1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

68 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khó khăn khi phát triển lĩnh vực dịch vụ logistics của Việt Nam phải kể đến là: khó khăn về cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị phục vụ logistics; hạn chế về chi phí logistics; khó k

Trang 1

KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại

NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Họ và tên sinh viên : Hoàng Tuấn Minh

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS 3

1.1 Tổng quan về logistics 3

1.1.1 Lịch sử hình thành logistics 3

1.1.2 Một số khái niệm logistics 5

1.1.3 Chức năng của logistics 8

1.1.4 Vai trò của logistics 11

1.1.5 Tác dụng của logistics 13

1.2 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực 16

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực 16

1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM 23

2.1 Thực trạng ngành logistics ở Việt Nam hiện nay 23

2.1.1 Đặc điểm thị trường dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay 23

2.1.2 Thực trạng ngành logistics ở Việt Nam hiện nay 25

2.1.3 Nguyên nhân tính cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn yếu kém 28

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực logistics ở Việt Nam

34

2.2.1 Thực trạng hiện nay về nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực logistics ở Việt Nam 34

2.2.2 Đánh giá nguồn nhân lực trong khu vực dịch vụ logistics 39

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 45

3.1 Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics 45

3.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics 45

3.1.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics 47

3.1.3 Yêu cầu của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics 47

Trang 3

3.2 Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cung ứng dịch vụ logistics tại Việt Nam 49

3.2.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong dài hạn 49 3.2.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong trung hạn và ngắn hạn 54

KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

EOQ Economic Order Quantity

GDP Gross Domestics Product

MNC Multinational Corporation

FDI Foreign Direct Investment

UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development

WTO World Trade Organization

GNP Gross National Product

WDIS World Development Indicators

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

AFTA ASEAN Free Trade Area

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CSCMP Council of Supply Chain Management Professional

ISPS International Ship and Port facility Security

IATA International Air Transport Association

FIATA International Federation of Freight Forwarders Associations

VLA Vietnam Logistics Association

Trang 4

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Hình 1.1: Kiểm soát dòng vận động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp 5

Hình 1.2: Bốn chức năng hoạt động của doanh nghiệp 10

Hình 2.1: Tỷ trọng chi phí logistics so với GDP của một số nước 23

Bảng 2.1: Chỉ số năng lực logistics của các quốc gia ASEAN (Logistics

Performance Index – LPI) 24

Hình 2.2: Thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics được đào tạo qua các phương pháp khác nhau 36Hình 2.3: Tỷ lệ học viên học tập về logistics qua các phương thức khác nhau 37

Hình 3.1: Mô hình 3 nhà 53

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh và tương đối ổn định bậc nhất Châu Á kể từ thời kỳ đổi mới năm 1986 Các nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc hòa nhập với nền kinh tế thế giới phải kể đến là các hiệp định kinh tế song phương và đa phương như Việt Nam - Nhật Bản hay ASEAN – Hàn Quốc; trở thành thành viên của khối thương mại tự do (AFTA) của ASEAN hay gần đây nhất là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Những nỗ lực này đã tạo nên những sự thay đổi to lớn trong phát triển kinh tế và thương mại của Việt Nam, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài và tạo động lực cho sự phát triển của các lĩnh vực trong nền kinh tế Tuy nhiên, trong lĩnh vực dịch vụ logistics thì Việt Nam mới đang chập chững các bước khởi đầu Các khó khăn khi phát triển lĩnh vực dịch vụ logistics của Việt Nam phải kể đến là: khó khăn về cơ sở

hạ tầng và các trang thiết bị phục vụ logistics; hạn chế về chi phí logistics; khó khăn

về thời gian vận tải và các vấn đề liên quan đến thủ tục; khó khăn liên quan đến vấn

đề cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ Logistics; khó khăn do mạng logistics còn nghèo nàn và cuối cùng là khó khăn từ nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực dịch

vụ này

Mặc dù vậy, lĩnh vực logistics ở Việt Nam vẫn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Theo báo cáo mới nhất của Bộ Giao thông Vận tải về thực trang và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tháng 12/2014 thì dịch vụ logistics chiếm 15-20% GDP, cùng với đó là sự gia tăng nhanh qua từng năm (từ 20% đến 25%); song, do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng, bên cạnh đó chất lượng của đội ngũ nhân lực cũng chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu của thị trường Quyết định số 175 QĐ-TTg ngày 27/1/2011 của Thủ tướng phê duyệt “Chiến lược phát triển tổng thể khu vực dịch vụ của Việt Nam đến 2020”

đã nêu rõ “Coi logistics là yếu tố then chốt thúc đẩy phát triển sản xuất, hệ thống phân phối các ngành dịch vụ khác và lưu thông hàng hóa” và coi yếu tố đào tạo, giáo dục là yếu tố then chốt để dần tiến tới mục tiêu hình thành nền kinh tế tri thức trong các giai đoạn phát triển tiếp sau Chính vì vậy mà việc nghiên cứu các giải

Trang 6

pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho khu vực dịch vụ logistics của Việt Nam là

cần thiết và cấp bách Xuất phát từ thực tiễn trên, em đã chọn đề tài “Nguồn nhân

lực trong lĩnh vực Logistics tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài

nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên những phân tích về thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ logistics ở Việt Nam để thấy điểm mạnh và điểm cần khắc phục đối với toàn bộ lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực này; từ đó đề xuất một số giải pháp để thực hiện phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo đề tài mang tính khoa học và thực tiễn cao, trong khóa luận này người viết đã sử dụng chủ yếu hai phương pháp cơ bản của kinh tế để có thể nhìn nhận vấn đề một cách khái quát và thực tế nhất Cụ thể là:

 Phương pháp tổng hợp, thống kê từ các nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí website,…

 Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam hiện nay

 Phạm vi nghiên cứu: Nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam trong những năm gần đây

5 Nội dung nghiên cứu:

Khóa luận gồm 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về logistics và nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics

Chương II: Thực trạng về nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam Chương III: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LOGISTICS VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS 1.1 Tổng quan về logistics

1.1.1 Lịch sử hình thành logistics

Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất Cũng giống như từ

“Marketing” thì “Logistics” cũng không có bất cứ một từ đơn Tiếng Việt nào có thể diễn đạt trọn vẹn được ý nghĩa của từ, bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng Vậy logistics bắt đầu từ bao giờ và trong bối cảnh nào?

Vào đầu thế kỷ 18, khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu thì mục tiêu kinh doanh lúc đó là hướng vào sản xuất Mỗi doanh nghiệp đều tập trung khả năng vào việc giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm Đến đầu thế kỷ 19, sản xuất bắt đầu bắt kịp với nhu cầu và các doanh nghiệp nhận thức được rằng việc bán hàng có tầm quan trọng vô cùng to lớn Nhưng logistics/phân phối vật chất vẫn bị giới kinh doanh lãng quên cho đến tận sau này

Thuật ngữ logistics đầu tiên được sử dụng trong quân đội và mang nghĩa là

"hậu cần" hoặc "tiếp vận" Trong suốt Chiến tranh Thế giới II, các lực lượng quân đội đã sử dụng các phương thức logistics để cung cấp hàng hóa tiếp vận một cách hiệu quả để đảm bảo rằng quân nhu được đáp ứng đúng nơi đúng lúc Thuật ngữ này hiện nay vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong quân đội và các ứng dụng dạng quân đội Trong thời kỳ Ethiopia được cứu trợ thoát khỏi nạn đói vào những năm 80 thì thuật ngữ này được dùng để chỉ các hoạt động cung cấp lương thực

Rất nhiều phương thức logistics được biết đến trong Chiến tranh Thế giới II đã tạm thời bị lãng quên trong hoạt động kinh tế thời hậu chiến tranh Các giám đốc marketing bắt đầu hướng sự chú ý vào việc đáp ứng nhu cầu về hàng hoá thời hậu chiến tranh Việc thu hẹp lợi nhuận sau cuộc khủng hoàng năm 1958 đã tạo ra một môi trường khiến các nhà kinh doanh trên thế giới phải tìm kiếm các hệ thống kiểm soát chi phí hiệu quả hơn Hầu như cùng một lúc, nhiều doanh nghiệp nhận thức rằng phân phối vật chất và logistics là những vấn đề mà họ chưa thật sự quan tâm, dành công sức để nghiên cứu nó Một loạt các xu hướng khác cũng đã được nhận thức rõ và điều này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tập trung chú ý vào phân phối sản xuất Đó là các xu hướng sau:

Trang 8

Thứ nhất, chi phí vận tải tăng nhanh một cách chóng mặt Với việc giá cả của

các phương thức phân phối truyền thống tăng cao thì các nhà quản trị đã nhận thức được nhu cầu phải kiểm soát các chi phí này tốt hơn Vào những năm 70, các chi phí này càng trở nên quan trọng khi giá nhiên liệu tăng lên và sự khan hiếm về địa điểm Vận tải không còn được coi là một nhân tố ổn định trong các phương trình của các nhà hoạch định kinh doanh Việc quản trị cấp cao đã bao gồm các khía cạnh logistics có liên quan đến vận tải, cả trong hoạt động và các cấp độ chính sách, do

có rất nhiều quyết định mới được đưa ra nhằm thích ứng với sự thay đổi chóng mặt trong tất cả các lĩnh vực của vận tải

Thứ hai, hiệu quả sản xuất đã đạt tới đỉnh điểm Việc tạo nên sự tiết kiệm chi

phí thêm nữa trở nên hết sức khó khăn bởi vì sự tiết kiệm đã bị vắt kiệt trong sản xuất Mặt khác, phân phối vật chất và logistics vẫn là lĩnh vực hầu như chưa được khai phá

Thứ ba, có sự thay đổi đáng kể trong triết lý về hàng tồn kho Vào thời điểm

đó, các nhà bán lẻ nắm giữ xấp xỉ một nửa số lượng hàng thành phẩm trong kho còn các nhà bán buôn và các nhà sản xuất nắm giữ phần còn lại Trong những năm 50, các kỹ thuật phức tạp hơn nhằm kiểm soát hàng hoá trong kho, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh hàng tạp hoá, đã làm giảm tổng số lượng hàng hoá trong kho và làm thay đổi tỷ lệ nắm giữ hàng hoá của các nhà bán lẻ xuống còn 10% còn các nhà phân phối và sản xuất nắm giữ 90%

Thứ tư, các dây chuyền sản xuất gia tăng nhanh chóng, đây là hệ quả trực tiếp

của triết lý marketing cung cấp cho mỗi khách hàng loại sản phẩm cụ thể mà họ yêu cầu Ví dụ, cho đến giữa những năm 50, các sản phẩm như máy đánh chữ, bóng đèn điện, giấy vệ sinh có chức năng là chính công dụng của nó Nhưng gần đây, sự khác biệt của sản phẩm không còn bị giới hạn bởi sự khác biệt về cấu trúc thực tế Một người buôn bóng đèn điện có thể không chỉ bán bóng đèn điện vàng mà còn có thể buôn bán những loại bóng đèn điện khác với nhiều màu sắc và chủng loại hơn, tiết kiệm điện năng hơn sao cho phù hợp với yêu cầu của người mua hơn

Thứ năm, công nghệ tin học đã tạo nên sự thay đổi lớn Quản trị việc tiếp cận

logistics bao gồm một số lượng lớn chi tiết và dữ liệu May mắn thay, các khái niệm

về phân phối vật chất và logistics đang được phát triển, cùng với đó là sự xuất hiện của máy vi tính cho phép các khái niệm được đưa vào thực tiễn Nếu không có sự

Trang 9

phát triển và sử dụng máy vi tính trong thời gian này, các khái niệm về logistics và phân phối vật chất sẽ vẫn chỉ là các học thuyết ít có khả năng áp dụng vào thực tế

Thứ sáu, việc sử dụng máy vi tính ngày càng nhiều cũng là một nhân tố, bởi vì

ngay cả khi một doanh nghiệp cụ thể nào đó không sử dụng máy vi tính thì nhà cung cấp và khách hàng của doanh nghiệp này cũng vẫn sử dụng Điều này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp biết được một cách có hệ thống chất lượng dịch vụ

mà họ nhận được từ nhà cung cấp của mình Dựa trên loại phân tích này, rất nhiều doanh nghiệp đã có khả năng nhận ra được nhà cung cấp nào đã cung cấp dịch vụ dưới mức tiêu chuẩn cho mình Rất nhiều doanh nghiệp đã được thức tỉnh để nhận

ra được nhu cầu cần thiết phải nâng cấp hệ thống phân phối của mình Và khi các doanh nghiệp sản xuất chuyển sang áp dụng hệ thống JIT thì họ cũng đặt ra cho các nhà cung cấp một yêu cầu rất chính xác về vận chuyển nguyên vật liệu

1.1.2 Một số khái niệm logistics

Bất cứ khi nào có sự thay đổi lớn trong một lĩnh vực thì các thuật ngữ và định nghĩa cũng thay đổi theo Logistics cũng không nằm ngoài quy luật đó Các thuật ngữ như : logistics kinh doanh, phân phối vật chất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật phân phối, quản trị logistics đều là các thuật ngữ được sử dụng để diễn đạt cùng một chủ đề, đó là cái mà chúng ta gọi là logistics Logistics diễn tả toàn bộ quá trình nguyên vật liệu và sản phẩm đi vào, qua và đi ra khỏi doanh nghiệp

Hình 1.1: Kiểm soát dòng vận động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp

Nguyên vật liệu Nhà bán lẻ

K

H

À

N

G

Quản trị nguyên vật liệu Phân phối vật chất

Logistics kinh doanh

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Vậy logistics là gì? Đây là một khái niệm còn mới mẻ đối với phần lớn người Việt Nam tuy nhiên trên thế giới thuật ngữ logistics đã xuất hiện từ lâu Lúc mới

Quá trình sản xuất

Nhà máy

Kho chứa thành phẩm

Nhà bán buôn

Trang 10

đầu du nhập vào Việt Nam, nhiều người cho rằng logistics là hậu cần hay tiếp nhận hoặc tổ chức dịch vụ cung ứng…Tuy nhiên những thuật ngữ đó chưa phán ánh một cách đầy đủ và đúng đắn bản chất của logistics Do vậy cũng giống như thuật ngữ

“Marketing”, cách tốt nhất là giữ nguyên thuật ngữ này và bổ sung chúng vào tiếng Việt

Logistics được đưa ra lần đầu tiên với tư cách là một thuật ngữ bởi một nhà quân sự người Thuỵ Sỹ Baron Antonie Henry Trong tác phẩm “Tổng kết lịch sử quân sự” xuất bản năm 1838, ông này lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ logistics với ý nghĩa là nghệ thuật điều chuyển quân đội Từ điển bách khoa Webster cũng định nghĩa logistics là: “một nhánh của khoa học quân sự thực hiện các hoạt động thu thập, bảo quản và vận chuyển nguyên liệu, nhân sự và phương tiện”

Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ- 1988: “Logistics là quá trình lên

kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thoả mãn những yêu cầu của khách hàng”

 Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ Logistics (CLM) quốc tế (Hội đồng này thiết lập các nguyên tắc, thể lệ, nội dung mà các DN cung cấp dịch vụ Logistics

các nước thường áp dụng và chịu quy chế của Hội đồng này) “Logistics là một phần

của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”

Theo quan điểm “5 đúng” (5 rights) thì: “logistics là quá trình cung

cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm”

 Theo Logistics and Supply Chain Management của MA Shuo (World

Maritime University, 1999) thì: “logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và

chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”

Trang 11

 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm

“logistics” mà đưa ra khái niệm “dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là

hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng

để hưởng thù lao” (Điều 233- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005)

Theo định các nghĩa này, thì logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà

là một quá trình gồm một chuỗi các hoạt động có liên quan, được thực hiện khoa học và có tác động qua lại lẫn nhau Logistics gồm hoạt động xây dựng chiến lược cũng như thực hiện chiến lược Logistics không chỉ đơn thuần liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan tới tất cả nguồn tài nguyên, các yếu tố đầu vào như vốn, nhân lực, vật lực cũng như thông tin, bí quyết công nghệ, dịch vụ Đây là những yếu tố cần thiết để tạo nên sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức Cấp độ thứ nhất các vấn đề được đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ…ở đâu? Vào khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu? Cấp độ thứ hai

là việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên, các yêu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyện cung ứng

Qua các khái niệm trên, ta thấy rằng tuy có sự khác nhau về từ ngữ và cách diễn đạt, nhưng các tác giả đều cho rằng: logistics là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến tay người tiêu dùng Mục đích là giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời (Just in time)

Trang 12

1.1.3 Chức năng của logistics

1.1.3.1 Logistics có chức năng là một dịch vụ

Logistics có chức năng là một dịch vụ Nó tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp Dịch vụ, đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng, đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, mà các yếu tố này lại được tập hợp dưới sự điều hành của logistics Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất Tuy nhiên, nó không chỉ bị hạn chế trong các dịch vụ hữu hạn này Ngược lại, bản chất của các chức năng cơ bản này chỉ ra các mức độ khác nhau của việc nhấn mạnh vào các yếu tố khác của logistics

Ví dụ như:

 Một trong ba chức năng cơ bản là quản trị nguyên vật liệu, chuyển giao lưu kho nội bộ và phân phối vật chất đều trực tiếp dẫn tới yêu cầu phải lưu kho Nguyên vật liệu cho sản xuất bao giờ cũng được cung ứng nhiều hơn so với mức cầu, và sự dư thừa này cần phải được kiểm soát và dự báo trước Quá trình sản xuất, bất kể là trong một doanh nghiệp hay trong các doanh nghiệp phân tán trong một vùng địa lý cũng cần phải được kiểm soát, tính toán và được tiến hành thông qua kỹ thuật chuyển giao lưu kho nội bộ Các sản phẩm, trừ trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng, được sản xuất ra đều vượt quá cầu và phần thừa

đó được lưu trong kho Việc lưu kho cũng đòi hỏi phải dự trữ sẵn và kiểm soát các phụ tùng thay thế nhằm duy trì hoạt động sản xuất

 Sự xuất hiện của vấn đề lưu kho đã làm nảy sinh nhu cầu phải xây dựng nhà xưởng Nhà kho và phòng chứa cần phải được cung cấp để lưu trữ và kiểm soát nguyên liệu phục vụ sản xuất, sản phẩm và các thiết bị cần lưu kho khác

mà doanh nghiệp cần đến

 Thiết bị sản xuất tất yếu sẽ bị hỏng hóc, vì vậy chúng cần được đem đến cho dịch vụ sửa chữa trong thời gian sớm nhất có thể Điều này đã tạo nên nhu cầu phải thiết lập khả năng bảo dưỡng, sửa chữa và nhà xưởng cần thiết phục vụ cho việc bảo dưỡng

 Lực lượng lao động tham gia vào sản xuất phải được đào tạo vận hành các thiết bị sản xuất Nhân viên bảo dưỡng cũng phải được đào tạo để phát triển khả

Trang 13

năng sửa chữa đối với cùng một loại máy móc thiết bị Ngược lại, trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng đòi hỏi phải sử dụng các tài liệu kỹ thuật, dụng cụ, thiết bị hỗ trợ và kiểm tra

Từ những diễn giải trên, ta thấy một doanh nghiệp trong điều kiện hoạt động bình thường sẽ cần tới sự hỗ trợ từ các yếu tố logistics Một yếu tố logistics cụ thể,

ví dụ như việc bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị sản xuất, sẽ được cung cấp từ một nhà chuyên nghiệp chứ không phải từ trong doanh nghiệp Tuy nhiên điều này cũng không thể làm mất đi nhu cầu cho dịch vụ này, mà chỉ đơn giản là nó được cung cấp

từ một nguồn bên ngoài doanh nghiệp Nhưng trách nhiệm đối với chất lượng của

sự hỗ trợ này lại là trách nhiệm của logistics trong doanh nghiệp

1.1.3.2 Logistics có chức năng hỗ trợ

Logistics có chức năng hỗ trợ, thể hiện ở điểm nó tồn tại chỉ để cung cấp sự hỗ trợ cho các bộ phận khác của doanh nghiệp Logistics hỗ trợ quá trình sản xuất (là logistics hoạt động), nó còn hỗ trợ cho sản phẩm sau khi được chuyển quyền sở hữu

từ người sản xuất sang người tiêu dùng (là logistics hệ thống) Điều này không có nghĩa là quá trình sản xuất không bao gồm các yếu tố của logistics hệ thống hay là hoạt động hỗ trợ sau khi chuyển giao quyền sở hữu không bao gồm các yếu tố của logistics hoạt động Trên thực tế, các khía cạnh logistics được liên kết với nhau và được sắp xếp tuần tự, kết hợp chặt chẽ với nhau

Xem xét một ví dụ là người ta ngày càng sử dụng nhiều robot trong quá trình sản xuất Những công nghệ tiên tiến này đòi hỏi công nhân phải được đào tạo để phát triển các kỹ năng cần thiết để vận hành và sửa chữa các robot Công việc sửa chữa lại đòi hỏi phải có tài liệu kỹ thuật đặc biệt, dụng cụ đặc biệt và thiết bị kiểm tra, thậm chí là cả một nhà máy sửa chữa Tất cả những cái này đều là các yếu tố của hệ thống logistics Xem xét ở khía cạnh khác, coi như nhà máy sửa chữa được dùng để cung cấp sự hỗ trợ tiếp sau việc chuyển giao quyền sở hữu Để sửa chữa có hiệu quả thì nhà máy đó phải duy trì một kho chứa phụ tùng thay thế, và kho này phải được nhập hàng thường xuyên khi các phụ tùng thay thế được sử dụng trong quá trình sửa chữa Sự di chuyển của phụ tùng thay thế vào trong nhà máy và hệ quả của nó là việc lưu trữ hàng hoá cho đến khi cần dùng để sửa chữa đã tạo nên các yếu tố của logistics hoạt động Sự liên kết tự nhiên của logistics đã cho thấy

Trang 14

những lý luận cho rằng logistics hoạt động đối lập với logistics hệ thống là không đúng Do vậy, chỉ có một loại logisitcs với các yếu tố như vận tải (việc di chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá), kho bãi, phụ tùng thay thế, nhân sự và đào tạo nhân sự, tài liệu, thiết bị kiểm tra và hỗ trợ, nhà xưởng Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất

kỳ yếu tố logistics nào với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tuỳ theo cấp độ yêu cầu của doanh nghiệp mình

Hình 1.2: Bốn chức năng hoạt động của doanh nghiệp

Nguồn: tác giả tự tổng hợp

Theo hình 1.2, logistics hỗ trợ cho các chức năng khác của doanh nghiệp Sản xuất được logistics hỗ trợ thông qua quản lý mua vào và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào trong doanh nghiệp, quản lý bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp Marketing được logistics hỗ trợ thông qua quản lý việc di chuyển và lưu trữ hàng thành phẩm Logistics hỗ trợ sản xuất và marketing có thể sẽ dẫn đến yêu cầu phải đào tạo nhân lực, dự trữ phụ tùng thay thế hay bất kỳ một yếu tố nào khác nữa của logistics Ví dụ, việc sản xuất có thể làm phát sinh nhu cầu phải đào tạo người lao động để vận hành và sửa chữa máy móc trong quá trình sản xuất Mặt khác, marketing lại đòi hỏi phải đào tạo khách hàng để họ biết cách sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp Logistics cũng có thể đóng vai trò liên kết với chức năng tài chính để giải quyết bất kỳ xung đột nào phát sinh giữa các chức năng của doanh nghiệp do doanh nghiệp có quá nhiều mục tiêu phải hoàn thành cùng một lúc

Trang 15

1.1.4 Vai trò của logistics

Từ những điều trình bày ở trên cho thấy logistics là một chức năng kinh tế có ảnh hương sâu rộng đến toàn bộ doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế mở Trong thời đại mới ngày nay người ta luôn mong muốn những dịch vụ hoàn hảo và điều đó sẽ đạt được khi phát triển logistics

1.1.4.1 Vai trò của logistics với các doanh nghiệp

Logistics tồn tại tất yếu trong các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được quyền tự chủ chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ và thị trường, kênh phân phối Khi thực hiện quyền tự chủ này, doanh nghiệp phải tổ chức quá trình vận chuyển, cung ứng máy móc, nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất (logistics đầu vào) và tổ chức quá trình quản lý, dự trữ, phân phối và tiêu thụ

sản phẩm (logistics đầu ra)

Logistics giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống thay vì tối ưu hóa cục bộ mà không tính đến hiệu quả chung

Logistics có vai trò giảm chi phí và nâng cao hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp trong việc xác định vị trí, thời gian tối ưu của các tài nguyên đầu vào, sản phẩm thông qua hàng loạt hoạt động kinh tế như tìm kiếm và duy trì nguồn cung cấp nguyên liệu với giá cả thấp hơn, thiết kế mô hình cung ứng tối ưu hơn sao cho giảm thiểu chi phí vận chuyển và phân phối, giảm thời gian, khối lượng hàng tồn kho nguyên liệu và sản phẩm (nghĩa là giảm lượng vốn lưu động và tăng số vòng quay vốn), loại bỏ tác động giảm giá trị theo thời gian của tồn kho, đặt hàng nguyên liệu vào thời điểm thích hợp với khối lượng hàng tối ưu EOQ (Economic Order Quantity) Vì vậy, quản trị logistics tốt trở thành một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh về chi phí của các công ty trên thị trường

Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã mở rộng khả năng dịch vụ khách hàng của logistics, gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấp cho khách hàng (thông qua dịch vụ cộng thêm và cam kết của doanh nghiệp), qua đó tăng doanh thu và lợi nhuận Trên phương diện này, logistics là một công cụ

để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về khác biệt hóa và tập trung

Quản lý thông tin tốt trong logistics đem lại khả năng phản ứng nhanh hơn với nhu cầu, giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường Ví dụ như nhờ ứng dụng công

Trang 16

nghệ thông tin vào hệ thống đặt hàng, sản xuất và phân phối hàng thời trang, công

ty The Limited (Mỹ) đã giảm chu trình từ đặt hàng đến khi trưng bày trên các cửa hàng ở Mỹ xuống còn 60 ngày trong khi thời gian này ở các công ty khác là 180 ngày, đem lại khả năng tung ra sản phẩm trước các đối thủ, đáp ứng nhu cầu thời trang mới tốt hơn

1.1.4.2 Vai trò của logistics đối với nền kinh tế

Trình độ phát triển và chi phí logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập nhanh và hiệu quả của một nền kinh tế Tăng chất lượng và giảm chi phí logistics có vai trò nâng cao khả năng tiếp cận của các nguồn lực trong nước với thị trường quốc tế và thu hút các nguồn lực quốc tế vào trong nước, nhờ đó gia tăng kim ngạch ngoại thương, đầu tư, du lịch, GDP và thu nhập đầu người Chi phí logistics (khoảng cách kinh tế) tác động đến ngoại thương theo quan hệ: “khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với tích số của tiềm năng kinh

tế của hai nước và tỷ lệ nghịch với khoảng cách kinh tế giữa hai nước đó” Điều này giải thích khoảng cách địa lý từ Thái Lan đến Mỹ xa hơn Việt Nam nhưng khối lượng xuất nhập khẩu giữa Thái Lan và Mỹ lớn hơn vì tiềm năng kinh tế của Thái Lan lớn hơn và khoảng cách kinh tế nhỏ hơn so với Việt Nam Theo nghiên cứu của Hummels (1999) thì lượng hóa tác động thúc đẩy xuất khẩu của logistics ước tính khi các nhà xuất khẩu được giảm chi phí vận tải đi 1% sẽ tăng kim ngạch xuất khẩu

từ 5% đế 8% Trong khi đó, tỷ lệ kim ngạch ngoại thương với GDP tăng 1% thì thu nhập đầu người tăng ít nhất là 0,5% theo Frankel và Romer (1999) Vì vậy giảm chi phí logistics có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia

Trong quá trình hội nhập, quốc gia có chi phí logistics thấp và hiệu quả logistics cao sẽ có lợi thế cạnh tranh quốc tế cao hơn Hiệu quả logistics trên quy

mô nền kinh tế là tỷ trọng chi phí logistics trong khối lượng hàng hóa và dịch vụ được thực hiện, nâng cao hiệu quả logistics phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên cho logistics được nâng lên Nghiên cứu của Limao và Venables (2001) cho thấy sự khác biệt trong chất lượng kết cấu hạ tầng giao thông chiếm đến 40% trong sự chênh lệch chi phí vận tải đối với các nước giáp biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp biển Redding and Venables (2002) ước tính sự chênh lệch về

Trang 17

thu nhập đầu người giữa các quốc gia 70% là do sự phân bố địa lý thị trường và khả năng tiếp cận các nhà cung cấp, chỉ riêng khả năng tiếp cận với đường bờ biển tốt hơn đã làm tăng thu nhập thêm 20%

Về đầu tư quốc tế, trình độ và chi phí logistics của quốc gia là căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các công ty đa quốc gia (MNC), các MNC sẽ ưu tiên lựa chọn các quốc gia có dịch vụ logistics phát triển, hệ thống vận tải, phân phối nhanh chóng, thuận lợi và chi phí thấp hơn Do đó phát triển dịch vụ logistics

và hệ thống vận tải, phân phối đóng vai trò là chất xúc tác thu hút FDI

Dịch vụ logistics là một ngành kinh tế riêng, có giá trị gia tăng cao, giúp tăng thu ngoại tệ và xuất khẩu dịch vụ, đóng góp vào thu nhập quốc dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Sự phát triển của dịch vụ logistics thúc đẩy sự đa dạng và kết hợp giữa các loại hình vận tải dẫn đến chi phí giảm dần do tính kinh tế quy mô (đặc điểm của dịch vụ vận tải là vốn đầu tư và chi phí cố định lớn, nên tính kinh tế theo quy mô phát huy rất rõ nét), hệ thống giao thông cũng phát triển vượt bậc về quy mô và chất lượng phục vụ Tốc độ tăng trưởng của hệ thống vận tải và dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của một quốc gia thông qua đáp ứng nhu cầu vận chuyển gia tăng của hàng hóa và hành khách Nhiều chuyên gia logistics cho rằng việc tự do hóa cung cấp các dịch vụ cảng biển và điều tiết lực thị trường trong ngành vận tải biển có thể làm giảm chi phí vận tải hàng hải đến một phần ba Sự phát triển vượt bậc của Singapore và Hong Kong nhờ đầu tư vào hệ thống vận tải và các dịch vụ logistics đã kích thích tăng trưởng xuất khẩu và GDP là một minh chứng sinh động

Trang 18

hình thành và phát triển logistics sẽ rất rộng mở và tiềm năng Với việc hình thành

và phát triển dịch vụ logistics, sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh

tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đơn giản hơn và đạt hiệu quả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu – những quốc gia phát triển thì chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới

Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông Karl Marx

đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải” Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và phát triển sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý,…) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển

Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản,

Trang 19

thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider – forwarder) Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp

ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

Trên thực tế, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục

vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch

Trang 20

quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy

tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán và giao dịch quốc tế Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo

ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ

logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

1.2 Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực với tư cách là toàn bộ khả năng lao động xã hội của một quốc gia nói chung hay từng địa phương, từng tổ chức Hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới, đều đặt vấn đề về con người và nguồn nhân lực là trung tâm, là linh hồn trong chiến lược phát triển đất nước, kinh tế và xã hội Nguồn nhân lực đã là điểm cốt yếu nhất của nội lực của mỗi đất nước Vậy mà cho đến nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Tuy nhiên, vấn đề nguồn nhân lực là rất phức tạp, nên các quan niệm chưa thống nhất Dưới đây là một số quan điểm và định nghĩa về nguồn nhân lực:

 Theo thuyết lao động xã hội, thì nguồn nhân lực được phân thành hai nghĩa: nghĩa rộng của nguồn nhân lực là nơi cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội còn nghĩa hẹp của nguồn nhân lực là khả năng lao động xã hội, gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động tham gia vào quá trình sản xuất xã hội là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động

 Theo lý luận Mác – Lê Nin, thì nguồn nhân lực được xem xét như là một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh

tế, xã hội Nguồn nhân lực được coi như một nhu cầu tất yếu cùng với các nguồn lực khác cho sự phát triển của đất nước Bởi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu

Trang 21

và động lực cho mọi sự phát triển xã hội, đầu tư cho con người càng nhiều càng có hiệu quả và thu hồi vốn khá cao so với đầu tư vào các lĩnh lực khác, cho nên hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng phát triển nguồn nhân lực làm cơ bản

 Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó Ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn bên cạnh các loại vốn vật chất khác và đầu tư cho con người được đặt lên hàng đầu trên các loại đầu

tư khác, có thể nói đây là cơ sở vững chắc cho sự phát triển lâu dài, bền vững của mỗi quốc gia

 Theo các quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam: Nguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người; bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khoẻ, năng lực và phẩm chất, thái độ, Theo đó nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Ở Việt Nam hiện nay, đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn nhân lực chính là nguồn lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động,

có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do đang trong tình trạng thất nghiệp, đang đi học, đang đảm đương nội trợ trong gia đình và kể cả không có nhu cầu làm việc trong thời điểm hiện tại

Nhìn chung, tiếp cận ở mỗi góc độ khác nhau, thì có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng về cơ bản các quan niệm đều thống nhất khi nói về nguồn nhân lực đó là nguồn lực của con người

Như vậy, “nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ

lực lượng lao động xã hội của một quốc gia; trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội” Có thể nói nguồn nhân lực là số lượng dân

số, đặc biệt là dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động cùng với cơ cấu chất lượng của nó; trình độ dân trí gồm trình độ văn hoá, trí tuệ, năng lực tư duy, tích luỹ kinh nghiệm văn hoá dân tộc, thế giới; trình độ tay nghề; thể chất con người gồm các yếu tố về sức khoẻ, độ bền, sức dẻo dai, chiều cao, cân nặng, phát triển cân

Trang 22

đối tinh thần và thể chất; về phong cách lao động của con người gồm ý thức kỷ luật lao động, tinh thần trách nhiệm với công việc, lòng yêu nước, yêu lao động, lao động cần cù, có kỹ thuật, có năng suất cao

1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực

1.2.2.1 Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng qui mô và sản lượng của nền kinh tế so với thời kỳ trước đó, thường đo bằng sự gia tăng của các chỉ số như GDP và GNP Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có mối tương quan chặt chẽ với vốn vật chất và nguồn lực con người Năm 1994, Paul Krugman đã đưa ra mức đóng góp của nguồn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ cất cánh của các nước châu Âu (1850 đến nửa đầu thế kỷ 20), của Mỹ (1890 đến đầu thế kỷ 20) và Nhật Bản (1950

- 1970) thì tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn là 34,4% và vốn con người đóng góp 65,6%; Điều đó chứng tỏ rằng nguồn nhân lực là yếu tố rất quan trọng mà mỗi quốc gia đều phải tính đến

Theo báo cáo WDIS của WB năm 2000 phân tích các nền kinh tế Đông Nam

Á, 60% tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế là do đóng góp của tích luỹ, vốn vật chất và vốn con người Trong 60% đó, vốn vật chất đóng góp từ 33-49%, còn lại 51

- 65% là phần đóng góp của vốn con người (qua chỉ số về trình độ giáo dục)

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới chứng minh rằng, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, nhất thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ lao động

kỹ thuật Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chính là tiền đề thành công của các nước công nghiệp mới ở châu Á Kinh nghiệm cho thấy, chưa có một quốc gia phát triển nào đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao trước khi hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong những thập niên 70 - 80 đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trước khi các nền kinh tế đó bước vào thời kỳ phát triển mạnh

1.2.2.2 Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến phát triển lực lượng sản xuất

Các Mác là người đầu tiên có công phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loại người Để tồn tại, trước hết con người cần phải ăn, ở, mặc, đi lại, trước khi tham gia hoạt động chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo,…Tức là con người phải lao động để thoả mãn nhu cầu của mình Lao động của con người là lao động

Trang 23

theo phương thức sản xuất vật chất nhất định, là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất được cấu thành bởi người lao động, tư liệu sản xuất và dự báo khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một nhân tố của lực lượng sản xuất nhưng lao động của con người là lao động sáng tạo Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người không ngừng làm giàu cho trí tuệ của mình để chế tạo ra những công nghệ mới

Hiện nay, khoa học công nghệ đã có những tác động mạnh mẽ, nhanh chóng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Sự phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, rút cuộc đều là do sự sáng tạo của con người, do con người có trình độ cao phát minh, sáng tạo

Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực đặc biệt với những người lao động có trình độ chuyên môn cao, nó là điều kiện hàng đầu thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển; trí tuệ của con người được chuyển hoá thành công nghệ và chính con người áp dụng công nghệ đó vào quá trình sản xuất để làm cho các nguồn lực khác được sử dụng một cách hiệu quả hơn Nguồn nhân lực là động lực có sức mạnh to lớn thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển, là yếu tố quyết định phát triển lực lượng sản xuất

1.2.2.3 Nguồn nhân lực là động lực để phát triển kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức (Knowledge Economy) ra đời và phát triển với những tên gọi khác nhau như: kinh tế dựa trên tri thức kinh tế mới, kinh tế thông tin, kinh tế hậu công nghiệp, kinh tế mạng, kinh tế số, Đây là một nền kinh tế gắn liền với công nghệ cao trong đó tri thức được sử dụng để sản sinh ra lợi tức kinh tế cao, là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế, xã hội Kinh tế tri thức là nền kinh tế, trong đó việc sáng tạo ra, truyền thông, quảng bá nhanh để đưa vào ứng dụng tri thức là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải vật chất, tạo

ra việc làm cho tất cả các ngành kinh tế

Trong cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, máy móc thay thế lao động cơ bắp của con người; còn cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại ngày nay, máy tính giúp con người lao động trí óc và nhân gấp bội sức mạnh trí tuệ, sức sáng tạo Tri thức trở thành nguồn vốn vô hình lớn nhất quan trọng hơn cả các nguồn lực

Trang 24

phát triển khác Lực lượng sản xuất của xã hội đang chuyển từ việc dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên sang dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người, đúng như Các Mác đã từng dự báo: “Một khi lao động dưới hình thái trực tiếp của nó không còn là nguồn của cải vĩ đại nữa thì thời gian lao động không còn là thước đo giá trị nữa Lao động thặng dư của quần chúng công nhân không còn là điều kiện để phát triển của cải phổ biến, cũng giống như sự không lao động của một số ít người không còn là điều kiện cho sự phát triển những sức mạnh phổ biến của đầu óc con người nữa”

Thực tiễn đã chứng minh rằng, nguồn gốc giàu có của một quốc gia chính là tri thức và chỉ có con người mới có khả năng nắm giữ tri thức và sản sinh tri thức Nhiều nước lúc đầu cũng là nước nông nghiệp như Hàn Quốc, Phần Lan, Thái Lan , nhưng đã năng động tranh thủ thời cơ đi thẳng vào kinh tế tri thức, chỉ hơn hai thập niên các nước này đã trở thành nước công nghiệp hiện đại có nền kinh tế tri thức trình độ cao, từng bước vươn lên mạnh mẽ

Để có nền kinh tế tri thức đòi hỏi xã hội phải có nền khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo rất phát triển; trình độ văn hoá và nghề nghiệp của người lao động rất cao, xã hội có khả năng sáng tạo tri thức mới Như Đảng Cộng sản Việt Nam

đã xác định: “Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”

Một thực tế cho thấy, sức sản xuất của xã hội đang chuyển dịch mạnh mẽ từ dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và vốn sang dựa vào chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người Do vậy, để hiện thực hóa nền kinh tế tri thức phải đặc biệt coi trọng việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả

Muốn vậy phải cải cách triệt để nền giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo, thích nghi với sự phát triển, tạo cơ hội

để tiếp cận kinh tế tri thức

1.2.2.4 Nguồn nhân lực là yếu tố thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động

Trang 25

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành của nền kinh tế với vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ giữa các bộ phận đó Cơ cấu kinh tế chủ yếu gồm cơ cấu ngành, vùng, quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ, thành phần kinh tế, trình độ xã hội hoá sản xuất, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: "Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH"

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế dựa trên cơ sở phát huy những lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của đất nước trong điều kiện cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế, nó là quá trình tiếp tục phát triển phân công lao động xã hội

Nguồn nhân lực đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân qua kỹ năng và khả năng sản xuất của người lao động Người có học vấn cao có

cơ hội tìm được việc làm tốt hơn và ít khi bị thất nghiệp Nghiên cứu của Krueger

và Lindahl cho thấy, nếu trình độ học vấn cao hơn thì thu nhập trung bình một năm tăng từ 5-15% Nghiên cứu của Becker trước đó cũng công bố kết quả tương tự nhưng ông cũng chỉ rõ giữa những người cùng trình độ, thu nhập trung bình có thể khác nhau tuỳ theo giới tính và chủng tộc

Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy, giáo dục phổ thông có vai trò rất quan trọng đối với mức tăng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Thực tiễn từ Uganđa, nơi có nền giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 7 cũng khẳng định điều đó

Ví dụ, một nông trại có công nhân có trình độ lớp 4 thì sản lượng của nông trại tăng 7%, công nhân có trình độ lớp 7 thì sản lượng nông trại tăng 13% so với những nông trại không có ai đi học (theo Birdsall (1995), xem xét lại vấn đề bất bình đẳng

và tăng trưởng)

Chất lượng nguồn nhân lực càng cao càng thúc đẩy nhanh quá trình hình thành

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng hiện đại cả về quy mô và cường độ Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động càng tiến bộ càng đòi hỏi khả năng thích ứng cao hơn của nguồn nhân lực cả về trình độ học vấn, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp,…

Trang 26

1.2.2.5 Nguồn nhân lực là động lực hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày nay, với sự trợ lực quốc tế được coi là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một trong những xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, những phát minh mạnh

mẽ về khoa học, công nghệ, đã góp phần đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá nền kinh

tế thế giới, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển nhanh chóng mậu dịch quốc tế, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu

Mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được coi là rất quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

đã được thúc đẩy một cách tương đối mạnh mẽ trong vòng gần hơn 20 năm qua, với

sự khởi đầu là việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm

1995 Tiếp theo đó là Việt Nam đã ký cam kết một số điều, đặc biệt là về chế độ thuế với Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA),… Quan hệ thương mại với các nước trong khu vực đang được cải thiện, nhất là với các nước láng giềng như Thái Lan, Trung Quốc… Cùng với việc bình thường hoá quan hệ thương mại với

Mỹ vào năm 1995, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào năm 2007

Trong bối cảnh ấy Việt Nam có cơ hội phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để tiếp thu, làm chủ, thích nghi, thu hút được nhiều vốn đầu tư, công nghệ hiện đại và lao động trình độ cao từ bên ngoài Điều này đòi hỏi Việt Nam cần nhanh chóng tạo ra đội ngũ những người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tri thức khoa học, công nghệ, phẩm chất đạo đức, nhân cách và sự hiểu biết những nét đặc thù về văn hoá để có thể tham gia vào quá trình hội nhập

Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng là điều kiện là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững để Việt Nam rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC LOGISTICS Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng ngành logistics ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Đặc điểm thị trường dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay

Mặc dù logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhưng ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ Cho đến nay, thị trường dịch vụ logistics Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, với những đặc điểm cơ bản sau:

 Một thị trường có quy mô không lớn, nhưng đầy tiềm năng và hấp dẫn: Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng chưa bền vững và không hiệu quả, đặc biệt, chi phí logistics so với GDP của Việt Nam còn chiếm một tỉ trọng quá cao

Hình 2.1: Tỷ trọng chi phí logistics so với GDP của một số nước

Nguồn: 2013 State of Logistics Report from CSCMP

Hình 2.1 cho thấy trong khi chi phí logistics so với GDP của Mỹ chỉ là 7,7%; của Singapore là 8%; các nước trong EU là 10%; Nhật là 11%; Trung Quốc là 18%, thì của Việt Nam chiếm tới 25% GDP, trong đó chủ yếu là giá trị hàng tồn kho, một tỉ

lệ rất cao so với các quốc gia phát triển Ước tính GDP hàng năm của Việt Nam khoảng từ 100-120 tỉ USD, vậy chi phí Logistics khoảng 25-30 tỉ USD/năm So với các nước lớn, thì con số này tương đối nhỏ, nhưng với chúng ta, con số này thật sự có

% chi phí logistics so với GDP

Trang 28

ý nghĩa, chỉ cần tiết kiệm được 1% chi phí Logistics, đất nước sẽ có một khoản tiền không nhỏ, hàng trăm triệu USD Với các doanh nghiệp hoạt động logistics, thì một nước có chi phí Logistics quá lớn như vậy sẽ là một thị trường đầy hấp dẫn, thỏa sức cho họ vẫy vùng

 Năng lực về logistics của Việt Nam chưa cao:

Bảng 2.1: Chỉ số năng lực logistics của các quốc gia ASEAN (Logistics

Performance Index – LPI)

Quốc gia

Năm 2007 Năm 2009 Năm 2011

Thứ hạng trên thế giới

Điểm (tối

đa 5,0)

Thứ hạng trên thế giới

Điểm (tối

đa 5,0)

Thứ hạng trên thế giới

Nguồn: Báo cáo LPI năm 2008, 2010 và 2012 của WB

Trên bảng xếp hạng năng lực quốc gia về logistics (LPI) của WB cả 3 lần xếp hạng vào các năm 2007, 2009 và 2011 Việt nam vẫn giữ vị trí 53/155 Đây không phải là một vị trí quá thấp nhưng cũng không thể quá tự hào, vì nó cho thấy Việt Nam chỉ phát triển tương đối đồng đều so với các quốc gia khác, chưa thể bứt phá lên được cho dù ngành logistics ở Việt Nam là một ngành đầy tiềm năng và cơ hội

Bảng 2.1 cho thấy nếu xét theo chỉ số LPI có thể chia ASEAN thành 3 nhóm nước, gồm nhóm 1 (Singapore) có trình độ phát triển dịch vụ Logistics cao nhất (nằm trong top đứng đầu thế giới), nhóm 2 (Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Philippines) có trình độ phát triển dịch vụ logistics ở mức trung bình, nhóm 3

Trang 29

(Campuchia, Lào, Myanmar, Đông Timo) có trình độ phát triển dịch vụ Logistics thấp nhất, thì Việt nam đang đứng ở khoảng cuối của nhóm 2, nghĩa là Việt Nam có trình độ phát triển dịch vụ logistics ở mức trung bình thấp của khu vực ASEAN

Hạ tầng cơ sở logistics của Việt Nam yếu kém, thiếu đồng bộ, quy mô nhỏ, rời rạc Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động logistics của Việt Nam hiện nay còn nghèo nàn, quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý So với các quốc gia có ngành logistics phát triển như Singapore, Hà Lan, Trung Quốc,… thì cơ sở vật chất của Việt Nam phục vụ cho logistics mới chỉ đáp ứng được khoảng 40-50% nhu cầu vận tải và giao dịch trong nước và nước ngoài

2.1.2 Thực trạng ngành logistics ở Việt Nam hiện nay

Do nhận biết được logistics là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có thể mang lại lợi nhuận siêu ngạch, nên số lượng công ty có hoạt động liên quan đến Logistics tăng lên nhanh chóng, theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam thì tổng số doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải, kho bãi, bưu chính viễn thông hiện đã lên đến hơn 1200 Các doanh nghiệp này phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, hoạt động rời rạc, đơn lẻ, mỗi doanh nghiệp chỉ biết đến lợi ích của riêng mình, thiếu hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên cuộc cạnh tranh khốc liệt, chủ yếu là cạnh tranh về giá Sắp tới đây, theo lộ trình đã cam kết với WTO, cạnh tranh sẽ gay gắt, khốc liệt hơn

Theo phân loại dịch vụ của WTO thì Việt nam đã cam kết 17 tiểu ngành của 6 phân ngành trong dịch vụ vận tải, bao gồm: dịch vụ vận tải biển, dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng không, dịch vụ vận tải đường sắt, dịch vụ vận tải đường bộ, dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải Nghiên cứu Biểu cam kết

về dịch vụ, cho thấy về dịch vụ vận tải biển, đây là phần cam kết có tác động nhiều nhất đến các doanh nghiệp Việt Nam Cụ thể:

 Dịch vụ vận tải biển: cho phép các công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập liên doanh có vốn góp không quá 51% ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO và được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập Chính vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động này sẽ rất gay gắt và có tác động lớn đến các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh vận tải biển, làm đại lý tàu biển và đại lý vận tải

Trang 30

 Dịch vụ vận tải đường sắt và vận tải đường thủy nội địa: các doanh nghiệp Việt Nam bị tác động ít hơn vì chỉ cam kết ở mức cho thành lập liên doanh với vốn góp của nước ngoài không quá 49%

 Dịch vụ vận tải đường bộ: cam kết chỉ dừng ở mức cho phép thành lập liên doanh với tỉ lệ góp vốn của phía nước ngoài không quá 49% ngay khi gia nhập, sau 3 năm tùy theo nhu cầu của thị trường có thể lập liên doanh với 51% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa Cam kết còn quy định, 100% lái xe của liên doanh phải là người Vệt Nam

 Đối với dịch vụ vận tải hàng không: hiện WTO chưa điều chỉnh dịch

vụ vận tải, mà chỉ điều chỉnh các dịch vụ hỗ trợ, như dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không, đặt giữ chỗ bằng máy tính, dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay Cam kết của Vệt Nam về các dịch vụ này khá cao, rất ít các hạn chế đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Ví dụ các hãng hàng không nước ngoài được phép cung cấp các dịch vụ tại Vệt Nam thông qua văn phòng bán vé máy bay của mình hoặc các đại lý tại Vệt Nam; hoặc kể từ ngày gia nhập, cho phép thành lập liên doanh trong đó phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% Sau 5 năm kể từ khi gia nhập, cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

 Dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, bao gồm dịch vụ xếp dỡ container, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa và một số dịch vụ

hỗ trợ khác: trong lĩnh vực này, đối với mỗi loại dịch vụ, Việt Nam có những cam kết riêng Cụ thể, dịch vụ xếp dỡ container, Vệt Nam cam kết kể từ ngày gia nhập, chỉ cho phép những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cung cấp dịch vụ thông qua liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đó tỉ lệ vốn góp của phía nước ngoài không quá 50% Dịch vụ kho bãi và đại lý vận tải hàng hóa,

kể từ ngày gia nhập cho phép thành lập liên doanh trong đó tỉ lệ vốn góp nước ngoài không vượt quá 51% Sau 7 năm kể từ khi gia nhập sẽ không hạn chế Các dịch vụ khác, Việt Nam cam kết kể từ ngày gia nhập các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đó tỉ lệ góp vốn của bên nước ngoài không

Trang 31

quá 49% Sau 3 năm kể từ khi gia nhập, hạn chế này sẽ là 51%, 4 năm sau

đó, hạn chế về vốn này sẽ được bãi bỏ

Cùng với những tác động của cam kết về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia, các doanh nghiệp trong ngành giao thông vận tải còn chịu những tác động lớn

do Việt Nam cam kết bãi bỏ những trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO mà từ trước đến nay chúng ta vẫn áp dụng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Như vậy, theo cam kết gia nhập WTO, kể từ năm 2014, các doanh nghiệp Logistics nước ngoài sẽ được phép mở công ty 100% vốn của họ tại Việt Nam Khi đó cạnh tranh trên thị trường Logistics Việt Nam sẽ khốc liệt hơn rất nhiều

Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam nhỏ, kinh doanh manh mún Nguồn lợi hàng tỷ đô này lại đang chảy vào túi các nhà đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trong miếng bánh khổng lồ và đang ngày càng phình to của thị trường dịch vụ logistics Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các doanh nghiệp nước ngoài Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho doanh nghiệp Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, với khoảng 44.000 m dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế đạt 470-500 triệu tấn hàng/năm, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt Nam tính đến năm 2014 ước đạt 370,2 triệu tấn, tăng 14%, trong đó hàng container đạt 10,24 triệu TEU, tăng 20% so với năm

2013 thì đây thực sự một thị trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá

Hiện tại, với hơn 1200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, thời gian hoạt động trung bình của các doanh nghiệp là 5 năm với vốn đăng ký trung bình khoảng 1,5 tỷ đồng/doanh nghiệp thì các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ khổng lồ này Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, phần lớn của

hệ thống logistics chưa được thực hiện ở một cách thức thống nhất

Trang 32

Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại Việt Nam nói chung còn nghèo nàn, qui

mô nhỏ, bố trí bất hợp lý Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, hệ thống cơ

sở hạ tầng giao thông của Vệt Nam bao gồm trên 17.000 km đường nhựa; hơn 3.200

km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ; 44 cảng biển (219 bến cảng) và 20 sân bay Tuy nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container

Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho việc vận chuyển vào mùa cao điểm Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, đường không được thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá lưu thông Tuy nhiên, đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội - TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ Và khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, cần được tu sửa và làm mới

2.1.3 Nguyên nhân tính cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn yếu kém

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu kém so với các doanh nghiệp nước ngoài, có thể kể đến một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là các doanh nghiệp ra đời sau

rất nhiều năm so với rất nhiều công ty nước ngoài vốn có lịch sử phát triển kinh doanh vận tải từ rất lâu đời như APL, Maersk, DHL,…

Thứ hai, tầm phủ của các công ty Việt Nam chỉ trong phạm vị nội địa hoặc một

vài nước trong khu vực Trong khu tầm phủ của các công ty nước ngoài chẳng hạn như APL Logistics là gần 100 quốc gia, Maersk Logistics là 60 quốc gia, hay tương

tự như DHL, Exel Điều này là một trong những cản trở khi các doanh nghiệp Việt

Trang 33

Nam tìm kiếm khách hàng Nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, các tập đoàn lớn ví dụ như Walmart, Auchan, Nike, Adidas,… thì thường có xu hướng tìm nguồn cung ứng

từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Cũng không thể không kể đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác nhưng quan hệ này thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất

Thứ ba, Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào khai thác những

mảng nhỏ trong toàn bộ chuỗi cung ứng Mà chúng ta thấy rất phổ biến là hình thức giao nhận vận tải (freight forwarding) Đây là hình thức khá đơn giản, các công ty giao nhận đóng vai trò là người buôn cước sau đó bán lại cho người mua khác để những người mua này thực hiện vận tải Thông qua hãng vận tải biển, hàng sau khi được gom thành những container hàng đầy sẽ được vận chuyển đến quốc gia của người nhận Tại đó các đại lý mà các công ty Việt Nam có quan hệ đối tác sẽ làm thủ tục hải quan nhận và dỡ hàng và giao lại cho người mua hàng tại kho Như vậy hình thức này chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng logistics Trong chuỗi logistics hiện đại mà các công ty logistics lớn đang cung cấp cho khách hàng của mình như Maersk logistics, APL Logistics, DHL Logistics… bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà có thể liệt kê ở dưới đây:

 Air Freight Fowarding ( D2D ) - Giao nhận hàng không ( từ cửa tới cửa)

 Ocean Freight Forwarding ( D2D ) - Giao nhận hàng hải (từ cửa tới cửa)

 Freight/ Carrier Management - Quản lý hàng hoá/nhà vận tải

 Consolidation/Cross Docking - Gom hàng nhanh tại kho

 PO Management - Quản lý đơn hàng

 Vendor management/Compliance - Quản lý và theo dõi cam kết của nhà cung cấp

 Value-added Warehousing - Dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng

 Multi-Country Consolidation - Gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển thường là Singapore, Kaoshiung, Hong Kong

 QA and QI programs - Dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá

Trang 34

 Production Compliance - Dịch vụ kiểm soát quá trình sản xuất kịp thời hạn

 Data Management/EDI clearing house - Quản lý dữ liệu và cung cấp

dữ liệu đầu cuối cho khách hàng

 Barcode scanning and Label Production - Dịch vụ quét và in mã vạch

 Documentation - Dịch vụ thu kiểm và chuyển chứng từ

 Global Logistics Procedures - Dịch vu xây dựng bộ tiêu chuẩn cho hoạt động logistics

 GOH and HangerPack Service - Dịch vụ container treo (dành cho hàng may mặc)

 Deconsolidation - Dịch vụ phân phối hàng

 NVOCC Operations - Dịch vụ NVOCC

 Systemwide Track and Trace / Web-base Visibility - Dịch vụ theo dõi kiểm tra hàng thông qua mạng internet

 Custom Brokerage and Licensing- Import/Export/AMS/C-TPAT - Dịch vụ môi giới hải quan, uỷ thác xuất nhập khẩu, khai báo AMS, hỗ trợ

áp dụng C-TPAT ( Custom - Trade Partner Against Terrorism: đây là chương trình của hải quan Mỹ nhằm áp dụng cho các đối tác kinh doanh trong chống khủng bố)

 4PLs service – Nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ 4, đây là mô hình dịch vụ logistics rất mới giúp cho các hãng logistics gia tăng dịch vu giá trị gia tăng cho mình

Rõ ràng doanh nghiệp Việt Nam đang bỏ qua rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta

có thể khai thác để mang lại lợi nhuận lớn hơn, hiệu quả hơn và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tê

Thứ tư, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ là trong quan hệ thương mại quốc tế,

phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong Incoterms (nghĩa là người bán chỉ cần giao hàng qua lan can tàu tại cảng bốc hàng theo qui định là hết trách nhiệm) Như vậy quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần

Ngày đăng: 06/06/2019, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giao thông Vận tải (2014), “Thực trạng hiện tại và chính sách phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hiện tại và chính sách phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics
Tác giả: Bộ Giao thông Vận tải
Năm: 2014
2. Hoàng Văn Châu (2011), Logistics và vận tải quốc tế, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics và vận tải quốc tế
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông
Năm: 2011
3. Nghị định 140/2007/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic, Chính phủ ban hành ngày 05 tháng 09 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 140/2007/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic
4. Bùi Văn Danh (2012), “Cần một chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực logistics Việt Nam”, Tạp chí Vietnam Logistics Review, số 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần một chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực logistics Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Danh
Năm: 2012
5. Đặng Đình Đào & Nguyễn Minh Sơn (2011), Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Đặng Đình Đào & Nguyễn Minh Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Trịnh Thị Thu Hương (2011), Vận tải & bảo hiểm trong ngoại thương, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải & bảo hiểm trong ngoại thương
Tác giả: Trịnh Thị Thu Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông
Năm: 2011
7. Luật Thương mại số 36/2005/QH11, Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại số 36/2005/QH11
8. Quyết định số 169/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ ký ngày 22 tháng 01 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 169/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
9. Nguyễn Thanh Thủy (2010), “Thực trạng dich vụ logistics của Việt Nam và các khuyến nghị”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 151, trang 25-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dich vụ logistics của Việt Nam và các khuyến nghị
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2010
10. Nguyễn Tiệp (2004), “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Tiệp
Năm: 2004
11. Nguyễn Như Tiến (2011a), Vận tải & giao nhận trong ngoại thương, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải & giao nhận trong ngoại thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
12. Nguyễn Như Tiến (2011b), Logistics - Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam, NXB Giao thông Vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics - Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam
Nhà XB: NXB Giao thông Vận tải
13. Võ Thành Trung (2000), Những giải pháp chiến lược phát triển dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế tại miền Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chiến lược phát triển dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế tại miền Nam
Tác giả: Võ Thành Trung
Năm: 2000
14. Nguyễn Huy Trung (2006), “Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao”, Tạp chí Lao động Xã hội, số 287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Tác giả: Nguyễn Huy Trung
Năm: 2006
15. Đoàn Thị Hồng Vân (2010), Logistics những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics những vấn đề cơ bản
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Xã hội
Năm: 2010
1. James R. Stock and Douglas M. Lambert (2001), Strategic Logistics Management, McGraw-Hill, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Logistics Management
Tác giả: James R. Stock and Douglas M. Lambert
Năm: 2001
2. David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi (2000), Designing and Managing The Supply Chain, The McGraw-Hill, United State Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing and Managing The Supply Chain
Tác giả: David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi
Năm: 2000
3. Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram (1998), Fundamentals of Logistics Management, McGraw-Hill, Singapore 4. Drewry Shipping Consultants Ltd. (2003), China’s TransportInfrastructure and Logistics Industry, Drewry Shipping Consultants Ltd., London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of Logistics Management", McGraw-Hill, Singapore 4. Drewry Shipping Consultants Ltd. (2003), "China’s Transport "Infrastructure and Logistics Industry
Tác giả: Douglas M. Lambert, James R. Stock, Lisa M. Ellram (1998), Fundamentals of Logistics Management, McGraw-Hill, Singapore 4. Drewry Shipping Consultants Ltd
Năm: 2003
5. Martin Christopher (1998), Logistics and Supply Chain Management: Strategies for Reducing Cost and Improving Service, Prentice Hall Pubshier (An Imprint of Pearson Education), London Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w