Như vậy, đơn vị sự nghiệp ĐVSN công lập được xác định thông qua các yếu tố sau đây: i Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN VĂN KỲ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ TỰ CHỦ
TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG, SỞ TÀI CHÍNH QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và đƣợc phép công bố
Quảng Bình, ngày tháng năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự khích lệ, động viên quý báu của các thầy, cô giáo của Đại học Kinh tế - Đại học Huế, của bạn bè, gia đình và các anh chị đồng nghiệp tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Văn Phát Thầy đã luôn tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các giáo viên chủ nhiệm; các thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt hai năm học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Do năng lực và thời gian hạn chế nên luận văn có thể còn nhiều thiếu sót, tôi mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: TRẦN VĂN KỲ
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Niên khóa: 2017 – 2019
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Tên đề tài: GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI
TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG, SỞ TÀI CHÍNH QUẢNG BÌNH
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình là đơn vị sự nghiệp có thu Thời gian qua, Trung tâm mới chỉ đảm bảo một phần cân đối chi thường xuyên, chưa đủ nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo thu nhập tăng thêm cho cán bộ Việc triển khai nâng cao mức độ tự chủ tài chính thời gian qua bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở tài chính Quảng Bình” làm luận văn Thạc sĩ của mình
2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể là: Phương pháp thu thập số liệu, Phương pháp thống kê mô tả, Phương pháp so sánh
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Trên cơ sở lý luận chung về TCTC, phân tích và đánh giá thực trạng mức độ
tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình giai đoạn 2015-2017, luận văn đã đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản; trong mỗi nhóm đưa ra những giải pháp cụ thể, đồng thời đưa ra một số đề xuất, kiến nghị góp phần để nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính tỉnh Quảng Bình Đây là những giải pháp có tính khả thi, phù hợp với thực tiển tại tỉnh Quảng Bình
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CGCN Chuyển giao công nghệ
CNTT Công nghệ thông tin
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu iv
Mục lục v
Danh mục bảng, sơ đồ viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 4
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 5
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SỰ NGHIỆP VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 5
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp 5
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp công lập 10
1.2 MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 17
1.2.1 Cơ chế tự chủ tài chính 17
1.2.2 Nội dung tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 18
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 24
1.2.4 Nâng cao mức độ tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập 25
1.3 KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 33
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 71.3.1 Kinh nghiệm thực hiện tự chủ tài chính của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài
chính công – Sở Tài chính tỉnh Hậu Giang 33
1.3.2 Kinh nghiệm thực hiện tự chủ tài chính của Trung tâm Tư vấn và Dịch vụ Tài chính công - Sở Tài chính Ninh Bình 35
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 36
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 38
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 38 2.1.1 Giới thiệu về Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 38
2.1.2 Nhiệm vụ của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 38
2.2 THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TRONG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 40
2.2.1 Quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 40
2.2.2 Tình hình tự chủ tài chính của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 43
2.3 TÌNH HÌNH TỰ CHỦ TĂNG NGUỒN THU SỰ NGHỆP VÀ PHÂN PHỐI KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 67
2.3.1 Tự chủ tăng nguồn thu sự nghiệp 67
2.3.2 Tự chủ chi và phân phối kết quả hoạt động 68
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 69
2.4.1 Những kết quả đạt được 69
2.4.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 72
Tiểu kết Chương 2 75
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 76
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG ĐẾN NĂM 2025 76
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 83.1.1 Quan điểm phát triển 76
3.1.2 Mục tiêu phát triển 76
3.1.3 Định hướng phát triển 77
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA TRUNG TÂM TIN HỌC VÀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CÔNG 78
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao tự chủ về nguồn tài chính 78
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao tự chủ về sử dụng nguồn tài chính 82
3.2.3 Nhóm giải pháp về công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính trong đơn vị 84
3.2.4 Hoàn thiện lại Quy chế chi tiêu nội bộ 85
3.2.5 Nhóm giải pháp bổ trợ 87
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1.KẾT LUẬN 90
2 KIẾN NGHỊ 91
2.1 Đối với Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 91
2.2 Đối với Nhà nước 91
2.2.1 Nhà nước cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn Nghị định số 16/2015/NĐ-CP 91
2.2.2 Nhà nước cần nghiên cứu, xây dựng các chính sách để từng bước giao quyền tự chủ toàn bộ cho các đơn vị sự nghiệp công lập 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ (PHẢN BIỆN 1)
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ (PHẢN BIỆN 2)
BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 9DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Nguồn thu của Trung Tâm giai đoạn 2015-2017 43 Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn thu sự nghiệp của Trung tâm giai đoạn 2015 - 2017 45 Bảng 2.3: Mức đảm bảo chi hoạt động thường xuyên của Trung tâm giai đoạn
2015-2017 46 Bảng 2.4: Cơ cấu các khoản chi thường xuyên của Trung tâm giai đoạn 2015-
2017 49 Bảng 2.5: Chi thanh toán cá nhân của Trung tâm giai đoạn 2015-2017 50 Bảng 2.6: Chi nghiệp vụ chuyên môn của Trung tâm giai đoạn 2015-2017 55 Bảng 2.7: Chi mua sắm, duy tu, bảo dưỡng sửa chữa tài sản và cơ sở hạ tầng của
Trung tâm giai đoạn 2015-2017 59 Bảng 2.8: Các khoản chi khác của Trung tâm giai đoạn 2015-2017 61 Bảng 2.9: Tình hình trích lập các quỹ của Trung tâm giai đoạn 2015-2017 64
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công 40
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ngày 8/11/2011 về việc ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 có 6 nội dung lớn là: Cải cách thể chế; Cải cách thủ tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Cải cách tài chính công; Hiện đại hóa hành chính Trong đó, cải cách cơ chế quản lý tài chính trong nội dung cải cách tài chính công là một bước đột phá Bởi lẽ, cơ chế tài chính chính là công cụ đắc lực để khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho nhu cầu chi tiêu mà nhà nước đã
dự tính và phát sinh Nhà nước ta chủ trương: “Đổi mới căn bản chế độ sử dụng kinh phí nhà nước và chế độ xây dựng, triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng lấy mục tiêu và hiệu quả ứng dụng là tiêu chuẩn hàng đầu; chuyển các đơn vị
sự nghiệp khoa học, công nghệ sang chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm…”
Trên thực tế, để thực hiện mục tiêu trên, sau khi thực hiện thành công thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/2001,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/2001/QĐ – TTg về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước và sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 130/2005/NĐ – CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước để triển khai thực hiện rộng rãi trong các cơ quan hành chính nhà nước và đến năm
2013, Chính phủ ban hành Nghị định 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP Đây là một chính sách đổi mới quản lý, nhưng không phải các cấp, các ngành, các địa phương đều hiểu được và vận dụng đúng vào thực tiễn để góp phần thực hiện thành công Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước
Từ năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
Trang 11chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, đến năm
2015, Nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập Năm 2016, Chính phủ bổ sung Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác Việc thực hiện chính sách này trong những năm qua đã tạo cơ hội cho các đơn vị sự nghiệp công lập nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong quản lý tài chính,
sử dụng NSNN được giao tiết kiệm, hiệu quả hơn
Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình là đơn vị sự nghiệp, nguồn thu chủ yếu từ ngân sách nhà nước (do tỉnh cấp) và nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp (thu đào tạo và các nguồn thu khác) Thời gian qua, hàng năm Trung tâm mới chỉ đảm bảo một phần cân đối chi thường xuyên, chưa đủ nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo thu nhập tăng thêm cho cán bộ Yêu cầu đối với các hoạt động ngày càng cao, nhu cầu kinh phí ngày càng lớn, đòi hỏi Trung tâm phải có nguồn lực tài chính trong khi nguồn hỗ trợ từ ngân sách của tỉnh còn hạn chế, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập sẽ là những khó khăn đối với Trung tâm trong việc đảm bảo hoạt động Việc triển khai nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công thời gian qua tuy đã đạt được kết quả bước đầu song cũng bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở tài chính Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đóng góp
thiết thực cho việc hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với Trung tâm Tin học
Trang 12Bình từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp để nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại đơn vị
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học của tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập
- Phân tích và đánh giá thực trạng mức độ tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học
và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình giai đoạn 2015 – 2017
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao mức độ tự chủ tài chính của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tự chủ tài chính tại Trung tâm Tin học
và Dịch vụ Tài chính công
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2017
+ Phạm vi không gian: tại Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập số liệu:thu thập các tài liệu thứ cấp về cơ chế tự chủ tài chính của Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công, các sách, giáo trình về quản lý kinh tế; website các bộ Tài chính; các văn bản pháp lý có liên quan; các công trình nghiên cứu khác về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các chỉ số tương đối, số tuyệt đối và
số bình quân để phân tích đánh giá sự biến động cũng như mối quan hệ giữa các hiện tượng
- Phương pháp so sánh: Kết quả và mức độ tự chủ tài chính được tiêu chuẩn hóa và so sánh nhiều chỉ tiêu khác nhau như: so sánh kết quả thu chi qua từng thời
kỳ, so sánh kết quả và mức độ theo thời gian và tỷ trọng để có thể nhận xét và rút ra kết luận
Trang 135 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, phần Nội dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính đối với đơn
vị sự nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng mức độ tự chủ tài chính của Trung tâm Tin học và
Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình giai đoạn 2015 – 2017
Chương 3: Giải pháp nâng cao mức độ tự chủ tài chính của Trung tâm Tin
học và Dịch vụ Tài chính công, Sở Tài chính Quảng Bình
Trang 14PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SỰ NGHIỆP VÀ ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1.1 Hoạt động sự nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp
Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động trực tiếp đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội
Trong tác phẩm của mình, C.Mác và F.Ăng ghen khi nghiên cứu xã hội như một hệ thống diễn biến liên tục đã nêu trong xã hội ít nhất có 5 hệ thống:
- Hệ thống sản xuất vật chất làm chức năng chủ yếu đảm bảo sự trao đổi vật chất giữa con người và thiên nhiên
- Hệ thống tái sản sinh và phát triển về mặt sinh học của con người, bao gồm
cả các hệ thống tổ chức gia đình cưới hỏi, hệ thống dịch vụ, y tế và rèn luyện thân thể, chức năng của nó là duy trì loài người
- Hệ thống sản xuất tinh thần, làm chức năng bồi dưỡng con người về mặt tri thức, tìm cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội
- Hệ thống giao tiếp xã hội làm chức năng liên kết tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội, giúp cho xã hội hoạt động được như một hệ thống hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp tạo thành những tầng lớp xã hội nhỏ hơn xã hội lớn
- Hệ thống tổ chức và quản lý làm chức năng phối hợp sự hoạt động của các
hệ thống nhỏ trong hệ thống xã hội lớn nói chung
Như vậy, hoạt động sự nghiệp có liên quan đến toàn bộ hoạt động của xã hội loài người Tuy nhiên mặc dù trong xã hội tồn tại nhiều loại hoạt động khác nhau nhưng nếu quy theo tính chất thì có hai loại hoạt động lớn là: hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sự nghiệp
Trang 15Sự nghiệp với nghĩa thông thường nhất là chỉ những công việc có lợi ích chung và lâu dài cho xã hội Chính vì vậy, trên một phương diện nào đó, khi nói đến hoạt động sự nghiệp với nghĩa thường dùng là nói đến việc tổ chức thực hiện những công việc có lợi ích chung và lâu dài nhất cho cộng đồng xã hội
Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sự nghiệp là ở chỗ: hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội, mang lại lợi ích trực tiếp cho chủ thể tổ chức ra hoạt động đó Ngược lại hoạt động sự nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ thoả mãn nhu cầu chung, vì lợi ích của cả cộng đồng về mặt kinh tế cũng như xã hội
Từ cách nhìn nhận như vậy, người ta coi hoạt động sự nghiệp chủ yếu mang
ý nghĩa phục vụ cho hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội Những hoạt động phục
vụ cho hoạt động kinh tế gọi là hoạt động sự nghiệp kinh tế Những hoạt động phục
vụ cho hoạt động văn hoá xã hội gọi là hoạt động sự nghiệp văn hoá xã hội Qua đó, chúng ta thấy rằng hoạt động sự nghiệp thuộc phạm trù thượng tầng kiến trúc nhưng
nó có khả năng điều chỉnh hạ tầng cơ sở
1.1.1.2 Đặc điểm của hoạt động sự nghiệp
Hoạt động sự nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch
vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng
Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ năng lao động của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khó đánh giá được giá trị kinh tế bằng tiền, nhưng có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung, tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăng chất lượng sống của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại không chỉ cho người hưởng thụ trực tiếp mà còn cho những người khác … Nhiều sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi tăng người sử dụng mà không tăng chi phí như phát thanh, truyền hình… Theo ý kiến của nhà kinh tế được giải thưởng Nôben
J Stieglits, nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng sẽ có lợi hơn tư nhân [14, tr.170-173]
Trang 16Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, để đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, Nhà nước nên cung cấp nhiều hàng hóa công cộng Bởi vì, nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống Nếu không có sự cung cấp của Nhà nước, nhiều người không có cơ hội hưởng thụ những loại hàng hóa, dịch vụ đó
Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp Trong nền kinh tế thị trường, một số sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo
ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cho đơn vị cung cấp Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như nếu trao đổi theo nguyên tắc thị trường thì nhiều người không có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến khích tiêu dùng đủ mức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại hàng hóa đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nước, vừa có giá trị tiến bộ và công bằng Chính vì thế, Nhà nước cần tổ chức cung ứng hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cung cấp những sản phẩm, dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ để hoàn một phần chi phí, không nhằm thu lợi nhuận Ngoài ra, khi cung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo nguyên tắc thương mại bình thường, Nhà nước hướng đến mục tiêu phân phối lại thu nhập và tăng phúc lợi công cộng
Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nước mong muốn các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là hoạt động với chi phí tối thiểu Do đó, các biện pháp khoán kinh phí hay buộc các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán thu chi không phải là giải pháp tăng thu lợi nhuận như các biện pháp quản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải pháp quản lý khuyến khích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng lực của mình để tiết kiệm chi phí
Trang 17Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước
Trong kinh tế thị trường, các hoạt động sự nghiệp cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhất là các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình, chương trình phát triển giáo dục, chương trình phát triển văn hóa Những chương trình mục tiêu quốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm trong tổng thể chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xã hội thì nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nước giành cho các hoạt động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nước cũng như mối quan hệ với các nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nước Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp luôn thấp hơn nhu cầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các Nhà nước
Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội Đây là những sản phẩm thường mang lại lợi ích cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm
vi rộng Nhiều sản phẩm sự nghiệp có tác dụng lâu dài như các phát minh khoa học, các giá trị văn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động…
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệp tạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả và vựcđược sử dụng đi, sử dụng lại nhiều lần
1.1.1.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp
Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể phân loại chúng theo nhiều tiêu thức khác nhau
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các hoạt động sự nghiệp được chia thành: Sự nghiệp kinh tế và Sự nghiệp văn hóa xã hội Sự nghiệp kinh tế là hoạt động sự
Trang 18nghiệp nhằm phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, thuận lợi Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã) là các hoạt động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hóa, sức khỏe và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân
Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp được chia thành: Hoạt động sự nghiệp không có thu và Hoạt động sự nghiệp có thu Hoạt động sự nghiệp không có thu là hoạt động do Nhà nước đảm bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất Thuộc về những hoạt động này gồm có các hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho người nghèo, đảm bảo xã hội, Hoạt động sự nghiệp có thu là những hoạt động mà nguồn tài chính đảm bảo vừa do Nhà nước cung cấp, vừa do người tiêu dùng đóng góp một phần dưới dạng phí, lệ phí Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống mà người tiêu dùng có thể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ, hoặc là họ muốn nhận được những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lượng
Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sự nghiệp được chia thành: Hoạt động sự nghiệp thường xuyên và Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên Hoạt động sự nghiệp thường xuyên là những hoạt động được tổ chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của
nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn như thế nào Thuộc về hoạt động sự nghiệp thường xuyên là các hoạt động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa …Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên là những hoạt động sự nghiệp để thực hiện các chương trình cụ thể của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định
1.1.1.4 Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trong thời đại ngày nay, một nước giầu hay nghèo, lạc hậu hay phát triển không phải chỉ phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa tư nhân mà người dân có được
Trang 19do trao đổi trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào khối lượng phúc lợi xã hội mà họ được hưởng, trong đó có các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp cung cấp Hơn nữa, tiềm năng phát triển nhanh hay chậm trong tương lai của một nước không những do số lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn đã tích lũy được quyết định, mà chủ yếu là do khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của con người chi phối Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành con người về trình độ văn hóa, tri thức khoa học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao tiếp của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng… Đa phần yếu tố cấu thành tiềm năng sáng tạo của con người do hoạt động sự nghiệp cung cấp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Hoạt động sự nghiệp là động lực to lớn giúp dân tộc bảo tồn và phát triển văn hóa, truyền thống, các giá trị đạo đức… Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [13]
Hoạt động sự nghiệp đóng vai trò động lực cải cách, đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng ta đã khẳng định quan điểm khoa học công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước
Thể dục - thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển khoa học xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhânnhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) của Đảng ta đã khẳng định “Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11]
1.1.2 Đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Viên chức số 58/2010/QH12, đơn vị
Trang 20sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [7,tr.3]
Như vậy, đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập được xác định thông qua các yếu tố sau đây: (i) Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; (ii) Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) Có tư cách pháp nhân; (iv) Cung cấp dịch
vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; (v) Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Trong đó, đặc trưng của ĐVSN để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, ĐVSN ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức Các ĐVSN được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các ĐVSN công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công
1.1.2.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập
Một là, ĐVSN công lập do cơ quan có thẩm quyền thành lập, chịu sự quản lý
nhà nước của các cơ quan hành chính
ĐVSN công lập có thể do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các tổ chức chính trị, chính trị
xã hội trực tiếp ra quyết định thành lập, giao chức năng, nhiệm vụ Trong quá trình hoạt động, ĐVSN công lập chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan hành chính Ví dụ: Trung tâm Tin học và Dịch vụ Tài chính công là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tài chính tỉnh Quảng Bình và chịu sự quản lý nhà nước về sự nghiệp kinh tế; Đại học Kinh tế Huế là cơ sở đào tạo đại học trực thuộc Đại học Huế và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo…
Trang 21Hai là, ĐVSN có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Theo quy
định tại Điều 74, Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện:
i) Tổ chức đó phải được thành lập một cách hợp pháp:
Một tổ chức được coi là hợp pháp nếu có mục đích, nhiệm vụ hợp pháp và được thành lập hợp pháp theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định Tổ chức hợp pháp được Nhà nước công nhận dưới dạng cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận sự thành lập Việc công nhận sự tồn tại của một tổ chức ngoài việc tổ chức đó thực hiện đúng trình tự, thủ tục thành lập còn phụ thuộc vào hoạt động của tổ chức có hợp pháp không
ii) Tổ chức muốn trở thành pháp nhân cần có cơ cấu tổ chức chặt chẽ:
Trước tiên, tổ chức là một tập thể người được liên kết với nhau theo một hình thái nhất định phù hợp với chức năng, lĩnh vực hoạt động của loại hình tổ chức đó
Cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhằm biến một tập thể người thành một thể thống nhất có khả năng thực hiện hiệu quả nhất nhiệm vụ của tổ chức đó đặt ra khi thành lập Việc chọn lựa hình thức tổ chức như thế nào căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của tổ chức
đó, căn cứ vào cách thức góp vốn thành tài sản của tổ chức Pháp nhân là một tổ chức độc lập song vẫn chịu sự chi phối bởi cá nhân, tổ chức khác hoặc Nhà nước
Sự độc lập của pháp nhân chỉ giới hạn trong quan hệ dân sự, kinh tế, lao động với các chủ thể khác
iii) Tổ chức khi là pháp nhân thì phải có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình:
Để tham gia vào quan hệ tài sản với tư cách là một chủ thể độc lập thì pháp nhân phải có tài sản riêng của mình Tài sản riêng của pháp nhân không chỉ là tài sản thuộc sở hữu của pháp nhân mà còn có thể có tài sản của Nhà nước giao cho dưới hình thức Nhà nước đầu tư, góp vốn Tài sản của pháp nhân độc lập với tài sản của cá nhân - thành viên trong tổ chức pháp nhân, độc lập với cơ quan cấp trên của
tổ chức pháp nhân đó Ngoài ra, tài sản của pháp nhân thuộc quyền sở hữu của pháp nhân, do pháp nhân chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong phạm vi nhiệm vụ, mục
Trang 22đích của pháp nhân được thể hiện dưới dạng vốn, tư liệu sản xuất và một số loại tài sản khác Pháp nhân có tài sản riêng thông qua việc góp vốn, việc hoạt động, kinh doanh, sản xuất của pháp nhân
Pháp nhân tham gia vào quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân như một chủ thể độc lập, khi xảy ra sự vi phạm thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình Tuy nhiên, trách nhiệm của pháp nhân thuộc dạng trách nhiệm hữu hạn, trong phạm vi tài sản riêng của pháp nhân
iv) Tổ chức muốn trở thành pháp nhân thì phải nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có thể trở thành bị đơn hoặc nguyên đơn trước tòa án:
Với tư cách là một chủ thể độc lập, pháp nhân có khả năng hưởng quyền cũng như chịu trách nhiệm và thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định
ĐVSN công lập hiện nay đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí trên, được Nhà nước thành lập, có trụ sở riêng, có tên gọi riêng, có con dấu riêng, có tài khoản riêng và đảm bảo trước pháp luật về hoạt động của mình
Ba là, ĐVSN công lập là đơn vị hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội,
phi lợi nhuận
ĐVSN công lập được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, tự đảm bảo một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao
Có thể nói đây là đặc điểm khác biệt giữa ĐVSN công lập với các cơ sở hoạt động kinh tế của các chủ thể khác trong xã hội Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho xã hội, tuy nhiên, khác với mục tiêu hoạt động kinh doanh của các đơn vị khác, ĐVSN công lập cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổ chức, duy trì
và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ đó sẽ hỗ trợ các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động đảm bảo mục tiêu, định hướng của Nhà nước, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Trang 23Bốn là, sản phẩm của các ĐVSN công lập là sản phẩm mang lại lợi ích
chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần
ĐVSN công lập hoạt động đa dạng trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như y
tế, văn hóa, giáo dục…sản phẩm đem lại mỗi lĩnh vực là khác nhau Ví dụ: hoạt động ĐVSN y tế đem lại sức khoẻ cho cộng đồng, hoạt động lĩnh vực giáo dục và đào tạo đem lại giá trị tri thức cho con người, hoạt động văn hoá - xã hội mang lại giá trị tinh thần cho cộng đồng… Đây là những sản phẩm vô hình, không bó hẹp về phạm vi và đối tượng thụ hưởng, nó là sản phẩm có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của ĐVSN là sản phẩm có tính chất phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp
Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các hàng hóa công cộng ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình tái sản xuất xã hội Cũng như các hàng hóa khác, sản phẩm của các hoạt động
sự nghiệp có giá trị và giá trị sử dụng nhưng có điểm khác biệt là nó có giá trị xã hội cao, điều đó đồng nghĩa là nhiều người cùng sử dụng, có thể sử dụng lại được trên phạm vi rộng và hiệu ứng sử dụng là khác nhau Vì vậy, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là các hàng hóa công cộng và có đặc điểm là “không loại trừ” và “không cạnh tranh” Nói cách khác, đó là những hàng hóa mà không ai có thể loại trừ người tiêu dùng khác ra khỏi việc sử dụng nó và tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác [11,tr.41]
Năm là, ĐVSN công lập trong quá trình hoạt động được Nhà nước cho phép
thu một số các loại phí, lệ phí, được tiến hành các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động thường xuyên và góp phần tăng thu nhập cho người lao động trong đơn vị
ĐVSN công lập, hoạt động đem lại lợi ích chung cho xã hội, nguồn kinh phí
để duy trì hoạt động của các ĐVSN có thu được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
Trang 24(NSNN) Tuy nhiên, để giảm bớt gánh nặng cho NSNN thì Nhà nước cho phép các ĐVSN có thu được phép thu một số khoản phí, lệ phí để bù đắp cho hoạt động thường xuyên của đơn vị và góp phần tăng thu nhập cho người lao động trong đơn
vị Nguồn thu này được gọi là nguồn thu sự nghiệp, nó rất quan trọng đối với đơn
vị, là một trong những động lực làm cho các ĐVSN hoạt động có hiệu quả hơn, cung ứng các dịch vụ công ngày càng tốt hơn cho xã hội
Sáu là, Hoạt động của ĐVSN công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các
chương trình phát triển của Nhà nước trong từng thời kỳ
Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện những mục tiêu đã định, Chính phủ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới…, những chương trình này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của chương trình
1.1.2.3 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Các ĐVSN công lập hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau như hoạt động trên lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao…không chỉ đông đảo về số lượng, mà còn đa dạng về quy mô, tính chất, nội dung hoạt động
- Xét về mức độ tự chủ tài chính (TCTC): Theo tiêu chí này, có nhiều cách
phân loại khác nhau, chẳng hạn:
+ Theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, ĐVSN công lập gồm 2 loại:
i) Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên
ii) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên
+ Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ĐVSN công lập gồm 3 loại:
i) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên;
ii) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp;
Trang 25iii) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, ĐVSN không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động [19,tr.6]
+ Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ĐVSN công lập gồm 4 loại:
i) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư
ii) Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên
iii) Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên
iv) Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên [12, tr.7,10,11,12]
- Xét về chủ thể quản lý: Theo tiêu chí này có thể phân chia ĐVSN thành 3 loại:
i) ĐVSN của cơ quan Nhà nước
ii) ĐVSN của tổ chức chính trị
iii) ĐVSN của tổ chức chính trị - xã hội
- Xét về cấp quản lý: Theo tiêu chí này có thể phân chia ĐVSN thành 2 loại:
i) ĐVSN ở Trung ương: gồm các ĐVSN thuộc Chính phủ như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam…, ĐVSN thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, Tổng cục, Cục… ĐVSN thuộc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội ở Trung ương
ii) ĐVSN ở địa phương: gồm các ĐVSN thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ĐVSN thuộc các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ĐVSN thuộc
Ủy ban nhân dân cấp huyện và ĐVSN thuộc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
+ Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đưa ra 3 tiêu chí phân loại tổ chức khoa học, công nghệ, trong đó các tổ chức khoa học công nghệ công lập có thể được phân theo thẩm quyền thành lập hoặc theo chức năng (tổ chức nghiên cứu cơ bản, tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ)
Trang 26+ Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 phân loại ĐVSN công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp theo trình độ đào tạo: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường cao đẳng Luật Giáo dục đại học năm 2012 phân loại thành trường cao đẳng, trường đại học, đại học vùng, đại học quốc gia, viện nghiên cứu khoa học được đào tạo trình độ tiến sĩ [16]
1.2 MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.2.1 Cơ chế tự chủ tài chính
Thuật ngữ “cơ chế” là sự chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng Pháp
và theo từ điển Le Petit Larousse năm 1999, nó được giải nghĩa là “cách thức hoạt động của một tập các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2000 giải nghĩa “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” Như vậy, “cơ chế” là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tại và phát triển
Tự chủ (autonomy), theo Từ điển tiếng Anh Oxford 2004 là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng hoặc một đơn vị như là nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức, một cơ quan [26, tr 69] Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối
Trong lĩnh vực TCTC, sự vận hành các phạm trù thuộc lĩnh vực TCTC chịu
sự tác động chi phối của hai nhân tố, bao gồm:
Một là, các quy luật kinh tế, tài chính đã và đang tồn tại trong một môi trường kinh tế, tài chính nhất định
Hai là, sự phản ứng của con người trước sự vận động theo tính qui luật khách quan của các phạm trù kinh tế, tài chính Hay nói cách khác là con người đưa ra những cách thức để hướng sự vận động của các phạm trù kinh tế, tài chính mang tính quy luật khách quan theo những yêu cầu chủ quan của mình
Với quan niệm “cơ chế” là cách thức thì trong lĩnh vực TCTC cách thức đó
do con người tạo ra và nó mang dấu ấn chủ quan là chủ yếu Như vậy, cách thức trong trường hợp này có thể hiểu là những quy định của con người trước sự vận động mang tính quy luật của phạm trù TCTC
Trang 27Khi hàm ý cơ chế là những quy định của con người thì những quy định đó luôn bao gồm hệ thống các quyền và lợi ích Việc sử dụng hệ thống các quyền và lợi ích để đưa ra những quy định (cơ chế) mang lại hiệu quả chung cho quốc gia khi những quy định này phù hợp với sự vận động mang tính quy luật của TCTC Đây là cách tiếp cận về thuật ngữ “cơ chế” trong lĩnh vực TCTC
- Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ của đơn vị
- Cơ chế tự chủ tài chính là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, công
cụ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu nhất định
- Cơ chế tự chủ tài chính là tổng thể các phương pháp, các hình thức và các công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của đơn vị trong những
điều kiện cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu nhất định
1.2.2 Nội dung tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
Qua các khái niệm trên cho thấy nội dung TCTC là tập hợp các quy định về TCTC tại các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm chuyển đổi quyền hạn ra quyết định
về tài chính của Nhà nước sang các cơ sở này để có thể hoạt động độc lập trong lĩnh vực tài chính
Nội dung tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập ở từng quốc gia
là khác nhau, nó phụ thuộc vào quan điểm tập trung hay phân cấp của Nhà nước Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu như các đơn vị sự nghiệp công lập không có quyền TCTC, cấp trên giao kế hoạch ngân sách chi thường xuyên, NCKH, đầu tư, sửa chữa tài sản, mức thu phí…, các cơ sở chỉ có trách nhiệm tổ chức chi đúng khoản mục, kinh phí chi không hết, không đúng mục đích thì phải nộp lại NSNN Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì các đơn vị sự nghiệp công lập có quyền TCTC cao hơn là được tự do khai thác, phân bổ các nguồn tài trợ của Chính phủ và các nguồn tài chính tư nhân, được quyết định mức thu phí…
Trang 28Về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho thấy đối với bất kỳ một đơn vị, một tổ chức, doanh nghiệp nào thì hoạt động tài chính là hoạt động trung tâm, là hoạt động then chốt bởi vì nó là hoạt động nhằm bảo đảm những điều kiện vật chất cho đơn vị,
tổ chức, doanh nghiệp đó phát triển Cho nên nội dung cơ chế TCTC đóng vai trò rất quan trọng, nó góp phần tạo ra môi trường pháp lý cho các cơ sở hoạt động với
tư cách là một chủ thể nhằm huy động tối đa các nguồn lực tiền tệ, phi tiền tệ và sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả, đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ, sứ mạng của mình Vì vậy, cơ chế TCTC cần chứa đựng đầy đủ các quy định vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thể để các đơn vị sự nghiệp công lập được quyền quyết định hoạt động tài chính phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Về cơ bản, hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập có những điểm giống như quản lý tài chính ở các doanh nghiệp Ví dụ, trong dài hạn các cơ sở cần cân bằng giữa chi phí đầu vào với kết quả đầu ra Trong hoạt động, các đơn vị
sự nghiệp công lập cũng phải chịu tác động của quy luật thị trường về quan hệ cung cầu, sự cạnh tranh, sự rủi ro, lợi nhuận, sự gia tăng của giá cả Tuy nhiên, việc quản
lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập cũng có những điểm khác biệt với doanh nghiệp bởi vì đầu tư của các đơn vị sự nghiệp công lập là thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao Nếu sử dụng không hiệu quả các nguồn lực sẽ làm giảm
sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội đối với đơn vị Vì vậy, để đảm bảo danh tiếng, thương hiệu, đòi hỏi các đơn vị sự nghiệp công lập phải sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ và phải đổi mới, nâng cao chất lượng của đơn vị
Các đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước đầu tư, xây dựng và cấp kinh phí hoạt động Do đó, các đơn vị đều hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Nguồn tài chính hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: kinh phí Nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ được giao; nguồn từ phí và lệ phí; các nguồn thu này được coi là nguồn thu thuộc NSNN và mức thu bị khống chế theo mức trần Nhà nước quy định và các nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp khác hoặc cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác Điểm chính ở đây là nguồn kinh phí từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 29Công thức xác định mức tự đảm bảo chi phí thường xuyên:
Mức tự đảm bảo chi phí hoạt
động thường xuyên của đơn vị
Tổng số nguồn thu
sự nghiệp
X 100 Tổng số chi hoạt động
thường xuyên
Theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, nội dung TCTC đối với các ĐVSN công bao gồm: (i) Tự chủ về nguồn tài chính, (ii) Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính, (iii) Tự chủ về phân phối kết quả tài chính, (iv) Tự chủ trong giao dịch tài chính
1.2.2.1 Tự chủ về nguồn tài chính
Về cơ bản nguồn thu của các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: (i) Nguồn thu do NSNN cấp cho chi thường xuyên, chương trình mục tiêu quốc gia, NCKH, đầu tư xây dựng cơ bản và các loại kinh phí khác như tinh giản biên chế, đào tạo lại, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước như điều tra, quy hoạch, khảo sát…, các nguồn thu này được quản lý, sử dụng theo chế độ, định mức quy định của Nhà nước; (ii) Nguồn thu hoạt động sự nghiệp là các khoản thu nhận được từ phí, lệ phí của người học theo quy định của pháp luật; khoản thu hoạt động dịch vụ; lãi tiền chia từ hoạt động liên doanh, liên kết, tiền gửi ngân hàng, thu nhập các đơn vị trực thuộc nộp lên; thu nhập khác ; (iii) Nguồn thu từ nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, cho, tặng theo quy định của pháp luật; (iv) Nguồn thu khác là nguồn thu ngoài phạm vi quy định nói trên như vay vốn tín dụng, huy động của cán bộ công nhân viên, vốn liên doanh, liên kết
Trong TCTC các đơn vị sự nghiệp phải quản lý và khai thác các nguồn thu theo đúng chế độ, đúng phạm vi và định mức, quản lý, hạch toán theo đúng chế độ của Nhà nước, đảm bảo tính công khai, minh bạch, gắn quyền với trách nhiệm trong quản lý tài chính
1.2.2.2 Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính
Sử dụng nguồn tài chính là các loại chi phí phát sinh khi các đơn vị sự nghiệp công lập triển khai hoạt động, bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên Đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư còn có thêm nội dung chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác
Trang 30- Chi thường xuyên là những khoản chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao; chi thu phí, lệ phí, chi hoạt động dịch vụ Nội dung chi thường xuyên bao gồm: chi tiền lương, tiền công, phụ cấp, bảo hiểm, học bổng, tiền thưởng, chi mua hàng hóa dịch vụ như điện, nước, xăng dầu, văn phòng phẩm, công tác phí và các chi phí khác…
- Chi không thường xuyên là những khoản chi thực hiện nhiệm vụ NCKH, đào tạo lại, chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng, vốn đối ứng dự án có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện nhiệm vụ đột xuất do cấp có thẩm quyền giao, tinh giản biên chế, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị, sửa chữa lớn, hoạt động liên doanh liên kết và các chi khác theo quy định của pháp luật
- Chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác:
+ Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự
án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư
+ ĐVSN công được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định
+ Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp
có thẩm quyền [8]
Yêu cầu chi tiêu tài chính là các khoản chi phải dựa trên tiêu chuẩn, định mức khoa học, hợp lý, đảm bảo tiết kiệm, chính xác, trung thực, sử dụng hiệu quả, đúng chế độ của Nhà nước
1.2.2.3.Tự chủ về phân phối kết quả tài chính cuối năm
Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
Trang 31- Đối với đơn vị tự đảm bảo được toàn bộ chi hoạt động thường xuyên và chi đầu tư:
+ Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: Đơn vị được tự quyết định mức trích Quỹ
bổ sung thu nhập (không khống chế mức trích)
+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật
+ Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
- Đối với đơn vị tự đảm bảo được toàn bộ chi hoạt động thường xuyên, thì việc phân phối kết quả tài chính trong năm thực hiện tương tự như đối với đơn vị tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên và chi đầu tư Tuy nhiên, riêng trích lập Quỹ
bổ sung thu nhập tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định
- Đối với đơn vị tự đảm bảo được một phần chi hoạt động thường xuyên, việc phân phối kết quả tài chính trong năm được quy định cụ thể như sau:
+ Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định
+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật
+ Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
- Đối với ĐVSN do Nhà nước đảm bảo toàn bộ nguồn kinh phí:
+ Trích tối thiểu 5% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trang 32+ Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định
+ Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị
+ Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật
+ Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Việc sử dụng các quỹ trong ĐVSN công lập được quy định cụ thể như sau:
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, đào tạo nâng cao nghiệp
vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị, góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
- Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm
Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo ĐVSN công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
- Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng
do thủ trưởng đơn vị quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị, trợ cấp khó khăn đột
Trang 33xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức, chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế [12]
1.2.2.4 Tự chủ trong giao dịch tài chính
- Mở tài khoản giao dịch
+ ĐVSN công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN Lãi tiền gửi là nguồn thu của đơn vị và được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào quỹ khác theo quy định của pháp luật, không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thu nhập
+ Các khoản kinh phí thuộc NSNN, các khoản thu dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN, thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí, đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh
- Vay vốn, huy động vốn
ĐVSN công có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Riêng các ĐVSN công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 12 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, ĐVSN công phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn [12]
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
Trang 34- Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN
- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách - xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn
- Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính Nhà nước
1.2.3.4 Nguyên tắc
- Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ công chức viên chức và người lao động
- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
1.2.4 Nâng cao mức độ tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.4.1 Nâng cao mức độ tự chủ tài chính
Thời gian qua, mặc dù đã có nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng, kết luận của Bộ Chính trị đề cập tới nội dung đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập như Văn kiện Đại hội Đảng khóa XI, XII, Kết luận số 37/TB-TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị, Kết luận số 23-KL/TW ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) và Kết luận số 63 KL/TW ngày 27/5/2013 Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm
xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020…
Trang 35Tuy nhiên, với nghị quyết 19 - NQ/TW, đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết riêng về đổi mới hệ thống tổ chức và quản
lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập
Hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập với đông đảo đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, đội ngũ nhà giáo và các nhà văn hoá đã có đóng góp to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò chủ đạo, vị trí then chốt trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện chính sách
an sinh xã hội Số lượng đơn vị và nhân lực làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta rất lớn Tính đến cuối năm 2016, cả nước có 57.995 đơn vị sự nghiệp công lập, sử dụng trên 2,4 triệu người làm việc
Trong số các đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo có 41.800 đơn vị, chiếm 72,08% số lượng đơn vị và sử dụng 1.527 nghìn người làm việc (chiếm 62,54% về số lao động); Tiếp đó là các đơn vị sự nghiệp y tế có 6.160 đơn vị, chiếm 10,62% và sử dụng 402 nghìn người (chiếm 16,49% về số lao động) Theo cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, tính đến cuối năm 2016, tổng giá trị tài sản do các đơn vị sự nghiệp công lập quản lý và sử dụng trên phạm vi cả nước chiếm 72,18% tổng giá trị tài sản công
Bên cạnh những tác động tích cực như nâng cao số lượng, chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, việc đảm bảo chi ngân sách nhà nước (NSNN) để duy trì hệ thống các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đã tác động nhất định tới điều chỉnh cơ cấu ngân sách theo hướng tăng chi thường xuyên và giảm chi đầu tư Giai đoạn 2006 - 2010, tỷ trọng chi thường xuyên có xu hướng tăng từ mức 52,5% tổng chi NSNN năm 2006 lên 58% năm 2010 và đến giai đoạn 2011- 2015 có xu hương tăng mạnh, bình quân chiếm khoảng 67% tổng chi NSNN
Tương ứng, tỷ trọng chi đầu tư phát triển bố trí trong dự toán NSNN bình quân giai đoạn 2011-2015 khoảng 18%, thấp hơn giai đoạn 2006-2010 (bình quân 24,4%) Phần lớn số lượng lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập đều hưởng lương từ nguồn NSNN, tạo áp lực rất lớn cho NSNN khi thực hiện đổi mới chính sách tiền lương
Trang 36Thực tế này cho thấy, cần tăng quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm mạnh tỷ trọng, nâng cao hiệu quả chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập, để cơ cấu lại NSNN, cải cách tiền lương và nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; Phát triển thị trường dịch vụ sự nghiệp công và thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ
sự nghiệp công
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát huy tinh thần sáng tạo, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công trong việc sử dụng tài sản, NSNN; nâng cao số lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, cải thiện đời sống cho người lao động như Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, nay được thay bằng Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học công nghệ công lập Trong đó, các văn bản quy định:
- Phân biệt rõ trách nhiệm của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, cụ thể, Nhà nước hỗ trợ NSNN đối với các dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu nằm trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Đối với những loại hình dịch vụ sự nghiệp công không thiết yếu, không nằm trong danh mục NSNN sẽ không hỗ trợ
- Ban hành lộ trình tính giá cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo nguyên tắc thị trường, đặt mục tiêu đến năm 2020 các đơn vị sự nghiệp công tính đủ chi phí cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ công trong giá dịch vụ, tự cân đối được thu, chi Điều này tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ thực sự trong việc tính toán các chi phí đầu vào, đầu ra theo cơ chế hoạt động của doanh nghiệp
và có giải pháp thu hồi chi phí để tái đầu tư cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, phát triển đơn vị sự nghiệp và đảm bảo đời sống cho người lao động
- Chuyển đổi cơ chế cấp phát kinh phí cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo dự toán sang hình thức đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ, tiến tới đấu thầu
Trang 37trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; Từng bước chuyển việc hỗ trợ các đối tượng chính sách trong sử dụng dịch vụ sự nghiệp công thông qua việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí cung cấp dịch vụ bù giá cho các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công, sang việc Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng chính sách để mua dịch vụ sự nghiệp công theo giá thị trường tính đủ chi phí
Việc thay đổi này đã tạo điều kiện và buộc các đơn vị sự nghiệp công lập phải thay đổi phương thức hoạt động, đổi mới cơ chế tổ chức, hoạt động; Chấp nhận
cơ chế cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch với các đơn vị cung cấp dịch vụ công khác; Các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập trên nguyên tắc chất lượng, hiệu quả theo cơ chế thị trường, trên cơ sở đó khuyến khích xã hội hóa, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước trong cung cấp dịch vụ công, giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN
- Nâng cao vai trò của cơ quan nhà nước trong việc ban hành các danh mục
sự nghiệp công sử dụng NSNN, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, quy hoạch, sắp xếp mạng lưới các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
1.2.4.2 Nâng cao mức độ tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị quyết số 19-NQ/TW) đã được Bộ Chính trị ban hành với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý
Đồng thời, giảm mạnh tỷ trọng, nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập để cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cải cách tiền lương
và nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Hiện nay, do cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện
cơ chế tự chủ vẫn đang ở quá trình hoàn thiện, trong đó có nội dung tự chủ hoạt động, cách thức quản trị, vai trò của cơ quan chủ quản cũng chưa được quy định một cách đầy đủ và đồng bộ
Trang 38Do vậy, để đảm bảo hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài việc ban hành đầy đủ khung pháp lý về tự chủ tài chính, cần tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 Khóa XII
Hiện nay, Bộ Tài chính đang cùng các bộ, ngành tập trung hoàn thiện, trình ban hành và chuẩn bị triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm
vụ, giải pháp đề ra trong Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW
Những đổi mới của Nghị định 16/2015/NĐ-CP đem lại nhiều lợi ích cho các đơn vị sự nghiệp công, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; thúc đẩy các hoạt động của đơn vị, cung cấp sự nghiệp dịch vụ công theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao số lượng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội
Thực tế cho thấy, sẽ có sự triển khai Nghị định số 16/2015/NĐ-CP trái ngược nhau đối với 2 loại hình đơn vị sự nghiệp công lập Đối với những đơn vị sự nghiệp công lập năng động, có khả năng tự chủ cao nhưng đang bị “trói buộc” bởi các cơ chế quản lý cũ thì Nghị định số 16/2015/NĐ-CP sẽ là động lực mới
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiếu năng động, hoặc hoạt động ở các khu vực không thuận lợi, còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước thì chưa sẵn sàng chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ
Do vậy, việc nâng cao quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tế Thực hiện tốt chính sách này sẽ
có tác động đến việc tạo động lực, thúc đẩy sự phát triển của việc cung cấp sản phẩm dịch vụ công, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội
Cùng với các giải pháp đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, để nâng cao chất lượng quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp công lập, tăng cường chất lượng dịch vụ công ở Việt Nam, cần tiếp tục chú trọng những giải pháp sau:
Trang 39Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện luật pháp, thể chế, chính sách khuyến khích xã
hội hóa dịch vụ sự nghiệp công: Thực hiện chính sách hỗ trợ ngân sách nhà nước đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ công theo hướng tạo điều kiện và bảo đảm sự bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập trong việc tiếp cận các nguồn tài chính công, cung cấp dịch vụ công cho xã hội trên nguyên tắc: Trong cùng một lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, đơn vị nào có chất lượng và hiệu quả cao hơn sẽ được ưu tiên tiếp cận nguồn lực tài chính công, không phân biệt đơn vị công lập hay ngoài công lập
Tổ chức đánh giá, rà soát, quy hoạch lại các lĩnh vực cung cấp dịch vụ công trong xã hội đối với một số lĩnh vực không thiết yếu; các thành phần kinh tế trong
xã hội đã cơ bản đáp ứng nhu cầu xã hội, hoặc xã hội đã chấp nhận việc cung, cầu dịch vụ theo cơ chế thị trường thì không nhất thiết phải duy trì các đơn vị cung cấp dịch vụ công thuộc quyền sở hữu nhà nước
Các đơn vị sự nghiệp công này yêu cầu chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp hay cơ chế tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên Tiến tới, ngân sách nhà nước sẽ không hỗ trợ một số đơn vị sự nghiệp công lập đã được hình thành trước đây như: Các trung tâm văn hóa, các trung tâm thể thao, một
số trường học, bệnh viện
Trường hợp Nhà nước cần cung cấp dịch vụ thì thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng đối với các đơn vị này trên nguyên tắc tính đủ chi phí cung cấp dịch vụ, bình đẳng với đơn vị cung cấp dịch vụ khác
Về lâu dài, cần nghiên cứu thay việc ban hành danh mục dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước sang việc ban hành danh mục các đối tượng được hưởng
sự hỗ trợ của Nhà nước trong sử dụng dịch vụ công Theo đó, thay đổi cách hỗ trợ của Nhà nước thông qua sản phẩm dịch vụ công sang việc hỗ trợ cho đối tượng sử dụng dịch vụ công
Thứ hai, bổ sung xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư về ngân sách nhà nước
đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Nhà nước chủ động thay đổi cơ bản cách thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, từng
Trang 40bước chuyển từ giao dự toán khoán chi hoạt động thường xuyên như trước đây, sang đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ công
Trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của từng loại hình dịch vụ công cung cấp, nguồn tài chính công được phân phối công khai, minh bạch cho các đơn vị sử dụng có hiệu quả nhất, không phân biệt cơ sở công lập hay ngoài công lập Qua đó, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm cho các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập phát triển bình đẳng
Cùng với đó, Nhà nước chủ động thay đổi cách thức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các đối tượng chính sách thông qua các cơ sở cung cấp dịch vụ công như hiện nay, hỗ trợ trực tiếp, tạo sự bình đẳng trong hưởng thụ và tạo điều kiện cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công được bù đắp chi phí hoạt động cung cấp dịch vụ; Chủ động thực hiện cơ cấu lại, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị
sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo hướng bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị được giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phục
vụ cho các đối tượng chính sách, xã hội, đơn vị sự nghiệp công ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, biên giới và hải đảo
Nhà nước cần từng bước thực hiện tái cơ cấu đầu tư ngân sách nhà nước đối với việc cung cấp theo hướng tăng dần tỷ trọng chi đầu tư xây dựng cơ bản để tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng, ưu tiên đầu tư các cơ sở như giáo dục, y tế tại các địa bàn kinh tế trọng điểm, khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm thu hẹp khoảng cách về cung cấp và thụ hưởng giữa các khu vực, vùng, miền trong cả nước
Qua đó, từng bước giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cho cung cấp dịch vụ công, đồng thời, có chính sách huy động đóng góp từ xã hội để bù đắp các chi phí thường xuyên cho cung cấp dịch vụ công
Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lý tài chính công đối với các đơn vị sự nghiệp
công lập: Tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập