1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo nam bộ nửa đầu thế kỷ XX

88 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 746,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả không quên khẳng định vị trí của du ký trên hàng ghế danh dự của những thể tài, thể loại văn học đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa văn học, nói như Vũ Tuấn Anh trong bài vi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KIỀU NGỌC DUNG

DIỆN MẠO VÀ ĐẶC ĐIỂM DU KÝ BIỂN ĐẢO

NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận văn “Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX” là kết quả nghiên cứu độc lập của tôi Các thông tin có nguồn gốc

rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu

Nghiên cứu hoàn toàn trung thực và chưa hề được công bố ở công trình

đề tài nào

Tác giả luận văn

Kiều Ngọc Dung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 THỂ LOẠI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN 10

CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 10

1.1 Diện mạo của du ký 10

1.2 Sự hình thành và phát triển của du ký về biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX 19 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 31

2.1 Biển đảo Nam Bộ với tư cách là một đối tượng của du ký nửa đầu thế kỷ XX 31 2.2 Thiên nhiên vùng biển đảo Nam Bộ 33

2.3 Lịch sử, văn hoá và hiện thực đời sống vùng biển đảo Nam Bộ 38

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 53

3.1 Điểm nhìn trần thuật 53

3.2.Thời gian và không gian nghệ thuật 59

3.3 Ngôn ngữ 71

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm đầu thế kỷ XX nền văn học Việt Nam chuyển mình theo hướng hiện đại hoá Cùng với sự ra đời của các trào lưu văn học mới, du ký hiện diện góp phần làm nên diện mạo và thành tựu văn học thời kỳ này.Tuy nhiên dựa vào số lượng hạn chế các công trình chọn du ký làm đối tượng nghiên cứu có thể thấy du ký chưa được quan tâm nhiều.Tìm hiểu về du ký đặc biệt là du ký đầu thế

kỷ XX nhằm xác định lại chỗ đứng của thể loại này trong tiến trình văn học đồng thời phác hoạ chân thực chặng đường đổi mới của văn học Việt Nam

Du ký nửa đầu thế kỷ XX có một đề tài rất mới mẻ đó là đề tài biển đảo.Viết

về đề tài này, du ký tạo nên một vùng văn học và được tiếp nối đến tận bây giờ Đặc

biệt, những trang du ký viết trong chuyến “chu du” đến vùng biển đảo Nam Bộ như

những bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về địa lý, văn hoá, con người vùng biển đảo Nam Bộ Việt Nam Bên cạnh đó, hội nhập và giao lưu kinh tế đã tạo nên những thách thức cho ngành du lịch Việt Nam Mỗi trang du ký về biển đảo Nam Bộ luôn

là một sự sáng tạo có ý nghĩa thiết thực giúp độc giả hiểu sâu sắc về giá trị thẩm mĩ,

văn hoá của các danh lam, thắng cảnh vùng biển đảo tựa như “ngồi một chỗ mà thấy

ngoài muôn dặm”

Du ký Việt Nam vùng Nam Bộ góp phần cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn về vùng biển đảo Nam Bộ trong nhận thức và thực tiễn hoạt động của người Việt Trong một không gian sinh tồn và phát triển, nơi mà nhiều thế hệ người Việt

đã trải qua nhiều gian nan, vất vả để chế ngự các thế lực tự nhiên và phát triển kinh

tế, xã hội, thấy được không gian thử thách trí tuệ, bản lĩnh, sự sống kiên cường và khát vọng về bảo vệ chủ quyền của đất nước đầy gian nan, thử thách Trên cơ sở

của hoạt động khai thác biển, bảo vệ vùng biển của Tổ quốc mà “Tư duy hướng

biển” của người Việt được phát triển và hoàn thiện

Từ một số đề tài nghiên cứu về các vùng trên đất nước như du ký vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… qua đó cho thấy mỗi một vùng miền

có một giá trị về địa lý, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và trên cơ sở đó đã

Trang 5

hình thành nên một nền văn học mang đặc trưng riêng cả về nội dung và nghệ thuật

Đối với du ký biển đảo phía Nam mà cụ thể là vùng Nam Bộ đã có một số tác giả

tìm hiểu và nghiên cứu ở những góc độ về lịch sử, phong tục tập quán và văn hóa

Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu và phân tích để làm rõ

những đóng góp cả về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của du ký vùng biển đảo

phía Nam của Tổ quốc để đem đến cho độc giả một cái nhìn toàn diện về thiên

nhiên và con người cùng với chiều sâu văn hóa nơi đây

Hiện nay, vùng biển Nam Bộ là một bộ phận nằm trong vịnh Thái lan thuộc về

vùng biển của 7 tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên

Giang, Cà Mau Gồm quần đảo “Hòn Khoai, Thổ Chu, An Thới, Hải tặc, bà Lụa, Củ

Tron, và hòn đảo Hòn Chuối, Hòn Bông, cụm hòn Đá Bạc…với vị trí thuận lợi cho các

hoạt động hải thương và sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vùng

biển Nam Bộ từ rất sớm đã giữ những vị trí quan trọng của nhiều quốc gia phong kiến

Người viết chọn đề tài: "Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ

XX" Hy vọng sẽ có thêm những đóng góp cho quá trình tìm hiểu về dấu ấn văn hóa

vùng biển đảo Nam Bộ cũng như thiên nhiên và con người nơi đây

2 Tình hình nghiên cứu

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, du ký là một thể loại ra đời từ rất

sớm, Trong lịch sử nghiên cứu về du ký chưa có một công trình lí luận và lịch sử

nào dành riêng cho thể loại này và tương xứng với giá trị của nó trong nền văn học

nước nhà

Khi bàn về vị trí của thể loại du ký trong quá trình hiện đại hóa văn học, năm

1942, trong cuốn sách nghiên cứu nổi tiếng - nhà văn hiện đại, khi nói tới nhóm nhà

văn trong Nam Phong tạp chí Vũ Ngọc Phan đã nói sơ lược về thể tài du ký đồng

thời điểm danh một số tác phẩm tác giả, trong đó có Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi

của Trương Vĩnh Ký [43]

Trong chương IV - “truyện ký” của cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân

biên tập 1, Phạm Thế Ngũ gọi Thượng kinh ký sự là “Một truyện dài du ký” - là loại

văn nhằm ghi chép những điều tai nghe mắt thấy sau những bước chân từng trải trong

Trang 6

những dịp đi xa Trong tập 3 của cuốn sách này, Phạm Thế Ngũ bàn tới thể tài du ký

dựa trên những sáng tác của Phạm Quỳnh - chủ bút Nam phong tạp chí Tác giả ghi

nhận Phạm Quỳnh chính là người mở đầu cho lối văn du hành trên Nam phong [38]

Năm 2006, hai tác giả Bích Thu và Vũ Tuấn Anh trong Từ điển tác phẩm

văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) khẳng định du ký Chuyến đi Bắc

Kỳ năm Ất Hợi của P.J.P Trương Vĩnh Ký là tác phẩm văn xuôi ra đời sớm nhất

Ở những công trình này, du ký hầu như được “điểm danh” và được gợi ra từ các trường hợp tác phẩm, tác giả cụ thể Các tác giả không quên khẳng định vị trí của du ký trên hàng ghế danh dự của những thể tài, thể loại văn học đi đầu trong

công cuộc hiện đại hóa văn học, nói như Vũ Tuấn Anh trong bài viết Đọc du ký Việt

Nam trên Nam Phong tạp chí và cuộc du ngoạn ngược thời gian: Trong rất nhiều

công trình nghiên cứu lí luận văn học của các tác giả Việt Nam, du ký được xem là một tiểu loại nằm trong thể loại ký Bởi vậy, nghiên cứu về du ký xuất hiện tản mác, nhỏ lẻ trong những công trình viết khái quát về thể ký [38]

Năm 1967, Tạp chí Văn học, số 02 cho đăng bài Về thể ký của tác giả Tầm Dương Ở bài viết này, du ký được quan niệm là một phần của ký sự: “Du ký là

“ký” lại các sự (những điều mắt thấy tai nghe) trong lúc “du” Du ký đứng song

song với các tiểu loại khác như: Hồi ký, truyện ký…

Cùng năm, trên Tạp chí Văn học số 06, Nam Mộc có bài Thể ký và vấn đề

viết về người thật việc thật phân chia ký thành các tiểu loại: Phóng sự, ký sự, tùy

bút, bút ký Du ký được nhà nghiên cứu xếp và một tiểu loại của bút ký, cùng với

nhật ký, hồi ký, tạp văn và tiểu phẩm… Tác giả cuốn: Văn học Việt Nam thế kỉ XX,

khi nêu ra quan niệm về thể ký cũng cho rằng: “Ký là loại hình trung gian giữa báo chí và văn học Ký bao gồm nhiều thể dưới dạng văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký,

du ký, nhật ký, phóng sự, tùy bút và cả hồi ký tự truyện”

Đây đồng thời cũng là hướng đi của tác giả cuốn 150 thuật ngữ văn học - Lại Nguyên Ân (2004) [3] hay Giáo trình lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên (2009), Năm bài giảng về thể loại của Hoàng Ngọc Hiến (1992), Giáo trình Lí luận

văn học(Hà Minh Đức chủ biên-1995 cũng xem du ký là một trong các hình thức

Trang 7

của thể loại ký, luận văn Ký - những vấn đề đặc trưng thể loại của Nguyễn Thị

Ngọc Minh (2005)… Các công trình này nhìn chung đã bước đầu đưa ra những định nghĩa cho thể tài du ký cùng với một số đặc điểm chính Du ký, giống như thể loại bao trùm nó - ký được nhấn mạnh ở khả năng ghi chép sự thật [2]

Trong nền văn học Việt Nam cũng như các tạp chí cùng thời đã xuất hiện các thành tựu đáng trân trọng, lưu giữ của du ký các vùng miền trên đất nước Việt Nam,

tiêu biểu như Nguyễn Đăng Hai tìm hiểu về Thiên nhiên và con người đồng bằng

sông Cửu Long qua một số tác phẩm du ký tiêu biểu giai đoạn 1900 - 1945 (Tạp chí

Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 6, 2012) qua các tác phẩm Cảnh vật Hà Tiên,

Thăm đảo Phú Quốc, Tôi ăn tết ở Côn Lôn Nguyễn Hữu Sơn tìm hiểu về các cùng

địa lý - văn hóa với các địa danh, các vùng của đất nước như Thể tài du ký về Hà

Nội nửa đầu thế kỷ XX (Văn nghệ quân đội, số 10, 2000), Phác thảo du ký Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám (Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6, 2000), Du

ký Ninh Bình nửa đầu thế kỷ XX (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 6, 2004)… Qua

các bài viết, Nguyễn Hữu Sơn giúp người đọc thấy rõ hơn bức tranh đa dạng về du

ký Việt Nam từ các tác phẩm trung đại cho tới các du ký nửa đầu thế kỷ XX trên

Nam phong tạp chí và tìm thấy ở mỗi du ký là một phác thảo độc đáo, tạo thành bức

tranh đa màu sắc về các vùng ở Việt Nam

Cho đến nay xem du ký là một thể tài không phải là duy nhất nhưng vẫn là quan điểm đóng vai trò chủ chốt, chiếm đa số và tỏ rõ được nhiều thành tựu hơn cả trong các nghiên cứu về du ký của văn giới

Một số khác đi theo hướng coi du ký là một thể loại văn học Cuốn Quá trình

hiện đại hóa văn học (2000), do nhà nghiên cứu Mã Giang Lân chủ biên đã khẳng

định vị trí tiên phong của thể tài du ký: “Thể loại văn học đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ phải kể đến du ký” đồng thời cũng đưa ra một số đặc điểm để nhận dạng

Võ Thị Thanh Tùng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 4 năm 2013 có bài viết điểm qua “Một vài đặc điểm của thể loại du ký Việt Nam” trong đó đặc biệt nhấn mạnh

đến tính chất phức hợp, giao thoa thể loại có trong du ký Cho rằng du ký là trung gian giữa báo chí và văn học, du ký có sự giao thoa với chính luận, tác giả đánh giá:

Trang 8

“Từ khi ra đời đến nay, du ký cùng với phóng sự, tùy bút… đã gia nhập vào đời

sống văn học sôi động trên cả nước, làm nên một khởi đầu ngoạn mục cho việc đưa văn xuôi tiến dần vào vị trí trung tâm, đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại Việt Nam Nếu các thể loại như kịch, tiểu thuyết, được học tập và mô phỏng theo mô hình thể loại của phương Tây, thì du ký là thể loại được tiếp nối từ truyền thống, nhưng có những cách tân mới mẻ về chữ viết, cách hành văn, cách phản ánh những vấn đề thẩm mỹ do thời đại đặt ra… nên càng hấp dẫn hơn ” [71]

Luận án Đặc điểm du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Nguyễn Hữu Lễ

(2015) là công trình mới nhất đã có nhiều cố gắng trong việc khảo cứu thực tiễn sáng tác hướng tới góp phần định danh thể loại du ký, làm rõ đặc điểm của thể loại

này Với quan điểm: “Đã đến lúc du ký cần được làm sáng tỏ về mặt thể loại” tác

giả cho rằng đây là xu hướng nghiên cứu phù hợp trong tình hình hiện nay, một khi

du ký được định danh rõ ràng thì những “vấn đề về đặc điểm và cách tiếp cận

nghiên cứu du ký không còn bị cản trở bởi sự giao thoa và các lằn ranh thể loại cùng với quan niệm mơ hồ về du ký” [29]

Du ký từ điểm nhìn địa - văn hóa cũng là một hướng để tiếp cận các sáng tác

du ký Nguyễn Hữu Sơn là người đã khơi gợi hướng nghiên cứu du ký về các cùng địa lý - văn hóa: Vùng cao phía Bắc, vùng Quảng Ninh, Thanh Hóa, xứ Huế, Hà Nội,

Sài Gòn - Gia Định Ông là tác giả của hàng loạt bài viết: Thể tài du ký về Hà Nội

nửa đầu thế kỷ XX (Báo Văn nghệ quân đội số 10, 2000), Phác thảo du ký Hà Nội

trước Cách mạng tháng Tám (báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6, 2000), Du

ký Ninh Bình nửa đầu thể kỷ XX (Tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 6, 2004, Du ký viết

về Sài Gòn - Gia Định nửa đầu thế kỷ XX từ điểm nhìn những năm đầu thế kỷ XXI

(tạp chí Khoa học xã hội, số 11, 2008), Du ký xứ Thanh nửa đầu thế kỷ XX (báo Tổ

Quốc, 2010), Diện mạo và đặc điểm của du ký xứ Huế nửa đầu thế kỷ XX (báo Du lịch Sài Gòn, số 6, 2015), Nhận diện du ký biển Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX theo các vùng văn hóa (Tạp chí Biển, số 6, 2016)… Bằng việc tập hợp các tác phẩm tiêu biểu

viết về từng vùng riêng biệt, Nguyễn Hữu Sơn tìm thấy ở mỗi du ký là một phác thảo

Trang 9

độc đáo, tạo thành bức tranh đa màu sắc về các vùng, miền ở Việt Nam Võ Thị

Thanh Tùng khai thác Tính cách con người Nam Bộ - dấu ấn đặc sắc trong du ký

Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX (Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ chí

Minh, số 44, 2013) hay Nguyễn Đăng Hai tìm hiểu về Thiên nhiên và con người đồng

bằng sông Cửu Long qua một số tác phẩm du ký tiêu biểu giai đoạn 1900 - 1945 (Tạp

chí Khoa học xã hội và nhân văn, số 6, 2012) Chu Thị Yến khai thác Du ký về biển

đảo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Hà Nội,

2016) Khai thác các sáng tác du ký từ khía cạnh văn hóa cũng là hướng tiếp cận của

bài viết Giá trị văn hóa và văn học của du ký (khảo sát qua sách Du ký Việt Nam của

tác giả Nguyễn Thúy Hằng (2009), khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Hoài Phương

với đề tài khá mới lạ - Vùng tiếp xúc trong du ký Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (2013), luận văn Thể du ký trong tiến trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam 30 năm

đầu thế kỷ 20 của Nguyễn Thị Thúy Hồng (2008) [56]

Những nghiên cứu về du ký nói chung, du ký nửa đầu thế kỷ XX nói riêng như vậy chưa thể coi là phong phú và tương xứng với số lượng và chất lượng của các tác phẩm

Là một bộ phận không nhỏ trong hệ thống du ký nửa đầu thế kỷ XX, những sáng tác viết về biển đảo Nam Bộ cũng đã xuất hiện trong một số nghiên cứu như đã nêu ở trên Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở những bài viết tản mác về những địa danh cụ thể ở Nam Bộ chứ chưa khảo sát cả một vùng văn hóa rộng lớn Nguyễn Hữu Sơn là người kỳ công sưu tầm những tác phẩm du ký viết về các địa danh khác nhau dọc miền Nam Bộ … Hứng thú sưu tầm và những bài viết của tác

giả đã thôi thúc tôi tiếp tục khảo sát và đi sâu vào nghiên cứu: Du ký viết về biển

đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài Diện mạo và đặc điểm du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Công việc của luận văn cần đạt được các mục tiêu cụ thể sau đây:

Trang 10

- Nhấn mạnh đặc điểm của du ký viết biển đảo Nam Bộ ở các vấn đề: Nội dung cảm hứng, điểm nhìn trần thuật, ngôn từ nghệ thuật, sự giao thoa thể loại Không gian và thời gian nghệ thuật để tạo nên nét đặc trưng riêng của du ký biển

đảo phía Nam của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

- Đề tài khẳng định vai trò của du ký trong giai đoạn hiện đại hóa nền văn học dân tộc là một nguồn tư liệu hữu ích đóng góp cho quá trình tìm hiểu về đời sống tự nhiên, văn hóa, xã hội vùng biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX dưới góc

nhìn của một thể lại văn học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát các văn bản du ký viết về vùng biển đảo Nam Bộ, khai thác các tác phẩm du ký từ điểm nhìn văn hóa

- Xác định đặc điểm của du ký biển đảo Nam Bộ trên phương diện nội dung

- Xác định đặc điểm của du ký viết về biển đảo Nam Bộ trên phương diện hình thức

- Đánh giá đóng góp của du ký về biển đảo Nam Bộ trong sự phát triển của

du ký Việt Nam đầu thế kỉ XX và trong lịch sử văn học dân tộc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm du ký viết về biển đảo Nam bộ Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, bao gồm khu vực biển đảo thuộc 7 tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Kiên Giang, Cà Mau, Hà Tiên Các văn bản

này được đăng trên các báo và tạp chí đầu thế kỉ XX như: Nam kì tuần báo, Nam

phong tạp chí, Công luận báo, Tràng An báo, Phong hóa, Tri tân tạp chí…

Phạm vi nghiên cứu tư liệu của luận văn bao gồm các tác giả tác phẩm viết

về vùng biển đảo Nam Bộ Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Đến thời điểm hiện tại, tôi sưu tầm và giới thiệu trong luận văn 15 du ký của các tác giả có phụ lục kèm theo

Du ký biển đảo Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX có sự phong phú về nội dung, đa dạng

về hình thức, đặc biệt là sự đa dạng của những cây bút viết du ký

Trang 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã được xác định, để đáp ứng yêu cầu

và đạt được mục tiêu của đề tài đặt ra, trong quá trình triển khai, tôi vận dụng một

số phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp sưu tầm, thống kê: Tìm kiếm và tập hợp các tác phẩm thuộc thể tài du ký viết về vùng biển đảo phía Nam Bộ đăng tải trên một số báo, tạp chí nửa đầu thế kỷ XX

- Phương pháp cấu trúc hệ thống : Nghiên cứu đặc điểm du ký biển đảo Nam

Bộ nửa đầu thế kỷ XX như một chỉnh thể hoàn chỉnh, như một cấu trúc chặt chẽ, hợp logic trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố, giữa lý thuyết và thực tiễn sáng tác

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa trên các phương diện, quan điểm liên quan đến lý thuyết về thể tài du ký; tiến hành phân tích các tác phẩm cụ thể để tổng hợp, khái quát những đặc điểm của du ký viết về vùng biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Để làm rõ các giá trị văn hóa, xã hội, lịch

sử , phong tục, tập quán của con người nơi đây Đồng thời làm nổi bật về thời gian

và không gian nghệ thuật để tạo nên nét đặc trưng riêng có của vùng biển đảo Nam

Bộ nửa đầu thế kỷ XX

- Phương pháp liên ngành: Phong cách học, Văn bản học, Thi pháp học… để làm sáng tỏ các đặc trưng nội dung và nghệ thu các tác phẩm du ký về biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về lý luận

- Xác lập các quan điểm về du ký và đặc điểm về du ký Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Xác lập được điểm nhìn trần thuật, thời gian và không gian nghệ thuật cũng như những đặc trưng ngôn ngữ của vùng miền là cơ sở tạo nên đặc trưng du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Trang 12

6.2 Về thực tiễn

- Luận văn tập trung nghiên cứu về các tác phẩm du ký viết về biển đảo Nam

Bộ để thấy được những đóng góp của thể tài du ký trong quá trình hiện đại hoá văn học và làm phong phú diện mạo văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

- Phân tích các tác phẩm văn du ký vùng biển đảo Nam Bộ giai đoạn đầu thế

kỷ XX với các điểm nhìn lý luân như trên để có những đánh giá đầy đủ và toàn vẹn trong đời sống văn hóa, xã hội và sự đổi thay, tiếp nối giữa các giá trị truyền thống

và quá trình hiện đại hóa văn học trong thời kỳ lịch sử nửa đầu thế kỷ XX gắn liền với khát vọng giải phóng dân tộc và quá trình chuyển giao thời đại và tư duy văn học Việt Nam diễn ra trên một quy mô lớn và toàn diện

- Nhấn mạnh giá trị và bài học của các tác phẩm du ký viết về biển đảo Nam

Bộ đối với việc nêu cao ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc và sự phát triển ngành du lịch Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX và hiện nay

7 Cơ cấu của luận văn

Chương 1.Thể loại du ký và cơ sở hình thành, phát triển của du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2 Đặc điểm nội dung của du ký biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX Chương 3.Đặc điểm nghệ thuật của du ký biển đảoNam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

Trang 13

Chương 1 THỂ LOẠI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN

CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Diện mạo của du ký

1.1.1 Quan niệm về du ký

Những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam, dưới sự thống trị của thực dân Pháp đã thay đổi mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…trong đó, văn học Việt Nam đã xuất hiện những luồng tư tưởng mới, nhiều thể loại văn học mới đã được du nhập và ra đời, dần thay thế cho các dòng chảy của văn học Trung đại trước đó từng bị chi phối trực tiếp bởi hệ tư tưởng Nho giáo làm cho nền văn học vốn già cỗi của nước ta như được thay da đổi thịt Luồng gió văn học phương Tây, mà nhất là văn học Pháp, thổi mạnh vào Việt Nam.Trong đó, sự thay đổi dễ nhận thấy nhất là sự thay đổi về mặt thể loại Hàng loạt thể loại văn học mới được

du nhập từ Tây như thơ mới, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn… Đã làm cho diện mạo văn học dân tộc như mang xu hướng của thời đại mới

Du ký là một thể loại đặc biệt của văn học, hay nói cách khác du ký là một hình thức bút ký văn học thường được ghi lại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến

đi, ghi lại những cảm xúc, tình cảm và suy ngẫm của tác giả khi đến những vùng đất

khác nhau Du ký có nguồn gốc từ ký, theo quan điểm của Vũ Phương Đề, thì “khi

việc quan rảnh rỗi thường ghi chép lại những điều bấy lâu mình nghe được, cùng những chuyện biết được từ các bậc học rộng đương thời, tất cả đều theo đúng sự thực mà viết lại thành bài” Sự việc ấy bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như lịch

sử, địa lí, xã hội, nông nghiệp, thậm chí là những ghi chép linh tinh… Nghĩa là tất

cả “Những việc gì lạ mà mắt thấy tai nghe đều ghi lại tất…” Sau đó, động từ ký

được chuyển thành danh từ và có nhiều biến thể cũng có nghĩa là ghi chép sự việc Thời trung đại thì có chí, lục, ngữ lục, tạp văn, tạp lục, mạn lục, thực lục, tiểu lục, khảo… Sang thời hiện đại thì có phóng sự, du ký, nhật ký, hồi ký, tản văn, ký chính luận… Vì là ghi chép sự việc, nên đối tượng mà ký hướng tới nhất thiết phải là người thật việc thật.Sự việc và con người phải được phản ánh một cách khách quan,

Trang 14

“có địa chỉ chính xác của nó” Ký không cho phép người viết thêm thắt hay bịa đặt

vì điều đó khiến cho người đọc thiếu tin cậy vào những nội dung mà người viết đưa ra.Với các thể loại văn học khác thì hư cấu chính là nét đặc trưng tạo nên dấu ấn riêng của tác phẩm và cá nhân người viết.Nhưng với thể loại ký tuyệt đối không hư

cấu là đặc trưng thể loại cơ bản của ký, “vi phạm đặc trưng này, nhà văn nhất định

sẽ phá hoại tính chân thực lịch sử và cả tính chân thực nghệ thuật của tác phẩm”

Chính đặc điểm không hư cấu, không tưởng tượng sẽ tạo nên niềm tin cậy cả độc giả với tác giả và tác phẩm Thể loại chỉ có thể tồn tại được khi đặc trưng cơ bản được tôn trọng, nếu không ranh giới của thể loại sẽ dễ bị xóa mờ sẽ dẫn tới tình trạng thiếu sự tôn trọng, trân trọng và niềm tin của người đọc trước tác phẩm

Là thể loại văn học nằm trong nhóm thể loại ký, du ký cũng không thoát ly khỏi những đặc trưng chung của hệ thống thể loại Sách các thể văn chữ Hán Việt Nam do Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm biên soạn, định nghĩa khá đầy đủ:

“Văn du ký là loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành

trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe Đặc điểm của du ký

là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận và phải là chính tác giả ghi chép về chính chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông phong vật” Sách Lí luận Văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học, do Trần

Đình Sử chủ biên đưa ra cách hiểu: “Có thể hiểu du ký là thể loại ghi chép về vẻ kì

thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn, du lịch Du ký phản ánh, truyền đạt những nhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người đi du lịch về những điều mắt thấy tai nghe ở những xứ sở xa lạ, những nơi mọi người ít có dịp đi đến, chứng kiến” [14] Vũ Ngọc Phan nhân bàn về tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ

năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Kỳ, ông đã nhắc đến du ký: “Tập du ký này

viết không có văn chương gì cả, nhưng tỏ ra ông là một người có mắt quan sát rất sành, vì cuộc du lịch của ông là cuộc du lịch lần đầu, ông lại đi rất chóng Tuy không có văn chương nhưng công nhận ngòi bút của ông rất linh hoạt” Như vậy,

Trang 15

Vũ Ngọc Phan có chỉ ra được đặc điểm cơ bản là “bài ghi chép cuộc hành trình” Tuy chưa nêu quan điểm về thể loại của du ký

Chỉ đến khi nhà Nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn - người có bề dày về nghiên cứu du ký vào bậc nhất ở Việt Nam hiện thì vấn đề du ký đã được “duy danh” và nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật nơi người viết

Ông nhận định “Một tác phẩm du ký hay không đơn thuần chỉ là một tác phẩm văn

chương mà còn có dung chứa trong đó nhiều yếu tố lịch sử, địa lý, giáo dục và đôi khi còn phản ánh cả phương diện chính trị xã hội nữa Nói cách khác, du ký cùng với bút ký, hồi ký, nhật ký, ký sự, phóng sự, tùy bút… nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học” Giống như tùy bút, phóng sự, hồi ký… du ký cũng là

một thể tài thuộc thể loại ký Hiển nhiên nó hội tụ đầy đủ những phẩm chất chung của thể loại này [55]

Như vậy, du ký là thể loại ký có cốt truyện ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời những cảm nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn.Trong đó yếu tố cốt lõi là đi, xem và ghi chép Nhưng tất nhiên ghi chép sự thật không có nghĩa là ghi chép một cách cơ học, máy móc, mà sự thật

ấy phải được sàng lọc hay sáng tạo để tạo nên những giá trị thẩm mỹ mới mang tính tiêu biểu, điển hình, giúp ký đạt đến chỗ có giá trị văn học Đã là một thể loại văn học thì trong du ký phản ánh, truyền đạt những nhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người khám phá về những điều mắt thấy tai nghe bằng cái nhìn, cảm nhận chủ quan của người viết Thông qua các thể loại sáng tác bằng thơ, phú, tụng hay những bài văn xuôi theo các phong cách ký như: ghi chép, hồi

ký, phóng sự, khảo cứu, hồi ức Tuy nhiên, bao trùm toàn bộ tinh thần của du ký là niềm say mê khát khao tìm kiếm, khám phá những điều mới lạ là cảm hứng phiêu lưu Những khám phá đầy bất ngờ, thú vị về phong cảnh thiên nhiên, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo luôn là những điều mới lạ, những nét đặc trưng riêng của mỗi vùng miền từ nhiều lĩnh vực của đời sống hết sức phong phú và đa dạng Mỗi cuộc hành trình ấy, mỗi chuyến đi ấy luôn là những dư âm hết sức ấn tượng đối với cá nhân người khám phá, bởi những cái mới lạ luôn kích thích sự tưởng tượng,

Trang 16

sáng tạo và đam mê, để rồi suy ngẫm về cuộc sống với cái nhìn toàn vẹn hơn, thực tiễn hơn và cũng triết lý hơn về không gian và thời gian của văn hóa, về thế giới nhân sinh quan và giá trị của chính bản thân mình cũng như sự cống hiến của cá nhân mình cho xã hội Chính vì thế làm nên cái hồn cho tác phẩm vẫn là tư duy, cách nhìn và cách tiếp cận của bản thân với những gì mình nhìn thấy, nghe thấy, những gì mình khám phá, trải nghiệm.Tất cả những giá trị đó sẽ là một định vị về cảm xúc, hình thành một nhu cầu tự thân đối với người đọc về mong muốn cũng được đi, được khám phá và trải nghiệm như người viết

Trên thực tế, có những tác phẩm du ký không thấy định danh thể loại Có những tác phẩm không được gọi đích danh là du ký nhưng bản chất vẫn là tác phẩm

du ký như Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký, Ngày và đêm ở Đà

Lạt của Du Tử, Hương Cảng nhơn vật của Trần Chánh Chiếu,… Bản chất du ký là

ghi chép về sự đi, sự xê dịch, thưởng ngoạn cảnh quan xứ lạ, thế nhưng nội hàm của khái niệm này lại khá phức tạp.Bằng chứng là các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau về điểm nhìn nghiên cứu cách định danh Khi nhìn nhận và xác định một nội dung có phải là du ký cần dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất,Tác phẩm du ký được thực hiện gắn với ghi chép tư liệu Một tác

phẩm du ký không đơn giản là một tác phẩm văn học mà còn chứa đựng trong nó cả một kho kiến thức lịch sử địa lí, giáo dục, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán mỗi vùng miền, rồi cả những cảm nhận, suy tưởng của nhà văn trong quá trình tiếp xúc với người thật việc thật Du ký thường là miêu tả những sự việc mắt thấy tai nghe của người đi trên hành trình, nó gần như một dạng nhật ký hành trình Điều này không chỉ kích thích sự tò mò, nhu cầu muốn được khám phá thế giới mà còn là

sự tìm kiếm cơ hội khẳng định bản thân, tìm sự khác biệt cả về cách đi và cách tường thuật trong văn bản du ký để tạo sự độc đáo cá nhân

Lối tường thuật cũng có sự biến chuyển dạng thức, từ việc kể chuyện người sang kể chuyện mình, từ các câu chuyện mang màu sắc huyền thoại sang những câu chuyện có thực xuất phát từ những điều mắt thấy tai nghe, từ lối kể chuyện khách

Trang 17

quan chuyển sang sự lồng ghép những cảm nhận, cảm xúc cá nhân Về tính chất thông tin của lộ trình cũng có sự thay đổi, từ những thông tin mang tính ước đoán, phỏng đoán sang những thông tin được tái hiện một cách cẩn trọng và chính xác như những khảo cứu khoa học

Để viết được tác phẩm du ký xuất sắc thì nhà viết ký cũng phải hội tụ đầy đủ những phẩm chất như bất kì nhà văn, nhà thơ nào Vốn sống, tài năng cũng như tư

tưởng tình cảm của người viết sẽ được bộc lộ trực tiếp qua lời văn, “Cho nên đối với

người viết ghi chép cũng như người viết văn nói chung, phải có tư tưởng sâu sắc và vốn sống phong phú thì mới sáng tác thành công được”

Để có thể ghi chép tư liệu tốt, chuyển hóa những chất liệu của hiện thực trở thành một tác phẩm du ký có chất lượng, có những giá trị tươi mới, tư chất mà nhà văn cần có như: Năng lực trí tuệ sắc bén, trí tưởng tượng sáng tạo, phông văn hóa,

kĩ thuật nghề nghiệp, thông qua kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, nghiên cứu, khả năng tư duy logic, sáng tạo.khả năng quan sát tinh tế, thì sự cần thiết của vốn sống nổi lên như một điều kiện quan trọng hàng đầu Năng động, tự tin, có trách nhiệm, nghiêm túc trong công việc, hoà đồng, cầu tiến.Biết học hỏi, tìm tòi để xây dựng cho mình một vốn văn hóa, vốn sống phong phú và phong cách viết riêng

Thứ hai,Tác phẩm du ký thể hiện rõ nhận định và vốn kiến thức của tác giả

Trong những tác phẩm du ký, ngoài việc kể truyện thì tác phẩm đậm tính chất tư liệu, hướng vào việc tái hiện chính xác thực tại với những sự kiện có thực, thường kèm theo sự lý giải, đánh giá tùy theo sự nhạy cảm và cách hiểu của tác giả

Vì du ký là thể loại được lấy cảm hứng từ những chuyến đi Do đó trên hành trình lãng du, khám phá của mình, được tiếp xúc với những điều mới lạ Trong cuộc hành trình du ký có một sức hấp dẫn lạ kì, kích thích trí tò mò và bản năng khám phá của con người với những điều chưa từng được biết đến, chưa từng được tiếp xúc hoặc

đã nghe từ lâu giờ mới được thấy, được thưởng ngoạn Cộng thêm khối kiến thức vô cùng phong phú được góp nhặt trên từng dặm đường khiến du ký vừa giàu giá trị nghệ thuật vừa giàu giá trị thông tin

Trang 18

Những câu chuyện được nghe, được chứng kiến trong cuộc hành trình luôn làm cho du ký có một sức hấp dẫn lạ kì, kích thích trí tò mò cũng như bản năng khám phá của con người, cộng thêm khối kiến thức vô cùng phong phú được góp nhặt trên từng dặm đường khiến du ký vừa giàu giá trị nghệ thuật vừa giàu giá trị thông tin Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy khoa học với tư duy nghệ thuật mà Gorki gọi là “sự hợp nhất giữa truyện và nghiên cứu” là nét rất riêng, làm nên đặc trưng cơ bản cho thể loại này Tư duy nghệ thuật cho phép du ký được tự do “bay bổng”, thỏa sức bày tỏ những cung bậc cảm xúc trước hiện thực muôn màu Còn tư duy khoa học lại góp phần làm giàu cho nhận thức của người đọc

1.1.2 Vài nét sơ lược về du ký Việt Nam

Trước khi du ký xuất hiện, trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã tồn tại một số tác phẩm có phương thức sáng tác là nghi chép về những điều mắt thấy, tai nghe, những điều mới lại về thiên nhiên, cuộc sống và con người, qua những chuyến đi xa Những chuyến đi thời trung đại hầu hết không phải là những chuyến

du lịch theo đúng nghĩa mà đều là những chuyến công cán, đi sứ, đi thi, hoặc có mục đích khác Trong nước những lúc nhàn rỗi và khi về ngồi hồi tưởng lại, ghi những cảm tưởng, suy nghĩ, những quan sát thu nhận được trên đường du lữ, để lại các áng văn thơ du ký Văn du ký trung đại cũng khá phong phú về hình thức: Thơ, văn xuôi…

Số lượng sáng tác du ký còn giữ được không nhiều, chủ yếu tập trong trong khoảng gian từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX Xét mục đích chuyến đi, địa điểm

di chuyển đến và hình thức chữ viết, có thể tạm thời chia văn du ký trung đại thành

ba loại: Loại văn du ký của các sứ thần Việt Nam đi Trung Quốc và đến giữa thế kỷ XIX có văn du ký của sứ thần nhà Nguyễn sang Đông Nam Á và Pháp; văn du ký của các nhà nho đi lại giữa các vùng trong nước; một loại thứ ba là văn du ký viết bằng chữ cái la tinh mà ngày nay ta gọi là chữ quốc ngữ của Philiphê Bỉnh và Trương Vĩnh Ký, những tác phẩm này đã có những nét của du ký hiện đại

- Du ký của các Nhà nho trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; các chuyến đi trong phạm vi không gian của nước Việt được ghi chép lại cũng khá đa dạng Về

Trang 19

thời gian, du ký ở các thế kỷ trước đã lác đác xuất hiện ví dụ Bài ký tháp Linh tế núi

Dục Thúy của Trương Hán Siêu (chưa kể thơ, phú có nội dung du ký như thơ của

Nguyễn Trãi về Côn Sơn, phú của Nguyễn Hoàng Đại đồng phong cảnh phú.Nhưng

phải đợi đến thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX, thể loại du ký văn xuôi này mới

thực sự nở rộ Đó là bài ký động Nhị Thanh của Ngô Thì Sỹ Thượng kinh ký sự của

Lê Hữu Trác từ Hà Tĩnh ra Thăng Long chữa bệnh cho Trịnh Cán với những cuộc

du ngoạn trong lúc rảnh rỗi được chép lại Tác phẩm được hoàn thành vào cuối năm Quý Mão, Cảnh Hưng 44 (1783) là một tác phẩm ký sự bằng chữ Hán rất có giá trị trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, một tập bút ký ghi lại hành trình lên kinh đô, vào phủ khám chữa bệnh chữa bệnh cho chúa Trước thời thế và nhân tình, không ngăn được nỗi ưu sầu, Lãn Ông

đã mượn thơ giãi bày tâm sự.Chất thơ ca, du ký, nhật ký, ký sự… hòa quyện với

nhau khó mà tách bạch Điều này cho thấy tính chất giao thoa, đan xen giữa tư duy nghệ thuật tự sự và trữ tình, văn xuôi và thi ca, kể sự và ngụ tình, kể chuyện và đối thoại, tự thuật và ngoại đề, ghi chép thực tại và hồi cố trong tác phẩm Để cho phù

hợp với sự tiếp nhận của đời sau, người dịch tác phẩm này đã tổ chức lại: “Tập

Thượng kinh ký sự viết theo lối du ký, theo thời gian chép việc trước, việc sau.Tuy nhiên, tự sự cũng có đoạn mạch Ông Nguyễn Trọng Thuật đem dịch ra Việt văn có

ý dựa theo ý mà chia thành mười lăm chương” Cùng với những kiến giải trong quá

trình phân tích sự kiện của Phạm Thế Ngũ cho thấy tính không đồng nhất trong quan niệm về thể loại du ký mang tính lịch sử như trường hợp của tác phẩm Thượng kinh ký sự trong cách tiếp nhận của thế hệ sau này Vì thế, tác phẩm không chỉ được gọi là tập du ký mà còn được định danh bởi các thể loại khác như: ký sự, truyện ký lịch sử, bút ký…[38]

Chuyến du ngoạn từ Thăng Long lên núi Sài Sơn vãn cảnh chùa Phật Tích, đền Trấn Vũ, tháp Bảo Thiên, chùa Tiên Tích của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án

còn ghi lại trong Tang thương ngẫu lục, với rất nhiều cảm xúc khác nhau Nhưng

xem truyện đủ biết Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án hòa mình vào thiên nhiên, tôn

Trang 20

giáo để quên đi cuộc đời Tuy nhiên, Tang thương ngẫu lục là những tài liệu quý về

lịch sử, địa lý, điển lễ, phong tục, lễ nghi ở cuối đời Lê [21]

Tác phẩm Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cùng với Nguyễn Án là một tác

phẩm rất tiêu biểu Với những nội dung ghi chép lại những việc xảy ra trong xã hội lúc bấy giờ từ việc trong phủ chúa đến ngoài xã hội [21]

Ngoài ra, thế kỷ XVIII-XIX còn để lại nhiều bài ký đi thăm chùa chiền, danh lam thắng cảnh khác trong lãnh thổ Việt Nam Tinh thần chung của du ký thời trung đại là ghi chép về phong cảnh và các di tích văn hóa lịch sử

Văn du ký của xứ thần Việt Nam có các áng văn du ký tiêu biểu thuộc loại

này có Bắc sứ thông lục của Lê Quý Đôn (1726 -1784), Bắc hành tùng ký của Lê Quỳnh Trong bài tựa cho Bắc sứ thông lục cho biết thơ viết đi sứ của sứ thần Việt Nam trong lịch sử thì rất nhiều, song văn xuôi thì mãi đến Lê Hữu Kiều mới viết Sứ

Bắc kỷ sự (chuyến đi sứ năm 1737) (theo tập 88,1) - tập này hiện không còn Và tập Bắc sứ thông lục là tập văn du ký thứ hai của sứ thần Việt Nam, viết bằng văn xuôi

chữ Hán trong chuyến đi sứ năm 1760 -1761 Lê Quý Đôn ghi chép tỉ mỉ, chi tiết trước hết các nội dung liên quan đến chuyến đi sứ, từ thành phần sứ đoàn, các cống vật, lễ vật; hành trình qua các ngày tháng, các địa điểm được ghi chép theo hình thức nhật ký…Trong giai đoạn đầu của nền quốc văn, du ký quốc ngữ phát triển sôi nổi như một thể tài tiên phong mang nhiệm vụ tiếp biến nền văn học Từ những tác

phẩm khởi đầu với quy mô, tầm vóc lớn như “Sách sổ sang chép các việc” của Philipphê Bỉnh, “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” của Trương Vĩnh Ký đến hai du ký bằng thơ trường thiên của Trương Minh Ký, “Như Tây nhựt trình”, ‘Chư quấc thại

hội”, du ký đã chứng minh được sự tiếp nối vững chắc của nền văn chương mới

Hoàng Xuân Việt đã ghi dấu sự phát triển chữ quốc ngữ trong du ký của Trương

Minh Ký thể hiện qua đoạn trích Như Tây nhựt trình như sau: “Chữ quốc ngữ ở đây

thật điêu luyện đến mức đáng ngạc nhiên Đây có thể xem là bước đầu khai mở một khả năng diễn đạt mới của chữ quốc ngữ”

Du ký quốc ngữ phát triển phong phú ở cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là yêu cầu tất yếu của cuộc chuyển giao nhiệm vụ giữa nền văn học mang tính khu vực

Trang 21

và nền văn học mang tính toàn cầu Trên phương diện nội dung, du ký quốc ngữ đã phá bỏ sự hạn hẹp trong không gian phản ánh của văn chương nhà Nho để hướng cái nhìn mở rộng ra toàn thế giới Du ký thực hiện sứ mệnh trung gian của hai phạm trù văn học, kết lại phạm trù văn học cũ và mở ra phạm trù văn học mới.Cùng với dịch thuật, phóng tác, tiểu thuyết, biên khảo, phê bình văn học, du ký quốc ngữ góp phần khẳng định sự lớn mạnh của một nền văn học mới phù hợp với tư duy thẩm mỹ của một tầng lớp công chúng văn học mới Những giá trị của thời thuộc địa gắn liền với nền văn minh Phương Tây đã tạo ra những thay đổi vô cùng quan trọng trong việc

tiếp nhận những thành tựu của phương Tây và thế giới hiện đại

Hầu hết các báo, tạp chí giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đều đăng văn du ký

Các báo địa phương như Nam Kỳ tuần báo, Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, Thần

chung… các báo có vận mệnh khá ngắn ngủi như An Nam tạp chí, các báo chuyên

về văn học như Phong hóa ở các mức khác đều đăng văn du ký Có ba tờ tạp chí và báo công bố nhiều du ký, là tạp chí Nam phong, báo Phụ nữ tân văn, tạp chí Tri tân.

Du ký là một thể loại có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Từ khi ra đời đến nay, du ký cùng với phóng sự, tùy bút… đã gia nhập vào đời sống văn học sôi động trên cả nước, làm nên một khởi đầu ngoạn mục cho việc đưa văn xuôi tiến dần vào vị trí trung tâm,đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại Việt Nam Du ký không khác gì một pho tư liệu quý giá, hấp dẫn, góp phần truyền lại niềm cảm hứng sâu đậm cho những sáng tác văn học về sau

Kể từ khi con người thực hiện khát vọng chinh phục thế giới bằng hành trình vượt không gian và thuật lại hành động đó bằng cảm nhận của chính mình thì cũng

là thời điểm du ký ra đời Lịch sử của du ký chính là lịch sử của những giá trị mà con người đạt được qua sự chinh phục không gian và chính mình Vì thế, làm sáng

tỏ vấn đề lịch sử của du ký không chỉ là sự bổ sung những khiếm khuyết trong nghiên cứu văn học, mà còn phản ánh sự tồn tại khách quan của thể loại này Trên bước đường tìm đến với văn học thế giới của văn học dân tộc, chúng ta không thể

Trang 22

phủ nhận vai trò của du ký vì nó đã mở đường cho văn chương, giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây

1.2 Sự hình thành và phát triển của du ký về biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX

1.2.1.Cơ sở văn hoá, xã hội, con người của vùng biển đảo Nam Bộ

Nếu lấy biển đảo làm điểm quy chiếu, vùng ven biển Việt Nam được chia làm

4 khu vực Mỗi khu vực đều có dấu ấn, có những sắc thái riêng về biển đảo trong tổng thể văn hóa dân tộc nói chung Khi bàn về văn hóa biển đảo, vùng biển đảo Nam Bộ nó đã thỏa mãn bốn điều kiện sau đây

- Về không gian sinh tồn, Vùng biển Tây Nam có các quần đảo và đảo nổi tiếng như: Côn Đảo, An Thới, Thổ Chu, Nam Du, Hải Tặc, Bà Lụa Trong đó, đảo Phú Quốc cùng với Thổ Chu và tuyến đảo Nam Du, Hòn Chuối, Hòn Khoai tạo thành thế khép kín bao bọc lấy phần đất liền phía Tây Nam của Tổ quốc Địa hình các đảo với bờ biển bao quanh hình dáng uốn lượn, nhiều bãi biển rất đẹp, nước trong xanh, nhiều đảo còn giữ được vẻ hoang sơ, rừng nguyên sinh rất hấp dẫn và các di tích lịch

sử, văn hóa Nằm cạnh các luồng hải thương quan trọng của thế giới, biển đảo Nam

Bộ không chỉ là môi trường sống mà còn là mạch nguồn giao lưu chính trị, kinh tế, văn hóa với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

- Về chủ thể, về chủ thể văn hóa, có bốn tộc người chính là Việt chiếm tới hơn 90% dân số và người Việt cũng là trung tâm để gắn kết các dân tộc Khmer, Hoa, Chăm

để cùng sinh tồn và phát triển trên mảnh đất này Có ba nguồn gốc xuất hiện chính Thứ nhất là những người từ miền Trung, miền Bắc do bần cùng phải bỏ quê hương vào Nam Bộ hoặc do lưu tán để tránh cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn Thứ hai là những người giàu có muốn mở mang canh tác đã chiêu mộ dân nghèo đi vào Nam Bộ khai khẩn đất đai Thứ ba là những người bị tù tội lưu đầy và những lính tráng được triều đình diều vào Nam Bộ để lập đồn điền và bảo vệ biên cương Họ đều mong muốn và mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp hơn, đây quả thực là một miền đất chứa đầy niềm hy vọng mới cho những con người quyết định đặt chân đến nơi đây

Trang 23

- Về thời gian tồn tại, cách nay khoảng 4000 năm, sự hiện diện đầu tiên của con người trên mảnh đất Nam bộ đã được thừa nhận qua các di chỉ khảo cổ như hài cốt, đồ gốm, đồ đá, đồng và sắt…Như vậy, Nam bộ là vùng đất đã có nền văn hóa

từ lâu đời Khoảng 2000 năm TCN đến đầu công nguyên; người Indonesian đã đến Nam Bộ và khai phá, kiến lập nên nền văn hóa Đồng Nai thời tiền sử với các du tích như di tích Cầu Sắt, Hàng Gòn và những hiện vật và các công cụ sản xuất nông nghiệp Sau đó, Nam Bộ đã có trung tâm thương mại khá phồn vinh là Óc Eo Thời điểm người Việt tới khai phá chỉ mới hơn ba trăm năm trở lại đây, khi đó vùng biển đảo Nam Bộ vẫn là một vùng đất vừa hoang dã vừa hào phóng.thiên nhiên ưu đãi nhiều sản vật Với hai đặc điểm này của thiên nhiên, đã góp phần tạo nên tính cách đặc thù của cư dân vùng Tây Nam Bộ Theo thời gian đã góp phần làm thành một nền văn hóa Nam Bộ Đây là vùng văn hóa mang tính tổng hợp, không thuần Việt, vùng đất mới, tươi trẻ và năng động Biển cả làm nguồn sống chính cho cộng đồng dân cư ở nơi đây

Về cách thức hoạt động sản xuất, ta thấy, hoạt động sản xuất ở Nam Bộ mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ với tính sông nước rõ nét.Nhờ hệ thống kênh, rạch, mương, rãnh… vô cùng chằng chịt và thuận lợi nên Người Nam

Bộ thường kết hợp canh tác giữa ruộng và vườn Hoạt động ngư nghiệp qua việc kết hợp nuôi cá, tôm trên ruộng lúa hoặc nuôi trồng theo kiểu vuông cá, vuông tôm được phát triển mạnh Nơi đây việc khai thác đánh bắt cá ở các ngư trường trên biển còn bà nguồn sống chính của nhiều ngư dân làng chài ven biển và trên đảo.Người Nam Bộ còn nuôi chim, cò, ong mật trong vườn trái cây, rừng tram (tạo thành những rừng tràm, sân chim)… Nổi tiếng là Sân chim Vàm Hồ nằm trên Cù lao Lá Được hình thành nên những dãy rừng ngập mặn rộng hàng chục hecta xuôi theo dòng Ba Lai Đây là nơi sinh sống của rất nhiều loài chim, nhất là cò trắng, cò ngang nhỏ, vạc, diệc xám.Vườn Quốc gia Tràm Chim Đồng Tháp nổi tiếng nhất cả nước Nơi đây được xem là khu dự trữ sinh quyển Ramsar thứ 2.000 của thế giới.Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với sông nước mênh mang, những rừng tràm ngút ngàn và thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng

Trang 24

Sông nước nơi đây còn là tiền đề phát triển các nghề buôn bán trên sông, vận tải đường sông.Phương tiện đi lại và vận chuyển chủ yếu là đường thủy, phương tiện

là ghe xuồng các loại.Cư ngụ giữa vùng sông nước, dù nhà nghèo ít nhất cũng có một chiếc xuồng ba lá Xuồng ba lá với đặc điểm nhỏ gọn, dễ luồng lách và cách rạch nhỏ

đã trở thành biểu tượng của văn hóa sông nước, xứ ruộng sình kinh ngập, mùa mưa lũ kéo dài tới 6 tháng mỗi năm.Nhiều người vẫn nhớ câu ca được cải biên từ một điệu lý

để thấy chiếc xuồng ba lá gắn bó trong sinh hoạt với người dân nơi đây

Nhà anh cách nhà em hai kinh một rạch

Anh ngó thấy em tóc dài buông hờ bà ba tím

Anh nghèo chưa sắm xuồng ba lá

Chẳng đành lội kinh dính sình sang bển gặp em

Thì mai anh sang nhà Năm Cua mượn xuồng ba lá

Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước.Từ xưa, các trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá nhất là ở những ngã ba sông.Đặc biệt ở miền Tây còn

có các chợ nổi mà toàn bộ hoạt động đều diễn ra trên sông nước.Bên cạnh đó, tại đây nhiều ngành nghề thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng đã hình thành để đáp ứng cho nhu cầu hoạt động nông nghiệp

Về hình thức tổ chức gia đình, làng xóm và nơi cư trú; Đến Nam Bộ để khai hoang lập ấp, người Việt cũng theo truyền thống để tổ chức quần cư thành làng ấp Tuy nhiên, về nội dung và hình thức, làng ấp của người Việt Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt với làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ Các thành phần trong cư dân cũng thường biến động, do đó xét về mối quan hệ thì dù có sự gắn bó nhưng vẫn lỏng lẻo hơn ở Bắc Bộ và Trung Bộ Những người từ nhiều vùng đất khác nhau đến sinh sống tại một ngôi làng và nhanh chóng hòa nhập, gắn bó nhưng cũng có thể nhanh chóng dời chỗ ở, đi tìm làng khác để sinh sống.Kẻ đến người đi đổi chỗ cho nhau, nên không có sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư với dân ngụ cư Tiện việc đi lại, làng ấp ở Nam Bộ thường hình thành dọc theo kinh rạch hoặc trục

Trang 25

lộ, không có luỹ tre làng đóng kín Do đó, tính cố kết cộng đồng của làng ấp nơi đây lỏng lẻo hơn làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ

Đối với nơi cư trú, người Nam Bộ thường cất nhà dọc theo các tuyến sông thì

có cọc cắm xuống lòng kênh rạch Thành phần vật liệu của nhà cửa ở Nam Bộ thường được lấy từ thiên nhiên và chủ yếu là các vật liệu tự nhiên của vùng sông nước như tràm, đước, chà là, bần, tre, mít, sú, vẹt, dừa nước…Đặc trưng nơi đây chính là nhà lá, được làm bằng lá dừa Nhà thậm chí là không có cửa, thể hiện một lối tư duy khoáng đạt, rộng mở, đầy lòng mến khách Với nhà của người Khmer thường là nền đất, lợp lá và nhiều nhà làm thành một “phum”, nhiều “phum” họp thành một “sóc” Thêm vào đó, vì mỗi năm lại có một mùa nước nổi và vì địa hình thấp mà ở Nam Bộ trước đây cũng có nhiều nhà sàn Đặc biệt, xuồng ghe ở Nam Bộ không chỉ là phương tiện di chuyển, mưu sinh mà còn là nhà, là nơi cư trú của nhiêu

cư dân làm nghề đò dọc, nuôi cá và bán buôn bán trên sông

Về ẩm thực, bữa ăn của người Nam Bộ thiên về dư dật, phong phú về với món ăn từ rau và cá Trong đó, người Nam Bộ rất thích hải sản nên đã tạo ra những món ăn rất đặc trưng như canh chua cá kèo, lươn um lá nhàu, ốc bươu luộc hèm, mắm sống, mắm chưng, lẩu mắm…Khẩu vị của người Nam Bộ nói chung và miền Tây nói riêng cũng rất khác biệt: Gì ra nấy! Mặn thì phải mặn quéo lưỡi, ăn cay thì phải gừng già, cũng không thể thiếu ớt, mà ớt thì chọn loại ớt cay xé, hít hà, ngọt thì ngọt như chè….Nói đến cay mà không đề cập và nghiên cứu khẩu vị của người Nam khi ăn tiêu hột hoặc tiêu xay là cả một sự thiếu sót, bởi tiêu đâu chỉ là cay mà còn ngọt Họ chế biến rất nhiều món ăn khác nhau từ một loại thực phẩm, điển hình như với cá lóc, người Nam có thể chế biến ra hơn 20 món khác nhau như canh chua

cá lóc, cá lóc nướng trui, mắm cá lóc, khô cá lóc, cá lóc kho hột vịt, cháo cá lóc, cá lóc chiên cháy… Kế đến, từ một món ăn người ta có thể chế biến bằng nhiều loại thực phẩm khác nhau ví dụ như chỉ với món kho đã có cá lóc kho, cá trê kho, cá hủn hỉn kho tiêu, cá sặc kho, cá chạch kho, cá rô kho, cá lòng ròng kho… còn có cả gà kho và dừa kho nữa Sự độc đáo trong chế biến còn ở chỗ cũng là kho nhưng người Nam Bộ có nhiều cách kho khác nhau, như: kho tiêu, kho tộ, kho quẹt, kho khô, kho

Trang 26

mặn, kho riệu… Người Nam Bộ cũng không quá cầu kỳ trong việc bày biện trang trí món ăn, có thể bày trên lá, trên mẹt

Về trang phục, cư dân miền Nam Bộ do điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng văn hoá khác nhau nên trang phục cũng chịu ảnh hưởng đáng kể Ngoài ra, với đặc tính thích cái mới, người Nam Bộ luôn tỏ ra nhanh nhạy theo các xu hướng của thời trang Yếu tố giao thoa văn hóa thể hiện trong trang phục phụ nữ của cả bốn dân tộc ở miền Nam Bộ, rõ nét nhất phải kể đến là chiếc áo bà ba đen Đây có lẽ là loại áo phù hợp với các điều kiện môi sinh, thời tiết, lao động ở miền đất này…Qua con đường giao tiếp văn hóa, áo bà ba trở thành chiếc áo tiêu biểu, đặc trưng của vùng biển đảo Nam

Bộ, cùng với đó không thể thiếu chiếc khăn rằn và đôi guốc mộc.Người Khmer mặc

áo bà ba phổ biến như người Việt Tùy vào khung cảnh: Ở nhà, lên chùa lễ Phật Khmer cũng khác nhau Màu vàng và màu đỏ được ưa dùng, vì nó không chỉ tôn thêm không khí hội hè mà còn rất phù hợp với màu sắc trang trí kiến trúc tôn giáo truyền thống, đặc biệt là trang trí ngôi chùa Phật giáo theo phái Tiểu thừa.Với người Chăm, trang phục truyền thống được chú trọng đặc biệt là phụ nữ Khi ở nhà với người thân, họ có thể mặc áo tay ngắn, nhưng váy phải dài tới gót chân Lúc có người

lạ đến nhà hoặc đi ra đường, phụ nữ Chăm ở Nam Bộ phải mặc váy với áo dài tay và nhất là phải choàng khăn lên đầu Bên cạnh chức năng đối phó với môi trường tự nhiên, việc may mặc luôn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người, hài hòa với đặc điểm của tính cách người miền Tây luôn ưa làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo

Về tính cách, Người Nam Bộ nổi tiếng phóng khoáng, rộng rãi, hiếu khách, bộc trực, nhiệt tình, dễ tin người, hài hước, lạc quan, thích mạo hiểm, phiêu lưu, trọng nghĩa và giàu tinh thần hiệp nghĩa bụng dạ thật lòng, muốn nói điều gì là nói

ra điều ấy ngay chứ không nói vòng vo tam quốc như phong cách của người Bắc Người miền Tây có những tính cách trái ngược nhau với biên độ khá rộng: Đã làm thì làm chết thôi, còn chơi thì chơi xả láng, khi yêu quý ai thì thiết đãi thật thịnh tình Văn hoá Nam Bộ đánh giá cao những con người bản lĩnh, dám chấp nhận di chuyển.Có lẽ điều này là sự thừa hưởng tính cách của ông cha ngày trước, đến vùng đất này thời khai hoang, lập đất Người miền Tây có tính trọng nghĩa tình, xởi lởi,

Trang 27

chữ “nghĩa” đối với họ đôi khi còn quan trọng hơn cả chữ “tình”, "hết tình còn

nghĩa" Họ đề cao sự thẳng thắn trong cách thể hiện tình cảm xúc, nhiệt tình đối với

bạn bè, người thân và cả những người xa lạ, đề cao đức tính thật thà đối với mọi người nên dễ tin người Bởi lẽ, trong một môi trường mới đầy hiểm nguy mà cũng đầy trù phú, thuận lợi thì sự thẳng thắn, thật thà và niềm tin lẫn nhau là những phẩm chất vô cùng quan trọng để những con người xa lạ gắn kết với nhau, cùng vượt qua khó khăn, hoạn nạn Người Nam Bộ hài hước để tự tạo niềm vui cho cuộc sống chốn hoang vu của mình, lạc quan bởi mỗi bước chân khai phá của họ vừa ẩn chứa hiểm nguy nhưng cũng là mở ra một dải đất xanh tươi, trù phú Do vậy, trong mối quan hệ ứng xử với thiên nhiên, cư dân Nam Bộ thấy gắn bó, yêu mến thiên nhiên, vừa sợ hãi lại vừa muốn chinh phục nó

Về tín ngưỡng, tôn giáo Nam Bộ là vùng đất có tín ngưỡng - tôn giáo rất phong phú và theo hướng đa thần Bên cạnh, việc tôn thờ các Thần, Thánh, Tiên, Phật trong các tôn giáo; người Nam Bộ còn tin vào sự linh thiêng và tôn thờ các lực lượng tự nhiên, siêu nhiên như ma, quỷ, các vong hồn… và tổ tiên của mình Ở Nam

Bộ, người dân thường thờ các Thiên thần như thờ Ông Thiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ,… các Nhiên Thần như Thổ địa, Thần Hổ, Thần Cá Voi, Hà Bá… và các Nhân Thần như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Quan Thánh Đế Quân… hay thờ gia tiên, cửu huyền trăm họ Đặc biệt, ở miền Nam không có thục thờ các tà thần như ở miền Bắc Về tôn giáo, có thể thấy, ngoài các tôn giáo du nhập vào Nam Bộ như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành, Hồi giáo…; Nam Bộ còn là nơi hình thành những tôn giáo mới như Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Dừa, đạo Ông Trần… nhưng ở không có tôn giáo nào đóng vai trò chủ đọa mà hòa hợp, cùng tồn tại bên nhau

Về lễ hội, ta thấy người Nam Bộ rất quan tâm đến những lễ hội mang màu sắc tâm linh Nhìn chung, các lễ hội ở Nam bộ thường được tổ chức để tưởng nhớ công ơn của những danh nhân mở đất và anh hùng dân tộc, nhân vật tôn giáo, để tạ ơn tự nhiên

và những lực lượng siêu nhiêu đã giúp cho đời sống con người được phồn vình, ấm no

và bình an, thuận lợi; để cầu xin bình an, tài lộc Các lễ hội phổ biến như lễ Kỳ Yên ở

Trang 28

các đình làng, lễ hội Nghinh Ông ở vùng ven biển, hội Đền Linh Sơn Thánh Mẫu núi

Bà Đen, lễ hội vía Bà Chúa Xứ ở An Giang, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu của ngư dân thị trấn Sông Đốc ở Cà Mau, hội đua bò Bẩy Núi ở An Giang và các lễ hội thường niên của đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo (như Hội Yến Diêu Trì Cung ở Tây Ninh)…Ngoài ra, ở Nam Bộ còn có các lễ tưởng niệm các danh nhân mở đất, các anh hùng dân tộc như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương… Riêng người Khmer Nam Bộ còn có các ngày lễ lớn như Chol CHà Nộiam Thmay (năm mới), lễ Dolta (xá tội vông nhân), Ooc Om Bok (cúng trăng) và những lễ hội khác như lễ hội xuống đồng của người Khmer ở Bình Phước, lễ hội Neak

Tà của người Khmer ở Trà Vinh, lễ hội Phước biển của người Khmer ở Sóc Trăng, Vĩnh Châu… với các hoạt động như đua ghe ngo, múa hát Ngoài ra, người Chơ-ro ở Đồng Nam còn có lễ cúng Thần Lúa… Trong đó, các nghi thức múa hát như múa đèn, múa bông, múa mâm vàng, múa lân, múa bòng… là những điệu múa phổ biến ở Nam

Bộ và được nhiều người ưa thích

Nhìn lại tiến trình lịch sử phát triển của dân tộc từ xưa đến nay, cộng đồng dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn coi biển đảo như một phần không thể tách rời, cả trong đời sống và tâm thức của mình Từ xưa, văn hóa biển cũng đã gắn với những câu chuyện truyền thuyết trong công cuộc dựng nước và giữ nước.gắn với quá trình mở đất vào phương Nam của vua chúa nhà Nguyễn, tất cả dẫn đến ý thức của thế

hệ ngày nay về giá trị văn hóa biển đảo Đối với vùng biển đảo Nam Bộ, ý thức về sự chinh phục biển luôn gắn với giá trị kinh tế biển với giá trị văn hóa biển.Điều này, minh chứng rất rõ về văn hóa biển gắn với lễ hội dân gian như lễ hội thờ cúng Thành hoàng làng, lễ hội Nghinh Ông, thờ cúng cá Ông… của cư dân sống ở vùng ven biển Các lễ hội này chứa đựng những giá trị văn hóa – lịch sử độc đáo, góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện phương cách ứng xử văn hóa của ngư dân trước biển cả Các giá trị lịch sử văn hóa cả về truyền thống và hiện đại góp phần làm phong phú cho các giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam

1.2.2 Đội ngũ sáng tác và độc giả tiếp nhận

Trang 29

Các tác giả du ký viết về biển đảo Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu là các nhà trí thức chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây Ban đầu là xuất thân trong môi trường Nho học, sau đó được tiếp cận với những luồng văn hóa, tri thức mới của phương Tây Họ đều là những cây bút ưa tìm tòi phiêu lưu, khám phá, với những cơ hội được đi du lịch, đi công tác chính là điều kiện để tìm ra chất liệu viết các tác phẩm du ký Đội ngũ sáng tác các tác phẩm du ký đều là những trí thức, tầng lớp tiên tiến trong xã hội đương thời, có thể là nhà báo, nhà văn, là học sinh, thầy giáo… họ có những điều kiện và cơ hội đến với vùng biển đảo, thực hiện được những chuyến đi xa, khó khăn Như chúng ta biết lúc đó, phương tiện giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, dân cư một số nơi còn thưa thớt, nhiều vùng biển đản còn hoang dã… Lý do đến nơi đây có thể là một chuyến

đi chơi, thăm thú cùng bạn bè hay đi du lịch, đi công tác Như việc Đông Hồ đi chấm thi sư phạm ở Phú Quốc, thầy trò Nguyễn Đức Tánh đi du lịch kết hợp học tập ở Nghệ Tĩnh, Trần Trọng Kim đi khám trường ở Hải Ninh Hay như: Phạm Manh Phan, Mộng Tuyết, Trần Cư là những người bạn cùng sở thích, rủ nhau đi thăm thú vui khám phá những miền biển đảo mà mình chưa từng đến, những nơi có cảnh đẹp non nước hữu tình

Các tác giả viết về đề tài du ký đều là những phóng viên, cộng tác viên với nhiều tờ báo và tạp chí, trong đó tiêu biểu là tờ Nam Phong, Công Luận Các tác giả như: Biến Ngũ Nhy, Phạm Quỳnh, Đông Hồ, Nguyễn Thiên Kim, Trần Đình Khiêm, Nguyễn Thành Châu, Mộng Tuyết, Trúc Phong, Phan Thị Nga, Huỳnh Văn Chính, Biểu Chánh, Khuông Việt… Trong đó, có các nhà văn tiêu biểu như: Biểu Chánh, Đông Hồ, Mộng Tuyết Như vậy, họ cùng tồn tại với hai tư cách là nhà văn và nhà báo.Đặc trưng của tác phẩm du ký là những điều mới lạ được khám phá, những điều ít

ai biết đến mà nó làm cho con người ta khi tiếp xúc có những ấn tượng tốt đẹp, thậm chí là ngưỡng mộ, đam mê Điều này thật phù hợp với nội dung của báo chí, mà báo chí luôn đưa thông tin nhanh nhất đến với người đọc, tiếp cận người đọc với một số lượng lớn, không đơn thuần chỉ là những người đam mê văn chương

Trang 30

Du ký cùng lúc thỏa mãn cho người viết được rất nhiều giá trị Trước hết là các tác giả được thỏa mãn những khát vọng, những mong muốn của bản thân khi được đến những vùng biển đảo của đất nước, được ngắm thiên nhiên, quang cảnh hùng vĩ, nên thơ và tràn đầy sức sống Một tinh thần viết mới đầy tự do phóng khoáng đúng với chất của con người Nam Bộ, đúng chất của tư duy phương Tây, khác hẳn với lối viết nguyên tắc, lối mòn của tư duy Nho giáo Tiêu biểu như: Mộng Tuyết (Chơi Phú Quốc), Phan Thị Nga (Ra Cù lao Yến), Bạch Liên (Chơi xuân ở Hà Tiên)…

Về độc giả tiếp nhận, đa phần các tác phẩm du ký đều đạt những tiêu chí của báo chí, chính vì thế, các tác phẩm vừa được hoàn thành đều có cơ hội đến ngay với bạn đọc.tại thời điểm đó, xu thế của văn học nói chung, đều hướng cả tới độc giả bình dân được thể hiện thông qua ngôn ngữ viết dễ hiểu, phù hợp thị hiếu chung Một bộ phận công chúng cởi mở và có trình độ, không ngừng tiếp cận cái mới và

am hiểu văn chương, đã kiên trì ủng hộ những tìm tòi, khai phá Việc dạy và học để biết chữ; việc in ấn, mua bán và đọc báo; việc truyền bá và thưởng thức tác phẩm văn học … đã trở thành một nhu cầu thực sự của đông đảo của người dân và là một hoạt động phổ biến toàn xã hội Vào nửa đầu thế kỷ, phần lớn người đọc sách báo văn học là tầng lớp công chúng thị dân và viên chức nhỏ có thị hiếu thẩm mỹ bình dân Đến với báo chí họ chú ý những thông tin và những sự kiện giật gân, ý thức về ngôn ngữ và nghệ thuật văn chương gần như rất ít Với đặc trưng của báo chí là phản ánh thông tin mang tính thời sự, nên các tác phẩm du ký ngay sau khi

hoàn thành sẽ được đưa đến với bạn đọc một cách nhanh chóng nhất

1.2.1 Định lượng tác phẩm du ký biển đảo Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Vào nửa đầu thế kỷ XX các tác phẩm du ký thiên về ký sự, ghi chép về các vấn

đề kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, với các hình thức ký sự, ghi chép, những bình luận, nhận xét, đánh giá vừa mang tính khách quan của thời cuộc, tính chủ quan, cái tôi nhận định của các tác giả Do điều kiện địa lý, lịch sử, đặc trưng văn hóa vùng miền luôn có những dấu ấn riêng, đồng thời các tác giả viết về du ký thường là những người từ nơi khác đến chính vì thế họ luôn có góc nhìn, góc quan sát mới lại, đa

Trang 31

chiều, luôn luôn có những ấn tượng mạnh về những giá trị đặc trưng riêng có của biển

đảo Nam Bộ Được thể hiện thông qua các tác phẩm tiêu biểu sau : Tây Ninh - Vũng Tàu

du ký – Biến Ngũ Nhy (in trên Nam Kỳ địa phận, số 470, năm 1918), Một tháng ở Nam Kỳ- Phạm Quỳnh (Nam Phong tạp chí, in trên 3 số 17, 19, 20, năm 1918, 1918), Thăm đảo Phú Quốc, Đông Hồ (Nam Phong tạp chí, số 124, năm 1927), Du ký hòn Tre -

Nguyễn Thiên Kim (Công luận, số 758, năm 1927), Đi ra Côn Lôn - Trần Đình Khiêm (

Công luận, in trên các số 1280, 1281, 1282, 1284, năm 1929), Cảnh vật Hà Tiên – Đông

Hồ, Nguyễn Văn Kiêm (Nam Phong tạp chí, in trên 2 số 150, 154, năm 1930), Côn Lôn

ký sự - Thiết Hãn Tử (Công luận, in trên 2 số 2328, 2329, năm 1932), Trên đường Thiên

Lý - Nhật ký của anh kép hát -Nguyễn Thành Châu (Công luận, in trên 2 số 6413, 6425,

năm 1933, Tết chơi biển -Trúc Phong (Nam Phong tạp chí, số 207, năm 1934), Sài Gòn -

Quảng Nam trên xe lửa hạng tư - N.Q.T (Công luận, in trên số 7223, 7226, năm 1936), Một cuộc hành hương ở Hà Tiên - (Nam kỳ tuần báo, số 17, năm 1942), Kỷ niệm Phan Thiết – Đinh Gia Trinh (Thanh Nghị, in trên 2 số 12, 17, năm 1942), Hà Tiên du ngoạn -

Biểu Chánh (Nam Kỳ tuần báo, số 37, năm 1943), Đêm cuối ở Hà Tiên - Trường Sơn Chí (Nam Kỳ tuần báo, số 44, năm 1943), Tôi ăn tết ở Côn Lôn - Khuông Việt (Nam Kỳ

tuần báo, số 74, năm 1944), Con đường Thiên Lý - Khuông Việt (Tri Tân tạp báo, số

171, năm 1944) Trong đó có các tác phẩm du ký là những tác giả nữ, với cách nhìn nhạy cảm và tinh tế, cũng đã mang đến cho người đọc những tác phẩm mang đầy dấu ấn cá nhân về những cảm nhận nơi mình đến và những giá trị nghệ thuật có chất lượng như :

Chơi Phú Quốc - Mộng Tuyết (Nam Phong tạp chí, in trên 2 số 198, 199, năm 1934), Chơi xuân ở Hà Tiên - Bạch Liên (Công luận, in trên số 6506, 6512, năm 1934), Ra cù lao Yến - Phan Thị Nga (Ngày nay, in trên 2 số 11, 12, năm 1935) Trong các tác phẩm

du ký tiêu biểu trên thì những điểm đến như Phú Quốc, Hà Tiên, Côn Lôn được nhiều tác giả khai thác, dù ở bất kỳ góc độ nào cũng đều mang đến cho người đọc niềm say mê khám phá, những ấn tượng cả về thiên nhiên tươi đẹp và con người nơi đây

Các tác phẩm du ký đều viết bằng chữ quốc ngữ, nó đã đóng vai trò là nhịp cầu kết nối các giá trị văn hóa truyền thống và liên kết với những giá trị mới của thời đại.Bởi công chúng văn chương bắt nguồn từ công chúng báo chí.Trong thời kỳ này các nhà

Trang 32

văn, nhà báo đều làm việc và sống bằng nghề viết lách của chính mình Đó là sự phân công lao động xã hội hết sức nghiêm túc Vì thế thái độ làm việc chuyên nghiệp mà xã hội lúc bấy giờ yêu cầu đã xuất hiện, nó vừa bao hàm khả năng tự ý thức về văn chương, vừa thể hiện qua trình độ xử lý chất liệu, góc nhìn khám phá những giá trị riêng có mỗi vùng miền và cách thể hiện cũng phải tạo nên phong cách riêng của mỗi ngòi bút Đây là chặng đường đầu tiên xuất hiện những nhà văn chuyên nghiệp, chuyên nghiệp hóa là yếu tố có thực trong đời sống văn học Việt Nam, nhà văn sống bằng nghề, tuân theo quy luật thị trường Hầu hết các tác giả du

ký đi lên từ tài năng bẩm sinh và con đường tự học, luôn phải đối diện với nỗi lo cơm áo, việc được đào tạo chuyên môn một cách bài bản cũng không nhiều Nhưng với đạo đức nghề nghiệp cùng với tài năng và niềm đam mê, họ cũng đã để lại những trang viết có nhiều giá trị lúc bấy giờ và với chúng ta hiện nay thì đó quả là những trang tư liệu quý giá

Các báo đăng văn du ký đều thuộc báo chí công khai, được phép xuất bản và quản lý về nội dung đều là do người Pháp Tuy nhiên, qua những trang du ký, người đọc vẫn cảm nhận rõ về vẻ đẹp của quê hương, của đất nước, hiểu hơn về phong tục tập quán, con người của mỗi vùng miền Đó chính là cách truyền bá kín đáo nhất về

tư tưởng yêu nước, nâng cao trình độ quốc văn, mở mang dân trí Bản thân người đọc không còn đơn thuần là những độc giả thụ động trước những trang văn mang chứa đầy tính chất tải đạo, rập khuân, khuân mẫu theo những quy tắc của văn thơ trong đại Trong luồng tư tưởng của thời đại mới với những trang văn sinh động, vừa có tính giải trí, thưởng thức và phản ánh nhiều mặt của đời sống thực tiễn đã

đáp ứng được thị hiếu của người đọc lúc bấy giờ

Tiểu kết chương 1

Du ký là một thể loại văn học đã được hình thành ở Việt Nam từ thời kỳ trung đại Tuy nhiên phải tới nửa đầu thế kỷ XX các tác phẩm văn học du ký không chỉ nở rộ về số lượng và chất lượng mà những đặc trưng mới được định hình cụ thể

và bộc lộ đầy đủ, để từ đó làm nên một mảng văn học hiện đại rất năng động Mang đến những thông tin vừa mang tính khoa học, văn hóa, nghệ thuật, lịch sử… vừa là

Trang 33

cảm nhận của bản thân người viết trong quá trình khám phá và tiếp nhận bằng những cảm xúc sâu lắng nhất của tâm hồn

Trong bất kỳ thời đại nào thì biển đảo luôn là một phần lãnh thổ thiêng liêng của

Tổ quốc, trong đó có khu vực biển đảo Nam Bộ luôn là một đề tài được các nhà văn khai thác dưới nhiều góc nhìn khác nhau, thể loại khác nhau Văn học du ký biển đảo Nam Bộ cũng đã mang đến những khám phá về tự nhiên, văn hóa cuộc sống con người của tác giả trong một không gian đặc thù chứa đựng những trầm tích văn hóa và lịch sử Qua những tác phẩm này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vùng đất và con người biển đảo Nam Bộ trong nhiều lĩnh vực như : hệ tư tưởng, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, lịch sử, địa lý…Đồng thời là những nét đặc sắc về phương diện nội dung và phương thức thể hiện của du ký về biển đảo Nam Bộ Hai phương diện trên sẽ được làm rõ trong hai chương tiếp theo của luận văn

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA DU KÝ BIỂN ĐẢO NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 2.1 Biển đảo Nam Bộ với tư cách là một đối tượng của du ký nửa đầu thế kỷ XX

Nền văn hóa của mỗi dân tộc, đều được hình thành và phát triển trong một môi trương nhất định Với tư cách là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam

Á, văn hóa Việt Nam đồng thời chứa đựng cả hai yếu tố văn hóa lục địa và văn hóa biển Nam bộ là vùng đất phía Nam thuộc lãnh thổ của Việt Nam có diện tích khoảng 64,1 nghìn km2, chiếm 19,4% diện tích cả nước Vùng biển Nam Bộ nằm ở

vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á với ba mặt giáp biển.Đã mở cánh cửa ra biển Đông đón nhận trào lưu của văn minh phương Tây một cách mạnh mẽ trong giai đọan nửa đầu thế kỷ XX Từ vị trí không gian này đã sớm hình thành cho con người miền Nam Bộ một tâm thức hòa hợp giữa đất liền và biển cả Cho dù các đảo

và hải đảo nằm tách rời vùng lãnh thổ đất liền, nhưng những người dân sống trên đảo và đát liền vẫn có những điểm chung bên cạnh những nét văn hóa đặc trưng riêng của mỗi khu vực địa lý

Trước đó, thời kỳ trung đại các ghi chép về biển đảo phía nam của Tổ quốc

đã xuất hiện.Đặc biệt là thời kỳ nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX đã ghi chép được rất nhiều thông tin Vùng biển đảo Nam Bộ gắn liền với vai trò của Nguyễn Ánh, một

vị vua đầu tiên của triều Nguyễn luôn có ý thức sâu sắc về nhu cầu xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XIX Đối với người phương Tây thì biển đảo Nam Bộ đã để lại những dấu ấn hết sức sâu sắc và được ghi chép lại trong hành trình và hồi ký của mình Như việc ghi chép của nhà du hành William

Dampier vào thế kỷ XVII trong tác phẩm Một chuyến du hành đến đàng ngoài đã

có miêu tả cuộc hành trình đến Việt Nam bằng đường thủy trong đó đã có sự quan sát và miêu tả biển đảo nước ta, trong đó có Côn Đảo Hay JoHà Nội Barrow đã có

tác phẩm Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà vào năm 1972- 1973, khi đoàn thám hiểm dừng chân ở Côn Đảo đã ghi chép lại như sau “ Những chiếc tàu lớn của tôi

Trang 35

xuất hiện và đã làm náo động dữ dội đám thổ dân nghèo nàn ít ỏi ở đây Họ đã kéo lên núi bỏ lại đằng sau mình một ít đồ dự trữ lương thực để ở cửa ra vào những túp lều của họ.và trong một tờ giấy viết bằng chữ Hán, họ cầu xin tôi bằng lòng lấy đi tất cả và hãy để lại cho họ căn nhà tồi tàn kia…” Như vậy, vùng biển Nam Bộ đã

được một số nhà thám hiểm phương Tây ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe Đối với các nhà văn, nhà báo Việt Nam thì khu vực này nó cũng tồn tại với tư cách

là đối tượng đề tài của du ký gắn liền với giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Với những cây bút nổi tiếng viết về vùng biển đảo Nam Bộ như Mộng Tuyết, Trần Trọng Kim, Đông Hồ, Biểu Chánh, Khuông Việt… Người có công đầu tiên thúc đẩy thể ký phát triển chính là Tản Đà, tiếp đến là Phạm Quỳnh đã tạo ra Mục Du ký trên Nam Phong tạp chí với nhiều phong cách ký sự như: ghi chép, hồi ký, phóng sự, khảo cứu, hồi ức…[80]

Bên cạnh những đặc trưng riêng thì vùng biển đảo Nam Bộ Du ký biển đảo Bắc Bộ đã cho người đọc thấy nó cũng giống như vùng biển đảo Nam Bộ, rất giàu tài nguyên và tươi đẹp Qua chuyến về Quảng Yên, Nhàn Vân Đình đã cho chúng ta thấy vùng biển nơi đây thật giàu và đẹp, dồi dào khoáng sản than, được mệnh danh

là “vàng đen của Tổ quốc”.cách ghi chép rất thực tế, với những gì mắt thấy tai nghe Hay, ở Thụy Anh, Thái Bình cũng được Đặng Xuân Viện ghi chép lại cả về kinh tế, văn hóa và chính trị.Ở đảo Cát Bà, Vân Đài cũng đã thay những người dân nơi đây nói lên những nỗi cơ cực, khó khăn và bất lực trước kẻ thù.Qua những tác phẩm du

ký trên, chúng ta thấy con người nơi đây cũng giống như bao con người ở những miền đất Nam Bộ rất yêu lao động, gắn bó với biển

Cũng giống như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trúc phong các nhà du ký xuất hiện trong tác phẩm với nhiều tư cách khác nhau.Nguyễn Đức Tánh về miền đất nghệ với tư cách là một người thầy Để giới thiệu cho học trò của mình những di vật văn hóa, danh nhân văn hóa, địa danh văn hóa…

Qua những trang du ký đi từ miền biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ…Cho chúng ta thấy ngay từ đầu thế kỷ XX biển đảo là một chủ đề được quan tâm.Ý thức biển đảo được nêu cao Đặc biệt là biển đảo Nam Bộ, một vùng đất mới

Trang 36

với nhiều điều chưa được khám phá, thiên nhiên tươi đẹp, nhiều sản vật, con người nơi đây cũng có những nét văn hóa đặc trưng quả thực làm mê đắm lòn người Đặc biệt là các tác giả du ký

2.2 Thiên nhiên vùng biển đảo Nam Bộ

Vùng biển Nam Bộ là một bộ phận nằm trong vịnh Thái Lan thuộc vùng biển của 7 tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau Gồm các quần đảo: Hòn Khoai, Thổ Chu, An Thới, Hải Tặc, Bà Lụa, củ Tron, và các đảo như: Hòn Chuối, Hòn Bông, cụm Hòn Đá Bạc… Phía Đông giáp biển Đông, riêng

Cà Mau và Kiên Giang giáp với biển Tây qua vịnh Thái Lan Sông Tiền và sông Hậu chảy qua địa bàn, đổ ra biển Đông với chín cửa: Cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Bát Xắc và cửa Tranh Đề Địa hình các đảo với bờ biển bao quanh hình dáng uốn lượn, nhiều bãi biển rất đẹp, nước trong xanh, nhiều đảo còn giữ được vẻ hoang sơ, rừng nguyên sinh rất hấp dẫn

và các di tích lịch sử, văn hóa Vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ và mênh mông sóng nước là

đề tài mà dy ký khai thác thông qua những sáng tác được ra đời từ những cuộc hành trình khám phá những vùng đất, những trang viết về hương sắc thiên nhiên của biển đảo đã tạo ra một niềm say mê kỳ thú, yêu quê hương, tự hào về quê hương đất nước mình biết bao Đến với biển đảo là phải vượt qua muôn trùng sóng gió, khi điều kiện đi lại được thuận tiện hơn, càng khích lệ người ta cùng đi, cùng khám phá.Một sự trải nghiệm mới, một dấu ấn mới khiến lòng người người mở rộng hơn, vượt lên những nhu cầu nhỏ nhặt tầm thường của cuộc sống để mưu cầu những giá trị vượt ra ngoài giá trị của bản thân

Cái cảm giác đầu tiên của Đinh Gia Trinh trước biển hoang sơ mới tươi mới

và trong lành làm sao “Sáng nay kèn gọi dậy lúc mặt giời còn e thẹn lấp ló ở

phương Đông Gió trinh tiết từ bể đưa vào làm nở rộng lồng ngực, mơn trớn các giác quan của ta, khiến ta cảm thấy trong thân thể một bồng bột yêu đời”[74; tr.16]

Biển ngàn năm vẫn vậy, nhưng cảm giác lần đầu được đến nơi đây, được khám phá, tác giả thấy biển thật trữ tình như một cô gái mới lớn, trong trắng, ngọt ngào, tràn đầy sức sống, làm sao không thể say mê, tràn ngập đến một niềm khát khao hoàn

Trang 37

toàn phù hợp với quy luật tâm lý, bản tính của người đàn ông Đặc biệt là đối với một cây bút thời kỳ này, khám phá là ngọn nguồn của sáng tạo, là chất liệu để viết

để liên tưởng Tâm hồn tác giả cũng hồn nhiên trong trẻo như một chàng trai mới lớn, sẵn lòng bộc lộ tất cả những gì mình yêu thích, mình cảm nhận.các cụ ta nói quả không sai “Con gái yêu bằng tai, con trai yêu bằng mắt” Hiện ra trước mắt ta

“Ánh nắng sớm ban mai tan dần sương lam che bóng dặng núi xa về phía Tây -

Bắc Nền giời xanh mát, các màu sắc đều sán lạn sạch sẽ như được tắm gội trong ban đêm.” Như để người đọc tin khung cảnh hừng đông đẹp đẽ ấy là có thật, tác giả

không ảo tưởng mơ hồ, ấy chính là cái cảm nhận của những chàng thanh niên đang chạy trên bờ biển, luyện tập môn điền kinh, vẻ mặt của họ không hề toát nên sự mệt nhọc mà trong nỗi vất vả ấy cũng vẫn hừng hực một sức sống trong khung cảnh

ngày mới tươi đẹp trên biển Phan Thiết này “Da họ đỏ hồng hoặc đen sạm, người

họ bẩn những đất cát, đầu họ rối bù, nhưng họ là những lực sĩ vui vẻ, không biết những sầu não lãng mạn yếu mềm Với không khí trong sạch của biển cả, họ hít lòng yêu cuộc sống và cả tình vui” [74]

“Yên lặng trên đồi Phan Thiết, giời trong không chút gợn Bể xanh một màu

ấm áp, tiếng sóng êm đềm tựa như ở một cõi xa xôi đưa lại, điệu đàn không bao giờ ngừng ở cõi cảnh trí tĩnh mịch này… Thuyền đánh cá buồm trắng đỏm dáng bơi trên mặt biển lặng cây cỏ yên tĩnh như trầm ngâm trong suy nghĩ vô đề…mây yên lặng không chuyển động” , “Một vệt thẳng, ở cuối tầm con mắt chia màu lam của trời mây với màu xanh dịu của nước.” Cảnh đẹp của biển Phan Thiết làm trong

không gian của buổi chiều, không hề thấy cái bi lụy của hoàng hôn thường gặp trong nhiều tác phẩm văn học thời bấy giờ Mà ta thấy một sự trầm tĩnh yên lành, và rồi nhận ra, trong lòng tác giả biển Phan Thiết giống như một cuộc đời của con người, buổi sáng là một cô gái phơi phới sức xuân thì, buổi chiều lại là một con

người từng trải, ngồi suy ngẫm, chiêm nghiệm lại cuộc đời Để rồi, “Lòng tôi lúc

này không nhớ thương ai, không lo sợ, không băn khoăn, không hoài vọng” Đây

chính là cảm giác của sự thanh thản bình yên Như triết lý nhà Phật ấy là lúc con người trút được cái tham, sân, si… để đến với cội nguồn của hạnh phúc, tinh thần

Trang 38

thăng hoa tới cõi mộng hư hư, thực thực “Xa xôi, xa xôi huyền bí, ta đợi người hoài

ở một nơi gặp gỡ hoang đường” Đến buổi đêm trên biển Phan Thiết tác giả đã gặp

được người bạn tri kỷ của mình đồng thời cũng là linh hồn của đêm, bởi “Mọi vật

dưới giăng trở nên thơm mát như mộng, yên tĩnh khiêm tốn như một thiếu nữ đẹp ít nói cười” Đã gặp bạn tri kỷ sao có thể rời xa “ Ta thức đêm nay sống với giăng Linh hồn của giăng và linh hồn của ta giàng buộc với nhau khăng khít” Biển Phan

Thiết là nơi lần đầu tiên tác giả đặt chân tới, những khám phá và cảm nhận về thiên

nhiên tuyệt vời nơi đây, để rồi bắt gặp “ Một tâm hồn ta đã đợi từ lâu” [74]

Đối với Trúc Phong không được gặp người bạn tri kỷ là trăng, nhưng cảm nhận về Hòn Tre trong không gian mờ ảo lấp lánh bởi những ánh sao thưa trong

không gian mùa xuân cũng thật êm ái “cảnh hòn Tre một dải cao cao đen đen, nằm

hình bán nguyệt, trên mặt nước lờ đờ Đàng xa, xunh quanh tôi , còn có những dải cao cao như thế, nhưng mờ hơn” Mọi chuyển động của đất trời, vạn vật đều khẽ

khàng, ý tứ: “Mặt nước lặng sóng, chỉ thỉnh thoảng cách khoảng rất lâu, một ít

sóng ngoài khơi lượn vào nhè nhẹ động chiếc thuyền một cách êm ái Tiếng gió hiu hắt trên ngàn cây, cùng với tiếng sóng biển dạt dào” vừa mới vài tiếng trước đó là

cảnh say sóng choáng váng cả đầu óc, 7 tiếng đồng hồ mới tới được Hòn Tre nhưng trước nơi đây trong buổi đêm lại là cái cảm giác yên bình, an lành đến kỳ lại, mọi thứ thật êm ái, khẽ khàng như đang nằm trong một giấc mơ, mơ đến một thiên

đường “cái cảm giác thiêng liêng huyền bí” [43]

Vùng biển, đảo Nam Bộ là nơi có biết bao loài động vật quý như đồi mồi, rắn biển, chim biển và thú biển, các loại cá, rong, san hô.Nam Bộ còn là vùng biển rộng tới mức độ đa dạng sinh học cao, tạo ra một thiên nhiên vô cùng phong phú và

đa dạng và rất khác biệt Ngay cả với những nhà khoa học bấy giờ nó còn đầy mới

mẻ, hấp dẫn, tiêu biểu là đảo Phú Quốc với diện tích lớn, không gian rộng, ai tới nơi này đều có những trải nghiệm thật khó quên Đông Hồ gắn bó với quê hương Hà Tiên, những ngày tháng long đong của số phận cũng tìm về Hà Tiên để nghỉ ngơi, chiêm nghiệm về cuộc sống.Thế nên lời nhận định này là hoàn toàn hợp lý, có cơ

sở Rất chân thực, bởi những trang bút ký trước hết là viết cho mình, viết về chính

Trang 39

mình, nên ông cũng bày tỏ lý do được đến Phú Quốc trong tư cách một nhà giáo và đây là một chuyến đi trước hết vì công việc Tới đây, thi sĩ đặc biệt ấn tượng với

cách gọi tên cho từng địa danh ở Phú Quốc “Có một chỗ gọi là Đá Bạc, mà đá bạc

thiệt Xa giữa vùng sóng biếc nhấp nhô trông mấy khóm đá bạc phơ đầu Đá ấy là thứ đá xanh, đen hoặc hung đỏ, mà phân bày trên mặt nước lại điểm có thứ đá trắng”; “Có chỗ gọi là Đá Bao, thì trông nghiêm nhiên tròn trặn như cái bao đặt trên phiến đá” “Còn có chỗ Đá Nhảy thì đó ai đi ngang đó mà không nhảy được, vì tảng nọ không liền với tảng kia, cách nhau vừa một cái nhảy, dầu không cố ý nhảy cũng phải xoi xói một lúc” Cảnh sắc thiên nhiên mới lạ và những tên gọi đặc biệt

khiến tác giả vô cùng thích thú Qua từ “chỗ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho thấy sự quan sát tỉ mỉ của tác giả về cảnh vật nơi đây Đồng thời, những điểm đặc biệt đó so với đất liền là rất nhiều, tạo nên một khung cảnh kỳ vĩ, rộng lớn, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác Trước không gian rộng lớn của biển cả, cũng như Đinh Gia Trinh, Đông Hồ có ấn tượng vô cùng sâu sắc với cảnh hoàng hôn trên biển Ông

đã tạo nên một bức họa bằng ngôn từ với những gam màu tươi sáng, nhạt rồi đậm

dần: “Mặt biển xanh ngắt phẳng tận chân trời, cánh buồm trắng trắng phất phơ in

vào làn mây dáng hồng hồng thấp thoáng xuôi về phía vô cùng Một vành tà huy đỏ

ối từ từ ngả Xuống gần mặt nước thì cái vành đỏ càng lớn dần ra, bấy giờ mặt nước ở chỗ gần chân trời đã đổi màu hung hung đỏ, trông thoáng một cái là đã lặn một nửa vành xuống mặt nước, còn một nửa là mây thơ thơ giăng án”; bằng âm

thanh khẽ khàng, ảm đạm: “Bên này bóng trời dần dần tối, mấy ngọn núi tờ mờ

trong đám sương mù như cảnh chiêm bao, tiếng chuông khẽ động, dư hưởng du dương, người trong cảnh ấy nào biết đâu nhân gian còn có bụi lầm ” Cảnh hoàng

hôn trên biển thật huy hoàng, thơ mộng và đầy ảo diệu.Khiến du khách như lạc vào cõi mơ, cõi thực, cho chúng ta một cảm nhận đến với biển đảo Phú Quốc như được đến với một thiên đường trên mặt đất [20]

Trong du ký Cảnh vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiêm giống như một cuốn tiểu dư địa chí Mọi thứ từ nghề nghiệp sinh nhai, cho đến đồng điền, chợ búa, sản vật,… đặc biệt là những cảnh đệp được miêu tả một cách tỉ mỉ và sinh

Trang 40

động Hai vị ký giả đưa người đọc lần lượt ngao du không bỏ sót một cảnh đẹp nào

của Hà Tiên: “Cảnh bãi biển thì kiêm cả mầu trờ sắc nước, bãi cát mênh mông, gió

nam mát mẻ Cảnh núi như Thạch Động thì có các kỳ quan quái thạch, núi Bình San, núi Tô Châu thì có cỏ đẹp hoa thơm Họ mô tả một cách miệt mài, đắm chìm

trong từ cảnh vật bằng miền tự hào và say mê Những “cảnh bãi biển như bãi Kim

Dữ, đứng trên đồi trông ra đàng xa những làn sóng nhấp nhô dào dạt trên bãi cát như trăm nghìn con rắn” Hà Tiên có biết bao kỳ quan của tạo hóa, mỗi một kỳ quan

có một vẻ đẹp riêng, đó quả thực là một đặc ân trời đất ban tặng cho miền đất này:

“còn lắm cảnh đẹp như cảnh bãi Mũi Nai, núi Tô Châu, đảo Phú Quốc, núi Thạch

Động, Đông hồ, mỗi cảnh đẹp riêng một thế” Tác giả không giấu nổi niềm hạnh

phúc khi được đứng ở nơi đây và coi việc đó như một diễm phúc của một người cầm bút, được đi, được trải nghiệm và thưởng ngoạn.Chẳng thế mà khi sự nghiệp có những thăng trầm ông đã về Hà Tiên ẩn cư 10 năm Với Bạch Liên, xúc động trong không khí mùa xuân tươi đẹp ở Hà Tiên cùng với tình đời, tình người đẹp đẽ sâu lắng đã tức cảnh si tình[24]

“ Mơ ước lâu nay đã toại nguyền, Qua chơi Thạch Động thuộc Hà Tiên

Huyền không, phật nổi nằm trong núi, Thạch nhũ, Tiên sơn đứng dựa triền

Bác ái tiếng chuông vang cửa động,

Từ bi gọi mõ vội nhà thiền

Tang thương mấy độ ai hay chẳng, Cảnh sắc ngày nay vẫn tự nhiên!”

Đối với Mộng Tuyết, sau ba tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển cả.Khi thấy

“Đảo Phú Quốc!một vệt xanh to lớn nằm chắn ngang phía trước, mây tỏa lờ mờ,

như dán dính với da trời…Đảo Phú Quốc! Cảnh bấy lâu trong mộng tưởng thì kìa

đã hiện ra trước mắt.” Tác giả reo lên như một đứa trẻ “Đảo Phú Quốc!” tới hai

lần, từ “mộng tưởng” cho ta thấy một niềm khát khao mong đợi từ lâu, khi được chứng kiến tận mắt dường như nó đẹp hơn nhiều so với “mộng tưởng” Cuộc sống

Ngày đăng: 07/06/2019, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w