Nhìn từ kinh nghiệm bên ngoài, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tếOECD, các chỉ số cơ bản đo lường tính cạnh tranh của ngành du lịch một quốc giagồm có: đóng góp của du lịch vào G
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HỒNG HẢI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ XÃ HỒNG VÂN, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HỒNG HẢI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ XÃ HỒNG VÂN, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Việt Nam học " Phát triển du lịch làng nghề xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” ” là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết luận khoa học nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hồng Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ XÃ HỒNG VÂN 10
1.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển du lịch tại địa phương 13
Chương 2 17
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH XÃ HỒNG VÂN, 17
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 17
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18
2.2 Đặc điểm cơ cấu ngành nghề tại địa phương 20
2.3 Hoạt động Du lịch tại địa phương 31
2.4 Các yếu tố tác động đến hoạt động du lịch làng nghề tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội 37
2.5 Đánh giá về các hoạt động du lịch tại địa phương 41
Chương 3 51
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 51
LÀNG NGHỀ TẠI XÃ HỒNG VÂN, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 51
3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn xã 51
3.2 Định hướng xây dựng phát triển xã du lịch 54
3.3 Các giải pháp phát triển du lịch sinh thái 57
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 66
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX: Hợp tác xã
OVOP: One Village One Product Movement (Mỗi làng một sản phẩm)OTOP: One Town One Product (Mỗi địa phương một sản phẩm)MICE: M – Meeting (Hội nghị); I – Incentives (Khen thưởng); C – Conventions (Hội thảo); E – Exhibitions/ Event (Triển lãm/ Sự kiện)(Là loại hình du lịch đặc biệt kết hợp với các hoạt động cụ thể)
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu 2.1 Lượng khách đến Nông trại giáo dục từ năm 2015-2018 24
Biểu 2.2 Thu nhập bình quân đầu người/ năm của các hộ dân trong HTX 25
Biều 2.3 Lượng khách đến đền Mẫu - Xâm Thị năm 2019 33
Bảng 3.1 Báo cáo kết quả kinh doanh tháng 3 năm 2019 52
Bảng 3.2 Kết quả tình hình đón khách du lịch 52
Bảng 3.3 Thống kê số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn xã Hồng Vân 53
Bảng 3.4 Thống kê số lượng phương tiện phục vụ du lịch 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng
khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Namngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước đượcbình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế Chất lượng và tính cạnh tranhcủa du lịch là những vấn đề nhận được nhiều sự chú ý và thảo luận rộng rãi Mộtcách tiếp cận đa chiều về đánh giá chất lượng du lịch sẽ góp phần hình thành cácgiải pháp đúng đắn nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của du lịch Việt Nam
Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ khách quay trở lại cho thấy tính cạnh tranh của
du lịch Tuy nhiên, do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liênvùng và xã hội hóa cao, nên tính cạnh tranh của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Dưới góc độ kinh tế du lịch, tỷ lệ khách quay trở lại không phải là chỉ tiêu nghiêncứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển ngành
Nhìn từ kinh nghiệm bên ngoài, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD), các chỉ số cơ bản đo lường tính cạnh tranh của ngành du lịch một quốc giagồm có: đóng góp của du lịch vào GDP, thu nhập từ khách du lịch inbound theotừng thị trường, thời gian lưu trú qua đêm, giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch, năngsuất lao động, sức mua và giá cả dịch vụ du lịch, thủ tục thị thực nhập cảnh, tàinguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, tài nguyên văn hóa, mức độ thỏa mãn của
du khách, và chương trình hành động của ngành Du lịch Ngoài ra còn có một số chỉ
số phụ như: mức độ đa dạng hóa thị trường, nguồn nhân lực, mức độ kết nối hàngkhông và các phương tiện khác, phân bổ ngân sách chính phủ dành cho ngành Dulịch, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch Tham khảo những chỉ sốnày có thể thấy tỷ lệ khách quay trở lại không nằm trong các tiêu chí đánh giá tínhcạnh tranh của ngành du lịch
Mặt khác, về bản chất hoạt động du lịch là sự khám phá, trải nghiệm Nhìnchung, khách du lịch luôn muốn đi đến những vùng đất mới lạ, tìm hiểu những nền
Trang 8văn hóa độc đáo, trải nghiệm những lối sống khác nhau Đối với khách du lịch ởnhiều nền kinh tế phát triển, du lịch là một phần thiết yếu trong cuộc sống bên cạnhquá trình lao động, làm việc Họ có điều kiện dành thời gian và nguồn tài chính đểthực hiện nhiều chuyến du lịch trong đời và coi đây là cơ hội vừa để nghỉ ngơi, táitạo sức lao động, vừa để khám phá những nền văn hóa mới và bồi đắp kiến thức chomình Việc lựa chọn một điểm đến cũ có thể sẽ không phải là ưu tiên của họ nếukhông có một nhu cầu đặc biệt nào đó hoặc sự cảm mến, gắn kết đặc biệt.
Huyện Thường Tín với truyền thống “Đất danh hương”, đất trăm nghề với
450 di tích lịch sử cùng 126 làng nghề huyện Thường Tín là nơi có nhiều tiềm năng
để phát triển các loại hình du lịch tâm linh gắn với du lịch làng nghề và sinh thái
Hồng Vân là xã nằm ở phía đông của Huyện Thường Tín, cách trung tâm HàNội 18 km về phía Nam Với chiều dài hơn 4,5 km, chiều rộng khoảng 2 km Dòngsông Hồng chảy qua ôm lấy sườn phía Đông của xã từ Bắc xuống Nam, kéo dài từXâm Thị đến Vân La, hàng ngàn năm nay bồi đắp phù sa tạo nên vùng đất màu mỡnuôi sống người dân Hồng Vân Bên cạnh đó xã có tuyến đường 427 liên tỉnh và hệthống giao thông đường thuỷ Sông Hồng chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho pháttriển kinh tế - xã hội
Xã Hồng Vân là xã thuần nông, nhân dân trong xã chủ yếu sinh sống bằngnghề nông nghiệp với nghề: Trồng hoa, cây cảnh, chăn nuôi, trồng rau màu… Đặcbiệt xã có 02 làng nghề Sinh vật cảnh được UBND tỉnh Hà Tây công nhận năm
2008 là: Làng nghề Sinh vật cảnh Xâm Xuyên và làng nghề Sinh vật cảnh Cơ Giáo.Hiện nay trên xã có 30 nghệ nhân, thợ giỏi, có khả năng chế tác nhưng tác phẩm câycảnh nghệ thuật, cây bonsai, đồ đá mỹ nghệ… nổi tiếng xứ Bắc
Tại Đại hội Đảng bộ xã Hồng Vân lần thứ XXVI đã đưa ra các mục tiêu cơbản phát triển kinh tế xã hội của xã như sau:
Tốc dộ tăng trưởng kinh tế bình quân các ngành từ 14,5% trở lên Cơ cấu: Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt 35%; thương mại, dịch vụ đạt 50%; nông nghiệp còn 15%.
Trang 9Tổng thu ngân sách nhà nước theo phân cấp tăng bình quân 10%/năm so với
kế hoạch huyện giao.
Phấn đầu đến năm 2020 thu nhập bình quân đầu người đạt từ 46-49 triệu đồng.
Giữ vững và nâng cao chất lượng xã đạt chuẩn nông thôn mới Đến năm
2020 xã Hồng Vân cơ bản trở thành xã “Du lịch – sinh thái – làng nghề”.
Nâng cao chất lượng du lịch để thu hút khách, thỏa mãn nhu cầu ngày càngcao của khách là một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển du lịchnước ta Một điều tất nhiên, trong quá trình phát triển ngành du lịch nói riêng vàkinh tế - xã hội đất nước nói chung, sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết.Mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiệntượng là nguồn gốc và động lực của quá trình vận động, phát triển.Với tất cả những
lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển du lịch sinh thái làng
nghề xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” để làm
luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Namcũng được chú trọng, phát triển nhằm tạo ra sản phẩm hấp dẫn đối với du khách,đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạosản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi làng nghề Trên thực tế, du lịch làng nghề ViệtNam đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát,chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp
Tiềm năng là vậy nhưng khách đến làng nghề vẫn rất ít dù đã có khá nhiềuchương trình tuor giới thiệu Ở nhiều địa phương, mặc dù đã có chủ trương từ cấpquản lý gắn làng nghề với phát triển du lịch các làng nghề cũng đã có định hướngphát triển du lịch, thậm chí có tên trong sản phẩm tuor của các hãng lữ hành, songvẫn chưa có biến chuyển tích cực
Các làng nghề này chưa có những điều kiện để trình diễn, dịch vụ phục vụkhách tham quan nghèo nàn Bên cạnh đó, sự tham gia của cộng đồng và phát triển
Trang 10du lịch chưa cao, bởi họ chưa nhận thức được giá trị của du lịch đem lại Một làngnghề được coi là phát triển du lịch khi thu nhập từ du lịch chiếm ít nhất 25% thunhập của làng Bên cạnh đó, một số làng nghề hướng phát triển du lịch nhưng hạtầng giao thông và môi trường còn nhiều bất cập.
Bên cạnh đó, một thực trạng cũng cần được đánh giá đến đó là các làng nghề
ở nước ta, nhiều về số lượng, phong phú về loại hình sản xuất, nhưng hàng nghìn
“mỏ tài nguyên du lịch” ấy không cho ra nổi một sản phẩm đồ lưu niệm đặc trưngcủa du lịch Việt Nam Các làng nghề ở Hà Nội như gốm Bát Tràng, gỗ Đồng Kỵ, gỗVân Hà, sơn mài Hạ Thái, thêu Quất Động… có thể nói đã “ăn nên làm ra” nhờ xuấtkhẩu các đồ mỹ nghệ, nhưng việc “xuất khẩu tại chỗ” cho khách du lịch lại khôngđược lưu tâm tới Đối với việc phát triển du lịch làng nghề thì đây thực sự là mộtthiếu sót lớn, bởi các làng nghề quá chú trọng vào thị trường tiêu dùng đồ mỹ nghệcao cấp mà không quan tâm tới thị trường đồ lưu niệm bình dân khi mà thị trườngnày đang rất sôi động và mang lại nguồn thu lớn Đó là chưa kể đến việc các sảnphẩm còn quá đơn điệu và không hợp với nhu cầu của thị trường Người thợ mới chỉ
để ý đến kỹ thuật, sản xuất theo ý thích bản thân hoặc rập khuôn theo truyền thống
mà chưa có sự sáng tạo và tìm hiểu thị hiếu của khách du lịch
Một điều dễ dàng nhận thấy rằng tiềm năng phát triển du lịch làng nghề là rấtlớn, nhưng thế mạnh này lâu nay vẫn chưa được khai thác tốt vì nhiều lý do Thựctiễn cũng cho thấy, với nhiều làng nghề, nhiều người thợ thủ công, những biệnpháp, giải pháp mà cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương nêu ra là rấtnhiều, có điều, để triển khai thực hiện, áp dụng vào thực tế thì họ lại không biết bắtđầu từ đâu
Du lịch làng nghề là một tiềm năng lớn để khai thác, một số nước trong khuvực châu Á đã có những thành tựu nhất định, ví dụ điển hình là Thái Lan và NhậtBản
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về DLLN đồng thời vận dụng những kiến thức đã học về
du lịch để áp dụng nghiên cứu về DLLN và thực trạng của hoạt động DLLN ở Hồng
Trang 11Vân từ khi đưa vào khai thác, từ đó xác định hướng khai thác hợp lý, kết hợp pháttriển kinh tế với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển du lịch bền vững Gópphần quảng bá rộng rãi hình ảnh du lịch Hồng Vân đối với khách du lịch trong nước
và quốc tế Đẩy mạnh phát triển du lịch của huyện Thường Tín nói chung và HồngVân nói riêng Đề xuất một số giải pháp cho phát triển DLLN ở Hồng Vân
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLLN Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạngphát triển DLLN ở Hồng Vân, tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại cần giải quyết.Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng của khu du lịch, luận văn đề xuất phương hướng
và một số giải pháp phát triển loại hình DLLN ở khu du lịch Hồng Vân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động du lịch sinh thái làng nghề trên địa bàn xã Hồng Vân.
- Phạm vi: xã Hồng Vân từ năm 2014 đến 2019.
- Khách thể nghiên cứu: Các cơ quan quản lý về du lịch trên địa bàn xã, hộ
gia đình, các công ty lữ hành hoạt động trên địa bàn xã Hồng Vân
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tưtưởng Hồ Chí Minh Vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng, nhà nước về pháttriển du lịch
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Thông tin về đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhaunên cần phải phân loại, so sánh và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sửdụng trong bài viết Đây là phương pháp giúp nhận rõ những thông tin cần thiết đểthành lập ngân hàng số liệu
5.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụngviệc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnhhơn Việc có mặt tại thực địa trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người
Trang 12có trách nhiệm là rất cần thiết Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập đượcphong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và có một tầmnhìn khách quan để nghiên cứu đề tài Đây là phương pháp vô cùng quan trọng đểthu thập được những thông tin xác thực cho đề tài tăng tính thuyết phục Phươngpháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan và có những đánh giáđúng đắn về vấn đề nghiên cứu Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tínhphiến diện trong khi nghiên cứu.
5.2.3 Phương pháp so sánh tổng hợp:
Phương pháp này nhằm định hướng cho người viết thấy được tính tươngquan giữa các yếu tố và từ đó thấy được hiện trạng và sự ảnh hưởng của các yếu tốtới hoạt động du lịch tại nơi đang nghiên cứu Việc so sánh tổng hợp các thông tin
và số liệu đã thu thập được giúp người viết hệ thống được một cách khoa học nhữngthông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn Đây là phương pháp giúp cho ngườiviết thực hiện được mục tiêu dự báo, đề xuất các dự án, các định hướng phát triển,các chiến lược triển khai quy hoạch các dự án mang tính khoa học và đạt hiệu quảcao
5.2.4.Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia
du lịch tại điểm du lịch Hồng Vân và những người có trách nhiệm quản lý khu dulịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch Qua đây có thể biết đượctính hấp dẫn của khu du lịch, tâm tư nguyện vọng của du khách cũng như của ngườidân địa phương, những người đang trực tiếp làm du lịch từ đó có cái nhìn xác thực
về tài nguyên và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Gớp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch sinh thái làngnghề
Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch làng nghề tại xã Hồng Vân, từ đó
đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch làng nghề của
Hà Nội
Trang 13Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển du lịch, đặc biệt phát triển du lịch sinh thái làng nghề ở Hà Nội và dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy.
7 Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; bố cục đề tàigồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về xã Hồng Vân
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề xã Hồng Vân, huyện
Thường Tín, Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp cho phát triển du lịch làng nghề tại xã Hồng
Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ XÃ HỒNG VÂN
1.1 Các khái niệm cơ bản
tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.[24,tr.15]
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đếnchuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quámột năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghĩ dưỡng, giải trí, tìm hiểu,khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [24,tr.6]
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, baogồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừamang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hoá – xã hội
1.1.2 Sản phẩm du lịch
Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ
sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch” [22, tr.7]
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hoá và tiện nghicung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sởvật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó
Trang 15Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) và vôhình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hoá, các dịch vụ và tiệnnghi phục vụ khách du lịch.
1.1.3 Tài nguyên du lịch
Theo giáo trình Địa lý du lịch:
“Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá- lịch sử cùng các thànhphần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người,khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhucầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch” [22, tr.33]
Theo Luật du lịch Việt Nam:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trịvăn hoá làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằmđáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên vàtài nguyên du lịch văn hoá” [22,tr.6]
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địachất, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thểđược sử dụng cho mục đích du lịch” [22,tr.17]
1.1.4 Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung khái niệm du lịch làng nghề truyền thống vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta Du lịch làng nghề truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa Du lịch làng nghề truyền thống đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều
du khách trong và ngoài nước Xu hướng hiện đại ngày nay cuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.Nhu cầu đi du lịch về những miền nông thôn, làng nghề truyền thống ngày càng cao, vậy du lịch làng nghề truyền thống là gì? Trước hết phải hiểu thế nào là du lịch văn hóa, vậy du lịch văn hóa là:
Theo Tiến sĩ Trần Nhạn trong (Du lịch và kinh doanh du lịch) thì: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn
Trang 16hóa, những phong tuc tập quán còn hiện diện…Bao gồm hệ thống đình, chùa, nhàthờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp,…[2, tr15]
Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh
nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tácđến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống Đó chính
là phần văn hóa phi vật thể Ngoài ra làng nghề truyền thống còn có các giá trị văn hóa vật thể khác như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp đến các làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng nghề thủ công truyền thống…
1.1.5 Du lịch bền vững
“Du lịch bền vững là quá trình điều hành, quản lý các hoạt động du lịch vớimục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn du khách tới các vùng và cácquốc gia du lịch Quá trình quản lý này luốn hướng tới việc hạn chế lợi ích trướcmắt để đạt được lợi ích lâu dài do các hoạt động du lịch đưa lại” [21,tr.231]
Phát triển du lịch bền vững là một phần quan trọng của phát triển bền vữngcủa Liên Hợp Quốc và chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Phát triển du lịchbền vững giúp bảo vệ môi trường sống Đảm bảo sự hài hòa về môi trường cho cácloài động thực vật và cả con người Việc phát triển bền vững giúp cho chính quyềnđịa phương, các đơn vị hoạt động du lịch, người tổ chức du lịch và cả người dân địaphương đều được hưởng lợi Ngoài ra nó còn đảm bảo các vấn đề xã hội như giảmbớt tệ nạn xã hội bằng cách ổn định việc làm cho người dân trong vùng Du lịch bềnvững giúp khai thác nguồn tài nguyên một cách có ý thức và khoa học, đảm bảo chonguồn tài nguyên này sinh sôi nảy nở và phát triển cho thế hệ con em chúng ta cùngđược hưởng lơi
Từ những khái niệm nêu trên, trong nghiên cứu này thì tác giả phát triển dulịch làng nghề được hiểu là: đưa du khách đến tham quan, trải nghiệm, mua sắm cácsản phẩm của làng nghề truyển thống, bên cạnh đó xây dựng chương trình hỗ trợ,khuyến khích nghệ nhân làng nghề sáng tạo sản phẩm phù hợp với thị hiếu củakhách du lịch mà vẫn đảm bảo giá trị của việc bảo tồn các làng nghề truyền thốnggắn với hoạt động du lịch
Trang 171.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển du lịch tại địa phương
1.2.1 Căn cứ văn bản pháp luật, nghị quyết về phát triển du
lịch Căn cứ Luật Du lịch năm 2017;
Căn cứ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị khóa XII
về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;
Căn cứ Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 của Chính phủ ban hànhChương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày16/01/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tếmũi nhọn;
Căn cứ Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Du lịch;
Căn cứ Quyết định số 2522/QĐ-BVHTTDL ngày 13/7/2016 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch phê duyệt Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Namđến năm 2025, định hướng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 3/8/2016 của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch ViệtNam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”
Căn cứ Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 26/6/2016 của Thành ủy Hà Nội vềphát triển du lịch Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo;Căn cứ Kế hoạch số 207/KH-UBND ngày 11/11/2016 của UBND Thành phốthực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 26/6/2016 của Thành ủy Hà Nội về pháttriển du lịch Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo;
Căn cứ Nghị quyết số 25/2013/NQ-HĐND ngày 04/12/2013 của HĐNDThành phố về chính sách khuyến khích phát triển vùng sản xuất nông nghiệpchuyên canh tập trung thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2020;
Căn cứ Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 của UBND Thànhphố quy định chính sách khuyến khích phát triển làng nghề thành phố Hà Nội;
Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 08/3/2017 về phát triển du lịch trên địa bànhuyện Thường Tín;
Trang 18Kế hoạch số 111/KH-UBND ngày 15/5/2017 về thực hiện Kế hoạch số13/KH-SDL ngày 10/02/2017 của Sở Du Lịch Hà Nội về thực hiện Chương trình số02-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thônmới, nâng cao đời sống nông dân năm 2017;
Kế hoạch số 79/KH-UBND ngày 26/3/2018 về thực hiện công tác phát triển
du lịch trên địa bàn huyện Thường Tín năm 2018
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Hồng Vân lần thứ XXVI nhiệm kỳ 2015-2020;
Căn cứ Nghị quyết tại kỳ họp thứ 4 HĐND xã Hồng Vân khoá XXI nhiệm kỳ
2016 – 2021 về việc xây dựng và áp dụng thí điểm đưa các mô hình chuyển đổi hiện
có để khai thác dịch vụ du lịch trên địa bàn xã Hồng Vân
1.2.2 Căn cứ thực tiễn phát triển Du lịch tại địa phương
Xã Hồng Vân có vị trí địa lý thuận lợi, có nguồn tài nguyên đất, tài nguyênnước và điều kiện tự nhiên tốt để phát triển một nền kinh tế đa dạng nhất là pháttriển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất chuyên canh, hàng hoá cung cấpnguồn thực phẩm dồi dào, có chất lượng tốt phục vụ nhu cầu khách du lịch Cảnhquan, môi trường được đầu tư, bảo vệ, không gian xanh - sạch - đẹp, trong lành
Xã có 02 làng nghề sinh vật cảnh được UBND tỉnh Hà Tây trước đây côngnhận và đang phát triển kinh tế tốt; tạo nhiều việc làm cho người lao động địaphương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao
Xã đã hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa và đạt chuẩn nông thôn mới; cóđiều kiện thuận lợi về quy hoạch đất đai, hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Kết quả áp dụng thí điểm 08 mô hình để khai thác dịch vụ du lịch đã chứngminh hiệu quả từ việc phát triển kinh tế du lịch bao gồm: Hiệu quả về kinh tế; hiệuquả về môi trường, sinh thái và hiệu quả về xã hội Trong đó các mô hình HTX kiểumới trên địa bàn xã đã nhân tố then chốt do đã tăng cường đầu tư hạ tầng sản xuất,quảng bá và xúc tiến thương mại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồngthời đã đưa phương thức sản xuất công nghiệp áp dụng trong nông nghiệp, có sựchuyên môn hóa trong các khâu sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm đảm bảo
Trang 19an toàn Hoạt động của các mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn xã góp phầnquan trọng trong việc khai thác, phát triển du lịch trên địa bàn xã.
Có chính sách định hướng, khuyến khích và quan tâm đầu tư phát triển dulịch của Thành phố, huyện đối với xã
Từ các căn cứ pháp lý và thực tiễn nêu trên, tác giả nhận thấy việc phát triển,bảo tồn làng nghề theo định hướng phát triển du lịch là điều cần thiết Ngoài việcphát triển làng nghề, thì du lịch đem đến nguồn lợi kinh tế cao, giúp cải thiện đờisống của người dân tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, Hà Nội
Trang 20Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch: Đưa racác quan điểm về khái niệm du lịch và các khái niệm có liên quan như sản phẩm dulịch, tài nguyên du lịch, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, du lịch bền vững mộtcách ngắn gọn và đầy đủ nhất
Từ những khái niệm và hệ thống các lý luận nêu trên, tác giả đưa ra được nhậnđịnh cơ bản là căn cứ quan trọng để làm định hướng nghiên cứu phát triển du lịch làngnghề tại xã Hồng Vân, huyện Thường Tín nói riêng, Thành phố Hà Nội nói chung
Ngoài ra chương 1 còn trình bày khái quát về xã Hồng Vân là cơ sở quantrọng cho việc phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch làng nghề xã HồngVân trong chương 2, và định hướng cũng như giải phát triển du lịch bền vững tạivùng đất ven đô này trong chương 3
Trang 21Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH XÃ HỒNG VÂN,
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI
Huyện Thường Tín vốn là mảnh đánh với truyền thống “Đất danh hương”,đất trăm nghề với 450 di tích lịch sử cùng 126 làng nghề huyện Thường Tín là nơi
có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch tâm linh gắn với du lịch làngnghề và sinh thái Những năm qua, khách du lịch đến địa bàn huyện có cả kháchquốc tế và nội địa với nhiều độ tuổi khác nhau, nhưng chủ yếu tham quan, học hỏikinh nghiệm và tìm đối tác kinh doanh… Thời gian lưu trú chủ yếu trong ngày
Lẽ ra, với 450 di tích lịch sử, trong đó có 108 di tích được xếp hạng nhưChùa Đậu, đền thờ Nguyễn Trãi…; nhiều lễ hội đặc sắc như: lễ hội Chử Đồng Tử -Tiên Dung, lễ hội làng Từ Vân, lễ hội chùa Mui,…; cùng 126 làng nghề, với 46 làngđược công nhận làng nghề truyền thống, thuận lợi cho phát triển du lịch – dịch vụrất đa dạng Thế nhưng, việc khai thác tài nguyên du lịch chưa mang lại hiệu quảtương xứng, tất cả đang bị bỏ phí…
Nguyên nhân được chính là do việc triển khai các đề án phát triển du lịch,đầu tư tôn tạo các di tích còn chậm Nguồn nhân lực của cơ sở tham gia dịch vụ dulịch phát triển tự phát, chưa được tập huấn về chuyên môn và kỹ năng phục vụ.Chưa có cơ sở kinh doanh lữ hành chuyên nghiệp, hạ tầng cho du lịch nhất là tại cáclàng nghề chưa được đầu tư do thiếu nguồn vốn, cơ sở lưu trú còn thiếu và chưađồng bộ Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chưa có chương trình liên kết du lịch giữacác xã trong huyện Hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu thực tế
Trang 222.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Hồng Vân là xã nằm ở phía đô
ng của Huyện Thường Tín, cách trung tâm Hà Nội 18 km về phía Nam Với chiều dài hơn 4,5 km, chiều rộng khoảng 2 km
Phía Bắc giáp xã Ninh Sở
Phía Nam giáp xã Thư Phú
Phía Tây giáp xã Vân Tảo
Phía Đông giáp Sông Hồng
Phía Đông Nam giáp xã Tự Nhiên
Dòng sông Hồng chảy qua ôm lấy sườn phía Đông của xã từ Bắc xuốngNam, kéo dài từ Xâm Thị đến Vân La, hàng ngàn năm nay bồi đắp phù sa tạo nênvùng đất màu mỡ nuôi sống người dân Hồng Vân Bên cạnh đó xã có tuyến đường
Trang 23427 liên tỉnh và hệ thống giao thông đường thuỷ Sông Hồng chạy qua tạo điều kiệnthuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Diện tích đất tự nhiên toàn xã là 456,71ha
Trong đó: Diện tích đất canh tác là 182ha, xã có 6 thôn bao gồm Xâm Thị,Xâm Xuyên, Cơ Giáo, Cẩm Cơ, La Thượng và Vân La với 1.699 hộ, 5.748 nhânkhẩu
Xã có 2 tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Thiên chúa giáo Toàn xã có 6 ngôiChùa, 5 Đình làng, 2 Đền, 1 nhà thờ với 2 tôn giáo chính đó là Đạo phật và đạoThiên chúa giáo, trong đó có 1 thôn công giáo toàn tòng
Các Đình và chùa được nằm ở 5 thôn, đa số được xây dựng để thờ ThànhHoàng làng – vị thần coi sóc thần linh trong làng Ngoài ra còn thờ các vị Phúc thầncủa làng là những người có công với làng với nước được nhân dân tôn thờ
Đặc biệt Đình làng Vân La thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa mộttrong 4 vị thánh tứ bất tử của tục thờ thánh Việt Nam Các Đình và chùa của xãđược xây dựng với lối kiến trúc cổ xưa, làm bằng gỗ quý chạm khắc long ly quyphượng Xã có Đền thờ Xâm Thị được phong cấp di tích lịch sử cấp thành phố,Đình làng Xâm Xuyên được Nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia
Nhà thờ giáo xứ Cẩm Cơ được xây dựng lại và hoàn thành vào năm 2015 vớikiến trúc đặc trưng của tôn giáo rất đẹp
Xã còn có “ chợ Mới ông Già” – nơi lưu giữ dấu tích của cha con thánh ChửĐồng Tử sinh sống lập nghiệp, và theo truyền thuyết thì nơi đây được coi là chợ cổnhất Việt Nam
Xã Hồng vân là xã thuần nông, nhân dân trong xã chủ yếu sinh sống bằngnghề nông nghiệp với nghề: Trồng hoa, cây cảnh, chăn nuôi, trồng rau màu… Đặcbiệt xã có 02 làng nghề Sinh vật cảnh được UBND tỉnh Hà Tây công nhận năm
2008 là: Làng nghề Sinh vật cảnh Xâm Xuyên và làng nghề Sinh vật cảnh Cơ Giáo.Hiện nay trên xã có 30 nghệ nhân, thợ giỏi, có khả năng chế tác nhưng tác phẩm câycảnh nghệ thuật, cây bonsai, đồ đá mỹ nghệ…nổi tiếng xứ Bắc
Trang 242.1.1.2 Địa hình
Là một xã đồng bằng, địa hình của xã phân bố thấp dần từ Bắc xuống Nam
và từ Tây sang Đông, thuận lợi cho việc tưới tiêu chủ động Địa hình nhìn chungbằng phẳng, độ cao giữa các phần lãnh thổ chênh lệch không đáng kể
2.1.1.3 Khí hậu
Xã Hồng Vân cũng như nhiều địa phương khác thuộc đồng bằng Bắc
Bộ, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu nhiệt đới, gió mùa Thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp
Nhiệt độ: “trung bình năm 23,80C Nhiệt độ trung bình cao nhất 350C
-370C (tháng 6 - tháng 8), thường kèm theo mưa to Nhiệt độ trung bình thấp nhất
có năm xuống dưới 100C (tháng 12 đến tháng 1), có khi kèm theo sương muối”
Gió: “Hướng gió chủ đạo: gió Đông Nam về mùa hè, gió Đông Bắc về mùa đông Vận tốc gió trung bình 2 m/s”
Bão: “Xã ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, chủ yếu ảnh hưởng gây mưalớn, hàng năm thường có 5-7 cơn bão gây mưa lớn”
Mưa: “Lượng mưa trung bình hàng năm thường từ 1600– 1800 mm”
Độ ẩm không khí: “Độ ẩm không khí trung bình năm là 83%, thấp nhất trungbình là 80%(tháng 1), cao nhất trung bình là 88% (tháng 3)”
Nắng: “Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1600 - 1800 giờ/năm”
2.2 Đặc điểm cơ cấu ngành nghề tại địa phương
2.2.1 Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp hàng hóa đang từng bước phát triển Trong ngànhnông nghiệp có sự chuyển dịch theo xu thế giảm tỷ trọng ngành thủy sản từ 31,55%năm 2005 xuống còn 25,71% năm 2011 Chăn nuôi tăng từ 41,26% năm 2005 lên45,71% năm 2011, tỷ trọng của ngành trồng trọt có tăng nhưng không đáng kể
2.2.2 Làng nghề
Hồng Vân có 2 làng nghề được tỉnh Hà Tây cũ công nhận làng nghề sinh vậtcảnh năm 2008 là làng Cơ Giáo và làng Xâm Xuyên Thời kỳ làng nghề phát triểnnhân dân trên địa bàn xã nói chung và nhân dân hai làng Cơ Giáo và Xâm Xuyên đã
Trang 25rất chú trọng đầu tư phát triển cây cảnh, tập trung phát triển những cây cảnh có giátrị kinh tế lớn Hơn 80% hộ dân hai làng Cơ Giáo và Xâm Xuyên đã tham gia pháttriển làng nghề Những hộ sản xuất ít cũng khoảng 50-100 cây cảnh, những hộ sảnxuất lớn như hộ anh Chí, hộ anh Úy, hộ anh Quỳnh, hộ anh Tám có những thờiđiểm mỗi hộ sở hữu hàng nghìn cây cảnh giá trị mang lại hiệu quả kinh tế cao so vớicác cây trồng và công việc khác Hồng Vân có tiếng là đất sở hữu nhiều bàn tayvàng trong lĩnh vực cây cảnh, và được biết đến ở những sự kiện trưng bày cây cảnh
và cây nghệ thuật mang tầm cỡ quốc gia
Theo thống kê đến thời điểm hiện tại làng Cơ Giáo có khoảng hơn 30 hộ,làng Xâm Xuyên khoảng hơn 20 hộ vẫn duy trì các mô hình cây cảnh Các mô hìnhcây cảnh đã kết hợp vừa sản xuất, vừa khai thác du lịch như: mô hình sinh thái của
hộ anh Chí thôn Cơ Giáo; mô hình nông trại giáo dục của hộ anh Quỳnh thôn XâmXuyên; mô hình sản xuất đồ đá mỹ nghệ và đồ cổ của anh Tuấn thôn Cơ Giáo; môhình nhân giống và bảo tồn các giống hoa hồng quý của anh Mợi, anh Tráng Các
mô hình vưà áp dụng sản xuất vừa khai thác du lịch đã tạo ra rất nhiều điểm mới và
để lại ấn tượng cho khách du lịch trải nghiệm khi đến Hồng Vân
Do bị ảnh hưởng suy thoái kinh tế nên hiện nay số hộ tham gia sản xuất, giátrị cây cảnh đã giảm đi rất nhiều Hiện nay nhiều hộ gia đình không còn mặn mà vềnghề cây cảnh mà đã đổi sang những công việc khác để kiếm sống như ở thôn CơGiáo còn 14% hộ, Xâm Xuyên là 5% hộ dân theo nghề sinh vật cảnh Hai làng hiệnnay đều chưa đảm bảo số hộ tham gia làng nghề tối thiểu là 30%
Những hộ theo nghề thì chưa quan tâm chú trọng vào việc đưa du lịch vàokết hợp với phát triển làng nghề nên chưa mang lại hiệu quả kinh tế
2.2.3 Công nghiệp – Dịch vụ
* Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng
Giá trị sản xuất CN – TTCN – XD giảm nhưng không đáng kể Tỷ trọng ngành CN – TTCN – XD năm 2011 đóng góp 30,63% thu nhập trên địa bàn Các ngành nghề chủ yếu: Nghề trồng cây cảnh, xây dựng, gò hàn, xay xát, chế biến thựcphẩm
Trang 26* Thương mại, dịch vụ, du lịch
Thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng khá lớn, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương Năm 2011 tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ là 47,5%.Thu nhập ngành thương mại dịch vụ đạt 38 tỷ đồng
Năm 2014, Hồng Vân đã cơ bản đạt 19/19 tiêu chí NTM, được UBND Thànhphố Hà Nội công nhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011-2015
2.3 Hoạt động Du lịch tại địa phương
2.3.1 Mô hình Nông trại giáo dục
Hợp tác xã (HTX) Sản xuất, kinh doanh hoa cây cảnh và dịch vụ Anh Tùng,cho biết, HTX thành lập năm 2015, chuyên nghề sản xuất hoa cây cảnh, du lịch họcđường và liên kết chuỗi du lịch với các địa phương trong vùng Hiện, trang trại củaông có hàng ngàn cây cảnh, cây uốn thế nghệ thuật; các mặt hàng hoa tươi nhiềuchủng loại như: hồng, lan, huệ, quỳnh; cây cảnh thế cũng đủ loại: tùng, cúc, trúc,mai…và hàng ngàn giò phong lan rừng
Ngoài ra, còn có nhiều cây trồng, vật nuôi: bò, lợn, dê, thỏ; gà vịt, nganngỗng… để phục vụ học sinh các lứa tuổi từ mẫu giáo đến đại học Nhất là học sinh,sinh viên các trường đại học; đặc biệt là sinh viên ngành du lịch năm thứ 2, 3 đến đểtrải nghiệm thực tế
Mục tiêu của nông trại là đón tiếp tất cả các loại đối tượng đến tham quan,học tập Sau gần 4 năm hoạt động đã có rất nhiều đoàn khách đến với nông trại.Thời gian hoạt động hầu như diễn ra quanh năm, từ tháng 9 dương lịch đến TếtNguyên đán, sau Tết lại bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, và vòng quay lặp lại từ đầu
Được biết, khách đến với trang trại nhiều nhất là lứa tuổi mẫu giáo, mỗi ngày
có tới 5 - 10 lớp, mỗi lớp 20 - 30 học sinh Tại đây các cháu được tìm hiểu về côngviệc của nhà nông, tận mắt nhìn thấy những loài vật quen thuộc như bò, lợn, dê, thỏ;
gà, vịt, ngan ngỗng; các loài hoa, cây cảnh Tham quan cánh đồng lúa, khu sản xuấthoa, cây cảnh, cây ăn trái; sản xuất nông nghiệp sạch; trải nghiệm kỹ năng sống, kỹnăng sinh tồn; kỷ luật quân đội; kỹ năng phòng cháy; kỹ năng thuyết trình trướcđám đông
Trang 27Ngoài ra, các con còn được tập bơi, học nấu ăn…, các tiết dạy kỹ năngthường diễn ra từ 15 – 20 phút; 1 buổi tham quan như vậy học sinh phải trải qua 20
mô hình Đặc biệt, nông trại còn phục vụ ăn, uống và nghỉ trưa, thức ăn là các sảnphẩm sạch của nông trại: gà, cá, vịt, trứng, thịt lợn sạch Theo đó, các suất ăn có giá
từ 50.000 - 60.000, hoặc 100.000 - 150.000 đồng/suất (hiện mỗi ngày có 30 - 50suất ăn trưa)
Ngoài các đoàn khách lứa tuổi thần tiên, còn có nhiều học sinh phổ thông,sinh viên năm thứ 2, 3 các trường đại học; cao đẳng sư phạm; mầm non, thườngxuyên ghé thăm nông trại Khách nước ngoài 5-7 tốp/tuần, mỗi đoàn thường có 5 -
15 người (có phiên dịch đi theo) Vé vào cửa 30.000 - 40.000 đồng/người; kháchnước ngoài đang trong quá trình quảng bá nên chưa thu phí (dự kiến sẽ thu 5 –10USD/người, năm 2018 sẽ tiến hành thu phí)
Theo đó, khách được ở trong nông trại cả ngày, có chỗ nghỉ trưa thoángđãng, sạch đẹp Sinh viên ngành du lịch được hỗ trợ vé vào cửa và phí tham quanhọc tập Mùa hè, có dạy bơi cho học sinh các lứa tuổi, học theo khóa (15 – 20ngày/khóa), hiện đã dạy được 2 khóa
Ngoài sự nỗ lực của nông trại, toàn xã Hồng Vân đang phát triển theo hướng,lấy kinh tế du lịch làm mũi nhọn Tất cả các ngành từ sản xuất nông nghiệp đến vănhóa xã hội; an ninh trật tự, giáo dục, y tế đều có mục tiêu hoạt động nhằm đến đíchphát triển du lịch theo hướng bền vững
Hiện, tất cả tuyến đường, ngõ xóm, cổng thôn, cổng gia đình trên địa bàn xãđều đã tiến hành trồng hoa, cây cảnh và di tu cảnh quan du lịch ở các khu vực côngcộng Đặc biệt, Hồng Vân đã duy trì ngày chủ nhật xanh, mỗi gia đình dành 1buổi/ngày, dọn vệ sinh, chăm sóc hoa, cây cảnh
Trang 28Biểu 2.1 Lượng khách đến Nông trại giáo dục từ năm 2015-2018.
2.3.2 Mô hình HTX hoa, cây cảnh và dịch vụ Hồng Vân
Với mô hình HTX kiểu mới ở Hồng Vân là phát huy thế mạnh của từng hộ
để tạo thành một chuỗi mắt xích Trong HTX, mỗi hộ chịu trách nhiệm một khâu,
hộ thì làm giống, hộ trồng nguyên liệu, hộ thu gom để sơ chế, hộ đâu tư công nghệ,máy móc đóng gói sản phẩm để bán ra thị trường
Mô hình của HTX là các hộ xã viên vẫn sản xuất trên thế mạnh của gia đìnhnhưng được HTX hỗ trợ về kỹ thuật làm giống, kỹ thuật trồng, kỹ thuật sơ chế.Trong hợp tác xã không có yếu tố cạnh tranh nhau mà thúc đẩy nhau sản xuất vìmỗi hộ tham gia được giao thực hiện một khâu trong một chuỗi dây chuyền
Một điểm mới khác của mô hình HTX hoa cây cảnh và dịch vụ Hồng Vân làcác thành viên hỗ trợ nhau rất hiệu quả, khi người này có khách hàng thì sẽ giớithiệu cho người kia, vì mỗi người đã được giao ở một khâu nhất định Các hộ nôngdân khi tham gia vào hợp tác xã phải sản xuất theo yêu cầu kỹ thuật Các hộ phảilàm theo quy trình Nếu hộ làm khâu trước không đạt tiêu chuẩn, thì hộ ở khâu sau
sẽ không nhập hàng Như vậy các hộ đã tự kiểm soát để đảm bảo chất lượng của sảnphẩm
Đặc biệt là đối với hộ chịu trách nhiệm sản phẩm đầu ra cho HTX, khinghiên cứu thị trường, thấy sản phẩm kinh doanh tốt sẽ thông tin lại cho hộ trongHTX để tăng diện tích trồng nguyên liệu Với chuỗi mô hình như vậy, hiện nayHTX hoa cây cảnh và dịch vụ Hồng Vân đang áp dụng cho sản phẩm Trà Chùm
Trang 29ngây - Đây là một sản phẩm trà được đánh giá là giàu chất dinh dưỡng, thực sự tốtcho sức khỏe.
Ngoài ra, trong HTX còn có các mô hình: Chăn nuôi theo tiêu chuẩnVietgap, hoa cây cảnh, rau an toàn Các mô hình hoạt động hiệu quả dưới sự hỗ trợcủa HTX trong xây dựng thương hiệu, lo các hành lang pháp lý về xây dựng chấtlượng sản phẩm hợp quy với cơ quan chức năng, hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên,lên kế hoạch sản xuất hoa, cây cảnh cho các thành viên để mỗi hộ sản xuất một loạitheo năng lực sở trường
Cùng với quy hoạch sản xuất hoa cây cảnh gắn với du lịch cộng đồng đã tạomột diện mạo xanh, sạch đẹp cho miền quê này Sự hoạt động hiệu quả của HTXhoa cây cảnh và dịch vụ Hồng Vân đã cho thấy, nếu người nông dân biết cùng nhauliên kết, tập hợp nhau lại cùng tổ chức sản xuất, phân công lao động…thì ở đó sẽ cómột nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chuyên canh bền vững, nông dân có thểlàm giàu ngay trên mảnh đất của mình./
từ 3 - 4 triệu đồng/người/tháng HTX đã xây dựng được mô hình khép kín, từ việc
tự trồng nguyên liệu đến sản xuất, chế biến và tìm đầu ra cho sản phẩm cây chùm
Trang 30ngây Trà chùm ngây và các sản phẩm từ cây chùm ngây của HTX Hồng Vân đã cómặt ở hầu khắp thị trường các tỉnh, thành cả nước.
Phỏng vấn chị Nguyễn Thị Thanh Loan, thành viên HTX Hồng Vân, chị chia sẻ: hơn 2 năm nay gia đình chị đã tham gia mô hình HTX kiểu mới, sau khi tham gia vào HTX gia đình chị đã trồng cây chùm ngây rộng hơn 2ha (làm nguyên liệu cho trà chùm ngây, là một sản phẩm nông nghiệp sạch đặc trưng của xã) Trồng cây chùm ngây đem lại hiệu quả cao, trừ chi phí chăm sóc, cây giống mỗi năm gia đình chị thu lãi 15-20 triệu đồng, gấp 3-4 lần so với trồng lúa và ngô trước đây, cây chùm ngây đặc tính là dễ trồng và dễ chăm sóc, ngoài công việc chăm sóc cây chùm ngây thì chị vẫn có thể cấy lúa, trồng ngô, làm thêm nhiều việc khác để có thêm thu nhập.
2.3.5 Làng nghề sinh vật cảnh Xâm Xuyên, Cơ Giáo
Hiện nay xã có 2 thôn là Xâm Xuyên và Cơ Giáo đã được Thành phố công nhận làng nghề sinh vật cảnh truyền thống Với 130 hộ tham gia, diện tích trồng hoacây cảnh của xã chiếm 50% diện tích đất nông nghiệp, thu nhập từ hoa, cây cảnh cao gấp hàng chục lần cấy lúa, với mức bình quân từ 300 – 400 triệu đồng/hộ/năm Đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa khang trang, 7 tuyến đường lớn trong xã được trồng các loại hoa ban, phượng, hoa sữa, hoàng yến… tạo cảnh quan sinh thái thu hút khách du lịch Với mô hình nông trại giáo dục của anh Phạm Văn Quỳnh (thôn Xâm Xuyên), hiện nay, những ngày cao điểm, xã đón hàng chục lượt xe chở khách đến tham quan và trải nghiệm thực tế tại địa phương
Các mô hình vừa áp dụng sản xuất vừa khai thác du lịch đã tạo ra rất nhiều điểm mới và để lại ấn tượng cho khách du lịch trải nghiệm khi đến Hồng Vân
Trang 31Chia sẻ với anh Nguyễn Văn Chí, chủ nhà vườn Đức Chí cho hay: với phương thức hoạt động mới của các mô hình trong xã, nhà nhà thi đua làm đẹp vườn, đẹp khuôn viên gia đình, cho ra đời nhiều loại hoa, cây cảnh mới, giữ gìn đường làng ngõ xóm sạch đẹp Nhờ đó du lịch làng nghề ở xã Hồng Vân đã có bước chuyển mới
về chất lượng và dịch vụ, khách đến đây được tham quan, mua sắm nhiều sản phẩm làng nghề thú vị Từ chỗ chỉ vài trăm khách về thăm làng nghề mỗi tháng, thì giờ vào tháng cao điểm, xã đã đón vài ngàn du khách Trước khi có du lịch, chủ yếu anh phải đi khắp cả nước để tìm hiểu, học hỏi giúp phát triển cho những nghệ nhân cây cảnh, nhưng sau khi được UBND xã cho tập huấn về cách làm du lịch, anh đã
về cải tạo lại chính khu vườn của mình, trang trí, sắp xếp lại khu vườn để có những dịch vụ tốt nhất cho khách du lịch trải nghiệm Hiện nay nhà vườn của anh Chí là một trong những nhà vườn đẹp nhất tại xã Hồng Vân.
2.3.6 Mô hình cây xanh, đá mỹ nghệ Đức Giang
Hiện nay với trên dưới 40 công nhân lành nghề, chuyên khai thác đá thônguyên khối – tiền đề để chế tác thành những sản phẩm tinh túy Nhằm kế thừa vàphát huy truyền thống văn hóa dân tộc Mô hình cây xanh, đá mỹ nghệ cao cấp ĐứcGiang đã cho ra đời những sản phẩm đá mỹ nghệ không chỉ phong phú về chủngloại và đa dạng về mẫu mã mà còn chứa đựng cả tâm đức, tâm hồn và tâm linh sâusắc Những sản phẩm gây được tiếng vang lớn trên thị trường phải kể đến: Từ cáccon giống bé đến lăng mộ, tượng đài, bể cảnh, chậu cảnh… Ngoài ra, còn nhận tưvấn và thiết kế các công trình về đá tự nhiên cho những khách hàng có nhu cầu Dấu
ấn của đá mỹ nghệ Đức Giang có mặt ở các công trình, hạng mục cấp quốc gia…,vươn xa ra thế giới, chiếm trọn lòng tin, phù hợp với thị hiếu của khách hàng
Khách du lịch đến với đồ đá mỹ nghệ Đức Giang sẽ được ngắm nhìn cácnghệ nhân chế tác đá chuyên nghiệp chế tác những tác phẩm tinh xảo từ nhữngphiến đá nguyên khối, ngoài ra khách du lịch sẽ được chụp ảnh và mua những sảnphẩm lưu niệm tại đây với giá thành rất phải chăng
2.3.7 Hoạt động khai thác tài nguyên du lịch nhân văn
2.3.7.1 Đền thờ Mẫu thoải – Mẫu địa
Trang 32Đền Xâm Thị nằm ở thôn Xâm Thị, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, HàNội Đền Xâm Thị thờ Mẫu Thoải và Mẫu Địa.
Đền đã có nhiều lần trung tu, tu bổ và đợt trùng tu lớn nhất vào năm 2013 bằng kinh phí của các con nhang, đệ tử, khách thập phương cung tiến So với trước đây, ngôi đền đã khang trang, tố hảo lên rất nhiều Đền ngày nay đã được phối thờ thêm các vị thánh khác trong Tứ Phủ
Không gian kiến trúc tâm linh Đền Xâm Thị
Đền Xâm Thị nằm sát bờ sông Hồng và nằm sát chân đê Từ trên đường đê chúng ta có thể nhìn thấy Tam Quan và mặt lưng của ngôi đền Phía trước ngôi đền
là dòng sông hồng nặng trĩu phù sa
Nằm sát Tam Quan, phía trong đền là một cây đa có hàng trăm tuổi rủ bóngmát cho ngôi đền tạo nên một khung cảnh tâm linh huyền bí Qua cửa Tam Quan chúng ta sẽ nhìn thấy dòng sông Hồng thơ mộng, hiền hòa Kế bên tay phải là Ban
Cô Chín, Ban Chúa Thác Bờ và gian đại bái thờ Mẫu Địa, rồi đến gian đền chính thờ Mẫu Thoải Phía trước đền chính là Lầu Đại Bái nằm dưới gốc cây si cổ thụ xanh rì Dưới tán si là Ban thờ Cô Bơ, Cậu Bơ Tất cả tạo nên một không gian thơ mộng, sơn thủy hữu tình
Đền Xâm Thị có hai nhà Đại Bái Nhà Đại Bái lớn thờ Mẫu Thoải, nhà đạibái nhỏ nằm ở bên cạnh là nơi thờ Mẫu Địa
Trang 33Nhà Đại Bái thờ Mẫu Thoải gồm tiền cung, trung cung và hậu cung Chính giữa tiền cung là Ban Công Đồng, bên phải là Ban Trần Triều, bên trái là Cung Sơn Trang Trung cung gồm có: Chính giữa thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và Tứ Phủ Chầu
Bà, bên phải là Ban Chầu Đệ Tam, bên trái là Ban Chầu Đệ Nhị Hậu cung thờ tượng Mẫu Thoải Đây chính là ngôi tượng cổ từ xa xưa Nghe nói, có nhiều lần nhàđền xin tô sửa lại nhưng đều không được
Trong không gian khuôn viên đền có các ban thờ: Lầu Chúa Thác Bờ,Lầu Cô Chín, Lầu Cô Bơ Thoải và Cô Bé, Lầu Cậu Bơ Thoải và Cậu Bé
* Thần tích về Mẫu Thoải tại Đền Xâm Thị
Căn cứ theo tài liệu của nhà đền đã được các cơ quan văn hóa nghiên cứu vàghi chép thì tóm tắt thần tích về Đền Xâm Thị và cũng chính là thần tích về Mẫu Thoải ở Đền Dầm cách đó hơn 2 km
Vào thời kỳ sơ khai mở nước Văn Lang ta, trên thiên đình có nàng tiên nữ thứ 3 đến chầu thượng đế, chẳng may làm vỡ chén ngọc, trăm quan nghị tội, giáng xuống thủy cung làm con gái Thủy Quốc Động Đình Long Vương, sau gả cho Đô Đốc Côn Bằng đại tướng quân Kinh Xuyên Vợ lẽ của Kinh Xuyên là Thảo Mai, thấy nàng tài sắc bèn đem lòng ghen ghét, giả làm một bức thư, tố cáo Kinh Xuyên
vu nàng tư thông phản bội chồng Kinh Xuyên giận dữ đầy nàng xuống trần thế, 10 năm sống ở núi Ngọc Hồ Kim Quy, làm bạn với chim muông cầm thú, sinh sống bằng hoa trái qua ngày Một hôm thấy gió lướt mặt hồ, mây đùn lưng núi, tưởng nhớ quê nhà, thương cha nhớ mẹ, lòng buồn bã rối bời, nhân đó nàng ngâm một bài thơ rằng:
"Từ biệt Kinh Xuyên trải mấy thu
Trời xanh mây lượn nhớ quê nhà
Tiêu dao trần thế bao ngày tháng
Cố hương thủy quốc biết nao về."
Tiếng ngâm chưa dứt mà dòng lệ chứa chan, tựa vào gốc cây, tinh thần mê man lúc say lúc tỉnh.
Trang 34Lại nói thời ấy có 1 người ở xã Ngọc Lạp, huyện Thanh Miện, phủ Hồng Châu, đạo Hải Dương, họ Liễu, tên Nghị, là danh sĩ thời bấy giờ Một hôm Nghị cùng 1 vài tên ra đồng chèo thuyền đến Ngọc hồ ngắm cảnh, để hưởng thú vị ngư ông Thuyền đến hồ Kim Quy, bỗng nghe tiếng ngâm thơ văng vẳng, lời lẽ thảm thê, trong lòng lấy làm lạ, bèn nói với bọn ra đồng đi theo rằng: "Không biết thần tiên hay ma quỷ mà lại có lời lẽ thê thảm đến như vậy." Ông bèn cho người dừng thuyền bên bờ quan sát thấy người con gái tuổi độ 18, mi xanh như liễu rủ, má thắm tựa hoa đào, dẫu tiên nữ ở cung trăng, hay phi tần nơi thượng giới, cũng không thể hơn được Ông cười và bảo rằng:
Cốt cách trần thế mà dáng vẻ thần tiên, may mắn nay gặp gỡ, nếu
không phải là trăng rằm thì cũng là băng tuyết quy hòa nhập lại.
Nhân đó ông mới hỏi về nguồn gốc nguyên do, người con gái ứa lệ thưa rằng:"
Thiếp vốn là con gái Động Đìng Quân là vợ của Kinh Xuyên, chẳng ngờ thiên xứ dáng họa vô cớ, nay may gặp ngưởi tốt ở đây, dám xin người có kế sách
gì cứu giải oan khiên, thiếp nguyện thề có sông núi không quên ơn nghĩa.
Liễu Nghị lại hỏi:
Dương gian thủy quốc cách biệt lấy gì mà nghe thấu được?
Nàng nói :
Thiếp có một cây kim thoa trao cho ngài, cảm phiền đi đến bờ biển Đông Hải, hễ thấy cây Ngô Đồng thì cầm cây Trâm gõ vào ba tiếng tất thảy thủy cung sẽ đều nghe biết.
Nói xong nàng đứa một phong thư nói rõ sự việc rồi đưa thứ và cây Trâm cho Liễu Nghị Sau khi từ biệt người đẹp Liễu Nghị gắng sức lên đường, qua bẩy ngày đêm đến cửa biển Đông Hải (nay là cửa Diêm Hộ huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình) bỗng thấy cây ngô đồng cổ thụ, ông làm đúng lời người con gái dặn, tay cầm kim thoa gõ vào gốc cây ngô đồng, bỗng thấy một con rắn trắng nổi lên khỏi mặt nước, Liễu Nghị đem sự việc trên nói với rắn, rắn trắng rẽ nước đưa ông về thủy phủ Đến nơi ông vào bái yết Long Vương trình rõ sự việc và đem thư cùng trâm
Trang 35vàng dâng lên Long Vương xem xong thư bèn truyền rắn trắng đưa Liễu Nghị về lầu Nam dọn tiệc khoản đãi Ngay hôm đó truyền sai con trai là Xích Lân và quân thủy tiến thắng đến xứ Ngọc Hồ Kim Quy đón công chú về thủy quốc.
Ngày mùng 9 tháng Giêng vua Long Vương gả công chúa cho Liễu Nghị
và phong làm Phò Mã Quốc Tể quận công đồng thời cho cùng ở thủy phủ với công chúa Sai lục bộ thủy tề đầy Kinh Xuyên và Thảo Mai về Ngọc Hồ Kim Quy.
Lại nói từ khi công chúa về thủy quốc tất cả dân hai bên bờ sông Cái từ thượng nguồn nơi Ngọc Hồ Kim Quy đến hạ lưu Ba Lạt - Thái Bình đều mắc bệnh dịch Dân chúng cùng quan lại bèn lập đàn cầu nguyện và dâng biểu lên Thượng
đế Tại vùng đền Xâm Thị ngày nay, vào nửa đêm dân làng đều nghe thấy tiếng chó sủa liên hồi và mơ thấy một người con gái mình mặc áo trắng mang đai ngọc lưu ly ngự trên rồng vàng bay lên từ mặt nước nói rằng :
Ta là con gái động đình Long Vương, Thủy Tinh Ngọc Dung Công Chúa, Thượng đế sắc phong cho ta giúp nước cứu dân cõi Nam Giao, nay dân chúng gặp tai họa ta phụng lênh thượng đế đến cứu giúp.
Sau được bình yên lên dựng miếu thờ viết thần vị thì ắt được nhân khang vật thịnh.
Trời sáng các vị bô lão cùng dân làng ai cũng nói có cùng giấc mơ như vậy,
và bệnh tật dần tiêu tan hết Dần làng bèn cùng nhau xây dựng ngôi miếu thờ hàng năm Quốc cầu, dân đảo đều linh ứng rõ rệt.
Trang 36Đương đêm bỗng thấy sóng nổi cát bay mây trời vần vũ, một chốc bống thấy mặt nước long lanh ánh bạc một người tiên nữ mặc áo trắng, đai lưu
ly cưỡi rồng vàng bay lên mặt nước Vương cả kinh nhưng tiên nữ bèn nói:
Ta phụng mệnh thượng đế hộ quốc an dân, nay Quốc Công Tiết Chế hành quân qua đây xin âm phù giết giặc.
Quả nhiên ít lâu sau thuyền giặc kéo qua Xâm Dương thì bỗng dưng nổi sóng to gió lớn thuyền bè quân lương đều chìm cả, giặc chết vô số.
Các trận chiến trên Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương Đô, Đông Bộ Đầu Đều có Thánh Mẫu linh phù làm sóng to gió lớn chìm tàu bè giặc chết đuối nhiều giúp quân ta thừa thắng.
Vận nước thái bình, triều đình luận tội phong công Quốc Công bèn làm biểu tâu lên rõ sự việc linh phù ở Xâm Thị Triều đình luận công Thánh Mẫu ban thưởng cho dân Xâm Thị tiền bạc xây dựng ngôi đền to lớn và ruộng đất để lo việc cúng tế hàng năm đồng thời sắc phong cho Thánh Mẫu.
* Vị trí Đền Xâm Thị trong việc thờ Mẫu Thoải
Tại vùng Xâm Dương và Xâm Thị, hai địa danh chỉ cách nhau 2 km có chung một thần tích về Mẫu Thoải và thánh tích của Mẫu Thoải giúp vua Trần đánhgiặc Ngôi đền cũng được các triều đình ban nhiều mỹ tự và sắc phong Sắc phong sớm nhất là từ 1633 và muộn nhất là 1924
Như vậy, có thể coi Đền Xâm Dương và Xâm Thị là hai ngôi đền gắn liền với thánh tích Mẫu Thoải tại vùng Thường Tín Chính thế, khó có thể nói đền nào làthờ chính và đền nào là thờ vọng ở nơi này
Mẫu Thoải được phát tích tại vùng Tuyên Quang còn vùng Xâm Dương,Xâm Thị là nơi Mẫu Thoải hiển linh giúp vua Trần đánh giặc Vì vậy, có thể coiĐền Xâm Thị là một trong hai đền chính thờ Mẫu Thoải tại vùng đất linh thiêngnày
Khắp cả nước cùng còn một số đền thờ vọng khác Nổi bật là đền Mẫu ThoảiHàn Sơn gắn liền với tích Mẫu Thoải hiển linh giúp vua Lê Lợi đánh giặc Tại HàNội cũng có một ngôi đền nổi tiếng thờ Mẫu Thoải đó là Đền Ghềnh Tuy nhiên,
Trang 37Mẫu Thoải tại đền Ghềnh được coi là sự ẩn mình của Công Chúa Lê Ngọc Hân - vợvua Chiêm Thành Tại Lạng Sơn có ngôi đền thờ Mẫu Thoải ngay trong thành phố Ngoài ra, Mẫu Thoải luôn được thờ trong Cung Tam Tòa Thánh Mẫu tại các đềnphủ thờ Tứ Phủ.
Biều 2.3 Lượng khách đến đền Mẫu - Xâm Thị năm 2019
2.3.7.2 Nhà thờ giáo xứ Cẩm Cơ
Giáo xứ Cẩm Cơ về địa dư hành chính thuộc thôn Cơ Giáo, xã Hồng Vân,huyện Thường Tín – Hà Nội Trong Giáo phận, xứ Cẩm Cơ thuộc hạt Phú Xuyên,Tổng Giáo Phận Hà Nội Xứ Cẩm Cơ đã thành lập từ lâu gồm họ nhà xứ Cẩm Cơ
và bốn họ lẻ : Tự Nhiên, Vĩnh Lộc, Phú Mỹ và Nội Thôn, với số giáo dân 1.326người Người dân nơi đây sống tập trung chủ yếu bằng nghề nông Từ xa xưa, cộngđoàn tín hữu đã dựng một ngôi nhà thờ bằng tre, lợp bằng lá để làm nơi thờ phượng
và sinh hoạt
Năm 1927, ngôi nhà thờ được xây bằng gạch, lợp ngói có tổng diện tích :192m2, trong đó chiều dài 24m, chiều rộng 8m, và ngọn tháp cao 17m Trải qua thờigian, nhà thờ đã bị xuống cấp trầm trọng, đặc biệt qua hai cuộc chiến tranh Mỹ vàPháp; như bom đánh gần của Mỹ và đạn Móc Trê của Pháp làm rạn nứt và hư hỏngnhiều phần ngôi thánh đường Cũng trải qua dòng thời gian, Giáo phận, giáo xứ vàcộng đoàn giáo dân trong xứ cũng đã trùng tu sửa chữa, nhưng vẫn không bảo đảm
an toàn cho các buổi cử hành phụng vụ
Trang 38Xét thấy tình hình thực tế là cần thiết, cũng như đáp ứng lại nguyện vọng củagiáo dân về xây dựng ngôi thánh đường mới, cùng với sự đồng ý của bề trên giáophận cũng như thủ tục cấp phép giấy tờ xã hội đã đầy đủ.
Vào ngày 17 tháng 04 năm 2012, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm Cha An-tônTrần Quang Tiến Giám Đốc Trung Tâm Hành Hương Đền Thánh Lê Tùy quảnnhiệm thêm Giáo xứ Cẩm cơ Sau một tháng tiếp xúc và lắng nghe những nguyệnvọng của bà con giáo dân, Cha An-tôn đã bàn bạc với Ban Hành Giáo, và Ban KiếnThiết xúc tiến việc xây dựng nhà thờ mới
Ngày 13 tháng 05 năm 2012, nhằm ngày lễ Đức Mẹ Fa-ti-ma, Cha An-tôn đãchủ sự Thánh lễ cầu Bình An cho việc Khởi công Đào móng xây dựng nhà thờ mới.Ngôi nhà thờ mới có diện tích 458,4m2; trong đó hai tháp cao 28,3m, chiều dài38,2m, chiều rộng 12m
Việc xây dựng nhà Chúa là một quá trình dài, tốn rất nhiều công sức tiền của
Vì vậy, xin anh chị em Cẩm Cơ đang sống tại quê hương cũng như anh chị em xaquê, và cộng đoàn dân Chúa trong và ngoài giáo phận hãy không ngừng cầu nguyện
và giúp đỡ vật chất, để ngôi thánh đường xứ Cẩm Cơ sớm được hoàn thành
2.3.7.3 Khu tâm linh khác
Theo Đại Nam nhất thống trí, đất này cũng như phủ Thường Tín nói chung,
từ đời giáp nguyên thuộc quận Giao Chỉ, từ thời Trần thuộc châu Thượng Phúc.Thời thuộc Minh là châu Phúc Yên cho đến đời Lê Quang Thuận mới đổi tênthành đất Thường Tín nam sơn thượng Hà Nội
Trang 39Chúng tôi lưu ý đến ngôi chùa Vân La Thượng là pho tượng A di đà, khôngphải ở phong cách mà ở quy mô Phật A di đà là một vị Phật ngự trị ở cõi tâyphương cực lạc, đi theo Đức Phật còn có Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí
Bồ Tát tiếp dẫn chúng sinh Còn ý nghĩa thực tiễn của Phật Giáo Việt Nam tronglịch sử, ý kến của nhà nghiên cứu Mỹ thuật Trần Lâm Điền, khi khảo sát cáchbài trí tượng Phật thờ trong các ngôi chùa cổ ở miền Bắc Việt Nam dưới triềunhà Lý phật điện chính là một tòa nhà nằm trong tổng thể kiến trúc trong đóbằng những di vật để lại cho chúng ta biết rằng ý kiến của cố giáo sư Trần LâmĐiền
Cách bài trí tượng trong các ngôi chùa của miền Bắc Việt Nam, phật điệnchính là ngôi tháp hay tòa nhà nằm ở trung tâm của quần thể kiến trúc, tượng thờkhông nhiều, thông thường chỉ có một pho tượng chính được làm to hơn cả đặttrên một bệ Bệ tượng lớn nằm riêng một không gian với bộ ba tượng A di đà,Quan thế âm bồ tát, Đại thế trí bồ tát là được xây dựng từ thời nhà Lý
Tượng thờ trong Phật điện không nhiều, thông thường một pho tượng chínhlàm to hơn cả đặt trên một bệ tượng riêng như chùa một cột – chùa Long Đọi,chỉ thờ Quan thế âm Bồ tát, chính xuất phát từ lịch sử Phật giáo Việt Nam, vàkhi xem xết cụ thể tượng phát ở chùa La Thượng, mà chúng tôi cho rằng, chùa
La Thượng với dấu tích bệ tượng lớn và bộ ba tượng A di đà, Quan thế âm Bồtát, Đại thế chí Bồ tát là được xây dựng dựng thì thời nhà Lý
Đất này tổng Vân La nói riêng và phủ Thường Tín nói chung
Theo Đại Nam nhất thống trí, từ đời Hán Nguyên là quận giao chỉ từ thời vềtrước thuộc châu Thượng Phúc, thời thuộc Minh Châu Phúc Yên, đến thòi LêQuang Thuận mới đổi tên thành đất Thường Tín, thuộc trấn Sơn Nam Thượng,năm Cảnh Hưng thứ 2 thuộc lộ Sơn Nam Đời Tây Sơn thuộc Nam Thượng, đếnchiều Gia Long vẫn giữ như thế, năm Minh Trị 3 thuộc trấn Nam Sơn, nămMinh Trị 10 đổi là tỉnh Hà Nội
Trang 40Từ thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 tổng Vân La là một đơn vị hành chính của nướcđương thời, cho đến năm 1947 tổng Vân La không còn nữa , 2 tổng Vân La vàtổng Xâm hợp lại thành xã Hồng Vân - huyện Thường Tín (như ngày nay).Tên gọi địa danh di tích đều gắn bó với nhau từ dấu tích, văn bia, sắc phong,truyền thuyết và huyền thoại đến nay được gọi là làng Vân La Thượng.
Chùa làng là chùa làng Thượng
Nói về chữ Vân La trong tổng Vân La: chữ Vân La theo Hán tự là VõngMây, đây chắc chắn là một vị cao minh Nho Giáo Lúc đầu theo truyền thuyết kểlại trên đền ảnh lúc đầu thờ Thành Hoàng chỉ có một bát phù hương ngoài trời.Võng mây còn là huyền thoại, một truyền thuyết văn hóa và lịch sử
Nói về hai chữ làng Thượng Còn dấu tích khu Đệ Tam là một giếng nước,khi có lũ về chẩy qua chùa làng Thượng và cũng qua nền ảnh thờ Thành Hoàng
và chảy dọc đến Chương Dương rồi lại chảy ra Cổng Cái Chứng tỏ ngôi chùalàng Thượng và Đình làng thượng nằm trên đầu con sông nên gọi đó là làngThượng Nên các vị cao minh nho giáo đặt tên làng theo dấu tích này
2.3.8 Hiệu quả kinh tế đạt được từ các hoạt động du lịch
Sản xuất nông cơ bản từ bỏ quảng canh, đi vào thâm canh, coi trọng hiệu quảkinh tế/đơn vị diện tích Đã có những chính sách hợp lý để khuyến khích việc khaihoang cải tạo đất chưa sử dụng để mở rộng diện tích đất sản xuất công nghiệp –dịch vụ; bảo vệ và phát triển việc trồng cây xanh tạo cảnh quan và cải thiện môitrường sinh thái
Thực hiện giao đất sản xuất nông nghiệp ổn định cùng với các chính sáchđẩy mạnh sản xuất hàng hoá đã làm cho nông dân năng động hơn, bố trí hợp lý cơcấu cây trồng, vật nuôi; phát triển nhiều vườn cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trịkinh tế cao Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng đáng kể, đưa sản lượng lươngthực có hạt bình quân mỗi năm tăng 6.000 - 7.000 tấn, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầulương thực tại chỗ cho nhân dân
Việc bố trí quỹ đất đáp ứng nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triểncông nghiệp, dịch vụ, chỉnh trang và xây dựng mới các khu dân cư đô thị, nông