85%, tháng khô hạn nhất độ
Trang 2012
người dân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc các loại cây ăn quả có múi Chủ yếu là cam quýt được trồng ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu nông dân thường phải lên liếp trồng cam quýt để tránh mực nước ngầm cao vào những tháng lũ (tháng 9 - 10) Trước đây đa số nông dân nhân giống bằng chiết cành, một số ít nhân giống bằng hạt, song hiện nay họ đã biết áp dụng các kĩ thuật nhân giống tốt hơn bằng cách ghép Đặc biệt trong kĩ thuật chăm sóc, người ta đã biết điều khiển tầng, tán, chiều rộng, chiều cao cây để sử dụng tối đa năng lượng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước, không khí trong đất, hình thành một sự cân bằng khá hoàn chỉnh trong môi trường sinh thái vùng đồng bằng
Ở đây cũng có tập đoàn loài cam quý rất phong phú như: cam chanh, cam sành, bưởi, chanh giấy, quýt… Cam của Nam Bộ quả lớn, hương vị thơm ngon vượt xa loại cam mang từ Trung Quốc vào cùng mùa quýt Tiều (hay quýt Hồng), quýt Xiêm, quýt Đường, bưởi Đường , bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyền… năng suất của các giống trên ở điều kiện khí hậu, đất đai ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tương đối cao
Cam quýt được phát triển nhiều và mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài yếu tố khí hậu, đất đai thuận lợi còn do cam quýt có giá trị hiệu quả kinh tế rất cao so với các loại cây trồng khác
Số liệu điều tra của Trường Đại học Cần Thơ tháng 12/1992 cho thấy lãi thuần trên 1 ha quýt là 82,4 triệu đồng, cam đạt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu và bưởi 21 triệu đồng
Nhìn chung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế về điều kiện khí hậu nhất là chế độ nhiệt ổn định, ôn hòa, khả năng mở rộng diện tích cam quýt còn lớn, có tập đoàn giống phong phú, đa dạng, nhiều giống hiện tại được coi là những giống tốt, cho năng suất cao, cho hiệu quả kinh tế lớn
Trang 21- Đất phù sa là loại đất tốt thích hợp với cam quýt, sống ven các sông Tiền, sông Hậu hoặc các cù lao mạch nước ngầm cao gây cản trở tới việc ăn sâu của rễ cam quýt và ảnh hưởng tới tuổi thọ của chúng
- Sâu bệnh sẽ phát triển rất nhanh, do vậy chi phí cho công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ sâu bệnh rất tốn kém
2.3.3.2 Vùng khu IV cũ
Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 18°00’ - 20°30’
vĩ độ Bắc Trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An, gồm một cụm gồm các nông trường chuyên trồng cam, với diện tích năm
1990 là 1.600 ha Đây là vùng trồng cam tập trung có ưu thế về tiềm năng đất đai, đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất vì có đội ngũ đông đảo cán bộ công nhân được đào tạo chuyên nghiên cứu và sản xuất cây có múi
Vùng Phủ Quỳ nằm ở phía Tây Bắc thuộc tỉnh Nghệ An, từ vĩ độ 19°09’ đến 19°30’ vĩ độ Bắc và 105°24’ độ kinh Đông, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn và một phần huyện Quỳ Hợp Diện tích tự nhiên 730.000 ha, trong
đó đất đỏ bazan chiếm hơn 40%, ngoài ra còn có các loại đất khác như: Feralit
đỏ vàng phát triển trên đá phiến (gần 30%), đất đá vôi, đất phù sa không được bồi hàng năm… cũng là những loại đất trồng cam quýt tốt Là vùng đồi núi,
Trang 2210 ngày Đây là một hạn chế lớn đối với vùng sinh trưởng của cam quýt Ngược lại về mùa hè do ảnh hưởng của gió Tây - Nam nên khí hậu rất khô và nóng Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa nóng từ 27 - 30 °C, nhiệt độ tối cao trung bình là 33 - 33,6 °C Nhiệt độ tuyệt đối cao trong tháng nóng nhất (tháng 7) lên tới 42 °C Lượng mưa ở vùng Phủ Quỳ xấp xỉ 1.600 mm/năm, nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa nóng, gây hiện tượng xói mòn đất, trong khi các tháng mùa Đông lại ít mưa, lượng bốc hơi lớn, gây hiện tượng hanh khô thiếu nước
Do những hạn chế về mặt khí hậu, thời tiết cho nên mặc dù có nhiều ưu thế về mặt đất đai và trình độ khoa học kĩ thuật, song sản xuất cam ở vùng Phủ Quỳ vẫn thường không ổn định
Vấn đề đặt ra ở vùng sản xuất cam ở vùng Phủ Quỳ là cần phải đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, để hạn chế được những tác hại do thời tiết, khí hậu sinh ra Mặt khác, việc thay đổi cơ cấu giống cũng rất cần thiết, bởi vì từ trước tới nay vùng Phủ Quỳ sản xuất cam là chính Ít chú ý tới các loại khác trong họ cam (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]
2.3.3.3 Vùng miền núi phía Bắc
Gồm các tỉnh nằm trong dải vĩ độ từ 22 - 23 vĩ độ Bắc như: Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên, điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với 2 vùng kể trên
Trang 2315
Về điều kiện khí hậu, do vị trí địa lí nằm sát vành đai á nhiệt đới, lại có địa hình đồi núi và độ cao so với mặt nước biển tương đối cao, cho nên điều kiện khí hậu có mùa Đông lạnh và mùa Hè tương đối nóng Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 - 22 °C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 1) từ
14 - 15 °C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) từ 27 - 28 °C Tuy nhiên do ảnh hưởng của địa hình ở mỗi tỉnh và mỗi địa phương trong tỉnh khác nhau cũng gây nên sự biến đổi phức tạp về điều kiện khí hậu Đây là một
miền núi phía Bắc
Lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1.600 - 1.800
mm Riêng trung tâm Bắc Quang lượng mưa rất lớn từ 2.500 - 3.200 mm Tuy nhiên, sự phân bố của mưa không đều, lượng mưa phần lớn tập trung vào các tháng mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng khác lượng mưa không đáng kể Đặc biệt ở miền núi phía Bắc (trừ vùng Đông Bắc) ít bão và chỉ bị ảnh hưởng của bão (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]
Đất đai rất đa dạng, gồm các loại đất Feralit phát triển trên đá biến chất như: Đá Gơnai, đá vôi, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù
sa không được bồi ven các sông suối, đất dốc tụ do quá trình rửa trôi xói mòn tạo thành…
Địa hình phức tạp, chia cắt, độ dốc lớn Phần lớn độ dốc từ 10° trở lên, những đất có độ dốc < 10° thích hợp trồng cây ăn quả thâm canh thường diện tích nhỏ, phân tán
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai các tỉnh miền núi phía Bắc thích hợp với trồng cây ăn quả có múi Trên thực tế, cam quýt đã là một cây trồng phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc Cam quýt được trồng ở những vùng đất ven các sông, suối như: sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, sông Thương, sông Chảy… được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc 100
Trang 2416
ha như Bắc Sơn (Lạng Sơn); Bạch Thông (Bắc Kạn); Hàm Yên, Chiêm Hóa (Tuyên Quang); Bắc Quang (Hà Giang)… tại những vùng này cam quýt trở thành nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]
Có thể nói, vùng núi các tỉnh phía Bắc cũng là tiềm năng phát triển cam quýt lớn, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích
và tập đoàn giống phong phú, đa dạng
Khí hậu ở miền núi các tỉnh phía Bắc, ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cam quýt, còn có ưu thế nổi bật so với vùng đồng bằng sông Cửu Long là có mùa Đông lạnh, biên độ nhiệt ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quýt dễ phát mã, thể hiện đúng đặc trưng của giống, vì vậy mã quả cam quýt ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía Nam, quả ít hạt hơn, mọng nước và ít xơ bã
Hạn chế cơ bản của việc phát triển cam quýt ở vùng miền núi phía Bắc là: + Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ Quỳ - Nghệ
An hoặc vùng Đồng bằng sông Cửu Long Mới chỉ có một số vùng tương đối tập trung trồng nhiều cam quýt đó là: Bắc Sơn (Lạng Sơn) - khoảng trên 500
ha, Hàm Yên (Tuyên Quang) - trên 2000 ha; Bắc Quang (Hà Giang) - trên
2000 ha
+ Địa hình dốc, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế nhiều đến việc mở rộng vùng sản xuất cam làm hàng hóa
+ Việc áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều khó khăn
do trình độ dân trí còn thấp, tính thích ứng với nền kinh tế hàng hóa còn chậm
Sản xuất chủ yếu theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc canh một giống, nên dễ bị ứ đọng sản phẩm, sâu bệnh phát sinh gây hại nhiều, công tác tuyển chọn nhân giống chưa được chú trọng dẫn đến sự thoái hóa giống, phẩm chất ngày càng xuống cấp
Trang 2517
Khắc phục những trở ngại trên, phát huy thế mạnh của các tỉnh miền núi phía Bắc về điều kiện tự nhiên khí hậu để sản xuất hàng hóa quả có múi, chỉ có thể làm từng bước và bắt đầu từ việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật mới, đặc biệt là những tiến bộ kỹ thuật về giống vào những vùng sản xuất có kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát triển ra các vùng khác
2.4 Một số đặc điểm thực vật học của cam quýt
2.4.1 Bộ rễ
Nhìn chung cam quýt có bộ rễ ăn nông Theo Ekimop (Nga) thì biểu bì của rễ non có nấm cộng sinh Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như vai trò của lông hút với các cây trồng khác Sự phân bố của rễ cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nước ngầm, chế độ canh tác, chăm bón, nhưng nhìn chung rễ cam quýt ăn nông từ 0 - 30 cm Bộ rễ cam quýt hoạt động mạnh vào 3 thời kì:
+ Trước khi ra cành Xuân (từ tháng 2 - 3)
+ Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành Hè xuất hiện ( tháng 6 - 8) + Sau khi cành Thu đã sung sức (tháng 10) (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ
+ Nhiệt độ: Thích hợp nhất là trên dưới 26 °C, nhiệt độ thấp nhất là 12
°C và cao tới 37 °C thì rễ ngừng hoạt động
Trang 2618
- Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành:
+ Cành Xuân ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả
+ Cành Hè được mọc ra từ cành Xuân cùng năm thường ra vào tháng 5 - 7 + Cành Thu mọc vào tháng 8 - 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành Xuân và cành Hè cùng năm
+ Cành Đông mọc vào tháng 11 - 12 thường sinh ra trên cành quả
- Cành cam quýt được chia ra làm 3 loại:
2.4.3 Lá
Theo quan điểm tiến hóa thì cam quýt vốn có lá kép: dấu vết còn lại là
eo lá dưới gốc lá đơn Eo lá là một đặc điểm để phân biệt các giống Tuổi thọ của lá thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu và điều kiện dinh dưỡng của cây Ở Việt Nam trung bình tuổi thọ của lá là 15 - 24 tháng, ở vùng á nhiệt đới có thể dài hơn Những lá hết thời kì sinh trưởng sẽ rụng rải rác trong năm, ở nước ta thường rụng nhiều vào mùa Đông Tùy theo giống và tùy theo mùa, lá có thể khác nhau về hình dạng, độ lớn, màu sắc, mật độ không khí, mật độ túi tinh dầu… Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là với khối lượng quả Theo nghiên cứu trên cam Washington Navel (Mỹ) thấy: Nếu có 10 lá/quả thì quả nặng 70 g, nếu có 35 lá/quả thì quả nặng 120 g, nếu có 50 lá/quả thì quả nặng
180 g (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]
Trang 2719
2.4.4 Hoa
đủ, hoa thường ra đồng thời với cành non và thường ra rõ Một cây cam có thể nở tới 60.000 hoa nhưng chỉ có 7% đậu quả là có thể đạt sản lượng 100 kg/cây Hoa cam quýt là hoa lưỡng tính, thông thường tỷ lệ đậu quả của cam quýt dao động trong khoảng 3 - 11 % (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
- Hoa cam quýt cơ bản được phân chia làm 2 loại:
+ Hoa phát dục đầy đủ: Hoa có đầy đủ đài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy hoa và bầu hoa
+ Hoa dị hình: Những hoa có các bộ phận phát triển không đầy đủ những hoa này ít có khả năng đậu quả
2.4.5 Quả, hạt
* Quả cam quýt thuộc loại quả mọng có múi
Cấu tạo quả gồm 2 phần: vỏ ngoài và vỏ giữa
- Phần vỏ ngoài: gồm lớp biểu bì trên là biểu bì của tử phòng do các tế bào có chất sừng dày hình thành xen kẽ có các khí khổng
- Phần vỏ giữa gồm 2 lớp: lớp sắc tố và lớp trắng
+ Lớp sắc tố do mấy chục tầng tế bào chứa nhiều sắc tố hợp thành một lớp mỏng Khi quả còn xanh nhờ diệp lục mà quả có thể quang hợp được Khi quả già và chín thì quả có màu vàng hoặc đỏ
+ Lớp trắng dưới lớp sắc tố là lớp trắng (lớp cùi) lớp này có thể màu trắng, màu vàng hoặc hồng nhạt, độ dày của lớp trắng thay đổi tùy giống
Sự phát triển của quả trải qua hai đợt rụng quả sinh lý:
- Đợt 1: sau khi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3, 4) quả còn nhỏ khi rụng mang theo cả cuống
- Đợt 2: quả đạt đường kính 3 - 4 cm (cuối tháng 4) quả rụng không mang cuống
Trang 28quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả
- Hạt: tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng màu sắc và phôi hạt, các loại quả có múi phần lớn là hạt đa phôi, riêng bưởi là hạt đơn phôi (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
2.5 Yêu cầu sinh thái của cam quýt
2.5.1 Nhiệt độ
Phần lớn cam quýt sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ 12 - 39 °C, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 23 - 29 °C Một số loài có thể chịu được nhiệt độ - 5 °C trong thời gian ngắn Những giống thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, hấp dẫn, mã quả đẹp Ở nhiệt độ 40 °C với thời gian kéo dài nhiều ngày, cây ngừng sinh trưởng, lá rụng, cành khô héo Ở Việt Nam trừ một số vùng có sương muối kéo dài, còn các vùng khác đều có thể phù hợp với cây cam (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]
2.5.2 Ánh sáng
Cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ
sáng và 4 - 5 giờ chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa Hè
2.5.3 Nước
Cam, quýt là giống cây ăn quả có đặc tính ưa ẩm và kém chịu hạn Phần lớn các loài có nhu cầu nước cao vào thời kì nảy mầm, phân hóa mầm hoa, kết quả và quả phát triển Cam, quýt ưa ẩm nhưng lại rất sợ úng, vào mùa mưa, đất bão hòa nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém, nhiều rễ
Trang 2921
bị chết, thối làm cho lá và quả non rụng nhiều, giảm tỷ lệ đậu quả Lượng mưa thích hợp cho từng vùng trồng cam quýt là 2000 mm/năm Thích hợp cho cam, quýt là lượng nước tự do trong đất là 1%, độ ẩm ở mức 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng Độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80% Thời kỳ quả đang phát triển, độ ẩm không khí cao làm cho quả lớn nhanh, phẩm chất quả tốt, mã quả đẹp Nhưng vào tháng 8 - 9 độ ẩm cao thường gây ra hiện tượng quả nứt, một số quả bị rụng Nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa quả sẽ phân hóa nhiều Tháng 3 - 4 khô hạn làm giảm số lượng quả trên cây Cam, quýt sinh trưởng tốt khi có độ ẩm và lượng nước đạt theo yêu cầu và phân bố đều các tháng trong năm (Đường Hồng Dật,
2003, Nguyễn Thị Minh Phương, 2007) [2] [8]
2.5.4 Đất
Đất trồng cam quýt tốt nhất là đất phù sa cũ, đất thịt nhẹ, tầng đất dày, nhiều mùn, pH = 6,0 - 7,0, mực nước ngầm thấp Tránh trồng trên đất sét hoặc đất có mực nước ngầm cao
+ Kali rất cần cho cam, quýt khi cây ra lộc non vào thời kì quả phát triển mạnh Kali có ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả Cây được
Trang 3022
bón đủ kali quả to, ngọt, chóng chín, chịu đựng cao trong khi cất giữ và vận chuyển
+ Magiê có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây có múi Các nguyên tố
vi lượng khác nhau B, Fe, Cu, Zn, Mn… ít nhiều ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất quả
2.6 Một số giống cam
2.6.4 Giống cam Mật
Có nguồn gốc từ Viện cây ăn quả miền Nam Cây có dạng hình cầu vươn cao, khả năng ra hoa mạnh, hạt phấn có tỉ lệ bất dục rất cao > 95%
tính không hạt của quả rất ổn định ngay cả trong điều kiện thụ phấn nhân tạo với các giống cây có múi khác (bưởi Da xanh, bưởi Năm Roi, cam Sành, cam Dây, quýt Đường)
Khối lượng quả trung bình 150 - 270 g, chất lượng quả ngon, thịt quả màu vàng tươi, dày vỏ từ 3,5 - 4,0 mm, tỉ lệ nước quả 36 - 52%, độ Brix 8 - 10%, acid tổng số 0,5 - 0,6 g/100 ml dịch quả, hàm lượng vitamin C 30 - 32 mg/100 ml dịch quả, năng suất khá cao (20 - 30 kg/cây/năm ở cây 4 - 5 năm tuổi) Cây có khả năng thích nghi với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long và vùng cao (ở tỉnh Lâm Đồng)
Trang 3123
2.6.6 Cam V2
Giống cam V2 được chọn tạo từ giống Valencia Olinda, là giống cam mới cho năng suất và chất lượng vượt trội Vùng thích hợp nhất với giống cam V2 là các tỉnh miền Bắc từ Nghệ An trở ra, cần nghiên cứu thêm khả năng phát triển ở Tây Nguyên Cam V2 là giống cam ngọt, chín muộn, có thời
vụ thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, thu hoạch tập trung vào dịp tết, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, cây sinh trưởng phát triển tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao Quả gần như không hạt, dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất lượng nước cao Quả to, vỏ mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng nước cao, tỉ lệ sơ thấp, chất lượng thơm ngọt đậm ít hạt Khả năng chống bệnh tốt so với các giống cam hiện có trong nước (Nguyễn Thế Huấn và cs, 2015) [7]
2.6.7 Cam sành LĐ6
Có nguồn gốc từ Viện cây ăn quả miền Nam, từ dòng cam Sành (CS8)
có số lượng 10 - 23 hạt/quả, được chiếu xạ tại Viện Nghiên cứu hạt nhân, sử dụng nguồn chiếu xạ: Co60, liều chiếu xạ 5,0 krad Kết quả đã tạo ra được một dòng dòng cam Sành không hạt bằng chiếu xạ đột biến sử dụng tia gamma trên mầm ngủ có các đặc tính nổi trội: có tỉ lệ hạt phấn bất dục cao (70%), số hạt/quả thấp < 2 hạt/quả ổn định trong tất cả các quả ở tất cả các cây (khảo sát từ năm 2002 - 2010), thịt quả màu vàng cam, sáng đẹp, vỏ quả ít sần và bóng hơn so với cam sành trong sản xuất, khối lượng quả trung bình
237 g, nước quả nhiều (> 40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng giống như cam sành thương phẩm; năng suất khá cao (20 - 25 kg/cây/năm, cây 3 năm tuổi)
Giống cam sành không hạt LĐ6 đã được trồng thử nghiệm tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2015 và
đã được kết luận là sinh trưởng, phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái
Trang 3224
vùng Sau 30 tháng trồng chiều cao cây đạt 186,26 cm đường kính tán rộng 125,23 cm và cho năng suất quả đạt 3,75 kg/cây, quả có số hạt đạt 2,55 hạt/quả (Đào Thanh Vân, 2018)
2.7 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng
2.7.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng
- Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng Căn cứ vào hoạt tính sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân thành 2 nhóm chất là các chất kích thích sinh trưởng và các chất
ức chế sinh trưởng Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, IAA, IBA… có tác dụng kéo dài chiều cao cây, kéo dài chiều dài cành hoa, tăng số cành nhánh, tăng kích thước hoa Các chất ức chế sinh trưởng như CCC, B9, MH
… có tác dụng giảm chiều cao cây nhưng làm tăng đường kính thân Vì vậy, chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cây ăn quả nói riêng
- Chất KTST có vai trò:
+ Xúc tiến sự nảy mầm của củ giống và hạt giống: sự ngủ nghỉ của hạt
và củ giống được quyết định bởi cân bằng ABA/GA3 Do đó có thể thay đổi cân bằng này có lợi cho sự nảy mầm bằng cách giảm ABA hoặc tăng GA3
+ Điều khiển sự ra hoa: sự ra hoa của cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, tương quan sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các chất điều tiết sinh trưởng… xét cho cùng thì các ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như: ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ không khí đều ảnh hưởng đến các vật chất xúc tiến ra hoa của cây Trong đó các phytohoocmon đóng vai trò rất quan trọng
+ GA3 có tác dụng tăng trưởng tế bào theo chiều dọc của cây và lá, kích thích hạt hoặc củ nẩy mầm đâm chồi sớm, đồng bộ và khỏe hơn GA3 cũng có hiệu quả tăng chiều cao đối với gốc ghép, có thể dùng với những gốc
Trang 3325
ghép hình tháp GA3 và chất đối kháng với GA3 là CCC được sử dụng rộng rãi để xúc tiến sự ra hoa Chất GA3 có tác dụng kích thích rõ rệt, tăng năng suất rất cao so với đối chứng Khi chưa nắm được độ mẫn cảm của giống với GA3 thì nên dùng ở nồng độ rất thấp và phun làm nhiều lần
+ Quả lớn được là nhờ có sự kích thích của các chất kích thích sinh trưởng, chất này được tạo ra từ vách múi (với các giống quả đơn tính), hoặc từ hạt sau khi hạt hình thành Việc phun thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA,
rất tốt
2.7.2 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng
- Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm
rõ rệt
- Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng ngoài ra còn một số chất kích thích sinh trưởng Để cấu thành các loại phân bón lá khác nhau phụ thuộc vào thành phần và liều lượng các thành phần khác nhau Vai trò của phân bón lá đối với cây cam là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Các nguyên tố vi lượng phun lên lá nhằm cung cấp kịp thời các chất dinh dưỡng cho cây Bên cạnh việc giúp cho hoa ra đồng đều, nâng cao tỷ lệ hoa cái, tăng khả năng đậu quả và giữ quả, chống nứt quả và hạn chế được thối hỏng quả, làm tăng phẩm chất quả còn giúp cho cây hấp thu nhanh, tiết kiệm phân bón (Nguyễn Hữu Doanh, 1998, Vũ Khắc Nhượng, 2000) [3] [8]
- Phun urê nồng độ 0,3 - 0,5% đối với cây thiếu đạm phản ứng rất nhanh, sau 3 - 5 ngày có thể thấy lá chuyển màu xanh Tuy nhiên loại ure có
Trang 34lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn… Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên Nông Poster (Hoàng Ngọc Thuận, 1994) [11]
- Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
- Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (1994) [11] cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi
Trang 35
27
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu: - giống cam sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Được trồng năm 2015 Thời điểm nghiên cứu cây được 24 tháng
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1 Thời gian nghiên cứu
3.1.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
+ PBL Thiên Nông: Dạng bột thấm nước, thành phần gồm: N (nitơ)
+ PBL Đầu Trâu 902: Dạng hạt phân tán trong nước, thành phần gồm:
Magie (Mg); 0,05% Kẽm (Zn); 0,05% Đồng (Cu); 0,03% Bo (B); 0,01% Sắt
Trang 3628
+ Kích phát tố hoa trái Thiên Nông: Dạng bột thấm nước, thành phần gồm: 2 % Alpha - Naphthalene Acetic Acid; 0,5% Beta - Naphtoxy Acetic Acid; 0,1% Gibberellic Acid GA - 3
+ Gibberellin 50 ppm: Dạng bột hòa tan trong nước, thành phần gồm: GA3: 5000 ppm; NPK 1:1:1; Vi lượng: Zn: 100 ppm; B 300 ppm; Cu 200 ppm
3.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
* Thí nghiệm : Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 9 công thức, mỗi công thức 5 cây,
mỗi cây là 1 lần nhắc lại, số cây trong theo dõi thí nghiệm 45 cây (không kể
số cây ở khu vực bảo vệ) Bố trí thí nghiệm theo phương pháp bố trí thí nghiệm cây ăn quả của Phạm Chí Thành, (1992) Thí nghiệm bố trí trên giống cam sành không hạt LĐ6 trồng trên gốc ghép cam Volca
Công thức 1: Không sử dụng (Đối chứng)
Công thức 2: Phân bón lá Thiên Nông
Công thức 3: Phân bón qua lá Đầu Trâu 902
Công thức 4: Kích phát tố hoa trái Thiên Nông
Công thức 5: Gibberellin 50 ppm
Công thức 6: Phân bón lá Thiên Nông + Kích phát tố hoa trái Thiên Nông Công thức 7: Phân bón qua lá Đầu Trâu 902 + Gibberellin 50 ppm Công thức 8: Phân bón lá Thiên Nông + Gibberellin 50 ppm
Trang 3729
Công thức 9: Phân bón qua lá Đầu Trâu 902 + Kích phát tố Thiên Nông Các loại Phân bón qua lá và chất kích thích sinh trưởng được phun theo hướng dẫn của nhà sản xuất, phun đều lên tán cây, 1 tháng phun 1 lần từ tháng 7 đến tháng 12
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
* Đặc điểm sinh trưởng bộ tán cây:
- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến điểm cao nhất của tán cây
- Đường kính tán (cm): Đo bằng thước dây, đo theo 2 hướng Đông - Tây, Nam - Bắc, lấy số liệu trung bình
- Đường kính gốc (cm): Đo bằng thước palme ở vị trí các mặt đất 5cm
* Đặc điểm sinh trưởng cành:
- Theo dõi tình hình ra lộc, sinh trưởng của các đợt lộc (Thu, Đông), khi lộc ra tiến hành đánh dấu lộc và ghi rõ ngày, tháng ra lộc, đếm số lượng mỗi đợt lộc (số lộc/cành)
- Thời gian sinh trưởng từ khi nhú lộc đến khi trở thành cành thuần thục (ngày): Trên cành thí nghiệm chọn ngẫu nhiên 2 lộc ở mức độ trung bình/1 đợt lộc, 15 ngày 1 lần đo chiều dài lộc Đo đến khi chiều dài lộc không thay đổi ở 3 lần đo cuối thì coi như lộc đã ngừng sinh trưởng về chiều dài Lộc
Trang 38- Chiều dài cành lộc (cm): đo bằng thước, đo từ gốc cành đến mút cành
- Đường kính lộc (cm): đo bằng thước kẹp palme, đo cách gốc cành 1
cm khi cành lộc đã thành thục
- Đếm số lá/cành lộc
- Xác định tỷ lệ % cành của các đợt lộc
* Đặc điểm ra hoa, đậu quả:
- Tỷ lệ đậu quả của các giống (%): Đếm tổng số quả ban đầu và cuối cùng trên cây Tỷ lệ đậu quả được tính theo công thức:
Tỷ lệ đậu quả (%)= (Số quả cuối cùng khi thu hoạch /Số quả ban đầu theo dõi) x100
* Nhóm chỉ tiêu cấu thành năng suất:
- Số lượng quả/cây: Đếm trực tiếp số quả hoàn chỉnh của từng cây/từng công thức khi thu hoạch
- Khối lượng trung bình quả (gam/quả): Cân từng quả/cây Tính trung bình
- Tỷ lệ phần ăn được (múi): Cân phần ăn được của từng quả, mỗi công thức 10 quả, tính trung bình (%)
- Tỷ lệ phần không ăn được (vỏ + hạt): Cân phần không ăn được của từng quả, mỗi công thức 10 quả, tính trung bình (%)
- Số hạt (hạt/quả): Đếm số hạt/quả trong từng quả của các công thức, tính trung bình
Trang 3931
- Năng suất cây (kg/cây): số quả TB trên cây x Khối lương TB quả
* Tình hình sâu bệnh hại trên các giống cam:
- Sâu vẽ bùa: Điều tra Định kì theo dõi 1 tuần 1 lần Quan sát bằng mắt thường để phát hiện triệu chứng sâu trên toàn cây Quan sát tỉ mỉ các cây, xác định tỉ lệ hại và ghi chép thu thập số liệu
- Rệp: Điều tra Định kì theo dõi 7 ngày 1 lần Quan sát bằng mắt thường để phát hiện triệu chứng gậy hại trên toàn cây Quan sát tỉ mỉ các cây, xác định tỉ lệ hại và ghi chép thu thập số liệu
3.4 Phương pháp xử lý số liệu:
- Xử lý thống kê trên Excel và SAS
Trang 40
32
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cam sành không hạt LĐ6
4.1.1 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6
Phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6
so với ban đầu