Trong bối cảnh quốc tế mới và tác động của AEC đối với Việt Nam thì việc nhận diện những cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam là cần thiết, góp phần định hướng những lợ
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành:Thương mại quốc tế
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI NƯỚC TA GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG ASEAN 3
1.1 Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN 3
1.1.1 Khái niệm về Cộng đồng kinh tế khu vực và nguyên tắc thành lập Cộng đồng kinh tế khu vực 3
1.1.2 Giới thiệu về sự hình thành và sự cần thiết của việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN 10
1.1.3 Những nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC 13
1.2 Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN khi thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 15
1.2.1 Những cơ hội đối với các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN 15
1.2.2 Những thách thức đối với các Doanh nghiệp trong khu vực ASEAN 19
1.3 Các yếu tố tác động tới việc khai thác cơ hội và vượt qua thách thức của các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN 20
1.3.1 Chính sách kinh tế của các quốc gia và sự chuẩn bị ở tầm vĩ mô của các quốc gia trong khu vực 20
1.3.2 Các chính sách của Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 22
1.3.3 Chuyển dịch lao động trong khu vực 24
1.3.4 Quy mô của các doanh nghiệp 24
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI NƯỚC TA GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC 27
2.1 Cơ hội đối với doanh nghiệp Việt Nam khi nước ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 27
2.1.1 Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu 27
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ASEAN 30
2.1.3 Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp 32
2.1.4 Cơ hội tăng cường thu hút vốn đầu tư 35
2.1.5 Cơ hội phát triển du lịch 37
2.2 Thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi nước ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 39
2.2.1 Sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 39
2.2.2 Thách thức về nguồn nhân lực và lao động tay nghề cao 41
2.2.3 Bị tác động từ những ảnh hưởng chung của các nền kinh tế khu vực 43
2.2.4 Các Doanh nghiệp chưa nhận thức được các cơ hội và thách thức trong AEC 45
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc các doanh nghiệp Việt Nam khai thác cơ hội và vượt qua thách thức 47
2.3.1 Các biện pháp chuẩn bị cho hội nhập của Chính phủ Việt Nam 47
2.3.2 Vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực 48
2.3.3 Khả năng khai thác thị trường chung của Doanh nghiệp Việt Nam 49
2.3.4 Quy định về nguồn gốc xuất xứ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 50
2.3.5 Sự ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam 51
2.3.6 Các lĩnh vực được ưu tiên hội nhập trong AEC và các lĩnh vực cần chú trọng của Việt Nam 52
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIÚP DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHAI THÁC CƠ HỘI VÀ VƯỢT QUA THÁCH THỨC KHI THAM GIA VÀO CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC 55
3.1 Định hướng nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam khai thác cơ hội và vượt qua thử thách khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 55
3.1.1 Thực hiện điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại 55
3.1.2 Cải tiến trong áp dụng thuế suất trong khu vực mậu dịch tự do FTA 56
3.1.3 Hoàn thiện thể chế và ổn định các điều kiện kinh tế vĩ mô 57
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.5 Thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 60
3.1.6 Các định hướng khác 61
3.2 Các giải pháp nhằm giúp Doanh nghiệp Việt Nam khai thác cơ hội và vƣợt qua thử thách khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 62
3.2.1 Chủ động đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh và nắm bắt các cơ hội mới 62
3.2.2 Chủ động nắm bắt, cập nhật thông tin về lộ trình xây dựng và các chính sách của AEC 65
3.2.3 Các doanh nghiệp tăng cường thực hiện quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ 66
3.2.4 Tập trung phát triển nguồn nhân lực 68
3.2.5 Chủ động tham gia đóng góp ý kiến cùng chính phủ xây dựng chính sách
69
3.3 Một số kiến nghị giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội và vƣợt qua thử thách khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC 70
3.3.1 Nhà nước cần tăng cường thông tin cho doanh nghiệp 70
3.3.2 Nhà nước mở rộng khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp để doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển sản xuất 71
3.3.3 Xây dựng và phát triển các Hiệp hội của các doanh nghiệp 72
3.3.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp 72
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 1.1: Các loại hình liên kết kinh tế khu vực 5 Bảng 2.1: Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của VN sang các châu lục và theo nước/khối nước năm 2013 34 Bảng 2.2: Xếp hạng về thể chế của Việt Nam 47
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: FDI vào ASEAN và toàn thế giới, 2006 – 2012 (chỉ số 2006 = 100) 15 Hình 1.2: Đánh giá của các doanh nghiệp về mức độ hưởng lợi từ tiến trình hội nhập AEC 25 Hình 2.1: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người theo giá hiện hành 29 Hình 2.2: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và ASEAN giai đoạn 2005-2012 30 Hình 2.3: Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào 4 nước CLMV năm 2009 – 2013 36 Hình 2.4: Tỉ lệ gia tăng khách du lịch nội khối và ngoài khối ASEAN của Việt Nam 38 Hình 2.5: Tiền lương bình quân/tháng, 2012, tại các nước ASEAN 42 Hình 2.6: Năng suất lao động và tiền lương bình quân/tháng, 2012 hoặc năm gần nhất 42
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ASEAN Comprehensive Investment Agreement
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
ASEAN Community Progress Monitoring System
Hệ thống giám sát tiến bộ Cộng đồng ASEAN
Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN Economic Community
Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN Framework Agreement on Services
Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ
ASEAN Framework on Equitable Economic Development
Khuôn khổ ASEAN về Phát triển kinh tế đồng đều
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
ASEAN Investment Area
Khu vực đầu tư ASEAN
ASEAN Industrial Cooperation Scheme
Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN
Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Security Community
Cộng đồng An ninh ASEAN
ASEAN Socio-Cultural Community
Cộng đồng Văn hoá Xã hội ASEAN
The Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN Trade In Goods Agreement
Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ASEAN Tourism Strategic Plan
Kế hoạch Chiến lược du lịch ASEAN Công ty tư vấn chiến lược Boston Consulting Group
Certificate of Origin
Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
Common Effective Preferential Tariff
Chương trình Hợp tác Thuế quan Ưu đãi có hiệu lực chung Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
European Economic Community
Cộng đồng kinh tế Châu Âu
European Union
Liên minh Châu Âu
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc dân
Initiative for ASEAN Integration
Sáng kiến liên kết ASEAN
Information and communications technology
Công nghệ thông tin và truyền thông
International Labour Organization
Tổ chức lao động quốc tế
North America Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ Phó giáo sư Tiến sĩ
Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
Regional Comprehensive Economic Partnership
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
World Economic Forum
Diễn đàn kinh tế thế giới
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, xu thế khu vực hóa và liên kết kinh tế khu vực đang diễn ra hết sức sôi động và phát triển với tốc độ như vũ bão Trước bối cảnh
đó, xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế nội bộ ASEAN và nhu cầu nâng cao vị thế trên trường quốc tế, ASEAN phải nhanh chóng xây dựng một cộng đồng kinh tế riêng cho mình Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 ở Bali – Indonexia (10/2003), các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định đưa ý tưởng Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC thành hiện thực vào năm 2020 Vào tháng 1 năm
2007, nhằm mục tiêu đẩy nhanh hơn các nỗ lực thực hiện mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 12 họp tại Cebu, Phi-lip-pin đã quyết định rút ngắn thời gian thành lập Cộng đồng từ năm 2020 xuống năm 2015 Việc thiết lập AEC sẽ là một sự phát triển về chất trong quá trình hợp tác kinh tế của ASEAN, có tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế của các nước trong nội bộ khối ASEAN, trong đó có Việt Nam AEC được đánh giá như một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập toàn diện của các nền kinh tế khu vực Đông Nam Á Trong bối cảnh quốc tế mới và tác động của AEC đối với Việt Nam thì việc nhận diện những
cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam là cần thiết, góp phần định hướng những lợi ích và những thách thức mà AEC sẽ mang lại cho nền kinh tế Việt Nam cũng như các doanh nghiệp nói riêng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào một thị trường chung và thống nhất
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức
đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi nước ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015” làm đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích của đề tài
Dựa trên các cơ sở nghiên cứu, bài khóa luận sẽ đề xuất các biện pháp, khuyến nghị, góp phần thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam khi Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập vào cuối năm 2015 Muốn đạt được mục đích này, bài khóa luận cần đạt được những mục tiêu: nghiên cứu để tìm ra các đặc trưng của Cộng đồng kinh tế ASEAN khi được thành lập, tìm ra được các cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi hội nhập AEC, xác định được các
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
yếu tố tác động tới các doanh nghiệp khi hội nhập AEC, để từ đó tìm ra các biện pháp phù hợp với tình hình và bối cảnh kinh tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những nội dung cơ bản về cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC, dự đoán các cơ hội, thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc tận dung cơ hội và vượt qua thách thức của các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN cũng như các doanh nghiệp Việt Nam
- Phạm vi không gian của nghiên cứu là các doanh nghiệp tại Đông Nam Á, song, trọng tâm là các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuẩn bị gia nhập AEC
- Phạm vi thời gian của nghiên cứu là thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2015 và các giải pháp đề xuất cho năm 2015 đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng để hoàn thành khóa luận là: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp đối chiếu – so sánh, phương pháp diễn giải – quy nạp nhằm hệ thống hóa, rút ra luận cứ logic, từ đó nêu đánh giá về đối tượng nghiên cứu
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu khóa luận chia thành 3 chương:
Chương I: Nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC và các cơ
hội, thách thức đối với các doanh nghiệp trong ASEAN
Chương II: Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi nước
ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC
Chương III: Đề xuất giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam khai thác cơ hội và
vượt qua thách thức khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên PGS.,TS Bùi Ngọc Sơn Vì quỹ thời gian và trình độ cá nhân của tác giả có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong nhận được
sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn bè
Em xin trân trọng cảm ơn
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG I: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG ASEAN
1.1 Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.1.1 Khái niệm về Cộng đồng kinh tế khu vực và nguyên tắc thành lập Cộng đồng
kinh tế khu vực
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các cấp độ của liên kết kinh tế quốc tế
Liên kết kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó quá trình xã hội hóa mang
tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất diễn ra giữa các chủ thể kinh tế quốc
tế Sự hình thành một tổ hợp kinh tế quốc tế này giữa một nhóm thành viên sẽ nhằm tăng cường sự phối hợp, giúp điều chỉnh ích lợi giữa các bên, giảm thiểu khoảng phát triển giữa các bên và đưa quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Quá trình liên kết kinh tế quốc tế sẽ hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn, với các mối quan hệ kinh tế quốc tế đa dạng và phức tạp hơn (Tô Xuân Dân, 1998) Các bên tham gia liên kết kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia và vùng lãnh thổ hoặc các tổ chức doanh nghiệp
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoa, 2004, đặc điểm của liên kết kinh tế quốc tế bao
gồm:
- Liên kết kinh tế quốc tế là hình thức phát triển cao hơn của phân công lao động quốc tế Do sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướng quốc tế hóa của kinh tế thế giới, phân công lao động quốc tế đã phát triển mạnh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, đã và đang di chuyển từ phân công lao động theo sản phẩm và theo ngành sang phân công theo cấu tạo của sản phẩm và theo quy trình công nghệ Điều này dẫn đến sự hình thành một hình thức mới cho sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, được gọi là sự liên kết kinh tế quốc tế
- Liên kết kinh tế quốc tế làm gia tăng số lượng và chất lượng của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên và làm nên cơ cấu kinh tế mới trong quá trình liên kết Với việc liên kết kinh tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế sẽ thường xuyên hơn, ổn định hơn và được củng cố với mục đích phát triển lâu dài
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Liên kết kinh tế quốc tế liên quan đến và bao trùm lên mọi khía cạnh của nền kinh tế
- Liên kết kinh tế quốc tế là sự kết hợp mang tính chất liên quốc gia Bởi vậy,
nó thường chịu sự điều tiết của các chính sách kinh tế của các Chính phủ, mà nền kinh tế giữa các quốc gia không bao giờ có sự thống nhất về thể chế, trình độ phát triển và thành phần kinh tế xã hội Chính vì thế mà liên kết kinh tế quốc tế sẽ đóng vai trò điều chỉnh giữa các nền kinh tế của các nước Có thể nói, quá trình liên kết kinh tế quốc tế có tác dụng tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển thuận lợi hơn
- Trên thị trường quốc tế đang diễn ra hai luồng xu hướng có sự cạnh tranh gay gắt là xu hướng bảo hộ mậu dịch và xu hướng tự do hóa thương mại Các hình thức mới, tinh vi hơn của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có nguy cơ gia tăng nhiều hơn Trong điều kiện đó, liên kết kinh tế quốc tế đóng vai trò như một cách để trung hòa
và tạo nên các khu vực thị trường tự do cho các thành viên Tạo lập thị trường quốc
tế khu vực không có ngăn trở về hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo nên khung kinh tế và khuôn khổ pháp lý hợp lý cho việc gia tăng mậu dịch quốc tế, củng cố và mở rộng các mối quan hệ thị trường trong thị trường là điều mà liên kết kinh tế quốc tế đang hướng tới
- Quá trình liên kết kinh tế quốc tế chỉ diễn ra với hành động tự giác của các thành viên nhằm tiến hành điều chỉnh và phối hợp các chương trình phát triển kinh
tế với những thỏa thuận dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi giữa các thành viên Trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện rõ nhất việc cấp độ khu vực hóa nền kinh
tế thế giới ngày càng gia tăng là sự phát triển và gia tăng của các liên kết kinh tế khu vực như các khối EU, NAFTA, AFTA, ASEAN, APEC…Các liên kết kinh tế này còn là khuôn khổ để cạnh tranh lành mạnh giữa các nhóm nước, phục vụ cho lợi ích kinh tế quốc gia
Xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại, năm mức độ của liên kết kinh
tế quốc tế sẽ bắt đầu từ khu vực thương mại tự do ít bị cấm đoán nhất cho tới liên
minh kinh tế hoàn toàn dung hòa hoàn toàn các chính sách tài khóa, tiền tệ cũng như kinh tế - xã hội Giữa chúng là liên minh hải quan và thị trường chung Các nhóm kinh tế thường được tạo ra do nằm chung trong một khu vực địa lý nhất định
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 1.1: Các loại hình liên kết kinh tế khu vực
Hình thức liên kết kinh tế
Thương mại tự do nội khối
Chính sách thương mại chung
Dịch chuyển nhân tố sản xuất
tự do
Chính sách tiền
tệ và tài khóa chung
Một chính phủ
Khu vực mậu dịch tự do Có Không Không Không Không
Nguồn: Lê Đăng Doanh, 2014, “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Cơ hội và thách
thức đối với Việt Nam”, Báo Tia Sáng, số 20, tr.16
- Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area – FTA)
Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hay nhiều nước nhằm mục đích tự do hóa việc buôn bán một hoặc một số mặt hàng nào đó Biện pháp thường xuyên được
sử dụng là giảm bớt và xóa bỏ các công cụ thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên để hình thành một thị trường thống nhất Tuy nhiên, mỗi nước vẫn
sẽ kí kết các chính sách ngoại thương độc lập với các quốc gia khác nằm ngoài liên minh khu vực mậu dịch tự do Các ví dụ tiêu biểu cho khu vực mậu dịch tự do là khu vực NAFTA, khu vực AFTA,…Mục đích chính của khu vực mậu dịch tự do là khuyến khích phát triển thương mại trong nội bộ khối, đẩy mạnh tăng trưởng kinh
tế các quốc gia thành viên và tăng cường thu hút đầu tư từ các nước bên trong cũng như bên ngoài khối
- Liên minh thuế quan (Custom Union)
Đây là một liên minh quốc tế với nội dung bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên Tuy nhiên, điểm khác biệt so với khu vực mậu dịch tự do là, trong liên minh thuế quan, người ta thiết lập một biểu thuế quan thống nhất cho các quốc gia thành viên với phần còn lại của thế giới Trong liên minh thuế quan, chính sách thương mại chung chống lại việc mỗi thành viên giữ quyền tự quyết định các chính sách thương mại và thuế quan đối với khuôn khổ ngoài liên minh
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Thị trường chung (Common Market)
Đây là một liên minh quốc tế có đặc điểm gần giống liên minh thuế quan trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, nhưng thêm một đặc điểm hơn nữa là sự lưu chuyển
tự do của tư bản và nguồn nhân lực giữa các quốc gia thành viên với nhau, dẫn đến
sự hình thành thị trường thống nhất theo nghĩa rộng Thị trường chung có những đặc điểm cơ bản sau:
Tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và vốn thông qua khu vực tự do thương mại, loại bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế
Tự do di chuyển lao động có tay nghề
Tự do di chuyển khách du lịch trong khu vực
Tạo ra cơ sở sản xuất trong khu vực có tính thu hút FDI
Thống nhất, hài hòa hóa và giảm thiểu các thủ tục, yêu cầu hải quan, các quy định hành chính
Thống nhất các tiêu chuẩn sản phẩm trong khu vực để thích nghi với các tiêu chuẩn quốc tế
Hoàn thiện hành lang pháp lý để đẩy mạnh sự thống nhất trong cộng đồng kinh tế
Sự hòa hợp tương đối về nguyên tắc và chính sách kinh tế của các quốc gia
Ví dụ tiêu biểu cho khái niệm thị trường chung là mô hình Cộng đồng kinh tế Châu
Âu (EEC) trước năm 1992
- Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế là mức độ cao nhất của hợp tác kinh tế Trong một liên minh kinh tế, không có sự cản trở việc lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ và vốn, có sự dung hòa giữa các hoạt động và chính sách kinh tế liên quan đến tài chính – tiền tệ giữa các nước thành viên đều được dung hòa Ví dụ tiêu biểu cho Liên minh kinh tế
là Liên minh châu Âu EU
1.1.1.2 “Cộng đồng kinh tế khu vực” là một cấp độ của quá trình liên kết kinh tế quốc tế
Từ các cấp độ của liên kết kinh tế quốc tế trên cho thấy, “Cộng đồng kinh tế
khu vực” là khái niệm mở, vừa có thể đáp ứng hoặc thậm chí vượt các tiêu chí của
“thị trường chung”, cũng vừa có thể chưa đạt tới hoặc đạt tới chưa hoàn toàn với sự
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
loại trừ một số tiêu chí của “thị trường chung” Điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn
mô hình của thể chế kinh tế khu vực Theo Tuyên bố hiệp ước ASEAN II (Bali Concord II) “AEC là sự đẩy mạnh những cơ chế liên kết hiện có của ASEAN” như Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định khung về hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO),…để xây dựng ASEAN thành “một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất” Vì vậy, AEC là mô hình liên kết kinh tế khu vực được nâng cấp từ các cơ chế đã tồn tại và bổ sung thêm hai yếu tố mới là tự do di chuyển lao động có tay nghề và di chuyển vốn tự do hơn Vậy dựa trên sự phân loại về các hình thức liên kết kinh tế quốc tế và khu vực, AEC không hoàn toàn thuộc vào hình thức hội nhập kinh tế nào nêu ở trên AEC có thể được coi là một FTA “cộng” vì nội dung các cam kết trong AEC đã vượt qua khuôn khổ của một FTA (trong FTA không bao gồm yếu tố tự do di chuyển các nguồn lực sản xuất) Đồng thời, AEC cũng có thể được coi là một thị trường chung “trừ” do không có chính sách thương mại chung giữa các quốc gia thành viên Tuy nhiên, Cộng đồng kinh tế chưa đạt tới trình độ Liên minh kinh tế vì chưa thực hiện chính sách tiền tệ chung giữa các thành viên (Nguyễn Hồng Sơn, 2007, tr.37)
1.1.1.3 Điều kiện hình thành Cộng đồng kinh tế
Để được một liên kết kinh tế được gọi là “Cộng đồng kinh tế” thì liên kết kinh
tế đó cần đạt được những điều sau:
- Tự do di chuyển hàng hóa và dịch vụ
Để đạt tự do di chuyển hàng hóa, mỗi quốc gia thành viên phải tiến hành loại
bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, cùng những hạn chế về mậu dịch khác, đồng thời thiết lập một biểu thuế quan chung cho các nước trong khu vực với phần còn lại của thế giới Từ đó, điều bắt buộc là các quốc gia trong khu vực phải có một
sự hòa hợp tương đối về chính sách kinh tế nói chung và chính sách thương mại nói riêng Từ đó, các chính sách này sẽ tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để góp phần đẩy mạnh di chuyển hàng hóa và tăng cường trao đổi thương mại, hàng hóa nội khối
Đối với việc tự do di chuyển dịch vụ, các quốc gia thành viên cũng phải xóa
bỏ các hạn chế về thương mại dịch vụ, thực hiện tự do hóa bằng cách mở rộng chiều sâu và phạm vi theo những cam kết nhất định
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bên cạnh đó, các nước thành viên tiến hành dỡ bỏ những rào cản khác đối với thương mại như các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, thủ tục hải quan và tiêu chuẩn hóa sản phẩm Các nước thành viên phải thống nhất được các tiêu chuẩn
về hàng hóa và đồng thời công nhận tiêu chuẩn của nhau, nghĩa là, việc kiểm tra các tiêu chuẩn và cấp chứng nhận của một quốc gia trong cộng đồng kinh tế đối với mặt hàng cụ thể nào đó sẽ được quốc gia còn lại mặc nhiên chấp nhận như do chính quốc gia khác trong khối cấp
Ngoài ra, sự khác nhau về lợi thế so sánh giữa các quốc gia thành viên cũng nên được tận dụng để thúc đẩy trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong cộng đồng kinh tế
- Tự do di chuyển khách du lịch và lao động có tay nghề
Cộng đồng kinh tế ra đời sẽ hình thành nên một trung tâm sản xuất đơn nhất, rồi bán hàng ra thế giới trên cơ sở bổ trợ lẫn nhau giữa các khác biệt về lợi thế so sánh, nhằm phát huy hiệu quả và tăng cường sức cạnh tranh Một trung tâm sản xuất như vậy thì điều kiện tiên quyết là phải có dòng chảy tự do của lao động có tay nghề Việc tự do di chuyển lao động có tay nghề phần lớn theo các dự án đầu tư, theo luồng di chuyển vốn sẽ nâng cao sức cạnh tranh, tiếp cận công nghệ ở những quốc gia phát triển hơn và giảm khoảng cách phát triển giữa các nhóm nước khác nhau trong cùng một cộng đồng Tuy nhiên, dòng chảy ngược của lao động phổ thông từ các nước dư thừa lao động, không đóng vai trò quan trọng và không là điều kiện tối cần thiết quyết định đến sự ra ra đời và phát triển của cộng đồng kinh tế, có thể sẽ làm kéo theo một số ảnh hưởng tiêu cực như nhập cư trái phép
Tự do hóa di chuyển lao động cũng sẽ kèm theo sự đồng bộ hóa của tiền lương, bảo hiểm xã hội và một số chế độ phúc lợi xã hội khác
Bên cạnh đó, việc hài hòa đời sống văn hóa xã hội trong một cộng đồng thống nhất cũng rất cần được chú trọng Việc tự do đi lại của công dân các nước thành viên với vai trò khách du lịch hay thương nhân… cũng là điểm then chốt để Cộng đồng kinh tế nhanh chóng hình thành và hoàn thiện Các phương pháp thúc đẩy có thể được sử dụng như miễn visa trong nội bộ các nước thành viên, các chương trình hợp tác về trao đổi chuyên gia, kết hợp giữa các cơ quan về du lịch của các quốc gia thành viên nhằm xúc tiến ngành du lịch nói chung trong toàn bộ cộng đồng
Tự do di chuyển lao động tay nghề cao sẽ không những giúp cho công dân nội
bộ khối tăng cường sức cạnh tranh của cơ sở sản xuất đơn nhất, mà còn là chất keo
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dính tăng cường tình đoàn kết, nâng cao ý chính trị và tin tưởng lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên Điều này đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa bổ trợ sâu sắc cho các điều kiện khác để Cộng đồng kinh tế ra đời, phát triển và hoàn chỉnh
- Tự do di chuyển vốn
Vốn là một yếu tố cần thiết nhằm thực hiện mọi quá trình sản xuất Vốn được lưu chuyển giữa các nước thông qua dòng chảy đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp Trong một cộng đồng kinh tế, việc mở cửa các ngành nghề của các quốc gia thành viên nhằm tạo một khu vực đầu tư thu hút luồng tự do của vốn trực tiếp và gián tiếp
là một điều kiện hết sức cần thiết Các quốc gia phải tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực đầu tư và hoạt động của các dự án đầu tư bên trong nội bộ khối hoặc từ bên ngoài vào Một biện pháp khác cũng rất hiệu quả nhằm thu hút luồng đầu tư là việc kí kết và thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần Các nước cũng cần hạn chế và loại bỏ các yêu cầu
về tỉ lệ nội địa hóa, về cân bằng thương mại, cân bằng ngoại hối và doanh thu trong nước Các nhà đầu tư thành viên trong cộng đồng kinh tế cũng như thành viên bên ngoài cộng đều phải được áp dụng chế độ đối xử quốc gia
- Các điều kiện khác
Một điều kiện được nhắc đến khá nhiều khi thảo luận về Cộng đồng kinh tế là
sự thống nhất tương đối các chính sách kinh tế và trình độ phát triển kinh tế đồng đều giữa các quốc gia thành viên Nó tạo cơ sở cho việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển của Cộng đồng kinh tế hay của bất cứ một hình thức liên kết kinh tế khu vực bất kì nào bởi vì những cơ chế giống nhau này đã sẵn có ở mỗi quốc gia nay được chuyển thành cơ chế chung của cả Cộng đồng kinh tế nên sẽ không tốn thời gian hay gặp phải trở ngại trong đàm phán và điều chỉnh Thêm vào đó, những quyết định hay ý chí chính trị đồng thuận giữa các nước thành viên cũng giúp thúc đẩy Cộng đồng kinh tế hình thành và phát triển nhanh hơn Khoảng cách về trình
độ phát triển kinh tế cũng sẽ gây trở ngại cho quá trình hình thành cộng đồng vì sẽ xuất hiện những mức lợi ích khác nhau cho mỗi nước thành viên khi tham gia vào thị trường chung, tạo ra sự do dự, thờ ơ của những thành viên bị thiệt thòi hơn… Đồng thời, sự khác nhau về trình độ phát triển sẽ gây nhiều khó khăn thách thức trong việc thực thi các chính sách chung, các hiệp định nội bộ cộng đồng, cản trở
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dòng chảy tự do của các yếu tố như hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động có tay nghề Vì vậy, có thể nói, sự phát triển đồng đều của các nước thành viên cũng hết sức cần thiết để thành lập Cộng đồng kinh tế
Sự thống nhất về văn hóa, ý chí chính trị, dân chủ, niềm tin cũng là điều kiện không thể thiếu đối với sự hình thành và phát triển của Cộng đồng kinh tế Để khởi đầu cho quá trình khu vực hóa, các nước phải có một mức độ đồng nhất nhất định
về văn hóa Ngoài yếu tố văn hóa, để liên kết khu vực đạt đến trình độ thị trường chung, cần có sự trùng hợp về quyền lợi kinh tế, chính trị, an ninh Sự tranh chấp về lãnh thổ, sự khác biệt về chế độ chính trị và hệ tư tưởng giữa các nước thành viên
có thể tạo ra phân cực chính trị trong cộng đồng hay huy trì tính thỏa hiệp và tình trạng lỏng lẻo trong liên kết Sự tồn tại nhiều cấp độ của nền dân chủ và sự quá đa dạng về tôn giáo, sắc tộc ở các quốc gia cũng gây không ít trở ngại cho sự hình thành Cộng đồng kinh tế Ngoài ra, sự thiếu tin tưởng lẫn nhau sẽ khiến các nước thành viên chần chừ trong việc thực hiện các cam kết cho dù họ đã thỏa thuận về những lợi ích mà các cam kết đó mang lại (Nguyễn Thị Hoa, 2004, tr.8 – tr.11)
1.1.2 Giới thiệu về sự hình thành và sự cần thiết của việc thành lập Cộng đồng
kinh tế ASEAN
1.1.2.1 Quá trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN
Vào tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo cấp cao của các quốc gia thành viên trong ASEAN đã thể hiện trong “Tầm nhìn 2020” về việc định hướng ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng Trong cộng đồng đó, ASEAN sẽ trở thành khu vực kinh tế thịnh vượng, ổn định, có khả năng cạnh tranh cao với các cường quốc và các liên minh kinh tế khác trên thế giới, hội nhập vào khu vực châu Á nói riêng và toàn cầu nói chung Hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư trong khu vực kinh tế ASEAN sẽ được
di chuyển một cách tự do, thông thoáng hơn, kinh tế sẽ có sự phát triển đồng đều giữa các nhóm nước, giảm bớt nghèo đói và phân hóa kinh tế - xã hội Ý chí đó một lần nữa được thể hiện tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9, được diễn ra tại Bali, Indonexia vào tháng 10 năm 2003, trong Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi
là Tuyên bố Bali II) Theo tuyên bố này, ASEAN thống nhất hướng đến một Cộng đồng ASEAN liên kết, tự lập, tự cường vào năm 2020 với ba trụ cột chính, bao gồm: Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC (hợp tác về an ninh – chính trị), Cộng
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đồng kinh tế ASEAN – AEC (hợp tác trong lĩnh vực kinh tế), Cộng đồng văn hóa –
xã hội ASEAN – ASCC (hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, xã hội) Quyết tâm xây dựng AEC vào năm 2020 đã được ghi rất rõ trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II) Vào tháng 1 năm 2007, nhằm mục tiêu đẩy nhanh hơn các nỗ lực thực hiện mục tiêu thành lập Cộng đồng ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 12 họp tại Cebu, Phi-lip-pin đã quyết định rút ngắn thời gian thành lập Cộng đồng từ năm 2020 xuống năm 2015 Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC Blue print 2007) cũng đã được thông qua trong dịp này Nếu không
có gì thay đổi, ngày 31-12-2015 sẽ là ngày đánh dấu sự ra đời của Cộng đồng kinh
tế ASEAN, đồng thời cũng sẽ là ngày thể hiện sự phát triển vượt bậc về hội nhập
kinh tế quốc tế của toàn khối Đông Nam Á (Tổng quan về Cộng đồng ASEAN,
2014)
1.1.2.2 Sự cần thiết của việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN
- AEC là một đòi hỏi tất yếu của quá trình khu vực hóa sâu rộng
Liên kết kinh tế quốc tế trải rộng trên nhiều cấp độ từ khu vực mậu dịch tự do cho đến liên minh kinh tế Ngày nay, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu rộng, quốc gia hoặc khu vực nào nằm ngoài xu hướng đó sẽ mất đi nhiều cơ hội và bỏ lỡ động lực cho sức cạnh tranh Chính vì thế, khi các điều kiện thành lập AEC đã bắt đầu hình thành và có khả năng phát triển thì các nhà lãnh đạo ASEAN đã nghĩ đến việc tiếp tục đưa ASEAN tiến lên một tầm cao mới trong liên kết kinh tế quốc tế, đó chính là thành lập và phát triển AEC
- Sự phổ biến và chồng chéo của các hiệp định thương mại tự do trong khu vực
Sự bùng nổ và chồng chéo của các Hiệp định mậu dịch tự do FTA trong thời gian gần đây làm tăng tính chất phức tạp trong thương mại quốc tế, không những không đem lại lợi ích mà còn gây bất lợi cho việc thu hẹp khoảng cách phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến việc liên kết kinh tế nội khối ASEAN Xu hướng song phương mạnh hơn xu hướng đa phương làm tăng sự phân hóa, chia rẽ lợi ích trong ASEAN, gây ảnh hưởng đến vị thế là trung tâm điều phối các mối quan hệ và hợp tác trong khu vực, vì vậy, việc hình thành AEC là giải pháp tối ưu cho vấn đề này
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Việc các quốc gia tự kí kết tràn lan các hiệp định song phương sẽ gây ra một mạng lưới thuế quan ưu đãi, chính sách thương mại và đầu tư phức tạp, chồng chéo, nhiều mâu thuẫn của riêng từng nước Kết quả là sự chệch hướng và méo mó đầu
tư, gây nhiều phiền toái cho các nhà đầu tư và chính phủ, tăng nguy cơ đi chệch lộ trình liên kết khu vực như mong muốn
Do vậy, các thành viên ASEAN cần nhất trí một cơ chế chung cho FTA song phương ASEAN phải làm chủ quá trình điều chỉnh này, hướng tới thiết lập một khuôn khổ chung Vậy nên, quá trình thành lập AEC đồng nghĩa với một hành trình
đi đến mục tiêu phát triển sao cho ASEAN là điểm tựa vững vàng cho mỗi thành viên
- Tiềm năng kinh tế chưa được khai thác hết
ASEAN đã trải qua thời kì tăng trưởng kinh tế cao, tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh thu hút FDI trong thời gian trước đã giảm đi đáng kể nếu so sánh với Trung Quốc Xét về lợi thế cạnh tranh, ASEAN không kém
so với Trung Quốc, ASEAN có lực lượng lao động dồi dào, kĩ năng tương đối cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú và thị trường khá lớn có thể so sánh với thị trường duyên hải Trung Quốc Thế nhưng ASEAN vẫn chưa có ngành công nghiệp nào đạt được năng lực cạnh tranh vượt trội, do chưa khai thác hết thế mạnh được thể hiện qua các điểm sau:
Thứ nhất, thiếu nguồn nhân lực có năng lực và chuyên môn hóa cao Một số
nước ASEAN vẫn còn tồn tại một nền giáo dục lạc hậu, ngân sách dành cho đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho giáo dục và khoa học thấp, thiếu đội ngũ công nhân lành nghề, kĩ sư giỏi về chuyên môn và thành thạo tiếng Anh Sức cạnh tranh còn phân tán rời rạc, chưa phát huy được năng lực chuyên môn và tập trung được lợi thế cạnh tranh của mỗi nước do nền tảng cơ cấu cho sự phân công lao động ở một số quốc gia và cho cả khối chưa được xác lập cụ thể
Thứ hai, hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển ASEAN là
một khu vực đã xây dựng được một mạng lưới công nghiệp phụ trợ, nhưng để liên kết, bổ sung, và hợp tác xuyên biên giới giữa các ngành công nghiệp thì còn rất hạn chế do các rào cản về thương mại và đầu tư vẫn đang tồn tại khắp nơi Trở ngại này
đã làm giảm khả năng cung ứng của các doanh nghiệp ASEAN trên phạm vi toàn
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thế giới, các doanh nghiệp sản xuất chỉ có thể tiếp cận được các nguồn cung cấp nguyên liệu rất hạn chế từ phía địa phương Kết quả là chất lượng sản phẩm vẫn thấp mà chi phí sản xuất lại cao Sự phối hợp các nguồn cung trong nội bộ ASEAN rất hạn chế, chỉ bó hẹp trong phạm vi một số vùng của quốc gia chứ không mở rộng liên kết ra cả khu vực, cho nên có nơi khan hiếm các yếu tố đầu vào, có nơi lại dư thừa yếu tố đầu ra
Thứ ba, việc đầu tư cho hoạt động Nghiên cứu và Phát triển (R&D) chưa được
tiến hành một cách thỏa đáng Đầu tư cho khoa học công nghệ ở mức cao, cùng với hợp tác nghiên cứu giữa các nước thành viên của ASEAN có thể tạo ra những đột phá về công nghệ để đưa vào ứng dụng trong công nghiệp Tuy vậy, đầu tư cho R&D và nguồn nhân lực có trình độ cao vẫn là những khoản đầu tư rất hiếm hoi và hạn chế tại các nước ASEAN
Như vậy, để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, ASEAN phải đẩy mạnh quá trình liên kết kinh tế quốc tế khu vực với quyết tâm cao hơn Muốn đạt được những tiến bộ trong quá trình liên kết, không chỉ dựa vào ý chí chín trị mà các nước thành viên còn phải định ra phương hướng, hình thành các chính sách thể chế khu vực và quyết tâm thực hiện Việc tạo ra thể chế khu vực mạnh mẽ hơn sẽ giúp ASEAN tạo lập một chương trình hợp tác tập trung, có trọng điểm, có sự phối hợp
và thực hiện hiệu quả hơn
- Hội nhập, nâng cao vị thế ASEAN trên trường quốc tế
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 trong khu vực đã tạo ra một động lực mạnh
mẽ cho hợp tác kinh tế và tài chính trong khu vực ASEAN Cũng từ cuộc khủng hoảng này, các quốc gia thành viên trong khu vực đã nhận thức được rằng nền kinh
tế của họ có mỗi liên hệ khăng khít với nhau nên rất cần hợp tác hơn nữa để củng cố sức mạnh của toàn bộ khu vực, đồng thời tạo khả năng chống lại các rủi ro nảy sinh trong hệ thống kinh tế - tài chính toàn cầu AEC sẽ giải quyết tốt các khía cạnh hội nhập như: vấn đề di chuyển thương mại nội khối, vấn đề nâng cao sức cạnh tranh hội nhập như: vấn đề di chuyển thương mại nội khối, vấn đề nâng cao sức hấp dẫn
về môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của khu vực Hơn nữa, AEC sẽ tạo dựng một hình ảnh tích hơn của ASEAN trong mắt của cộng đồng quốc tế
1.1.3 Những nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN - AEC
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Cộng đồng kinh tế ASEAN có bốn đặc điểm chính Bốn đặc điểm này đồng thời sẽ là bốn yếu tố chính cấu thành nên AEC:
(i) Một thị trường đơn nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất
Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề (di chuyển thể nhân)…, song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp
Các biện pháp thực hiện AEC đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung
về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN,…
(ii) Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế, ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển cơ
sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử v.v
(iii) Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển kinh tế đồng đều (AFEED), trong
đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
(iv) Để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Nam Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do (FTAs) đã được ký với các Đối tác quan trọng là
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, với GDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm ½ dân số thế giới (Cộng đồng
kinh tế ASEAN – AEC, 2014)
1.2 Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN khi
thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC
1.2.1 Những cơ hội đối với các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN
1.2.1.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ rộng lớn
ASEAN được đánh giá là một trong những thị trường giàu tiềm năng trên thế giới Dân số trong khu vực ASEAN đã tăng nhanh chóng từ 542 triệu người vào năm 2003 đến 625 triệu người vào năm 2013 và hiện nay đang xếp thứ ba trong bảng xếp hạng các khu vực đông dân nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Đặc biệt hơn, trong 10 năm trở lại đây, khu vực ASEAN có tốc độ tăng dân số là 1.44%, vượt qua Trung Quốc (0.52%) và Ấn Độ (1.41%) Thêm vào đó, tổng GDP của toàn ASEAN là 2,4 nghìn tỉ USD, tăng trưởng trung bình hằng năm là 5% - 6% Thu nhập bình quân đầu người trên 4.500 USD/người/năm Lượng FDI chảy vào khu vực ASEAN đã tăng từ 60,5 tỉ USD vào năm 2007 lên thành 110 tỷ USD vào năm 2012 Cũng trong năm 2012, tổng giá trị giao dịch thương mại 2,5 nghìn tỉ
USD (ADB & ILO, 2014, tr.23-24)
Hình 1.1: FDI vào ASEAN và toàn thế giới, 2006 – 2012 (chỉ số 2006 = 100)
Nguồn: ADB& ILO, 2014, “Báo cáp Cộng đồng kinh tế ÁEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn”, Hà Nội, Việt Nam
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chính vì vậy, khi đến cuối năm 2015, AEC được hình thành cũng đồng nghĩa với việc tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN Điều này sẽ khuyến khích các Doanh nghiệp trong khu vực tham gia các hoạt động đầu tư và kinh doanh lớn hơn Theo một báo cáo điều tra của BCG, 80% các doanh nghiệp tham gia khảo sát tin rằng tham gia vào AEC sẽ là cơ hội mở rộng thị trường kinh doanh và tin tưởng tốc độ phát triển của ngành nghề mà doanh nghiệp đang kinh doanh sẽ tăng lên đáng kể Trong thời điểm hiện tại, mới chỉ có 25% các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN có phạm vi hoạt động tại ít nhất 5 nền kinh tế trong khu vực Con số này được kì vọng sẽ tăng lên thành 50% do sự thành lập của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015 (BCG, 2014, tr.3-4)
Mặt khác, việc AEC tạo lập một thị trường và khu vực sản xuất chung thống nhất sẽ
là cơ hội để nền kinh tế của các nước thành viên trở nên phồn vinh hơn, dẫn đến tăng thu nhập và hình thành nên một lượng mới người tiêu dùng trung lưu với thu nhập cao - cũng là đối tượng khách hàng rất tiềm năng của các doanh nghiệp
1.2.1.2 Cơ hội thu hút đầu tư
Cơ hội được các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN trông đợi nhất là cơ hội nhận được sự đầu tư hợp tác từ các nền kinh tế lớn và phát triển trên thế giới Khi việc hội nhập kinh tế khu vực và xây dựng AEC vào cuối năm 2015 thành công, môi trường đầu tư trong ASEAN sẽ được cải thiện Bởi vì, lúc này, ASEAN trong mắt các nhà đầu tư lớn đã được liên kết và xây dựng thành một khối thống nhất hơn, bớt chia cắt hơn, được nhìn nhận là một thị trường chung, một sân chơi chung, một công xưởng chung, với nguồn nhân công và lao động có kĩ năng và giá còn tương đối rẻ
AEC sẽ cho phép sự di chuyển tự do của vốn, nhờ đó, các công ty đa quốc gia, hoặc các công ty cấp khu vực trong ASEAN sẽ tăng cường đẩy mạnh đầu tư sang các nước khác trong khu vực ASEAN nhằm nắm bắt các cơ hội mở rộng sản xuất và kinh doanh 76% các doanh nghiệp trong cuộc khảo sát của BCG muốn nâng cao thị phần trong ASEAN trong vòng 3 năm tới, 65% doanh nghiệp thể hiện sự kì vọng trong việc mở rộng dấu ấn doanh nghiệp trong khu vực trong vòng 5 năm tới (BCG, 2014, tr.10)
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.1.3 Cơ hội cho ngành du lịch
Theo thông tin từ Tổng cục du lịch, trong năm 2014, khu vực ASEAN đã đón tất cả 97,2 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 3% so với năm 2013, trong đó 28,5 triệu lượt người là khách du lịch đi lại nội khối (Tổng cục du lịch, 2014)
Khi AEC được thành lập, dân cư sẽ được tự do đi lại và di chuyển trong khu vực ASEAN Điều này đồng nghĩa với việc dân cư trong khu vực ASEAN sẽ đi lại và
du lịch trong khu vực nhiều hơn Thêm vào đó, các du khách ngoài khu vực cũng sẽ tận dụng lợi thế và cơ hội này để đến với các nước trong khu vực ASEAN nhiều hơn Bởi vì lúc này, họ không bị giới hạn cơ hội đi tham quan, du lịch trong một quốc gia mà còn có thể đi tham quan nhiều nước khác cũng nằm trong khu vực ASEAN Mỗi quốc gia trong khu vực ASEAN đều là những nước có nền văn hóa lâu đời và đặc sắc riêng, cảnh sắc thiên nhiên đặc biệt Nếu các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch biết tận dụng lợi thế này sẽ thu hút nhiều hơn nữa các khách du lịch không chỉ trong mà còn ngoài khu vực Một ví dụ tiêu biểu như, số lượng khách nước ngoài đến tham quan và du lịch tại Lào và Campuchia đã tăng lần lượt 18% và 25% trong vòng 10 năm từ 2001 đến 2011, theo như số liệu của tờ báo National Newspaper Tại Myanmar, số lượng khách du lịch nước ngoài đến nước này đã tăng lên gấp đối vào năm 2012, với số lượng là 1,5 tỉ người (ASEAN Tourism, 2014) Đáng nói hơn, năm 2015, Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch sẽ chính thức có hiệu lực đối với các nước trong khu vực ASEAN Chiến lược Du lịch ASEAN (ATSP) giai đoạn 2016 - 2025 cũng sẽ sớm được xây dựng Hai yếu tố này
sẽ có tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong ngành du lịch của cả ASEAN, từ đó sẽ xây dựng ASEAN thành một điểm đến du lịch chất lượng, bền vững và phát triển toàn diện
1.2.1.4 Cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
Lợi thế của việc tự do hóa khi thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ làm tăng cường thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên trong khu vực, kết hợp nguồn nguyên vật liệu dồi dào, giá thành sản xuất thấp Điều này được xem như là một cơ hội để các DNVVN trong khu vực ASEAN nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Campuchia, Lào, Myanmar sẽ là khu vực điểm đến cho các ngành công nghiệp thâm dụng lao động Đáng kể nhất phải nói đến cơ hội của các DNVVN của
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Thái Lan trong các lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu xây dựng và các doanh nghiệp bán lẻ cỡ nhỏ Thị trường mục tiêu của các Doanh nghiệp Thái Lan là Indonexia và các nước CLMV Hiện nay, dân cư trong các nước CLMV đang dành ra nhiều thu nhập để chi tiêu cho các sản phẩm đồ gia dụng, đồ ăn và nước uống Lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Thái Lan trong lĩnh vực này so với các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc, nằm ở chất lượng sản phẩm tốt, mẫu
mã đẹp, bắt mắt, danh tiếng tốt và an toàn cho sức khỏe Thế nên, tuy trước đây, giá
cả của các mặt hàng sản xuất bởi các doanh nghiệp Thái Lan đều cao hơn các mặt hàng đến từ các đối thủ là Trung Quốc, thì doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp Thái Lan vẫn được duy trì tốt Khi AEC được thành lập vào cuối năm 2015, nhiều khả năng giá cả các mặt hàng đến từ Thái Lan sẽ giảm đi do không có rào cản thuế quan, đây sẽ là một cơ hội lớn cho các DNVVN ở Thái Lan mở rộng sản xuất kinh doanh trong khu vực
1.2.1.5 Cơ hội tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong khu
vực
Nâng cao năng lực cạnh tranh được chia làm 2 loại: tĩnh và động Nhóm năng lực cạnh tranh tĩnh bao gồm các yếu tố phát sinh từ giá cả sản phẩm, chi phí giao dịch, nguyên vật liệu đầu vào Song lợi ích cạnh tranh quan trọng hơn nằm trong các yếu tố động như: đổi mới, phát triển các ngành nghề truyền thống, chuyển chúng thành các ngành có giá trị cao hơn Muốn thành công trong việc chuyển đổi
đó, cần phải sử dụng công nghệ cao
Sự hội nhập của ASEAN với một thị trường quy mô lớn hơn, sự cạnh tranh trong khu vực gay gắt hơn sẽ góp phần thúc đẩy các công ty trong ASEAN phải đổi mới công nghệ Tài nguyên của các nước thành viên rất dồi dào, những cơ hội lớn như tăng cường hợp tác và cạnh tranh xuyên biên giới, đổi mới và tái cơ cấu lại các ngành, phát triển kĩ năng công nghệ và các cơ hội tiếp cận công nghệ toàn cầu sẽ giúp các doanh nghiệp trong ASEAN cải tiến sản phẩm để thích nghi với thị hiếu đa dạng trong nội bộ khu vực và trên thị trường thế giới Hầu hết các công ty tạo ra giá trị thị trường lớn nhất tại Châu Á là tập trung hướng tới các thị trường khu vực hoặc toàn cầu Như vậy, các công ty lớn mạnh nhất trên thị trường nội địa không thể tồn tại lâu dài bởi các chủ thể toàn cầu có thể tấn công các công ty này Sự hội nhập của
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ASEAN sẽ giúp cho các công ty mở rộng sản xuất, lựa chọn những ngành sản xuất
có giá trị gia tăng cao, hướng ra thị trường bên ngoài và đạt được quy mô khu vực
và toàn cầu Các công ty có khả năng sinh lợi cao nhất nhờ tập trung đầu tư vào các tài sản vô hình, như nguồn nhân lực chất lượng cao, sản phẩm trí tuệ cao, tác động trong mạng lưới… Việc giảm rào cản thương mại và đầu tư sẽ thuận lợi hơn cho việc tạo ra các thương hiệu và các sản phẩm mới Nhờ đó, năng lực cạnh tranh của các công ty trong nội bộ khu vực ASEAN sẽ được nâng cao
1.2.2 Những thách thức đối với các Doanh nghiệp trong khu vực ASEAN
1.2.2.1 Áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu vực
Hội nhập AEC sẽ mở ra cơ hội mở rộng thị trường cho tất cả các doanh nghiệp chứ không chỉ của riêng một doanh nghiệp hay một lĩnh vực ngành nghề nào Từ
đó, sự cạnh tranh sẽ diễn ra ngày càng sôi động và tốc độ mở rộng phạm vi cạnh tranh ngày càng cao Các doanh nghiệp trong khu vực không những sẽ phải cạnh tranh với chính các đối thủ là các doanh nghiệp cùng lĩnh vực ngành nghề trong khu vực mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác ngoài khu vực Theo nghiên cứu và khảo sát từ BCG, có đến 22% các doanh nghiệp trong khu vực lo lắng rằng hội nhập AEC sẽ khiến cho cạnh tranh trở lên gay gắt hơn Lý
do đáng kể đến từ việc khoảng 50% doanh nghiệp trong khảo sát đều kì vọng mở rộng hoạt động đến ít nhất 5 nền kinh tế Đông Nam Á trong vòng 5 năm tới 67% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng tiến trình hội nhập sẽ thu hút thêm nhiều doanh nghiệp từ các khu vực ngoài Đông Nam Á Trong bối cạnh hội nhập đang diễn ra như vậy, vẫn còn đến hơn 20% các doanh nghiệp vẫn chưa chuẩn bị thật sự sẵn sàng cho sự cạnh tranh gay gắt hơn trong lĩnh vực hoạt động của mình Ví dụ tiêu biểu nhất đến từ Indonexia Chỉ có chưa đến một nửa (khoảng 45%) lãnh đạo cac doanh nghiệp tại Indonexia nhìn nhận AEC là một cơ hội cho doanh nghiệp của
họ Thậm chí 42% cho rằng đó là một mối đe dọa cho công việc kinh doanh của họ (BCG, 2014, tr.9-10) Lý do được đưa ra để giải thích là Indonexia là thị trường rộng lớn của Đông Nam Á, chính vì vậy rất dễ thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp ngoài quốc gia và ngoài khu vực Các công ty của Indonexia sẽ phải đánh đổi rất nhiều để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Và vì họ đang ở vị thế
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
bất lợi về tính cạnh tranh, cho nên họ rất dễ bị đánh mất thị trường vào công ty đối thủ cũng như mất đi công việc kinh doanh sau khi hội nhập
1.2.2.2 Chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế cả khu vực
Tiến trình xây dựng AEC làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN Mỗi doanh nghiệp trong khu vực ASEAN trở thành một mắt xích quan trọng trong thị trường và cơ sở sản xuất ASEAN thống nhất Giờ đây, với sự lưu chuyển tự do của các hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ, với thuế xuất cho các mặt hàng lưu chuyển trong khu vực xuống còn 0%, các doanh nghiệp trong khu vực sẽ chủ động lựa chọn hợp tác với các doanh nghiệp khác trong khu vực Điều đó có nghĩa là đầu ra sản phẩm của doanh nghiệp này sẽ là đầu vào sản phẩm của doanh nghiệp kia Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Nếu sự phụ thuộc này nếu thiếu sự liên kết chặt chẽ, phối hợp đồng bộ giữa các doanh nghiệp với nhà nước và giữa các doanh nghiệp với nhau sẽ làm cho khủng hoảng, suy thoái từ một quốc gia trong khu vực lan ra toàn bộ nền kinh tế chung AEC Sự khủng hoảng tại một quốc gia này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về vốn, dịch vụ và hàng hóa tại các doanh nghiệp ở các quốc gia khác Dần dần, sản xuất sẽ bị đình trệ, hàng hóa không được lưu thông thông suốt trong khu vực dẫn đến suy thoái kinh tế khu vực Kết quả là thu nhập người dân giảm sút, nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ cũng giảm đi, hàng hóa sẽ bị tồn đọng, không thể lưu thông, bắt đầu vòng quay mới Một vòng suy thoái luẩn quẩn sẽ dẫn đến tê liệt toàn bộ kinh tế ASEAN cũng như các doanh nghiệp trong khu vực
1.3 Các yếu tố tác động tới việc khai thác cơ hội và vượt qua thách thức của
các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN
1.3.1 Chính sách kinh tế của các quốc gia và sự chuẩn bị ở tầm vĩ mô của các
quốc gia trong khu vực
Ngay từ khi Kế hoạch ASEAN 2007 (AEC Blueprint) được ra đời, các quốc gia đã khẩn trương chuẩn bị cho sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Chính phủ các nước ASEAN đã đẩy mạnh các nỗ lực chuẩn bị cho AEC thông qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và điều chỉnh các chính sách dành cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN nhằm giúp các doanh nghiệp chuẩn bị sẵn sàng để
mở cửa thị trường và tham gia vào cạnh tranh trong khu vực
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.1.1 Sự đầu tư về cơ sở hạ tầng
Đầu tư về cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm cả cơ sở hạ tầng phần cứng như đường
xá, cầu cống, sân bay, cảng biển,… và cơ sở hạ tầng phần mềm như nguồn nhân lực, đào tạo, giáo dục
- Chính phủ rất nhiều nước trong khu vực ASEAN đã đầu tư rất nhiều vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia Indonexia là một ví dụ tiêu biểu Nước này cho rằng, việc tăng cường xây dựng hợp tác giữa các nước là yếu tố tiên quyết trước khi hội nhập Tuyến đường sắt xuyên Đông Nam Á sẽ được hoàn thành vào năm 2015, nối liền Singapore - Malaysia - Thái Lan - Campuchia - Việt nam - Trung Quốc (Côn Minh) là ví dụ tiêu biểu Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan cũng đang đàm phán với Trung Quốc về dự án tàu cao tốc nối liền Lào, vùng Nong Khai của Thái Lan tới vùng biên giới và Malaysia
- Đối với các yếu tố về cơ sở hạ tầng phần mềm như nguồn nhân lực và đào tạo, các nước cũng có đầu tư rất đúng đắn Các nước có khả năng sử dụng tiếng Anh thành thạo như Malaysia, Singapore, Philipines sẽ có lợi thế lớn hơn so với các nước không sử dụng tiếng Anh thường xuyên như Thái Lan Chính vì vậy, chính phủ Thái Lan đã thành lập một chiến dịch “Năm nói tiếng Anh 2012” nhằm khuyến khích người dân – cũng chính là nguồn nhân lực của các Doanh nghiệp trong nước học tiếng Anh Tại Singapore, nền giáo dục của nước này cũng dành được nhiều sự quan tâm của Chính phủ Đại học Quốc gia Singapore được xếp vào một trong những đại học hạng nhất tại châu Á, vượt qua các ứng viên nặng ký như ĐH Tokyo,
ĐH Thanh Hoa… và được mệnh danh là “Harvard châu Á” Tại Philipines, sự chuẩn bị cho hội nhập AEC đã được thực hiện vào nhiều năm trước và một trong những cách là huấn luyện cho các doanh nghiệp tham gia vào các thị trường ngoài khu vực Đông Nam Á như một cách đào tạo cho nguồn nhân lực trong tương lai EEI, tập đoàn xây dựng lớn của Philippines đã chọn Trung Đông để làm cơ sở đào tạo cho đội ngũ nhân sự của tập đoàn EEI có nhiều công trình quy mô lớn tại địa phương, như sân bay Iloilo, hay hợp tác xây dựng nhà máy với nhiều công ty hàng đầu thế giới như Coca-Cola, Ford, Nestlé, Intel… Kết quả là tổng giá trị hợp đồng chưa hoàn tất của EEI vào tháng 6/2013 vào khoảng 600 triệu USD, với 45% thuộc
về các dự án nội địa, 55% ở nước ngoài nhằm chuẩn bị cho AEC 2015 (Bùi Hồng Cường, 2015, tr.2-5)
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.3.1.2 Các hỗ trợ từ chính phủ dành cho các doanh nghiệp
Các nước trong khu vực ASEAN đã có rất nhiều hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về các cơ hội và thách thức trong AEC, cũng như
có các chính sách để hỗ trợ các DNVVN trong quá trình hội nhập
Tại Thái Lan, các doanh nghiệp được nhà nước cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến quá trình mở cửa, các mặt hàng xuất nhập khẩu, các điểm mạnh và điểm yếu của các đối tác kinh doanh trong quá trình hội nhập Bộ Công thương của Thái Lan cũng đã tổ chức tập huấn cho 7000 Doanh nghiệp về các kiến thức cơ bản khi hội nhập AEC Tại Malaysia, vào đầu năm 2014, chính phủ đã tổ chức một cuộc đối thoại không chính thức giữa chính phủ và các doanh nghiệp Cuộc đối thoại như một diễn đàn giữa những người hoạch định chính sách và những nhà kinh doanh trên thương trường nhằm chia sẻ những thông tin và những hiểu biết cần thiết nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Malaysia trong định hướng hội nhập kinh tế ASEAN sau năm 2015 Tại Philipines, khi truyền thông của nước sở tại tổ chức một cuộc điều tra về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp với AEC vào năm 2010, tỉ lệ hiểu biết của doanh nghiệp vô cùng thấp, 15% Trước tình hình này, từ năm 2010 đến năm 2013, Chính phủ Philipines đã tổ chức hơn 140 hội thảo với chủ đề “Làm
ăn trong môi trường mậu dịch tự do” với sự tham gia của hơn 130.000 doanh nghiệp (Bùi Hồng Cường, 2015, tr.2-5)
1.3.2 Các chính sách của Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC
Bốn trụ cột của Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC là: “một thị trường chung
và một cơ sở sản xuất chung”; và “khu vực kinh tế cạnh tranh”, “phát triển kinh tế bình đẳng” và “hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu”
Để hướng tới “một thị trường chung và một cơ sở sản xuất chung, một trong những biện pháp đã được thực hiện là thực hiện cắt giảm thuế quan thông qua Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN năm 2009 trong đó có quy định rõ về nguồn gốc xuất sứ của sản phẩm nhằm đẩy mạnh tự do hóa về thương mại; Hiệp định Đầu
tư Toàn diện ASEAN năm 2012 nhằm tăng cường đầu tư nội khối và Hiệp định công nhận lẫn nhau dành cho 8 ngành nghề có kỹ năng cao Những hiệp định này, một phần đã tạo thuận lợi cho dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư, và lao động tay nghề cao, giúp các doanh nghiệp được hưởng lợi từ việc giảm giá vốn
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hàng bán, tận dụng tay nghề chất lượng cao đến từ các quốc gia khác trong khu vực, tận dụng nguồn vốn dồi dào,…Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những rào cản Ví dụ như, nếu không đạt chỉ tiêu 40% nguyên vật liệu tạo ra hàng hóa có nguồn gốc xuất sứ từ ASEAN sẽ không được hưởng các ưu đãi về thuế quan như đã quy định Như vậy
đã tăng thêm những thủ tục phức tạp cho doanh nghiệp, cũng như đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao trình độ quản lý và sản xuất của doanh nghiệp Nếu đáp ứng tốt đòi hỏi này của AEC, doanh nghiệp sẽ phát triển tốt hơn, tận dụng lợi thế để hội nhập và phát triển Nhưng nếu không đủ điều kiện, không đủ khả năng đáp ứng, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ không thể trụ vững trong tình hình cạnh tranh khốc liệt hiện nay
Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu “khu vực kinh tế cạnh tranh”, AEC đã thông qua Kế hoạch Hành động về quyền Sở hữu trí tuệ ASEAN 2011 – 2015 Điều này một mặt giúp các nhà đầu tư, các doanh nghiệp yên tâm hơn trong sản xuất, kinh doanh, mặt khác cũng khiến các doanh nghiệp tại các quốc gia vốn quen với việc sử dụng không có bản quyền sẽ gặp nhiều khó khăn về thủ tục, về giá vốn của sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh của họ
Về trụ cột thứ 3 “phát triển kinh tế bình đẳng”, AEC đặt ra mục tiêu về thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy các DNNVV Đây sẽ là cơ hội cho các DNVVN tận dụng các chính sách ưu đãi của AEC để phát triển Tuy nhiên, nếu các lợi ích và nhu cầu
cụ thể về tiếp cận thông tin, thị trường, phát triển kĩ năng, công nghệ và tài chính,… của các DNVVN không được đáp ứng và chưa có chính sách rõ ràng như hiện nay thì cạnh tranh gia tăng gay gắt trong thời gian tới sẽ có thể gây trở ngại lớn cho các doanh nghiệp này
Về trụ cột cuối cùng “Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu”, ASEAN đã ký kết một loạt các hiệp định thương mại với các đối tác trong khu vực, bao gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand Điều này vừa mở ra cơ hội hợp tác của các doanh nghiệp, vừa mở rộng thị trường thông qua các thuế suất
ưu đãi của các Hiệp định thương mại tự do, nhưng đồng thời cũng khiến các doanh nghiệp cạnh tranh nhiều hơn với các doanh nghiệp từ ngoài khu vực, mà chủ yếu lại
là các doanh nghiệp đa quốc gia, tập đoàn quốc tế lớn Nếu tận dụng được các yếu
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tố thuận lợi trên và vượt qua được sự cạnh tranh này, doanh nghiệp Đông Nam Á chắc chắn sẽ khẳng định được vị thế của mình và vươn ra tầm quốc tế Nhưng nếu không thể vượt qua thử thách, các doanh nghiệp sẽ bị nguy hiểm
1.3.3 Chuyển dịch lao động trong khu vực
Một trong những thay đổi tiêu biểu trong quá trình hội nhập AEC sẽ có tác động lớn đến các doanh nghiệp, đó là sự dịch chuyển tự do lao động có tay nghề trong khu vực Hiện tại mới chỉ có 8 ngành nghề có kĩ năng cao được công nhận di chuyển tự do trong khu vực, nhưng trong tương lai sẽ được mở rộng ra nhiều ngành nghề khác Lợi ích mà sự dịch chuyển lao động tự do này đem lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận với những người lao động
có tay nghề cao, những nhà quản lý có nhiều kĩ năng và kinh nghiệm Từ đó, họ sẽ mạnh dạn mở rộng sản xuất ra các thị trường quốc tế, thử nghiệm các sản phẩm dịch
vụ mới,…và đó sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên dường như việc thu hút nhân tài chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp lớn, cấp khu vực hoặc cấp quốc tế Hầu hết các doanh nghiệp còn lại sẽ phải tìm cách giữ chân những người lao động tay nghề cao của họ bằng các chế độ lương thưởng, phụ cấp khác Điều này sẽ là một thử thách không nhỏ cho các doanh nghiệp nhỏ, chưa có nhiều vốn đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, sản phẩm số,… Thêm vào đó, việc di chuyển lao động có nghĩa là người lao động sẽ di chuyển từ quốc gia của mình đến quốc gia láng giềng khác, sống trong môi trường kinh doanh, văn hóa khác, ngôn ngữ khác Nếu người lao động không thể quen thuộc hoặc chưa kịp thích ứng với môi trường doanh nghiệp hoặc ngôn ngữ tại đất nước mới cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp gặp phải khó khăn trong việc khai thác hết tiềm năng và năng suất của người lao động
1.3.4 Quy mô của các doanh nghiệp
Việc các doanh nghiệp trong khu vực ASEAN hiện nay nhìn nhận sự hội nhập AEC là thách thức hay cơ hội cũng phụ thuộc rất nhiều vào quy mô hiện nay của các doanh nghiệp Điều này được thể hiện rõ trong hình 1.2:
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hình 1.2: Đánh giá của các doanh nghiệp về mức độ hưởng lợi từ tiến trình
hội nhập AEC
Nguồn: BCG,2014, “Để dẫn đầu khối ASEAN: Các doanh nghiệp chuẩn bị hội
nhập kinh tế như thế nào", Hồ Chí Minh, tr.12
Theo nghiên cứu và đánh giá cả BCG, hầu hết các doanh nghiệp cấp khu vực và các công ty đa quốc gia sẽ tận dụng được tốt nhất các lợi thế của AEC như thị trường và khối sản xuất chung, tự do lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và nguồn nhân lực 97% các doanh nghiệp tham gia khảo sát của BCG cho rằng các công ty này sẽ dành được chiến thắng trong quá trình hội nhập, 72% cho rằng các doanh nghiệp lớn trong nước cũng sẽ tận dụng được các lợi thế của việc hội nhập AEC Lý do là vì các công ty này đã có sẵn quy mô quốc tế, họ sẽ dễ dàng mở rộng sản xuất ở các nước khác hơn do sự dồi dào về vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao, uy tín và kinh nghiệm Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu tập trung vào các thị trường nội địa của chính nước mình sẽ gặp nhiều thiệt thòi 81% các doanh nghiệp tham gia khảo sát đều cho rằng, các DNVVN sẽ chịu thua thiệt trong quá trình hội nhập AEC (BCG, 2014, tr.12-13) Tiến trình hội nhập ASEAN đương nhiên đem lại cho họ nhiều cơ hội, nhưng đồng thời các DNVVN này cũng chịu nhiều sức ép và cạnh tranh đến từ các công ty lớn trong và ngoài khu vực Họ sẽ không thể đủ khả
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
năng để đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra sức cạnh tranh cho chính doanh nghiệp vào thời điểm hội nhập – như đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D), đầu tư nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư vào xây dựng và vận hành các chuỗi cung ứng,… Thêm vào đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn cấp khu vực hoặc quy mô đa quốc gia thường có sự chuẩn bị chu đáo, kĩ càng và chủ động hơn so với các DNVVN, có quy mô nội địa Trong số các doanh nghiệp có doanh thu hằng năm trên 5 tỉ USD, có đến 84% doanh nghiệp đã thực hiện một số hành động để nâng cao mức độ thâm nhập vào thị trường Đông Nam Á đầy tiềm năng (BCG, 2014, tr.14)
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI NƯỚC TA GIA NHẬP
CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC
2.1 Cơ hội đối với doanh nghiệp Việt Nam khi nước ta gia nhập Cộng đồng
kinh tế ASEAN – AEC
2.1.1 Mở rộng thị trường và tăng xuất khẩu
Các yếu tố giúp cho thị trường tiêu thụ của Việt Nam được rộng mở sau khi Việt Nam hội nhập vào Cộng đồng kinh tế ASEAN: yếu tố nhân khẩu học thuận lợi, nền kinh tế năng động của ASEAN, cũng như chính sách về thị trường chung của AEC
2.1.1.1 ASEAN là khu vực đông dân cư, dân số trẻ và thu nhập đã, đang và sẽ
được cải thiện đáng kể
Dân số ASEAN hiện nay vào khoảng 600 triệu người, tương đương với 8,6% dân số toàn thế giới Con số này gần gấp đôi dân số của nước Mỹ (312 triệu người), lớn hơn so với dân số của EU (hơn 500 triệu người) và tương đương với dân số của
cả vùng Mỹ La-tinh và vùng Caribe cộng lại (606 triệu người) (ADB & ILO, 2014, tr.25) Với những con số này, có thể thấy, nếu doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác được hết thị trường tiêu thụ rộng lớn này sẽ tương đương với việc tận dụng được toàn bộ thị trường EU hay thị trường Mỹ La-tinh và Caribe cộng lại và có giá trị gấp đôi so với thị trường Mỹ Hơn thế nữa, việc tận dụng và khai thác được thị trường Đông Nam Á này dễ hơn nhiều so với khai thác những thị trường như Hoa
Kì, EU,… vì nhiều lý do như: sự quen thuộc về văn hóa dân tộc, am hiểu thị trường khu vực, các rào cản về chất lượng sản phẩm, về thuế quan, nguồn gốc xuất sứ cũng giảm bớt hơn nếu như xuất khẩu sang Hoa Kì và EU, chi phí vận chuyển, chi phí logistics, chi phí quản lý chuỗi cung ứng cũng giảm ít rất nhiều Tốc độ tăng dân số của khu vực Đông Nam Á cũng rất đáng để quan tâm Từ 1990 đến năm 2014, dân
số của ASEAN đã tăng gần gấp đôi, và dự đoán đến năm 2025, dân số tại khu vực này sẽ có thể lên đến 694 triệu người Ngoài một thị trường rộng lớn do lượng dân
số cao, thì tỉ lệ dân số trẻ và dân số trong độ tuổi lao động đang tăng cao, tốc độ đô thị hóa cao, thu nhập bình quân đầu người của người dân tại khu vực Đông Nam Á
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tăng lên cũng là những lý do khiến cho việc kinh doanh, sản xuất và thương mại tại ASEAN trở nên hấp dẫn hơn Tầng lớp trẻ có thu nhập cao sẽ là nguồn lực lượng tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp trong tương lai Theo điều tra của ILO, tại Lào, Indonexia và Philipines, đến năm 2025, tỉ lệ thanh thiếu niên sẽ chiếm 17% dân số, tại Singapore là 11,5% dân số Tại Philipines, theo dự đoán, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động đã tăng thêm 37,3% từ năm 2010 lên đến năm 2025 Những điều này làm cho số lượng các cá nhân tham gia vào thị trường lao động tại khu vực Đông Nam Á đã tăng gấp đôi và lên đến con số 500 triệu người/hơn 600 triệu người của cả khu vực Đông Nam Á vào năm 2020 Triển vọng hơn nữa là từ năm 2013 đến năm 2020, số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu và có thu nhập cao tại 5 quốc gia là Indonexia, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và Philipines sẽ tăng lên từ
165 triệu người thành 277 triệu người (ADB&ILO, 2014, tr25) Đây sẽ là những tầng lớp sẽ dành nhiều khoản tiền kiếm được hơn cho việc chi tiêu các sản phẩm, dịch vụ Các doanh nghiệp Việt Nam nên hiểu rõ những điều này để có những chiến lược kinh doanh phù hợp nhắm vào đối tượng trẻ, thu nhập cao trong tương lai Bên cạnh đó, có một vấn đề nhân khẩu quan trọng khác là tốc độ đô thị hóa tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á khá cao, từ 10% của năm 1950 đến 44,7% của năm
2011
2.1.1.2 Khu vực ASEAN có nền kinh tế năng động, giàu tiềm năng phát triển
Trong hơn một thập kỉ phát triển vừa qua, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế, từ đó nâng cao đời sống của người dân trong khu vực Trong năm 2013, GDP của toàn khu vực ASEAN đã tăng gấp đôi so với năm 2003, lên đến 2,4 nghìn tỉ USD, tương đương với 2,3% tổng GDP toàn thế giới Điều đặc biệt đáng khích lệ, từ năm 2007 – 2013, các nước trong khu vực ASEAN (trừ Brunei) đều có mức tăng trưởng GDP nhanh hơn mức tăng trưởng của toàn cầu
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hình 2.1: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người
theo giá hiện hành
có khả năng vượt qua các quốc gia như Đức, Tây Ban Nha,… để giành vị trí thứ 5 trên thế giới Chính sự tăng trưởng bền vững trong hơn một thập kỉ của ASEAN đã cải thiện cuộc sống người dân trong khu vực ASEAN GDP đầu người của các nước tuy có sự chênh lệch, nhưng tựu chung lại, trung bình GDP đầu người của các quốc gia ASEAN nằm trong khoảng 4500USD/người/năm Và theo dự báo của Ban thông tin kinh tế - tạp chí The Economist, từ năm 2013 đến năm 2020, mức tăng trưởng bình quân trên đầu người của Indonexia, Malaysia, Myanmar, Philipines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam sẽ nằm trong khoảng từ 3% - 6% (BCG, 2014, tr.5)
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.1.2 Các ưu đãi về thuế và hải quan cho các hàng hóa có xuất xứ trong khu vực
ASEAN
Từ lâu, ASEAN đã là một khu vực kinh tế, đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam, vượt qua những đối tác kinh tế khác như EU, Hoa Kì, Trung Quốc,… Theo đánh giá của các chuyên gia, trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang các nước khác trong khu vực ASEAN đã tăng lên đáng kể Nếu như vào năm
2003, kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang khu vực ASEAN là 9 tỷ USD thì vào năm 2012 đã tăng lên thành 17,08 tỷ USD, trong đó đáng chú ý nhất là mức tăng của các mặt hàng: máy tính, linh kiện và sản phẩm điện từ tăng 844 triệu USD; điện thoại và các loại linh kiện của điện thoại tăng lên 750 triệu USD; cao su tăng 339 triệu USD, cà phê tăng 224 triệu USD Tổng cộng 5 nhóm hàng này con số kim ngạch xuất khẩu cũng đã tăng gần 2,4 tỉ USD, chiếm tới 81% trong tổng số kim ngạch tăng thêm trong một thập kỉ qua Qua năm 2013, theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường ASEAN là 18,47 tỉ, tương đương với mức tăng 6,7% so với năm 2012 Từ năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang một số quốc gia là Indonexia, Singapore, Thai Lan, Philipines, Campuchia đều đạt trên 1 tỉ USD (Trần Văn Hùng, Lê Mai Hương, Nguyễn Lê Anh, 2014, tr.7-8)
Hình 2.2: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại
giữa VN và ASEAN giai đoạn 2005-2012
Nguồn: Trần Anh Hùng, 2015, “Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 20(30), tr.7
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Càng đáng mừng hơn, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN đang có sự chuyển dịch tích cực: từ các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp như hàng nông sản sơ chế, nguyên nhiên vật liệu thô có hàm lượng chế tác thấp sang các mặt hàng có giá trị gia cao và mang tính ổn định hơn như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm…
Khác với các liên minh kinh tế khu vực khác trên thế giới với trọng tâm khi hội nhập là gia tăng đầu tư và kim ngạch thương mại trong khu vực, vấn đề được tập trung của AEC là giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư trong khu vực để việc cạnh tranh diễn ra công bằng và sôi động hơn Vào ngày 1/1/2010, các nước ASEAN – 6 bao gồm Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philipines, Indonexia, Brunei
đã thực hiện mục tiêu xóa bỏ rào cản thuế quan đối với 99,65% số dòng thuế, các nước ASEAN – bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar cũng đưa 98,86% dòng thuế tham gia vào chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung trong khối ASEAN để xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT – AFTA) về mức 0 – 5% (Trần Văn Hùng, Lê Mai Hương, Nguyễn Lê Anh, 2014, tr.5) Và các nước đang cố gắng đến cuối năm 2015, vào thời điểm thành lập Cộng đồng kinh tế AEC
sẽ cố gắng xóa bỏ hết các hàng rào phi thuế quan cho tất cả các mặt hàng có xuất xứ
từ ASEAN đang lưu thông trong khu vực Khi thành lập AEC, các doanh nghiệp sẽ lưu thông hàng hóa trong khu vực ASEAN giống như đang bán hàng trong nội địa Các thủ tục hải quan rườm rà được cải tiến hoặc bãi bỏ cũng giúp cho việc lưu chuyển hàng hóa dễ dàng và thuận lợi hơn Điều này chắc chắn sẽ là cơ hội cho hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạng xuất khẩu, cắt giảm chi phí nhập khẩu, giảm giá thành sản xuất, từ đó, đem đến sức cạnh tranh đáng kể cho các hàng hóa dịch vụ được sản xuất và cung cấp bởi các doanh nghiệp Việt Nam Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN – 6 được dự đoán là sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định trước thềm AEC nhờ được hưởng những ưu đãi thuế quan với 99% các dòng thuế của ASEAN – 6 là 0% theo hiệp định ATIGA
Ngoài mong đợi vào thương mại nội khối, các doanh nghiệp Việt Nam cũng rất trông chờ vào thương mại ngoại khối với các nước như Trung Quốc, New Zealand, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và Australia thông qua các hiệp định thương mại tự do riêng giữa ASEAN và các đối tác kinh tế lớn, cũng như thông qua Hiệp
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP đang được nỗ lực xây dựng Điển hình nhất là sau 31-12-2015, các mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan 0% thông qua các FTA+1 giữa ASEAN và các đối tác kinh tế lớn được nêu trên Điều này sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu mà còn khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng và chuỗi sản xuất của khu vực và thế giới
2.1.3 Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Đầu tiên, nói đến sức cạnh tranh của một doanh nghiệp phải nhìn từ góc độ các sản phẩm, dịch vụ mà các doanh nghiệp đó sản xuất ra hoặc cung cấp cho thị trường Việc tham gia vào AEC vào cuối năm 2015 được đánh giá là một cơ hội tốt
để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Đầu tiên, khi AEC được thành lập, ASEAN sẽ biến thành một thị trường chung, thuế suất cho các hàng hóa có xuất xứ từ các nước trong khu vực ASEAN và thuế suất khi nhập khẩu vào các nước có AFTA+1 sẽ bằng 0% Các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ cố gắng nắm bắt cơ hội mở rộng hơn nữa thị trường tiêu thụ sản phẩm Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ bó hẹp chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu của người dân trong một thành phố, một tỉnh hay chỉ riêng trong Việt Nam mà còn hướng vào thích ứng với các thị trường của các nước trong khối ASEAN và cả những nước mà ASEAN đã
có FTA riêng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Muốn làm được điều này, các doanh nghiệp Việt Nam phải tự mình cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng với thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng trong khu vực và trên toàn thế giới Thêm vào đó, việc tạo lập một thị trường chung trong khối ASEAN không chỉ là cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam mà còn là cơ hội cho các doanh nghiệp khác trong khu vực Các công ty đa quốc gia, các công ty cấp khu vực đều đang có dự định trong vòng 5 năm sẽ mở rộng thị trường của họ ra thêm 5 nước khác trong khu vực, trong đó Indonexia và Việt Nam chính là hai thị trường mục tiêu vì đây là hai quốc gia có dân số đông nhất trong khu vực và một nền kinh tế đang trên đà tăng trường mạnh mẽ Chính vì vậy, thị trường tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệp Việt Nam cũng trở nên gay gắt Lúc này, không còn cách nào khác, các doanh nghiệp cần phải chủ động trong việc quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng và