1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

89 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 895,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Ở đề tài này, người viết hướng tới đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu và những giá trị văn hóa biểu hiện trong các tác phẩm, khảo sát trong

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ HIỀN

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ HIỀN

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8 22 01 21

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THỊ DỤC TÚ

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định và đề tài chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

HỌC VIÊN

Đinh Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN DẬU 7

1.1 Khái niệm văn hóa - văn học 7

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 9

1.3 Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa 11

1.4 Hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Dậu 13

Chương 2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮNCỦA NGUYỄN DẬU 19

2.1 Con người – đối tượng thẩm mĩ mang dấu ấn văn hóa 19

2.2 Không gian - nơi lưu giữ những giá trị văn hóa 44

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬTTRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU 56

3.1 Cốt truyện 56

3.2 Tình huống truyện 64

3.3.Giọng điệu trần thuật 70

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó mật thiết Văn học là một bộ phận của văn hóa, một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Văn học không chỉ có khả năng nhận thức, phản ánh, truyền tải và lưu giữ các giá trị văn hóa mà còn góp phần kiến tạo các giá trị văn hóa mới Diện mạo và các giá trị văn hóa tiêu biểu của một cộng đồng người được thể hiện qua văn học

Có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu văn học Trong thời đại hội nhập ngày nay, cùng với những tiến bộ của nghiên cứu văn học và thời đại, cần có cách nhìn, cách đánh giá mới mẻ hơn, khoa học, hữu hiệu, chân xác hơn về tác phẩm văn chương Tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng khai thác xuất hiện từ đầu thế kỉ XX, giúp người nghiên cứu vừa có thể khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm, vừa có cái nhìn bao quát toàn diện về giá trị của tác phẩm trong cái nhìn soi chiếu với văn hóa của cộng đồng, dân tộc

Truyện ngắn có những đặc điểm và thế mạnh riêng trong các thể loại văn học Truyện ngắn là một thể loại tự sự có hình thức ngắn gọn, cơ động mà vẫn chuyển tải được những vấn đề cơ bản của đời sống: “nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời sống thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” Với đặc điểm nhỏ gọn, phong phú về ngôn ngữ, nhân vật, tình tiết, truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày và giữ ưu thế trong việc truyền tải bức tranh muôn màu của đời sống sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của con người

Trong dòng văn học đương đại, nhà văn Nguyễn Dậu xuất hiện lặng lẽ, điềm đạm nhưng cũng đã để lại một dấu ấn đậm nét Dù hành trình sáng tác không liên tục nhưng sự nghiệp văn học của ông khá dày dặn, phong phú với một phong cách riêng biệt, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn Tuy nhiên, truyện ngắn Nguyễn Dậu chưa được nhắc đến nhiều trong các tài liệu học tập và nghiên cứu Chưa có nhiều công trình nghiên cứu truyện ngắn của ông một cách hệ thống, chuyên sâu và toàn diện Hơn nữa, các công

Trang 6

trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một vài nét về phong cách truyện ngắn của Nguyễn Dậu thông qua một số lượng nhân vật và một số nét đặc trưng trong nghệ thuật viết truyện ngắn, chưa đi sâu vào mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong truyện ngắn của ông

Vì thế, luận văn này mong muốn đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Dậu đặt trong mối liên hệ giữa văn học và văn hóa Với phương pháp tiếp cận văn hóa học, chúng tôi muốn đóng góp một vài ý kiến chủ quan đối với hiện tượng truyện ngắn Nguyễn Dậu, hi vọng góp phần có cái nhìn đúng đắn, toàn diện hơn về nhà văn Từ đó, khẳng định vị trí và đánh giá một cách thỏa đáng đóng góp của nhà văn cho thể loại truyện ngắn nói riêng, văn học Việt Nam đương đại nói chung

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Truyện ngắn Nguyễn Dậu như đã nói là một hiện tượng văn học không mới Tuy nhiên, trong nhiều thập kỉ, truyện ngắn của ông không được nhắc đến nhiều trong các tài liệu học tập và nghiên cứu Cũng đã có một số những bài nhận xét khái quát về truyện ngắn Nguyễn Dậu nhưng mới chỉ dừng lại ở từng truyện ngắn hay từng tập truyện riêng

lẻ Chưa có một cái nhìn hệ thống khi nhận diện truyện ngắn của nhà văn này Vì vậy, chưa làm rõ đựợc những nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Dậu, nhất là đặt dưới góc nhìn văn hóa

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến chủ yếu là các bài giới thiệu ngắn theo dạng tiểu sử trong các tuyển tập văn học vùng miền Những đồng nghiệp yêu mến trân trọng cuộc đời người nghệ sĩ đã viết bài về ông để nhắc nhở, để tiếc thương cho một người có tài mà văn nghiệp truân chuyên trong một thời kì biến động của lịch sử Nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến qua vài dòng giới thiệu về tiểu sử (năm sinh, năm mất, quê quán và một vài nét về quá trình làm việc) trong thư mục của thư viện Hải Phòng và qua các bài viết của đồng nghiệp Về sự nghiệp văn chương, cũng chỉ

có một số bài viết giới thiệu sơ lược về quá trình từ cầm bút đến thành danh của nhà văn Nguyễn Dậu

Trang 7

Trên trang http://daibieunhandan.vn ngày 17/7/2007, nhà văn Nguyễn Dậu được

nhắc đến trong bài viết có tên Truyện làng văn của tác giả Hoàng An Tác giả Hoàng An

đã giới thiệu Nguyễn Dậu là một cây bút văn xuôi với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn

như Mở hầm, Nàng Kiều Như, Nhọc nhằn sông Luộc, Xanh vàng trắng đỏ đen (tiểu thuyết), Con thú bị ruồng bỏ, Chó sói ngửi chân, Hương khói lòng ai (tập truyện ngắn)

và là một nhà văn có sức viết mãnh liệt Trong khoảng chừng mươi năm cuối đời, do mắc bệnh tim nặng và biết được quỹ thời gian của mình còn eo hẹp nên ông ít giao du, kiệm lời và tập trung sức lực cho sáng tác Ông viết khá nhanh Có truyện ngắn, ông viết một đêm là xong Chỉ trong một thời gian ngắn cuối đời, Nguyễn Dậu cho xuất bản liên tục ba bốn cuốn tiểu thuyết dày dặn cỡ ba, bốn trăm trang

Bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu và sức sống của ngòi bút của tác giả Vũ Quốc Văn

đăng trên trang vanthoviet.com (1/9/2011) đã biên niên lại cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Dậu, hé lộ một cuộc đời nhiều cay đắng, nhọc nhằn, truân chuyên của nhà văn trong đời thực cũng như trong văn chương Tác giả Vũ Quốc Văn cho hay, Nguyễn Dậu

đã bị phê phán từ sự kiện tác phẩm bị “xét lại” của văn học những năm 1960 mà theo lối phê bình lúc đó gọi là các tác phẩm viết theo kiểu “tự nhiên chủ nghĩa” Các tiểu thuyết

Mở hầm của Nguyễn Dậu cùng các tiểu thuyết Nhãn đầu mùa của tác giả Xuân Tùng,

Trần Thanh, Mùa hoa dẻ của Văn Linh đã bị giới phê bình lúc đó khai tử Sau sự kiện

ấy, Nguyễn Dậu đã xa rời sự nghiệp viết trong nhiều năm, nhưng lòng yêu nghề đã hối thúc ông quay trở lại, sáng tác trong niềm đam mê sáng tạo mãnh liệt trong những năm cuối đời

Bài viết Nguyễn Dậu - Nhọc nhằn sông Luộc, tác giả Kiến Văn (đăng trên tạp chí

Văn nghệ Quân đội ra ngày 22/09/1911) lại tập trung vào quãng đời sau khi tiểu thuyết

Mở hầm bị phê phán Bài viết đã cho thấy tác giả vẫn vẹn nguyên niềm say mê với

nghiệp viết sau 28 năm không cầm bút Các sáng tác trong chặng đường mười năm cuối đời của ông thể hiện lòng yêu nghề, yêu đời, đem đến thông điệp về lối sống có lương tri cho mọi người

Trang 8

Bài Nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn Vũ Bão, hai người anh, hai bàn phím, một

giấc mơ…của nhà văn Nguyễn Khắc Phục đăng trên trannhuong.net (16/7/2013) kể lại

một kỉ niệm trùng hợp về hai nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn Vũ Bão Hai nhà văn được bạn bè đồng nghiệp tặng cho chiếc máy chữ để bớt đi sự nhọc nhằn trong sáng tác nhưng cả hai không dùng được bao lâu thì qua đời Dù cặm cụi lao lực vất vả trên từng trang viết, không hề có sự hỗ trợ của công nghệ nhưng nhà văn Nguyễn Dậu và Vũ Bão

để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, giàu có, truyền tải thông điệp nhân văn đến

với độc giả: “hai người anh, hai bàn phím gõ chữ mà cùng một giấc mơ: Mơ văn

chương tử tế giúp ích cho đời, văn chương cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ, văn chương là sống, yêu, hi vọng và hướng tới những điều tốt đẹp nhất…” Những tác phẩm mà nhà

văn Nguyễn Dậu để lại, đặc biệt ở giai đoạn sau Đổi mới, đã chứng minh giá trị nhân văn sâu sắc đằng sau những trang viết vô cùng hấp dẫn của ông

Nhà nghiên cứu Lê Thị Dục Tú trong cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi (tập 3) cũng đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Dậu Từ việc khái quát nội dung cụ thể của

hai tập truyện ngắn Đôi hoa tai lóng lánh và Con thú bị bỏ hoang, nhà nghiên cứu khẳng định nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu là “Văn của Nguyễn Dậu

mang sắc thái ngôn ngữ đời thường Cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng

“tôi”) làm cho truyện của ông giàu sức thuyết phục Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng

nhận định về giá trị nội dung tư tưởng trong truyện của Nguyễn Dậu là “bức thông điệp

của hầu hết các truyện của Nguyễn Dậu là tình thương và lòng nhân hậu Chỉ có điều đó mới cảm hóa được con người và làm cho cuộc sống tốt đẹp lên” [34, tr.221-223]

Luận văn Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu của tác giả Lê

Thị Vân Khánh là công trình nghiên cứu đầu tiên có cái nhìn tương đối hệ thống về truyện ngắn của Nguyễn Dậu Đặt truyện ngắn của Nguyễn Dậu trong tương quan với truyện ngắn Việt Nam đương đại, tác giả đã chỉ ra các kiểu nhân vật cũng như một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Qua đó, người viết đã phần nào phác thảo những nét đặc sắc trong phong cách sáng tác cũng như một số những đóng góp nổi bật của nhà văn

Trang 9

Từ sau 1975, Việt Nam bước sang một thời kì mới, thời kì thống nhất đất nước,

tự do, hòa bình và dân chủ Không khí dân chủ và hiện thực đời sống đa dạng đã tạo tiền

đề cho sự xuất hiện của các cây bút trẻ Giới nghiên cứu phê bình văn học lúc này tập trung ưu tiên nghiên cứu về các tên tuổi mới với sự phá cách trong lựa chọn đề tài và bút pháp Bên cạnh đó, nghiên cứu văn học tập trung vào các tên tuổi bước từ thời chiến tranh sang thời Đổi mới như Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp…

Trong bối cảnh đó, tên tuổi của Nguyễn Dậu dường như bị lãng quên Vì thế, như một yêu cầu tất yếu, cần phải xem xét, khẳng định lại giá trị văn chương của Nguyễn

Dậu nói chung và truyện ngắn của Nguyễn Dậu nói riêng Luận văn Truyện ngắn

Nguyễn Dậu dưới góc nhìn văn hóa hy vọng sẽ đưa lại cái nhìn đầy đủ và chi tiết hơn về

truyện ngắn Nguyễn Dậu, góp phần làm sáng rõ rõ mối quan hệ giữa văn học và văn hóa; đồng thời cho thấy những đóng góp nổi bật của nhà văn về tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn dưới góc nhìn văn hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn hướng tới việc giải quyết những vấn đề sau:

- Luận văn dựa vào các phạm trù văn hóa, soi tỏ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, khẳng định những phương thức biểu đạt của văn hóa trong văn học

- Luận văn đi sâu vào truyện ngắn của Nguyễn Dậu như một hiện tượng văn hóa

cụ thể, chỉ ra những giá trị ẩn sâu trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu, từ đó làm rõ căn nguyên tồn tại chất văn hóa trong sáng tác của nhà văn

- Khẳng định nét độc đáo về tư tưởng, nội dung, nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu dưới góc nhìn văn hóa Qua đó làm làm nổi bật sự đóng góp của Nguyễn Dậu trong văn học Việt Nam hiện đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ở đề tài này, người viết hướng tới đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu và những giá trị văn hóa biểu hiện trong các tác phẩm, khảo sát trong các tập truyện ngắn được viết từ sau năm 1986

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những bình diện văn hóa được đề cập trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu, tập trung ở các tập truyện ngắn được viết từ sau năm 1986, bao

gồmcác tập truyện ngắn sau: Con thú bị ruồng bỏ (1990), Đôi hoa tai lóng lánh (1996),

Bảng lảng hoàng hôn(1997),Gió núi mây ngàn (2000)

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ có sự đối sánh với các tác phẩm khác cùng nằm trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

- Phuơng pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp phân tích văn bản

Quá trình nghiên cứu đề tài đồng thời sử dụng các thao tác: so sánh - đối chiếu…nhằm bổ trợ cho việc triển khai đề tài

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

- Luận văn góp phần làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, khẳng định vai trò của phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa

- Luận văn góp phần tìm hiểu những giá trị văn hóa trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu Từ đó, góp phần khẳng định tên tuổi, vị trí của Nguyễn Dậu trong nền văn học Việt Nam hiện đại

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa và hành trình tác của nhà văn Nguyễn Dậu

Chương 2: Những giá trị văn hóa tiêu biểu trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện những giá trị văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Dậu

Trang 11

Chương1

MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – VĂN HỌC

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN DẬU

1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái niệm được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới

164 định nghĩa khác nhau Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì cho đến năm 1994, những định nghĩa về văn hóa trên thế giới đã chạm ngưỡng con số kỉ lục là 420 định nghĩa Những con số khổng lồ đó phán ánh những cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau

về văn hóa, đồng thời là minh chứng cho tính đa nguyên của văn hóa

Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người” Đây là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Khi nói về văn hóa, mỗi người có một quan điểm khác nhau Chúng tôi chỉ xin trích dẫn một vài định nghĩa được coi là tiêu biểu nhất:

Tại hội nghị Quốc tế UNESCO (1992) tại Mexico, các nhà văn hóa trên thế giới đã

thống nhất khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về

vật chất và tinh thần, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản về con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân.[49]

Theo tác giả Edouard Herriot thì “Văn hóa là cái còn lại khi ta đã quên đi tất cả, là

cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”.[55;tr.1]

Trang 12

Ở trong nước, khái niệm văn hóa được đề cập đến trong môt số công trình nghiên cứu của các nhà văn hóa như: Phan Ngọc, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Phan Kế Bính, Trần Ngọc Thêm, Từ Chi…

Theo Từ điển Tiếng Việt (1992), văn hóa được định nghĩa là: “Tổng thể nói chụng

những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.[33;tr1079]

Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho rằng văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng

tạo và phát minh ra: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới

sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.[43;tr.55]

Với cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, văn hóa là những gì đối lập với thiên nhiên và

do con người sáng tạo nên: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú

và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ

và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [56;tr.3]

Trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm hểu về văn hóa Việt Nam, nhà

nghiên cứu Trần Ngọc Thêm khẳng định nội hàm văn hóa bao gồm những giá trị vật

chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và phải mang tính nhân tính: “Văn hóa là một

hệ thống hữu cơ các giá tri vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [55, tr 24]

Trang 13

Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con

người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội

dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ

Văn học có các thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lí luận phê bình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời, là sự phát triển của văn học dân gian

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Sự đa dạng của các khái niệm phản ánh những hướng tiếp cận khác nhau Trong mỗi thời điểm lịch sử, khái niệm văn hóa lại có nét khác biệt, bản thân chúng không thể bao quát đầy đủ nội hàm rộng lớn của văn hóa mà chỉ tóm lược khía cạnh nào đó của văn hóa Tuy nhiên, các định nghĩa về văn hóa đều thống nhất coi văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Văn hóa là tổng hòa tất cả các khía cạnh của đời sống, mang dấu ấn của con người Văn hóa cũng thể hiện trình độ phát triển của con người, là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác, là kết quả của sự tiến hóa nhân loại

1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Xét trong mối quan hệ giữa văn học và văn hóa thì văn học chính là một bộ phận trong tổng thể của văn hóa, một yếu tố không thể tách rời của hệ thống văn hóa Trong

công trình Mỹ học sáng tạo ngôn từ, M Bakhtin xác định: “Văn học là một bộ phận

không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn

bộ văn hóa của một thời đại trong đó nó tồn tại”.[4;tr.2] Đây là mối quan hệ khăng khít,

tương trợ lẫn nhau và mang tính biện chứng, phản ánh đặc điểm có tính quy luật của

quan hệ riêng chung mang tầm triết học: “cái riêng chỉ tồn tại trong mức độ liên hệ với

cái chung Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng” Văn học là thành

tố của văn hóa thể hiện mối quan hệ tác động, chi phối giữa hệ thống với thành tố, giữa toàn thể với bộ phận trong cơ tầng văn hóa Mối quan hệ giữa văn học với văn hóa được thể hiện trên các phương diện sau đây:

Trang 14

Trước hết, văn học là sản phẩm và là hiện thân của văn hóa Văn học là một bộ phận trong tổng thể hệ hình văn hóa, không nằm ngoài hệ thống văn hóa Văn học phản ánh hiện thực thông qua lăng kính văn hóa và là hiện thân của văn hóa Điều đó có nghĩa

là trong văn học luôn bộc lộ rõ nét bản chất văn hóa của một đất nước Văn học là sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm sáng tạo của loài người, có trách nhiệm phản ánh lịch sử tồn tại của các thời đại với những giá trị mang bản sắc riêng Trong văn học luôn bộc lộ

rõ nét bản sắc văn hóa của một đất nước và những tác phẩm văn học luôn mang trong mình những biểu hiện văn hóa của một vùng quê, một đất nước Tác giả Trần Lê Bảo

khẳng định: “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh

hưởng trực tiếp từ văn hóa mà còn là một trong những phương diện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lí văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận

và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [4, tr 5]

Văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa và nhà văn là “người thư kí trung

thành của thời đại” (Balzac) Tác phẩm là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, là sản

phẩm của thời đại Nhà văn đắm mình trong không khí thời đại, nắm vững tinh thần thời đại cùng với môi trường, vốn sống, vốn văn hóa…để hình thành ý tưởng nghệ thuật Vì thế, người cầm bút dù muốn hay không cũng tiếp nhận và tái tạo những thành tố văn hóa của cộng đồng mình, những nét đặc trưng văn hóa mỗi vùng miền và chỉ thực sự trở thành nhà văn lớn khi đạt đến tầm vóc của một nhà văn hóa – tư tưởng

Văn học có chức năng bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại và nhà văn là cầu nối chuyển giao những giá trị đó

Không những thế, văn học còn là sự kết tinh các giá trị văn hóa và sản sinh ra các giá trị

văn hóa tinh thần mới Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói: “Văn học thực chất là cuộc đời

Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học” Trong cuộc đời, cái bản chất nhất, làm nên tính người

Trang 15

chính là văn hóa, là những ứng xử văn hóa, quy chuẩn đạo đức làm người Văn học gìn giữ và bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống Nhà văn khi sáng tạo luôn chịu sự chi phối của các thành tố, những quy phạm của văn hóa cộng đồng, tuân thủ nghiêm ngặt những hệ giá trị ngầm được hoạch định sẵn trong tâm thức văn hóa của mỗi người Những giá trị tốt đẹp của văn học sẽ được lưu truyền, gìn giữ và phát huy trong các thế

hệ con người và thời đại dân tộc

Văn học còn có khả năng đặc biệt, tạo ra các giá trị văn hóa, trong đó quan trọng nhất là giá trị ngôn ngữ dân tộc và những giá trị tư tưởng của mỗi cá nhân con người

trong dân tộc Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Sáng tạo văn học không đơn giản chỉ là

nói càng nhiều về các hiện tượng mới của đời sống Các hiện tượng mới chưa chắc đã là văn hóa Nó có thể nhất thời và sớm muộn sẽ bị đào thải Cùng với việc sáng tạo ra nhân sinh quan, sáng tạo cách cảm nhận mới và đánh giá mới đối với đời sống, văn học phải sáng tạongôn ngữ mới, hình thức mới [54, tr.2].Trên hành trình phát triển của dân tộc,

ngôn ngữ văn học luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và sáng tạo các giá trị văn hóa dân tộc Những giá trị ngôn ngữ truyền thống, đặc biệt là ngôn ngữ dân gian luôn là tài sản quý giá của mỗi dân tộc trong bất cứ thời kì nào

Bên cạnh đó, văn học còn bảo vệ, gìn giữ và hun đúc lên một giá trị độc đáo là nhân phẩm con người, nhân cách văn hóa Văn học có khả năng tác động, điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, xã hội và với chính bản thân Văn học góp phần cấu tạo, hoàn thiện, phát triển nhân cách con người trong tổng hòa nhân cách văn hóa dân tộc, nhân loại Văn học không chỉ phản ánh các giá trị như đạo lí làm người, các chuẩn mực, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… mà còn hun đúc nên các giá trị đạo lí, nâng lên tầm tư tưởng và giáo dục cho thế hệ mai sau

1.3 Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa

Với mối quan hệ khăng khít không thể tách rời như vậy, cho nên, nghiên cứu văn học phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với văn hóa Một trong những người khởi xướng cho xu hướng tiếp cận văn học bằng văn hóa là Mikhail M Bakhtin – Giáo sư

văn học người Nga Bakhtin quan niệm: “Trước hết khoa học nghiên cứu văn học cần

Trang 16

phải gắn bó chặt chẽ với văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được như người ta vẫn làm, và trực tiếp gắn với các nhân tố xã hội – kinh tế, vượt qua đầu văn hóa Những nhân tố xã hội – kinh tế tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, và chỉ thông qua văn hóa, mới tác động được tới văn học

(M Bakhtin, Mỹ học sáng tạo ngôn từ) Ở nước ta, không ít công trình nghiên cứu văn học đi sâu vào tìm hiểu bản sắc dân tộc trong văn học, xem bản sắc dân tộc như là phẩm chất của văn học và ngược lại, không ít những công trình nghiên cứu văn hóa xem trọng dẫn liệu văn học như những dấu hiệu, tiêu chí góp phần làm sáng tỏ đặc điểm văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc

Nghiên cứu tác phẩm văn học theo quan điểm văn hóa là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện giải mã các yếu tố của thi pháp tác phẩm Phương pháp này ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, luật pháp, chính trị, thẩm mĩ…từng tồn tại trong không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ Đây thực chất là phương pháp tiếp cận liên ngành, yêu cầu vận dụng tổng hợp các tri thức về lịch sử, nhân học, tôn giáo, khảo cổ học…để làm sáng tỏ các hiện tượng thi pháp trong các tác phẩm văn học Phương pháp tiếp cận văn hóa học lấy con người làm trung tâm để để xây dựng hệ thống vấn đề miêu tả trong tác phẩm Con người với tư cách là thực thể văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính mình

Mặc dù là phương pháp tiếp cận văn học ra đời sau nhưng phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa vẫn khẳng định được thế mạnh của mình Phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa giúp độc giả có thể hình dung được đời sống văn hóa với những phong tục, tập quán, quan niệm đạo đức, ứng xử xã hội…của một thời đại nơi mà tác phẩm được sinh ra Hơn nữa, phương pháp tiếp cận văn hóa học giúp người thưởng thức tác phẩm văn học xác định được vị trí, vai trò của người sáng tác trong hành

Trang 17

trình phát triển của lịch sử văn hóa – văn học dân tộc Không những thế, góc nhìn văn hóa sẽ khắc phục được hạn chế khám phá văn học chỉ gói gọn trong phạm vi hạn hẹp ở góc nhìn đơn lẻ, mang tính chất chuyên biệt Cuối cùng, với cách tiếp cận văn hóa, người nghiên cứu sẽ có thể tìm kiếm những cấp độ ý nghĩa độc đáo trong quá trình giải mã các hiện tượng văn học mới mẻ, dị biệt

Tác giả Đỗ Thị Ngọc Chi trong công trình nghiên cứu của mình đã yêu cầu

người nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa cần phải: “1) Phải đặt văn

học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa xã hội hoặc trong ảnh hưởng qua lại của văn học đối với các hiện tượng văn hóa khác; 2) Xem văn học là bộ phận của văn hóa thì văn bản văn học cũng là một sản phẩm văn hóa vì thế cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa; 3) Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật có khả năng bao quát, chạm tới cái mạch ngầm sâu thẳm của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởng của người nghệ sĩ[10;tr17].Theo đó, phương pháp tiếp cận văn hóa học có những tiêu chí

khi nghiên cứu, đánh giá một hiện tượng văn học: Thứ nhất, phải chú ý đến các quan hệ

xã hội và các kiểu hình tượng xã hội trong văn học, chẳng hạn như các kiểu không gian tồn tại của con người như không gian sản xuất, không gian đấu tranh, không gian sinh hoạt, không gian xã hội mang màu sắc chính trị….; thứ hai là quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên; thứ ba là quan niệm con người gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nguyên tắc của phương pháp tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa là không chỉ đi tìm ảnh hưởng của văn hóa đương thời đối với văn học mà còn truy nguyên đến các truyền thống xa xưa của cộng đồng

1.4 Hành trình sáng tác của nhà văn Nguyễn Dậu

1.4.1 Tiểu sử nhà văn Nguyễn Dậu

Nhà văn Nguyễn Dậu tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Song, cũng có tên là Trương Mẫn Song (vì mẹ ông họ Trương) Ông sinh ra tại Cống Xuất, khu Xi măng của thành phố Hải Phòng Quê gốc của ông ở huyện Hoài Đức, Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội

Nguyễn Dậu có duyên với binh nghiệp Sau khi học lớp Nhất trường Giăng Duypuy (Jean Dupuis) cũng là lúc cách mạng tháng Tám nổ ra, Nguyễn Dậu tham gia

Trang 18

công tác tuyên truyền ở Hải Phòng, sau đó gia nhập quân đội, học trường Thiếu sinh quân rồi phục vụ ở bộ binh, pháo binh, quân y Sau cách mạng Trung Quốc thành công, năm 1950 được quân đội cử sang Trung Quốc học khóa đào tạo sĩ quan Trong thời gian

ở quân đội, ông từng là cán bộ quân y, cao xạ, dã pháo 105 ly

Năm 1954 về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị, rồi chuyển ngành lần lượt công tác ở xưởng phim, biên tập viên Nhà xuất bản phổ thông, Tòa soạn báo Văn nghệ, Sở Văn hóa Hà Nội Với mong muốn được trải nghiệm cuộc

sống theo phương châm “sống đã rồi hãy viết” (Nam Cao), Nguyễn Dậu đã dũng cảm từ

bỏ cuộc sống phố phường, đưa cả vợ con theo mình về vùng than Cẩm Phả để lao động

và viết văn Vừa làm thợ cuốc than để kiếm sống, Nguyễn Dậu vừa cặm cụi ghi chép, gom nhặt các chi tiết đời sống chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm Chính nhờ có hai năm lăn lộn vất vả ở vùng than này mà Nguyễn Dậu có cảm hứng và tư liệu hiện thực để

viết bộ tiểu thuyết Mở hầm - một trong những tác phẩm mở đầu của văn học ở miền

Bắc trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội Dù thiên tiểu thuyết này bị phê phán nhưng Nguyễn Dậu vẫn quyết tâm theo đuổi sự nghiệp văn chương Rời vùng than ở Quảng Ninh, Nguyễn Dậu lên vùng mỏ thiếc ở Tĩnh Túc, về Hải Phòng, vào khu 4, đến với các công trường, xưởng máy, trận địa để thâm nhập thực tế, lấy tư liệu cho sáng tác

Trong giai đoạn giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, với tinh thần xông pha của một nhà văn – chiến sĩ, Nguyễn Dậu bất chấp hiểm nguy, có mặt ở hầu khắp các vùng đất máy bay Mĩ bắn phá ác liệt như cầu Bùn, cầu Giát, phà Ghép của vùng trọng điểm Thanh – Nghệ Tĩnh Khát vọng sáng tác đã giúp nhà văn quên đi mọi khó khăn, nhọc nhằn của đời sống kháng chiến, cháy hết mình cho việc sống và viết Thành quả của sự khổ luyện

vất vả ấy chính là sự ra đời của các tập truyện ngắn Huệ Ngọc, Trở lại đảo (Nhà xuất bản phổ thông), Người ngoại ô (Nhà xuất bản văn học) cùng hàng trăm bài báo phản ánh

thực tế chiến đấu của chiến sĩ và nhân dân nơi tuyến lửa mà nhà văn đang bám trụ

Sau năm 1975, Nguyễn Dậu lại tiếp tục cuộc phiêu lưu mới Ông đi vào miền Nam, sang đất Campuchia rồi quay về Hà Nội Vì cuộc sống mưu sinh vất vả, Nguyễn Dậu phải làm đủ nghề kiếm sống như bán dép, làm thợ cắt tóc ngoài vỉa hè Tuy nhiên,

Trang 19

điều đáng quý là ông chưa lúc nào từ bỏ “mộng văn chương”, vẫn say mê với từng con chữ Sau gần ba mươi năm không cầm bút, Nguyễn Dậu trở lại với văn chương bằng sự hăm hở, háo hức vẫn vẹn nguyên niềm say mê sáng tạo Cảm hứng và sinh lực sáng tạo

vẫn nảy nở căng trào giúp ông cho ra đời “những thiên truyện ngắn ám ảnh, hấp dẫn đến

mức kinh điển” Với ý tưởng mới, cách viết mới, những tập truyện ngắn của ông thời kì

này đánh dấu một thời kì mới trong văn nghiệp, đưa ông vào hàng tên tuổi những nhà văn đương đại tiêu biểu

Nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Dậu, có thể thấy, cuộc đời ông nhiều sóng gió, thăng trầm, trải qua không ít những gian truân nhưng ông vẫn luôn sống hết mình với cuộc đời, vẫn tha thiết với văn chương, nghệ thuật và cháy hết mình vì lí tưởng Chính việc phải lăn lộn trong cuộc đời đầy những nhọc nhằn đã giúp cho những trang viết của ông luôn chân thực, sống động, tươi mới mang hơi thở của cuộc sống đời thường nhiều buồn vui lẫn lộn Với một nền tảng học vấn vững vàng của cả Tây học và Hán học, kết hợp với những trải nghiệm trong cuộc sống, Nguyễn Dậu tạo nên được một phong cách riêng biệt trong văn chương, ghi một dấu ấn không thể phai mờ trong văn học Việt Nam hiện đại Ông được ghi tên trong Từ điển văn học Việt Nam (bộ mới) do Nhà xuất bản Thế Giới ban hành năm 2005

1.4.2 Hành trình sáng tác

Nhà văn Nguyễn Dậu ra nhập làng văn vào năm 1955 với tiểu thuyết đầu tay Nữ

du kích Cam Lộ Năm 1961, ông trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến, trở thành

hiện tượng của văn đàn lúc ấy với tiểu thuyết Mở hầm Với bút lực dồi dào, chỉ trong

một thời gian ngắn sau đó, Nguyễn Dậu xuất bản hàng loạt tập truyện ngắn và tiểu thuyết trình làng

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Dậu nhìn tổng quát có thể chia làm hai chặng

đường Chặng thứ nhất, từ năm 1955 đến năm 1962, khép lại với sự kiện tiểu thuyết Mở

hầm Các tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này là tiểu thuyết Đôi bờ (Nxb Thanh niên,

1958), Mở hầm (Nxb Thanh niên, 1961), Vòm trời Tĩnh Túc (Nxb Lao Động, 1963); các tập truyện ngắn: Ánh đèn trong lò (Nxb Văn học, 1961), Huệ Ngọc (Nxb Văn học

Trang 20

1962) Các tác phẩm này đều ra đời trong cái lấm lem than bụi ở các nhà máy, hầm mỏ, công trường mà nhà văn đã sống và làm việc nên đều ngồn ngộn các chi tiết của đời sống thực tế, giàu giá trị hiện thực

Chặng đường thứ hai là những sáng tác viết ra sau thời kì Đổi mới Giai đoạn này, ông viết khỏe, viết đều và còn viết rất nhanh Ông trở lại văn đàn với bút lực dồi dào

lạ thường Về điều này, nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình có lần đã biểu dương Nguyễn Dậu, với những nhận định, đánh giá đầy yêu mến và trân trọng về văn chương

ông: “Bút lực của nhà văn có tuổi này là dường như còn rất dồi dào Dồi dào không phải

chỉ ở chỗ viết khỏe, in đều mà cái chính là ở văn phong, ở lối nhìn, cách nghĩ, ở cả phía khai thác đề tài, đối tượng miêu tả” [9] Chỉ trong gần chục năm cuối của thế kỉ trước,

Nguyễn Dậu đã cho ra đời hàng loạt những tập truyện ngắn: Con thú bị ruồng bỏ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1988), Rùa hồ Gươm ( Nhà xuất bản Hà Nội, 1990, Hương khói

lòng ai (Nhà xuất bản Văn học, 1994), Đôi hoa tai lóng lánh (Nhà xuất bản Văn học,

1995), Phật tại tâm (Nhà xuất bản Văn học, 1995), Bảng lảng hoàng hôn (Nhà xuất bản

Văn học, 1997) Tác phẩm của ông thời kì này phản ánh những vui buồn của kiếp người với biết bao chiêm nghiệm của chính ông trong suốt một cuộc đời đầy nhọc nhằn, sóng gió Ông viết về niềm vui và nỗi đau đớn của một con chó săn của một ông tướng; ông viết về nỗi lo âu, xót xa của những con rùa ở Hồ Gươm; con người trong sáng tác của ông đều là những người ở dưới đáy của xã hội bị sóng gió cuộc đời vùi dập, sống không địa vị, không danh phận nhưng luôn luôn phải vật lộn để giữ phần nhân tính và thiện căn của mình Ông cũng đi sâu khai thác những tâm tư, tình cảm uẩn khúc, éo le của con người mà thời điểm ấy người ta ngại đề cập với một cái nhìn đôn hậu, chan chứa yêu thương Văn phong của ông giai đoạn này sâu lắng trong suy tư, trầm tĩnh, hồn hậu trong cảm xúc với biết bao nhiêu chiêm nghiệm từng trải trong cuộc đời Nhà phê bình

văn học Ngô Vĩnh Bình nhận xét: “đọc truyện ngắn Nguyễn Dậu chúng ta chẳng thấy

những điều triết lý to tát mà dường như chúng ta luôn nhận được những bài học về cuộc sống lăn lóc đầy khổ đau của con người trong thế giới người Và đọc ông, mỗi người thấy yêu thêm đồng loại, thấy tin tưởng ở sức mạnh tiềm ẩn cũng như sự trong sáng vốn

Trang 21

có của chính mình để vượt qua thử thách, để hướng tới ánh sáng ngay cả khi ở trong những góc tối tăm nhất” [9]

Nhận định về sáng tác của Nguyễn Dậu, tác giả Anh Chi trong bài viết Nhà văn

Nguyễn Dậu đã nhận xét: ở trong giai đoạn sáng tác thứ nhất: “Nguyễn Dậu lăn xả vào thực tế lao động ở các hầm mỏ; và với sức trẻ, ông viết say mê, gấp gáp Văn ông giai đoạn đó ngồn ngọn sức sống, sự tươi nguyên nên có thể bị coi là tự nhiên chủ nghĩa”

Với giai đoạn sáng tác thứ hai: “Văn ông giai đoạn này vững vàng về bố cục, mạnh bao

trong suy tư, sắc sảo trong mô tả và đặc biệt là sâu lắng trong xúc cảm”

Nguyễn Dậu là người nghệ sĩ đa tài Không chỉ viết văn, ông còn sáng tác thơ ca, tấu hài, kịch, chèo Ngoài ra, với sự thông thạo Pháp văn, Trung văn, ông còn là tác giả

của nhiều ấn phẩm dịch thuật:Tất cả hiến dâng Đảng (1954); Người bí thư xã (1956);

Ngôi sao đỏ Đổng Tồn Thụy (1958); Anh hùng chiến đấu Triều Tiên (1958); Tống Nhạc Phi (1959); Niềm hy vọng hòa bình (1961); Cuốn sách thấy ở Thuận Xuyên (1962)

Nguyễn Dậu còn dịch một số truyện Việt Nam sang Trung văn như Má Năm (Nguyễn Văn Thông); Ông Năm Hạng (Nguyễn Quang Sáng); Huệ Ngọc (Nguyễn Dậu)

đều do nhà xuất bản Bắc Kinh ấn hành năm 1963

Có thể thấy, với sự cần cù, miệt mài và một ý thức đầy tinh thần trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Dậu xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu trong dòng văn học đương đại Ông nhận được sự yêu mến, nể phục của không ít bạn bè đồng nghiệp Họ đều dùng những lời lẽ đầy trân trọng và đánh giá cao tài năng nghệ thuật cũng như nhân

cách của Nguyễn Dậu Tác giả Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Nguyễn Dậu là một cây

bút sắc sảo và bạo dạn” Tác giả Ngô Vĩnh Bình lại có một so sánh xác đáng: “Nếu có thể ví văn đàn với bóng đá thì nhà văn Nguyễn Dậu là cầu thủ hiệp một đá khá xuất sắc, hiệp hai bị treo giò, vào đá hai hiệp phụ lại ghi được những bàn thắng đẹp mắt làm mọi người hân hoan và sửng sốt” Tác giả Bảo Vũ lại so sánh Nguyễn Dậu như một nhà tu

khổ hạnh mà vô cùng đáng trọng: “Nói đến sự nể phục với một nhà văn là không cần

thiết Anh ta đi ngang qua cõi đời này với sứ mệnh của nhà truyền giáo Đó là công việc khuyến thiện và tôn vinh con người Trong giáo phái, có thể anh ta chỉ ở đẳng cấp thấp;

Trang 22

nhưng những gì người thầy tu khổ hạnh ấy để lại cho đời, dù chỉ là một dấu vết mờ nhạt thôi, cũng đủ để người ta cúi mình trước nấm mồ của anh” Nhà nghiên cứu Lê Thi Dục

Tú trong bài viết “Đội ngũ các nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn đương đại” in trên

báo Văn nghệ quân đội số ra ngày 8/11/2012, nhà văn Nguyễn Dậu được đặt bên cạnh những cây bút quen thuộc Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Đỗ Chu Theo đó, Nguyễn Dậu là một trong những nhà văn gạo cội, kịp đổi mới ngòi bút để phù hợp với những chuyển biến của thời cuộc

Tiểu kết chương

Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan

hệ qua lại giữa con người và xã hội Văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ mật thiết Việc nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cách tiếp cận này giúp chúng ta lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật, cắt nghĩa một cách rõ ràng hơn những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm, cũng như góp phần lí giải thị hiếu của độc giả, tâm lí sáng tác và những đóng góp của nhà văn với nền văn học

Nguyễn Dậu đã sống và viết với tất cả niềm say mê và sự nhiệt huyết, sôi nổi, vô

tư của một nhà văn – người trí thức – người lính trong những năm tháng nhọc nhằn mà

vĩ đại của lịch sử dân tộc từ ngày Cách mạng tháng Tám bùng nổ cho đến thời kì sau Đổi mới Với gần năm mươi năm cầm bút, dẫu không liên tục nhưng Nguyễn Dậu đã để lại một sự nghiệp nghệ thuật đa dạng từ tiểu thuyết, truyện ngắn cho đến thơ ca, tấu hài, kịch, chèo và dịch thuật Ông đã góp phần làm nên những thành tựu rực rỡ của văn học nước nhà Bạn bè, đồng nghiệp và độc giả yêu mến và trân trọng ông không chỉ bởi tài năng nghệ thuật mà còn bởi nhân cách lớn của một sống hết mình vì lí tưởng, vì cuộc đời

và vì những người thân yêu Việc tìm hiểu, nghiên cứu giá trị tác phẩm của Nguyễn Dậu

là trách nhiệm của thế hệ sau để phát hiện và tôn vinh những đóng góp mà ông để lại cho văn học nói riêng và cuộc đời nói chung

Trang 23

Chương 2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN DẬU 2.1 Con người – đối tượng thẩm mĩ mang dấu ấn văn hóa

Con người là nhân tố quan trọng nhất của văn hóa Con người tạo ra văn hóa và đồng thời là một phần của văn hóa, chịu sự ràng buộc của văn hóa Qua ngôn ngữ, cử chỉ, thói quen sinh hoạt vật chất, tinh thần của con người có thể nhận diện được tín hiệu, đặc trưng văn hóa của dân tộc đó Vì thế, văn hóa và con người có mối quan hệ bền chặt, tác động và chi phối lẫn nhau, biểu thị mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, cá nhân với cộng đồng

Trong sự phát triển của văn hóa, con người thể hiện hai chức năng: vừa là đối tượng vừa là chủ thể văn hóa Hay nói cách khác, con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa vừa là khách thể văn hóa, lưu giữ những giá trị truyền thống xa xưa để lại

Bàn về hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị văn hóa con người Việt Nam truyền thống,

nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) nhấn mạnh: “Những giá trị bền vững,

những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống ” (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, dangcongsan.vn)

Đặc tính văn hóa dân tộc đã được các nhà nghiên cứu văn hóa, như: Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim, Phan Kế Bính nhận diện qua tâm lý, tính cách, phẩm chất con người trong mối tương tác với môi trường tự nhiên, điều kiện địa

lý, hoàn cảnh lịch sử Cũng theo các nhà nghiên cứu, hệ giá trị văn hóa của con người Việt Nam gồm có những phẩm chất, tính cách như có nhân cách, lối sống tốt đẹp với

các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng

tạo; có ý thức tôn trọng pháp luật, hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử,

Trang 24

văn hóa dân tộc.; có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ; có lối sống mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội; khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn… (http://lyluanchinhtri.vn)

Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu là đối tượng thẩm mĩ mang dấu ấn văn hóa được nhà văn xây dựng theo những chuẩn mực hệ giá trị văn hóa dân tộc, thể hiện những phẩm chất và cốt cách văn hóa như lối ứng xử nghĩa tình, sự bao dung, rộng lượng, vị tha; lối sống trọng danh dự; yêu mến và trân trọng với những giá trị văn hóa; tình yêu và trách nhiệm với quê hương, đất nước Soi chiếu nhân vật dưới góc nhìn văn hóa, nhà văn xây dựng nhân vật trên hai phương diện: những con người chuẩn mực theo hệ giá trị văn hóa dân tộc, lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa và con người tha hóa, đánh mất nhân phẩm và phá hủy những giá trị văn hóa dân tộc

2.1.1 Mẫu nhân vật chuẩn mực theo hệ giá trị văn hóa

Là một người từng bôn ba đây đó, trải nghiệm lăn lộn trong nhiều môi trường sống khác nhau nên những truyện ngắn của Nguyễn Dậu phản ánh cuộc sống, lối ứng

xử của nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau: từ những người lao động cho tới người trí thức; từ những anh lính giải ngũ cho đến các nhà văn, họa sĩ; từ những ni cô, nhà sư, bác phó cạo cho đến những quan chức có thế lực; từ những người phụ nữ bình dân cho đến những người phụ nữ quý phái, có học thức Họ đều là những người có lối sống và ứng xử đẹp theo chuẩn mực giá trị văn hóa dân tộc Tựu chung lại, có thể thấy nhân vật của Nguyễn Dậu tập trung vào ba kiểu nhân vật: người lính đã giải ngũ, người nghệ sĩ

và người trí thức

2.1.1.1 Mẫu nhân vật là những người lính đã giải ngũ

Trong sáng tác của mình, Nguyễn Dậu dành nhiều tình cảm yêu mến, sự trân trọng và ngưỡng mộ với những người lính trở về từ quân ngũ Họ không chỉ là những người sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự, mà khi trở về cuộc sống đời thường, vẫn

Trang 25

nêu cao tấm gương sống đẹp, giàu tình yêu thương, vị tha, thủy chung, yêu mến những giá trị văn hóa cổ xưa và đầy tinh thần trách nhiệm với quê hương, đất nước

Truyện ngắn Hương khói lòng ai viết về người thiếu tướng Đoàn Văn Mãi Ông

là hiện thân cho vẻ đẹp của lớp người lính già trong cuộc sống đời thường Không chỉ đẹp ở vẻ ngoài tráng kiện mà ông còn có một tâm hồn đôn hậu, bao dung, giàu lòng trắc ẩn Hơn hai mươi năm sống trong một ngôi biệt thự của một gia đình chí sĩ tản cư, được nhà nước cấp, mặc dù bị bạn bè và vợ con cho là gàn dở, cổ lỗ hay giễu cợt và chê bai nhưng thiếu tướng vẫn cương quyết giữ lại những thứ cũ kĩ trong ngôi nhà như cái án thư, cỗ tràng kỉ, những câu đối, tủ chè, sập gụ cho đến cả cái hương án tổ tiên Trong khi những người bạn ngang cấp của ông cho rằng những câu đối chữ nho treo

đầy các cột là quá “cổ lỗ sĩ”, đáng “vứt! vứt tất” thì thiếu tướng vẫn một mực khẳng định giá trị bất biến của chúng: “Những câu đối ấy đều viết về tổ tiên phúc đức, con

hiền cháu thảo cả Cái giáo huấn ấy thì đến muôn đời sau vẫn chẳng bao giờ cũ” Điều

kì lạ hơn là ông còn thờ cúng cả ảnh của một bà cụ già mà ông đoán là mẹ già hoặc bà

cụ tổ của cái gia đình tản cư kia Những ngày rằm và mùng một, ông vẫn thắp và cắm lên bát nhang ba nén hương cùng với một đĩa hoa thơm Ông giải thích một cách hồn

hậu: “Để một vong hồn hương lạnh khói tàn là không nên Vả lại, tôi tự coi bà cụ kia

như một người cô, người mẹ của mình Sau này do sự tấn công mãnh liệt của đàn con

“trẻ trung và tràn đầy phong cách hiện đại”, ông cũng dần dần nhượng bộ để cho

chúng thu hẹp vườn hoa, phá cái cổng được xây theo lối “tiền viên hậu sảnh”, kiêng những án thư, bàn ghế cũ lên trên gác.Tuy vậy, ông vẫn kiên quyết không cho chúng đụng đến hương án có thờ hình ảnh bà lão cố tổ và không cho xê dịch và hủy bỏ mấy chậu hoa có trồng những cây lưu niên, sần sùi, uốn khúc rồng rắn mà chỉ riêng ông mới hiểu được những “thế” của chúng

Nếu như những người lính già như thiếu tướng Đoàn Văn Mãi là người biết trân trọng những di sản văn hóa cổ truyền và có một đời sống tâm linh sâu sắc thì thế hệ những người lính trẻ trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Dậu lại là những người rất trẻ

Trang 26

trung, có tri thức sâu rộng, lí tưởng cao đẹp, năng nổ, nhiệt huyết, ra sức đem tài chí của mình làm giàu đẹp cho quê hương

Nhân vật người đại úy trong truyện ngắn Hồn biển quê hương là một chàng trai

giàu tri thức văn hóa và có lí tưởng cao đẹp Anh say mê từng trang văn trong tiểu

thuyết Những người khốn khổ của đại văn hào Victo – Huygo Anh cũng yêu mến, trân trọng và nâng niu vẻ đẹp dân dã, mộc mạc mà thiêng liêng của thôn quê: “những chiếc

bánh bèo, miếng cùi dừa, bánh đa kê, nồi khoai sọ chám mật, chiếc lược gẫy răng của chị gái, sợi xà – tích nối truyền nhiều đời của mẹ, mảnh yếm hoa hiên của bà, lưng trâu

và vạt cỏ ven đê, cô Tấm với hoàng tử, tiếng hát chèo ở sân đình, con trâu lá đa và mùi

cà cuống nướng” Tình yêu ấy đã trở thành động lực để anh “đã đổ máu để bảo vệ hải đảo Mai kia còn có thể đổ máu, thậm chí hi sinh” Chính sự nhiệt huyết cống hiến của

anh đã làm thay đổi suy nghĩ của người con gái tên Lý - một nữ kĩ sư cơ khí giỏi đang định mang con chạy trốn sang nước ngoài vì cảm thấy nhục nhã do bị một gã Sở Khanh lừa gạt Anh đã khuyên cô gái phải ở lại đất nước, phải dũng cảm đối mặt với

sự thật, phải chiến đấu với mọi điều tồi tệ để trụ vững Lời khuyên của anh với cô gái

thật chân thành, rộng lượng và cao cả: “Em hãy đứng cao hơn mọi lỗi lầm của chính

mình Em hãy tha thứ cho em, tha thứ cho kẻ gây ra sự tồi tệ, tha thứ tất cả Nghĩa là

em hãy quên đi mọi sự phiền lòng Em chỉ còn nhớ đến đất nước và nhân dân còn nhiều đau khổ gian truân, rồi làm việc là đủ”

Nhân vật Toàn trong truyện Gió sông thổi tạt cánh chim đang là một thầy giáo

dạy tiểu học nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đã khoác ba lô, đeo cây

súng lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự Khi là một thầy giáo, Toàn là một “người

thầy hiền hậu, giảng dạy tận tình, tính tình khoáng đạt không thiên vị trìu mến hoặc trù

úm học sinh nào; thậm chí, mỗi tháng Toàn còn trích một phần lương ít ỏi của giáo viên để giúp cho các em nghèo thiếu” Khi ở trong quân ngũ, anh là một chiến sĩ pháo

binh, chuyên phụ trách các máy quan trắc và tính toán các thông số phát xạ, các tọa độ của pháo binh địch để về huấn luyện cho các chiến sĩ khác Chỉ sau sáu năm cống hiến hết mình cho quân đội, Toàn đã lên tới cấp hàm đại úy Khi ra quân, anh trở lại quê

Trang 27

hương, tình nguyện nộp đơn xin dạy học tại trường cũ khiến ông trưởng phòng giáo

dục huyện không khỏi kinh ngạc: “Bây gờ người ta bỏ đi làm kinh tế hết, thế mà anh

lại yêu nghề “bán cháo phổi” Anh làm tôi sung sướng quá!” Toàn được cấp trên giao

cho đảm nhiệm chức hiệu trưởng của trường tiểu học tại quê nhà Với lòng nhiệt tình cộng thêm với sự siêng năng, chăm chỉ, Toàn ngày đêm tận tụy hết lòng với công việc trường lớp Không chỉ làm tốt công việc cấp trên giao cho như xây lại trường lớp, đóng sửa bàn ghế, phân công chủ nhiệm các lớp, chấn chỉnh đội ngũ giáo viên, anh còn lặn lội lên tận Sở và Bộ kiến nghị tăng lương cho giáo viên Thêm nữa, Toàn còn vạch ra

một kế hoạch “làm kinh tế”: khoét sâu, khơi rộng và dọn sạch những rãnh lớn bao

quanh trường học để thả cá; nhận đấu thầu đất để làm lò gạch Thu nhập thêm từ những hoạt động ấy, Toàn dùng để nâng lương cho giáo viên, xây dựng và tôn tạo thêm các lớp học Những hoạt động của Toàn đã đem lại sự giàu đẹp cho trường lớp quê hương Anh trở nên nổi tiếng, được báo đài, ti vi, điện ảnh tìm tới để viết bài tôn vinh Nhưng Toàn không đi đâu, đùn đẩy cho hai chị hiệu phó đi thay mà vẫn là chỉ một người

“khiêm nhường như một anh bộ đội đích thực còn tại ngũ” Nhân vật Toàn chính là

hình ảnh kiểu mẫu của những chàng trai thời đại mới, rất năng nổ, nhiệt huyết, cần cù sáng tạo trong lao động mà vẫn rất giản dị, khiêm nhường

Không chỉ có suy nghĩ và hành động đẹp vì quê hương, đất nước, trong đời sống riêng tư, những người lính là những con người có nghị lực phi thường, sống giản

dị, lương thiện, có một lối ứng xử bao dung, vị tha, tràn đầy tình thương Nhân vật anh

đại úy trong truyện ngắn Hồn biển quê hương biết đứng trêních kỉ cá nhân của

mộtchàng trai thanh tân để đón nhận người phụ nữ đã có con Với hành động cao cả ấy,

anh không chỉ có được hạnh phúc của riêng mình theo “trái tim mách bảo” mà cò giữ

lại một nữ kĩ sư cơ khí giỏi để phục vụ đất nước Cũng vị tha, nhân hậu như thế, thầy

giáo Toàn trong truyện ngắn Gió sông thổi tạt cánh chimlà một chàng trai ba mươi

“giỏi giang, mạnh mẽ, lừng lẫy tiếng tăm” “chỉ khua tay trái cũng vớ được hàng tá con

gái lành lặn, tốt đẹp” nhưng Toàn lại cứ đắm đuối mãi với Thảo – cô người yêu cũ đã

bị tàn phế liệt cả hai chân Anh không hề trách móc, oán hận Thảo về việc không giữ

Trang 28

lời thề năm xưa, định lấy tên Đãng – chủ tiệm vàng trên phố Anh càng yêu thương và quyết tâm đến với Thảo hơn khi cô ấy vì bị liệt hai chân mà bị tên Đãng bỏ rơi Bất chấp mọi sự ngăn cản của gia đình, Toàn vẫn một mực khẳng định tình yêu mãnh liệt,

thủy chung, duy nhất với Thảo: “Thảo! Nghe anh nói đây! Em hãy bố trí một vạn quả

mìn và một trăm khẩu liên thanh để ngăn cản anh, anh vẫn sẽ băng đến cùng em, em

rõ chưa? Chỉ có một điều duy nhất là chúng ta sẽ phải nên vợ nên chồng, thế thôi!”

Những người lính không chỉ sắt đá, kiên cường khi ở nơi chiến trường mà còn rất say

đắm, thủy chung trong tình yêu Nhân vật cả Sẹo trong truyện Đôi hoa tai lóng lánh tên

là Nguyễn Đức Tích, từng là một chiến sĩ đặc công có giấy xuất ngũ sau khi bị thương tích nặng nề ở Quảng Trị Đòn roi tra tấn khủng khiếp của kẻ thù không làm anh gục ngã Khi mang tấm thân tàn phế trở lại quê hương thì cả gia đình cùng ngôi nhà thân

yêu đã bị bom mĩ phá hủy san bằng “Anh đau đớn nhưng ngạo nghễ đứng vững, và

bằng một cái chân thọt, một cái lưng gù, anh dựng lại nhà cửa, vườn tược” Anh đã

chiến thắng thần chết, chiến thắng chiến tranh, chiến thắng rủi ro, song lại hoàn toàn ngã gục khi Thanh Luân - người yêu anh đi lấy chồng Để chạy trốn những đau khổ giày vò, anh đã bỏ làng đến nhà bia sinh – nơi trú ngụ của những người vô gia cư để

sống Dù có lúc được những kẻ giang hồ tôn lên làm “băng trưởng” nhưng anh không

làm, sống lương thiện bằng nghề khắc bút và mò cá và không làm hại ai Cả khi đau buồn mà uống rượu say, anh cũng không bao giờ tỏ vẻ bét nhè, hung hãn gây gổ ở ngoài đường Khi tình cờ gặp lại con gái Thanh Luân và biết nó mang tên giống anh – Nguyễn Thị Đức Tích thì anh vô cùng xúc động Anh đau khổ khi biết người yêu cũ của mình sống không hạnh phúc Anh đã dành toàn bộ sức lực còn lại của cuộc đời mình, bất chấp ngày nắng nóng hay rét mướt, miệt mài bắt cá để đổi được lấy bông hoa tai tặng cho cô bé để cô mang về tặng lại mẹ Có thể nói, những người chiến sĩ như Toàn hay Cả Sẹo đều là những con người sống đẹp hết mình vì quê hương, đất nước và sẵn sàng hi sinh vì người mình yêu thương

Không chỉ hi sinh vì người mình yêu, những người chiến sĩ còn sẵn lòng gánh vác trách nhiệm vì đồng đội của mình Đó là người chiến sĩ Lê Đình Lượng trong

Trang 29

truyện ngắn “Duyên lạ” Lượng vốn là một chàng trai Hà Thành đẹp trai, lãng mạn,

đang học dở năm thứ hai khoa Văn thì có giấy gọi nhập ngũ Từng phải đối mặt với đau thương khủng khiếp khi khi mất sạch cả một gia đình lớn bởi một trận bom hủy

diệt B52 nhưng Lượng vẫn có những suy nghĩ thật cao thượng về chiến tranh: “Chiến

đấu và biệt ly có phải chỉ cướp sạch mọi thứ thôi đâu Nó cho chúng ta nhiều thứ đấy chứ Nó cướp đi hạnh phúc, máu đàn ông, nước mắt đàn bà, đôi khi cả sinh mệnh Nhưng nó cho cũng nhiều em ạ Nó cho niềm tự hào dân tộc, nó cho ta ý chí và nghị lực, nó cho ta sự tôi luyện và trưởng thành, nó cho ta sự đẹp đẽ cả thể xác lẫn linh hồn” Dù đã quyết tâm suốt đời theo nghiệp binh nhưng anh không thể cưỡng lại khi

một mối “duyên lạ” ập đến Khi ở chiến trường, anh bất ngờ khi người C trưởng tên là Phạm Khắc Lương giống mình như hai giọt nước Hai người gắn bó với nhau như anh

em ruột thịt Nhưng do một tai nạn, Phạm Khắc Lương không qua khỏi Trước khi nhắm mắt, Phạm Khắc Lương nhờ Lê Đình Lương thay mình làm con trai thực sự suốt đời của bố mẹ anh và làm chồng của Ngát – vợ anh Nhận lời trăng trối thiêng liêng của đồng đội, sau chiến tranh, Lê Đình Lương đã trở về quê hương của Phạm Khắc Lượng để làm tròn bổn phận của một người con, một người chồng Như vậy, những người chiến sĩ trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu không chỉ là những người có suy nghĩ đẹp mà còn có hành động cao thượng, luôn hết lòng vì quê hương, đất nước, gia đình, những người yêu, và đồng đội

2.1.1.2 Mẫu nhân vật là những người nghệ sĩ

Ở bất cứ thời đại nào, người nghệ sĩ chân chính luôn là người kết tinh tinh hoa văn hóa của dân tộc Ở họ không chỉ có niềm đam mê và tài năng trong nghệ thuật mà còn có nhân cách của người nghệ sĩ đích thực: phải biết đam mê sáng tạo cái đẹp để cống hiến cho cuộc đời, phải dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, cho cái thiện, phải luôn hết lòng vì con người, vì cuộc đời

Trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu, mẫu nhân vật là nghệ sĩ rất đa dạng Đó có thể là người có năng khiếu nghệ thuật như nhà văn, nhà thơ, họa sĩ… hoặc có thể là những người không có tài năng nhưng lại có tâm hồn nghệ sĩ, biết đam mê cái đẹp và

Trang 30

kính mến cái tài Nhân vật nghệ sĩ xuất hiện trong nhiều truyện ngắn: Mỗi cuộc đời

một thoáng chốc, Màu xanh từ những màu lam, Phong lan đen, Mật rắn, Gió núi mây ngàn, Muôn nẻo xe lăn…Họ có đặc điểm chung là những người đam mê cái đẹp, sẵn

sàng xả thân hết mình vì nghệ thuật, có tâm hồn giàu lòng trắc ẩn, luôn trăn trở trước cuộc sống và số phận con người, sống đôn hậu, yêu thương con người

Nhân vật ông họa sĩ già trong truyện Muôn nẻo xe lăn từng có một ước mơ đẹp thời tuổi trẻ “một chiếc xe lăn do ngựa kéo, ở trong đó có cả một xưởng vẽ và một cô

vợ yêu chồng, để anh đi khắp chân trời góc bể” Về già, ông chưa thực hiện được trọn

vẹn ước mơ của mình vì có một cuộc đời riêng lận đận Tuy nhiên, ông vẫn say mê vẽ

và có ít nhiều thành tựu trong hội họa Ông là hiện thân cho những con người “sinh ra

để dấn thân cho cuộc sống, cho nghệ thuật, cho cái đẹp, cho yêu đương, cho khổ đau, không hề run sợ trước mọi điều ác, cũng không hề mỏi tay trước mọi điều thiện”

Nguyễn Dậu đã ghi lại một khoảnh khắc đời sống để cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người họa sĩ này Đó là những ngày ông họa sĩ say sưa ở một quán cơm chỉ để vẽ đi vẽ lại khuôn mặt của một bà có cái búi tóc theo kiểu búi tó Dường như, trong nghề hội họa cũng như trong nghệ thuật, không có giới hạn cho sự thành công viên mãn của một

tác phẩm nghệ thuật nên “riêng khuôn mặt của bà búi tó thì họa sĩ vẽ đi vẽ lại đến hàng

trăm lần, hết vẽ lại xé, xé xong lại vẽ với niềm trân trọng và say mê tưởng chừng không biết thế nào là cạn kiệt” Nhà họa sĩ giải thích về việc làm của mình “nghề nghiệp của chúng tôi là cần có nhiều kí họa Từ hàng ngàn kí họa, chúng tôi sẽ chưng cất lấy một hai bức họa nào đó rồi đặt nó trước mắt người đời” Qua tâm sự của họa sĩ, có thể

nhận thấy, nghệ thuật không chỉ đòi hỏi sự say mê mà vẫn cần một thái độ làm việc nghiêm túc, một sự kiên trì, nỗ lực trong lao động sáng tạo Giữa vô số những khách hàng ngày nào cũng qua lại quán cơm, ông họa sĩ chỉ say mê vẽ bà búi tó Đó là một phụ nữ nhìn bề ngoài rất hiền hậu, trang nhã nhưng ẩn đằng sau đó là một số phận bi kịch khi phải sống với một lão chồng làm xếp nhưng gia trưởng Ngày nào bà cũng ra

quán cơm ngồi rất lâu vì không muốn trở về ngôi nhà mà bà coi như “một phòng giam

nhỏ với một ông cai tù nghiệt ngã” Rõ ràng, người họa sĩ vẽ đi vẽ lại khuôn mặt bà búi

Trang 31

tó vì chỉ trên khuôn mặt ấy thôi cũng phản ánh giông bão một đời người Nghệ thuật là như vậy, luôn vì cuộc đời và vì con người Những trang viết của Nguyễn Dậu luôn tràn đầy tinh thần nhân văn là vì thế

Nhân vật nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Dậu không chỉ sáng tạo nghệ thuật

mà luôn dấn thân vào cuộc đời, sống cùng cuộc đời với biết bao chuyện vui buồn và luôn tác động tích cực tới những người xung quanh bằng chính nhân cách cao đẹp của

mình Đó là hình ảnh các nhà văn trong các truyện ngắn Phong lan đen, Mật rắn, Gió

núi mây ngàn Trong các truyện ngắn này, nhà văn thường để cho người kể chuyện

xuất hiện ở ngôi thứ nhất, vừa là một nhà văn nhưng đồng thời là một bác phó cạo hoặc một cán bộ đường sắt Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, mang bóng dáng của chính tác giả, được xây dựng để gửi gắm những suy nghĩ về con người và cuộc đời

Nhân vật nhà văn xuất hiện trong ngôi kể thứ nhất trong truyện Phong lan đen luôn day dứt trăn trở về một cô gái tên Nhược Lan “một cô gái mười tám mà có hai bộ

mặt” Cô ấy vừa nhút nhát hiền hậu như một khuê nữ cao quý nhất trần gian, “có kiến thức sâu rộng, sách vở nào cũng thông, sự kiện nào cũng hiểu, lại rất mực xinh xắn và hiền thục” vừa là một Lan “lột”, “một nữ chúa quỷ quyệt” chỉ huy vạch kế hoạch, điều

khiển bọn côn đồ bụi đời quanh Hồ Gươm Sau này, chính nhân vật “tôi” đã khuyên

Thanh Tâm, người yêu của Nhược Lan phải biết dùng tình yêu để cảm hóa cô gái ấy:

“Tôi khẳng định rằng chỉ có cậu, cô ấy sẽ trở nên lương thiện Vì sao ấy à, vì cô ấy yêu

cậu Khi yêu người ta trở nên tốt đẹp hơn hoặc cố gắng trở thành người tốt đep hơn”

“Này, yêu nữa đi Yêu nhiều nữa Cậu sẽ có một cô vợ tốt, xã hội sẽ có một công dân

tốt Con người, ai cũng muốn vươn lên, muốn có tình yêu thương cụ thể, chứ không cần những lời ba oa, rỗng tuếch!” Rõ ràng, qua việc xây dựng nhân vật, Nguyễn Dậu gửi

gắm niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu, niềm tin vào bản tính tốt đẹp của con người Tất cả những điều ấy chỉ có được khi con người ta luôn biết đặt tình yêu, sự cao thượng, lòng nhân hậu, vị tha lên trên hết trong ứng xử giữa con người với con người

Trang 32

Điều đặc biệt của Nguyễn Dậu khi xây dựng kiểu nhân vật nghệ sĩ là nhà văn không chú trọng nhấn mạnh đến tài năng của người nghệ sĩ Tác giả chủ yếu quan tâm đến cách ứng xử phóng khoáng, nhân hậu, đầy ân tình của những con người không có tài năng nghệ thuật nhưng lại có thể phát hiện ra cái tài; yêu mến, trân trọng cái tài, cái đẹp; tìm mọi cách để khích lệ, động viên nghệ sĩ sáng tác; làm nảy nở, thăng hoa cảm hứng sáng tạo trong những người nghệ sĩ

Truyện ngắn Ngày mai nở rộ một nhành mai như cái tên của chính nó, nói về

việc phát hiện và ươm mầm cho một tài năng ca hát thiên bẩm Cái Lã là một đứa trẻ

mồ côi bán bánh ở hồ Gươm Hàng ngày nó đi cất bánh về rồi đi rao bán Tiếng rao của nó ban đầu khô, cứng, vô hồn, dần dà trở nên êm ấm hơn, vang vọng hơn, thậm chí luyến láy du dương hơn Bản thân nó không hề biết rằng nó được trời phú cho một giọng hát vô giá, cho đến khi nó gặp một ông khách mà nó gọi là ông nhạc sĩ Ban đầu, ông nhạc sĩ ấy đã chấp nhận trả gấp đôi tiền bánh với điều kiện cái Lã phải rao bán bánh cho ông nghe mười lần Nghe xong, ông khách ấy đã rất xúc động, rút khăn chấm nước mắt và dặn nó phải thường xuyên tập hát Điều khiến ông kinh ngạc là một đứa

trẻ lang thang như cái Lã lại có « năng khiếu thẩm âm và phát âm chuẩn xác tuyệt

vời » Sự thực thì ông nhạc sĩ không biết rằng dù sống vất vưởng đầu đường xó chợ

nhưng cái Lã lại được sống trong tình yêu thương, đùm bọc và dạy dỗ của những người có tài năng nghệ thuật Đó là một chú Lê mù chuyên nghề bán sáo trúc ở gốc đa

đền Bà Kiệu : « Chú Lê ngày đêm thổi sáo và hát Tiếng sáo của chú Lâm ly, réo rắt,

tiếng hát của chú lại càng trầm ấm và tình cảm hơn » Nhờ tiếng hát của chú mà cái Lã

thuộc nhiều bài dân ca sa mạc, bồng mạc và cải lương Nam Bộ Ngoài chú Lê, cái Lã còn được cụ Từ - một bà cụ từng có một tuổi trẻ làm nghề hát ả đảo, tài năng đến mức

« vua biết mặt, chúa biết tên » nhưng về già cô đơn, không con cháu, không ruột rà

máu mủ - dạy cho nó hàng trăm điệu ca trù cổ xưa Khi phát hiện ra tài năng đặc biệt

ấy của cái Lã, ông nhạc sĩ kia, mỗi khi đi dạo quanh bờ hồ, ông đều dành thời gian dạy

nó cách phát âm, thẩm âm Ban đầu, ông yêu cầu cái Lã phải sửa ngay lập tức bánh mì

« lóng » thành bánh mì « nóng » Sau đó thì ông chia cả câu « ai bánh mì nóng giòn đê

Trang 33

– ê » thành vài nhịp cao thấp, nhanh chậm, luyến láy để cái Lã luyện đi luyện lại trở

thành một câu hát thực sự xuyên vào lòng người Ông kiên trì rèn tập cho cô gái với

niềm tin tưởng «mai sau con sẽ tặng cho cuộc đời này một kho báu» Ông còn hứa hẹn

sẽ tìm nơi để giúp đỡ cái Lã « ta sẽ cần đi gặp một vài nơi vài chốn để trò chuyện với

họ về con » Rõ ràng, ông nhạc sĩ, cái Lã, chú Lê mù và bà cụ Từ hát ả đào không hề

có mối quan hệ ruột thịt nhưng họ lại gắn kết với nhau bằng cái duyên tri kỉ của những con người tài hoa, yêu mến và trân trọng, nâng niu, dìu dắt để cái tài nảy nở, đơm hoa, kết trái hiến dâng cho cuộc đời

Nếu như trong truyện Ngày mai nở rộ một nhành mai, tất cả các nhân vật đều ít

nhiều có tài năng nghệ thuật thì trong truyện ngắn Mỗi cuộc đời một thoáng chốc, hai

vợ chồng người lái xe quê ở Huế tuy không biết vẽ, nhưng lại có « óc thẩm mĩ tinh tế

về hội họa », đã làm một việc làm vô cùng cao thượng Ông tù già trong tác phẩm vốn

là một họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn dầu nhưng đang muốn trốn ra nước ngoài sinh sống

để quên đi « cú sốc thần kinh dữ dội » trong quá khứ Vì không muốn cái sự « sụi lụi

tinh thần » hủy hoại một họa sĩ tài hoa nên hai vợ chồng người lái xe đã bàn nhau để

chị vợ đóng giả một người « tình nhân tri kỉ » thường xuyên động viên khích lệ giúp cho người tù già quên đi những buồn đau mà tập trung sáng tạo nghệ thuật Không chỉ đóng giả là cô vợ bé để vào thăm người họa sĩ khi ông ở trong tù, mà khi ông ra tù, người phụ nữ kia vẫn thường xuyên viết những bức thư với những lời lẽ đằm thắm, tha

thiết đã kích thích trong họa sĩ niềm hào hứng sáng tạo : « Quả thật, Nguyễn Tầm Tư

đã vẽ được nhiều chính bởi có sự nồng ấm từ những lá thư đó tỏa ra sưởi ấm trái tim nhiều lúc giá lạnh và nỗi cô đơn, bệnh tật của ông » Người họa sĩ càng đam mê sáng

tạo hơn nữa khi người con gái xứ Huế kia có một lời hứa với ông: « Con sẽ chỉ ra thăm

Hà Nội khi nào chú dắt tay vào chính gian phòng triển lãm của chú » Họa sĩ lao vào

làm việc một cách hăng say, miệt mài với nghị lực phi thường và một quyết tâm mãnh liệt khiến cho bạn bè thân quen trong giới nghệ thuật đều kinh dị trước sự lạ lùng ấy

Để rồi, chỉ trong một thời gian ngắn, « những bức vẽ lấp lánh, sắc cạnh, chan chứa

tình nghĩa con người » đã lần rượt ra đời và cũng chẳng mấy chốc, họa sĩ đã hoàn

Trang 34

thành xong phòng triển lãm tranh để dâng tặng cho đời Rõ ràng, với tấm lòng của những Dương Lễ, những Châu Long và với niềm trân trọng, ngưỡng mộ cái tài, cái đẹp, vợ chồng người lái xe đã phục sinh cuộc đời của một con người, đã cứu vớt, nâng

đỡ tài năng của một nghệ sĩ để làm đẹp thêm cho cuộc đời Đó là cách ứng xử đầy bao dung, độ lượng, nhân ái giữa con người với con người; là cách sống nhân văn, cao thượng, đẹp đẽ của những người cùng đam mê cái Tài, cái Đẹp

Cũng lặp lại mô tip đóng giả « người tình nhân tri kỉ » trong nghệ thuật như

truyện ngắn Mỗi cuộc đời một thoáng chốc, truyện ngắn Màu xanh từ những màu lam

lại là phần sau đầy ý nghĩa của một cuộc tình dang dở giữa những người có tâm hồn văn chương Nhân vật « tôi » là một nhà văn yêu một cô gái Huế tên là Thái Phượng

Thái Phượng có ước mơ cháy bỏng là « trở thành một cô giáo giảng văn cho các em

nhỏ suốt đời » Cô có kiến thức sâu rộng về văn học và rất sắc sảo trong việc phân tích,

nhận xét Dù có lúc không hài lòng với văn phẩm của người yêu nhưng cô vẫn rất

« trân trọng gìn giữ hơn mọi thứ quí nhất trên đời » Do sự nóng nảy của tuổi trẻ,

« tôi » và Thái Phượng phải xa cách, không lấy được nhau Thái Phượng trở thành vợ của một cán bộ trung đoàn và đã cùng chồng hi sinh ở chân thành Quảng Trị năm

1968 Còn « tôi », cả một thời gian dài đằng đẵng cũng không cầm bút viết nữa do một

tai nạn nghề nghiệp « một cuốn tiểu thuyết của tôi bị băm vằm tơi bời » Khoảng ba

mươi năm sau, trong một chuyến tàu qua Huế, « tôi » đã tình cờ được gặp con gái của Thái Phượng tên là Phượng Thái « Tôi » không biết người yêu cũ đã hi sinh và khao khát được gặp lại Phượng Thái cũng giấu giếm việc mẹ mình đã mất Sau cuộc gặp gỡ

ấy, « tôi » đã nhận được những bức thư của cô con gái Phượng Thái mà ông cứ nghĩ là của người yêu cũ Phượng Thái đã giả danh mẹ mình viết thư động viên, khích lệ

« tôi » viết văn trở lại bằng lời lẽ vừa tha thiết vừa hối thúc mạnh mẽ : « …em mong

mỏi, em kêu gọi, em ra mệnh lệnh cho anh phải viết trở lại Anh hãy viết trở lại đi, viết bằng sự say mê con người…Hãy sáng tạo đi ! Dù đã già nua và héo mòn, nhưng tình yêu của em sẽ chạy song song, thậm chí vượt lên trên với đà viết của anh » Nhờ có

động lực tình yêu ấy mà « tôi » đã dần dần hồi sinh với « con tim lạnh giá dần dà ấm

Trang 35

nóng, sôi sục và tràn trề nhựa sống » « Tôi » đã cầm bút trở lại với một sức mạnh phi

thường « ngòi bút của tôi đã phi nước đại » vượt qua sự già nua của tuổi tác Như đã

hứa trong thư, Phượng Thái đã luôn đồng hành cùng với những văn phẩm mới ra lò của « người yêu của mẹ » Phượng Thái – mà « tôi » vẫn nghĩ là Thái Phượng – đã

« mổ xẻ rất kỹ, phê phán sâu sắc và khích lệ cũng nồng nhiệt » các tác phẩm của « tôi »

cùng với niềm tự hào, ngưỡng mộ Điều đáng trân trọng ở cả ba nhân vật Thái Phượng, Phượng Thái và « tôi » không phải chỉ vì họ là những người đam mê văn chương, trân trọng những tinh hoa văn học, ngưỡng mộ những người có tài năng nghệ thuật, khao khát được sáng tạo mà trên hết, họ còn là những có lí tưởng lớn lao, cao đẹp muốn đem tài năng để phục vụ cuộc sống, nhân dân, đất nước Vì lí tưởng ấy nên Phượng Thái

mới đặt ra quy định cho người yêu của mẹ mình: « Em sẽ gặp lại anh khi nào thực sự

thấy anh rạng rỡ ngòi bút vì cuộc sống khốn khổ nhưng đẹp đẽ của dân tộc chúng ta »

Bản thân « tôi » cũng nhận ra rằng, ban đầu viết trở lại là do sự thúc giục của tình yêu

cá nhân nhưng dần dần, « tôi » đã vượt qua cái ngưỡng tình cảm cá nhân « thấy say

mê, thấy thiêng liêng, thấy cao quí bởi tình yêu cuộc sống, yêu đồng loại, yêu những cái thơm tho, và yêu cả những điều đau đớn trong xã hội nữa, cuối cùng là yêu chính cái sự nghiệp của bản thân mình »

2.1.1.3 Mẫu nhân vật người trí thức

Trong sáng tác của mình, Nguyễn Dậu dành nhiều mến mộ khi viết về người trí thức Nhân vật người trí thức trong sáng tác của Nguyễn Dậu có tri thức về văn hóa, khoa học, có lối ứng xử cá nhân giữa con người với con người đầy bao dung, cao thượng vị tha theo chuẩn mực giá trị đạo đức dân tộc; có lí tưởng cao đẹp, hết lòng vì quê hương, đất nước

Nhân vật người trí thức trong sáng tác của Nguyễn Dậu trước hết là những người phụ nữ sống đẹp theo chuẩn mực văn hóa Nhân vật Ngát trong truyện ngắn

«Duyên lạ » là mẫu người phụ nữ có trí tuệ, có lí tưởng lại thủy chung, đức hạnh

Trong công việc, cô là người trí thức yêu nghề, có nghị lực vươn lên, khát khao được

cống hiến cho đất nước Cô theo học tiến sĩ nông học với khát vọng « có được một

Trang 36

giống lúa thần kì để dân khỏi đói » Cô đã kiên trì nghiên cứu, thử nghiệm và cho ra

đời « hàng chục giống lúa cao sản Sau khi được lai ghép và vun dưỡng trong môi

trường đặc biệt, lúa của em đã cho một loạt giống mới hoàn toàn cao vọt về sản lượng

và đột biến về phẩm chất » Trong đời sống riêng tư, cô là một người vợ hiền thục, thủy

chung, một nàng dâu nết na, hiếu thảo Ngát lấy chồng được một tháng thì chồng cô

lên đường nhập ngũ Khi nghe tin chồng hi sinh, cô đã trải qua « mười năm đau thương

vô hạn » Thời gian đằng đẵng không làm phôi pha tình yêu của nàng dành cho chồng :

« nàng đã yêu chồng, yêu đến mức biết rằng sau anh, sẽ không còn ai đạt được niềm

yêu như vậy nữa » Ngát không đi bước nữa không phải vì hi vọng chồng mình còn

sống mà chỉ đơn giản là « chưa thấy nguội lạnh mối tình đầu hoặc chưa tìm được một

tình yêu nào vượt trội với tầm mức của mối tình cũ » Dù vẫn đắm đuối trong cuộc hôn

nhân đầu tiên nhưng Ngát không hề bi lụy Cô vẫn vươn lên, vượt qua đau thương

bằng một nghị lực phi thường để « vừa hết mình trong công tác, vừa tận nghĩa phụng

dưỡng cha mẹ chồng » khiến cho « bố mẹ chồng nể trọng thương yêu Họ hàng và hàng xóm đều tấm tắc khen ngợi ; bầu bạn cũng tin cẩn và mến phục » Chính tình

yêu, lòng chung thủy của những người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Dậu đã trở thành sức mạnh tinh thần để họ tiếp tục sống một cách kiêu hãnh, mạnh mẽ, vượt qua đau thương, chăm sóc cho gia đình và cống hiến cho quê hương, đất nước

Nếu như lòng chung thủy làm nên vẻ đẹp văn hóa của người phụ nữ trong đời sống gia đình thì sự bao dung, yêu thương, vị tha làm nên cốt cách văn hóa của họ

trong mối quan hệ với xã hội Trong truyện Thung lũng mờ sương, cô gái trẻ Thanh

Luânđã nhận nuôi một đứa trẻ bị bỏ rơi mà không hề đắn đo suy nghĩ, thậm chí còn

tràn ngập niềm hạnh phúc vì được cưu mang một linh hồn thơ dại « cô đón lấy đứa bé,

ghì miết vào lòng và nước mắt lăn chảy ròng ròng » Cũng có nghĩa cử cao đẹp như

vậy, bà Loan trong truyện Hồi nào đó, ta cùng nhau đã nuôi dưỡng, yêu thương con

của vợ chồng tên phản gián từng tra tấn đánh đập bà như con đẻ của mình Sau này,

đứa bé ấy lớn lên trở thành « một công dân tốt đẹp của xã hội, thành đứa con hiếu thảo

của gia đình » Người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Dậu luôn sẵn lòng yêu

Trang 37

thương, vị tha cho chính kẻ thù của mình Truyện ngắn Sức mạnh đàn bà lại cho thấy

cách ứng xử đầy vị tha của một cô giáo khi chồng mình ngoại tình Chồng cô giáo Thanh Liên là một ủy viên thanh tra giáo dục nhưng lại ngoại tình với một cô học sinh

cũ Biết được hành vi xấu xa, đồi bại của chồng, Thanh Liên không hề tức giận, cay cú, điên cuồng mà rất bình tĩnh đối phó với chồng và tình nhân một cách cao thượng, khôn ngoan Khi bắt quả tang cuộc tình vụng trộm, cô khéo léo tìm cách tách li chồng và tình nhân Sau đó, cô đề nghị tình nhân của chồng phải trả lời thật chân thực những câu hỏi

của cô Qua lời khai của cô gái, Liên đã hiểu cô gái chỉ là « nạn nhân của sự lừa gạt »

Cho nên, thay vì đưa cô gái ra đồn công an hoặc đánh xé thì cô chỉ trò chuyện để cô gái

tự nhận thấy hành vi đáng xấu hổ của mình Cách ứng xử của Liên khiến cô gái kia

hoàn toàn nể phục, cô nói trong sự rưng rưng xúc động và biết ơn : « Thật tình, em sợ

chị quá đi mất thôi Thà chị đánh em, xé em, em cũng không thể thấy kinh sợ, nể trọng bằng sự rộng lượng và tử tế của chị từ nãy giờ […] Em dã vỡ lẽ, đã tỉnh ngộ […] Thưa cô giáo, cô đã cho em nhiều bài học, chỉ một lúc » Khi cô gái nói sẽ nhổ vào mặt

chồng Liên nếu anh ta còn tìm đến, Liên đã cho cô gái một bài học sâu sắc về cách ứng

xử đẹp trong xã hội: « Không nên như vậy Cô cứ lịch sự và tự trọng là đủ Trong cái

thế giới phức tạp này, những sinh linh nhỏ bé và khốn khổ như chị em ta, chẳng có quyền nhổ vào mặt ai cả Có lúc họ xấu, ta tốt, cũng có lúc họ tốt, ta xấu Nếu ai cũng nhổ vào mặt ai cả thì toàn thành phố này cũng chỉ bán giẻ lau mặt cũng chẳng đủ »

Bài học văn hóa mà Liên dạy cho cô học trò dại dột chính là dù đúng dù sai thì luôn cần phải biết lịch sự và tự trọng Đó là điều làm nên cốt cách văn hóa của những người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Dậu

Nhân vật người trí thức trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu làm nhiều ngành nghề khác nhau, giữ những địa vị khác nhau trong xã hội Đó là những nhà văn, giáo viên, họa sĩ, kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông học, kỹ sư cơ khí, thầy thuốc…Điều đặc biệt

là tác giả không đi sâu vào việc miêu tả trình độ nghề nghiệp của kiểu nhân vật này mà đặt họ vào cuộc sống đời thường với các mối quan hệ nhân sinh phức tạp để từ đó bộc

lộ nhân cách, phẩm chất đạo đức phù hợp với giá trị văn hóa dân tộc

Trang 38

Trong các truyện ngắn Ngựa phi trong bão tuyết, Sầm Sơn biển hát, Nàng đã

trốn đi, Thầy thuốc tồi tệ, Miệng na mô… nhà văn xây dựng nhân vật chính là những

người thầy thuốc có lối sống đẹp Họ đều là những người giỏi về kiến thức y khoa, giàu lòng thương yêu con người, dốc lòng dốc sức để chữa trị cho bệnh nhân, luôn sống nhân ái, cao thượng, thậm chí sẵn sàng hi sinh cả danh dự và hạnh phúc cá nhân vì người bệnh

Thầy thuốc Nguyễn Tầm Tư trong truyện Thầy thuốc tồi tệ vì quá yêu thương

bệnh nhân nên đã có những hành động kì quặc khác thường khiến cho biết bao kẻ nảy sinh nghi ngờ nhân cách của ông Bản thân Nguyễn Tầm Tư không hề có động cơ vụ lợi cá nhân, chỉ mong cứu vớt cuộc đời của cô Sính – một cô gái trẻ bị bệnh thần kinh phân liệt vì tình Từ thành phố, ông đã lặn lội về thôn quê, ngày đêm túc trực bên cô Sính Không ai có thể ngờ rằng chính sự hiền dịu, tận tâm và đoan trang của ông đã khiến cho cô gái dần dần trở nên đắm đuối cuồng si, thậm chí còn đe dọa sẽ tự vẫn nếu không lấy được vị bác sĩ già giàu lòng nhân hậu ấy Để cho cô Sính trở nên căm ghét mình, thầy thuốc Nguyễn Tầm Tư đã phải tự hạ thấp mình, tự vẽ chân dung mình với

một khuôn mặt xấu xa qua những câu chuyện kể cho cô Sính về “những rủi ro, bất

hạnh, tật xấu, thậm chí cả đến những chuyện đàng điếm, dơ bẩn” mà ông tưởng tượng

ra Vì bệnh nhân, người thầy thuốc già ấy còn liều cả mạng sống của mình, sẵn sàng

tiếp cho cô Sính “hai lít rưỡi máu không đầy một tháng” giúp cho cô “cải tử hoàn

sinh”

Những người thầy thuốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Dậu luôn coi trọng

y đức, luôn đặt sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân lên hàng đầu Họ đều ứng xử với bệnh nhân và những người xung quanh bằng trái tim đôn hậu, bằng những hành động

cao thượng, vị tha Nếu như người thầy thuốc trong truyện Thầy thuốc tồi tệdám liều

mạng sống của mình để cứu bệnh nhân thì người họa sĩ - thầy thuốc trong truyện

Ngựa phi trong bão tuyết lại bỏ qua hận thù ích kỉ cá nhân để chữa bệnh cho chính

người thủ trưởng cấp trên đã từng buộc ông phải thôi việc chỉ vì cái tội “phạm thượng”

trong quá khứ Bác sĩ Trương Thiền Tâm trong truyện Nàng đa trốn đi đã vượt qua sự

Trang 39

dè bỉu, chê bai, đơm đặt của mọi người xung quanh để cứu vớt ba mẹ con Kim Thư khi

cô ấy bị gia đình xua đuổi trong lúc chồng đi cải tạo Người thầy thuốc trong truyện Tò

vò thương nhện lại tìm mọi cách để cứu một cô gái hiền lành, đức hạnh ra khỏi những

thủ đoạn độc ác của gia đình chồng Nhân vật “tôi” trong truyện Sầm Sơn biển hátvới

đôi tay tài giỏi của một bác sĩ, với tấm lòng nhân hậu của một nhà văn, đã hóa giải một định kiến chôn vùi cuộc đời một người phụ nữ mấy chục năm trời, trả lại danh dự và hạnh phúc cho người phụ nữ ấy trong những năm tháng cuối đời Có thể thấy, nhân vật thầy thuốc trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu luôn xuất hiện với vai trò là người ân nhân đã đem lại sức khỏe, công bằng, hạnh phúc cho những số phận éo le

Không những có hành động đẹp, những suy nghĩ của những người thầy thuốc trong truyện của Nguyễn Dậu cũng thật cao thượng Họ có những suy nghĩ đúng đắn

về nghề nghiệp: “Giấu nghề là một điều bỉ ổi Nhưng tôi cũng không thể truyền nghề

cho những kẻ thiếu thiện chí và ác tâm được” (Tò vò thương nhện); “Lời hứa với bệnh nhân là pháp lệnh tôi hằng tuân thủ” (Ngựa phi trong bão tuyết) Họ sống hết mình vì

cuộc đời với một suy nghĩ thật đơn giản mà sâu sắc: “Trước hết cần lòng trung hậu

Sau nữa phải sống lăn lóc hết mình và cũng căm ghét hết mình” (Sầm Sơn biển hát)

Họ tin ở lương tri con người: “Ai cũng có một lương tri – đôi lúc trong kẻ tàn bạo nhất

lương tri vẫn lên tiếng Tôi vững tin vào điều đó trong mỗi con người” (Tò vò thương nhện) Những suy nghĩ của những người thầy thuốc trong truyện ngắn của Nguyễn

Dậu cũng chính là sự kí thác những suy nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời Nhà văn luôn đòi hỏi nhân vật của mình phải sống thật tử tế, yêu thương hết mình, tin tưởng vào nhân phẩm, phẩm giá con người và tin vào những điều tốt đẹp của cuộc đời

Nhân vật người trí thức trong truyện ngắn của Nguyễn Dậu còn là những người

kĩ sư khao khát cống hiến tài năng, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước Đó là nhân

vật Phạm Phước trong truyện Đại sám hối, khi còn là chàng trai trung cấp nông học mới tròn hai chục tuổi đầu nhưng đã “sốt bỏng và bùng cháy trong lòng những ước mơ

làm sao cho quê hương no ấm giàu đủ” Trái tim son trẻ của anh bị giày vò bởi những

thực trạng đau buồn của quê nhà: “Anh đau buồn vì cả xã đã lên hợp tác hóa toàn thôn,

Trang 40

thế mà đói khổ vẫn hoàn đói khổ Anh càng xót xa khi trong bữa cơm độn ngô độn khoai chỉ có bát tương với mấy ngọn rau xanh, trong khi đó các ao lớn ao nhỏ đều cạn khô, ao nào có chút nước cũng chỉ trong veo veo không có nổi một con tôm con tép Anh đặt dấu hỏi vì sao lại như vậy? Vì sao đất đai thì màu mỡ, con gười thì cần cù mà cuộc sống lại kiệt quệ, thê thảm đến thế?” Không day dứt như nhân vật Phạm Phước,

trong truyện Ngọt ngào và man trá, nhân vật Cường Tuấn – một kĩ sư xây dựng, tuấn

tú, khôi ngô - sau khi vượt qua được căn bệnh éo le, lại tràn đầy niềm tin vào sức trẻ:

“Anh là một kĩ sư cầu đường Trên tổ quốc bao la này, nhất là đồng bằng sông Cửu

Long, chỗ nào anh cũng có thể cống hiến năng lực và trí tuệ được” Nhân vật Quang

trong truyện Vòng sinh quyển đã xoay là một kĩ sư địa chất, được sinh ra trong “một

nền giáo dục coi nặng lí tưởng, coi nặng cống hiến và hy sinh, coi nhẹ đồng tiền, coi khinh vàng bạc” nên đứng trước “cái vòng quay” của vợ theo sự ham háu tiền bạc, anh

vẫn giữ vững lập trường của mình, lập trường của những con người sống cống hiến

cho đất nước “và anh, một cái vòng khác, cũng sẽ chuyển động theo phương hướng

của anh, mục đích của đời anh, cái mục đích vì cộng đồng, vì tồn vong của dân tộc”

2.1.2 Kiểu nhân vật tha hóa

Tha hóa là khái niệm chỉ hiện tượng “Con người biến chất thành xấu đi” Trong

văn học, nhân vật “tha hóa” là sản phẩm của chủ nghĩa thực Đó là kiểu nhân vật được xây dựng nên nhằm phản ánh hiện thực xã hội mục ruỗng, xấu xa đã làm biến đổi bản chất con người Do đó, tất cả các loại người trong xã hội, đặc biệt là loại người xấu xa, kệch cỡm, biến chất đều được các nhà văn quan tâm phản ánh vào tác phẩm Ở Việt Nam, nhân vật tha hóa xuất hiện trong các tác phẩm của các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán (1930- 1945) Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng và đặc biệt là Nam Cao Sau 1975, nhân vật tha hóa có sự xuất hiện trở lại trong sáng tác của nhiều cây bút văn xuôi, trong đó có Nguyễn Dậu Với quan niệm văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút để loại khỏi xã hội những thói hư tật xấu của con người, Nguyễn Dậu không đưa ra những quan niệm về nhân vật “tha hóa” mà thể hiện bằng hiện thực sinh động trong sáng tác của mình

Ngày đăng: 07/06/2019, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000) , Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
2. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, Văn hóa, (số 9), tr29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Trần Lê Bảo (2009), Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học, nguồn Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc , Website:Http://vns.hnue.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học
Tác giả: Trần Lê Bảo
Năm: 2009
5. Nguyễn Duy Bắc (1999), Mấy suy nghĩ về hướng nghiên cứu văn học nghệ thuật trong mối quan hệ với văn hóa, TC Văn hóa nghệ thuật số 1, tr 20- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về hướng nghiên cứu văn học nghệ thuật trong mối quan hệ với văn hóa
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 1999
6. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí văn học, (số 9), tr66-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đạ
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
7. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Bình, (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2012
9. Ngô Vĩnh Bình, Những bài học về cuộc sống, http://tonvinhvanhoadoc.vn 10. Đỗ Thị Ngọc Chi (2013), Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa, Luận ántiến sĩ Ngữ Văn, Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học về cuộc sống", http://tonvinhvanhoadoc.vn 10. Đỗ Thị Ngọc Chi (2013)," Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình, Những bài học về cuộc sống, http://tonvinhvanhoadoc.vn 10. Đỗ Thị Ngọc Chi
Năm: 2013
11. Lương Minh Chung (2012), Thơ Hoàng Cầm dưới góc nhìn văn hóa, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hoàng Cầm dưới góc nhìn văn hóa, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn
Tác giả: Lương Minh Chung
Năm: 2012
12. Phạm Khắc Chương (2001), Văn hóa ứng xử trong gia đình, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử trong gia đình
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
13. Chevalier (Jean), Gheerbrant (Alain), (1997), Từ điển biểu tượng văm hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văm hóa thế giới
Tác giả: Chevalier (Jean), Gheerbrant (Alain)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997
14. Nguyễn Minh Châu (1995), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
15. Nguyễn Văn Dân (2004), Tiếp cận văn học bằng văn hóa học, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 11, tr12-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học bằng văn hóa học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
16. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TPHCM, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TPHCM
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TPHCM"
Năm: 2004
17. Nguyễn Đăng Duy (2012), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa tâm linh, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa tâm linh
Năm: 2012
18. Nguyễn Dậu (1961), Mở hầm, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở hầm
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1961
19. Nguyễn Dậu (1990), Con thú bị ruồng bỏ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con thú bị ruồng bỏ
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1990
20. Nguyễn Dậu (1991), Rùa Hồ Gươm, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rùa Hồ Gươm
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1991
21. Nguyễn Dậu (1995), Nhọc nhằn sông Luộc, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhọc nhằn sông Luộc
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w