đầu tư ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc được giao; việc quyết toán các công trình đã được chú trọng và hoàn thành theo đúng thời gian quy định, công tác lập
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Trang 3Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Lê Thị Phương Thảo, người trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi, đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, công chức phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, các cán bộ, công chức, giám đốc các hợp tác xã, trưởng các thôn, khóm được phỏng vấn đã cung cấp đầy đủ số liệu, những thông tin cần thiết và ý kiến đóng góp quý báu cho tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: LÊ THỊ NHẬT THỦY
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 83 10 110
Niên khóa: 2017 - 2019
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ HOẠCH HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: của đề tài đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai
trò, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư công tại Phòng Tài chính - Kế hoạch
huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2015-2017 nói riêng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói chung
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến công tác quản lý đầu tư công
từ nguồn vốn NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
2 Phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
a Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
- Số liệu thứ cấp: Từ các báo cáo
- Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn các cán bộ, công chức, giám đốc các hợp tác xã, trưởng
các thôn, khóm trên địa bàn huyện Vĩnh Linh
b Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
3 Kết quả nghiên cứu chính và kết luận
- Kết quả nghiên cứu: Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về công
tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Đưa ra các giải pháp mang tính khoa học và thực tiễn để hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công
- Kết luận: Đề tài đã đi sâu nghiên cứu và giải quyết được một số vấn đề cơ bản sau
đây: Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh ngày càng được hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả, năng lực của cán bộ, công chức làm công tác kế hoạch
Trang 5đầu tư ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc được giao; việc quyết toán các công trình đã được chú trọng và hoàn thành theo đúng thời gian quy định, công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư được thực hiện triệt để hơn,… Tuy nhiên, chất lượng của công tác quản lý đầu tư công có một số mặt còn hạn chế như việc phân bổ kế hoạch vốn chưa phù hợp với nguồn lực hiện có của địa phương, khả năng huy động vốn từ bên ngoài còn hạn chế, công tác đấu thầu qua mạng thực hiện đúng theo quy định của cấp trên, khối lượng công việc nhiều nhưng số cán bộ, công chức đảm nhận công tác ít dẫn đến quá tải trong xử lý công việc Điều này đều được các đối tượng điều tra đánh giá thông qua các bảng khảo sát điều tra về chất lượng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN Ngân sách nhà nước
CBCNV Cán bộ, công nhân viên
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
KCN Khu công nghiệp
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Mục lục vi
Danh mục bảng ix
Danh mục sơ đồ x
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn: 6
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7
1.1 Những vấn đề cơ bản về đầu tư công và công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước 7
1.1.1 Đầu tư công 7
1.1.2 Vốn đầu tư công 10
1.1.3 Quản lý đầu tư công 15
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 20
1.2 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước và kinh nghiệm quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước một số địa phương trong nước 21 1.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư công từ nguồn vốn
TR ƯỜ
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 81.2.2 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước một số địa phương
trong nước 22
1.2.3 Bài học rút ra cho huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN VỐN NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 31
2.1 Tình hình cơ bản của huyện Vĩnh Linh 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 31
2.1.2 Tổng quan về phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 38
2.2 Thực trạng về đầu tư công từ nguồn vốn NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 41
2.2.1 Tình hình về vốn đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của huyện 41
2.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư công theo ngành, lĩnh vực đầu tư công 43
2.3 Thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 44
2.3.1 Tổ chức quản lý đầu tư công từ nguồn vốn NSNN của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 44
2.3.2 Tình hình quản lý đầu tư công từ nguồn vốn NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2015 - 2017 46
2.4 Đánh giá kết quả từ các đối tượng điều tra 58
2.4.1 Đặc điểm cơ bản của các đối tượng điều tra 58
2.4.2 Đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 60
2.5 Đánh giá chung về quản lý đầu tư công tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 73
2.5.1 Kết quả đạt được 73
2.5.2 Hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế 74
TR ƯỜ
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 9CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP - XÂY DỰNG VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ, PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA HUYỆN ĐẾN NĂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
CÔNG TỪ NGUỒN NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN
VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 79
3.1 Định hướng phát triển của huyện đến năm 2020 79
3.1.1 Phương hướng chung 79
3.1.2 Nhiệm vụ và giải pháp cụ thể 79
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 82
3.2.1 Giải pháp huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư 82
3.2.2 Công tác thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt tổng dự toán đầu tư công 83
3.2.3 Chấn chỉnh công tác quản lý đấu thầu 83
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác quyết toán dự án hoàn thành 84
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra 85
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
2.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 87
2.3 Kiến nghị với cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC 90 TR ƯỜ
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô, cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Vĩnh Linh
giai đoạn 2015 – 2017 37Bảng 2.2 Cơ cấu đầu tư toàn xã hội phân theo lĩnh vực kinh tế
giai đoạn 2015 - 2017 42Bảng 2.3 Vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Vĩnh Linh phân theo ngành, lĩnh vực
đầu tư, giai đoạn 2015 – 2017 43Bảng 2.4 Tình hình thẩm định chủ trương đầu tư công giai đoạn 2015 - 2017 50Bảng 2.5 Tình hình phân bổ vốn cho các dự án đầu tư công trên địa bàn huyện
giai đoạn 2015 - 2017 53Bảng 2.6 Kết quả công tác lựa chọn nhà thầu giai đoạn 2015 - 2017 53Bảng 2.7 Một số dự án hoàn thành được quyết toán trong năm 2017 57Bảng 2.8 Tình hình thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư công trên địa bàn toàn
huyện giai đoạn 2015-2017 58Bảng 2.9 Đặc điểm cơ bản của các đối tượng điều tra 59Bảng 2.10 Đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác lập huy động, xây
dựng kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Vĩnh Linh 63Bảng 2.11 Đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác lập, thẩm định và phê
duyệt báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 65Bảng 2.12 Đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác đấu thầu tại Phòng
Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 67Bảng 2.13 Đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác giám sát, đánh giá
tổng thể đầu tư tại phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 70Bảng 2.14 Đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác quyết toán dự án
hoàn thành tại Phòng tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 72
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Phòng Tài chính -
Kế hoạch huyện Vĩnh Linh 39
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý đầu tư công của Phòng Tài chính - Kế
hoạch huyện Vĩnh Linh 44
Trang 12PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư công là một bộ phận quan trọng của tổng cầu, có tác dụng thúc đẩy tổng cầu thông qua số nhân tài chính và do vậy đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây, đầu tư công đang là vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội nhất là của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, đầu tư công đóng vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ đóng góp trực tiếp vào GDP mà còn có tác động thúc đẩy đầu tư tư nhân phát triển thông qua hệ thống các cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm,…hay định hướng phát triển ngành thông qua việc ưu tiên đầu tư vào các ngành trọng điểm Bằng việc đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, cải thiện đường giao thông và các hoạt động đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư công đã thể hiện vai trò cấp thiết của mình trong nền kinh tế, tạo dựng những nền tảng vật chất kỹ thuật cho đất nước, thúc đẩy thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng
Quảng Trị là tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và các tác động xấu của khí hậu, do đó cơ sở vật chất còn thiếu hụt, trình độ phát triển còn thấp so với bình quân cả nước; cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm và các dịch vụ công cộng thiếu và yếu Trước tình hình này, đầu tư công đóng vai trò quyết định trong quá trình hoàn thiện kết cấu hạ, cải thiện các điều kiện xã hội, phát triển đồng bộ các ngành, lĩnh vực, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương Thực tế đã chứng minh quá trình đầu tư công đã làm thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân trong tỉnh
Vĩnh Linh là huyện ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị, có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tăng
Trang 13thu ngân sách địa phương, được đánh giá là một trong những trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Trong thời gian qua, huyện đã tập trung nguồn lực vốn có như nguồn từ đấu giá QSD đất, nguồn vốn ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng Các công trình thuộc các lĩnh vực giao thông, điện, thủy lợi, cấp thoát nước, trường học, cơ sở y tế, trung tâm văn hóa, thể dục thể thao,…đã hoàn thành
và đưa vào sử dụng góp phần tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, nâng cao đời sống vật chất của người dân, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế của huyện
Để đạt được những thành tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có sự đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành của chính quyền địa phương thông qua các hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính, hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong những chính sách điều hành này, đầu tư công đóng vai trò vô cùng quan trọng vì đây là công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là đòn bầy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ các lĩnh vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, đồng thời còn giúp phát triển các mặt về đời sống xã hội mà các thành phần kinh tế khác thường ít khi tham gia vào
Để duy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, huyện còn phụ thuộc nhiều vào đầu tư công tuy nhiên thực trạng hoạt động đầu tư công còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại như: bố trí kế hoạch vốn đầu tư chưa phù hợp với nguồn vốn hiện
có của địa phương; Nợ đọng xây dựng cơ bản kéo dài;… làm cho chất lượng công tác đầu tư công trên địa bàn chưa cao
Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để quản lý và sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực đầu tư công để sự phát triển kinh tế
xã hội của huyện theo kịp với chủ trương chính sách của tỉnh Quảng Trị cũng như của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” được lựa chọn nhằm giải quyết vấn đề nêu trên thông qua việc đánh giá về
thực trạng đầu tư công với những thành tựu đã đạt được, những mặt còn khiếm
Trang 14từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, ứng dụng các giải pháp đã đề xuất vào thực tiễn trong công tác điều hành quản lý đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư công tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Vĩnh Linh giai đoạn 2015-2017 nói riêng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của huyện nói chung
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đến năm 2020
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến công tác quản lý đầu
tư công từ nguồn vốn NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
+ Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ
nguồn vốn ngân sách giai đoạn 2015 - 2017 và đề xuất các giải pháp đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
Trang 15+ Cán bộ quản lý lĩnh vực đầu tư công: gồm có 5 người, là Trưởng phòng, Phó phòng phụ trách ngân sách, Phó phòng phụ trách Kế hoạch - Đầu tư, công chức phòng Tài chính - Kế hoạch huyện phụ trách lĩnh vực kế hoạch và đầu tư Đây là đối tượng trực tiếp tham mưu cho UBND huyện, chủ trì, phối hợp thực hiện các hoạt động quản lý đầu tư công trên địa bàn huyện
+ Cán bộ, chuyên viên làm việc tại các phòng, ban cấp huyện là các cơ quan phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch trong công tác quản lý đầu từ công và các
cơ quan có dự án đầu tư công: đối tượng này gồm có 25 người
+ Cán bộ, công chức tại 22 xã, thị trấn gồm chủ đầu tư là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn và công chức kế toán ngân sách xã, thị trấn, đối tượng này có
44 người tham gia điều tra
+ Các đối tượng đại diện cho đơn vị hưởng lợi ở cơ sở có dự án đầu tư công trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017, gồm 22 người là trưởng thôn, khóm; giám đốc các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Đây là những người đại diện cho người dân ở cơ sở, đối tượng trực tiếp sử dụng các công trình đầu tư, họ sẽ là những đối tượng phản ánh khách quan nhất về chất lượng của các công trình đầu tư trên địa bàn
4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích
Dùng để phân tích cụ thể về thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn từ năm 2015 - 2017, từ đó rút ra những mặt hạn chế và nguyên nhân của từng hạn chế; nghiên cứu đề xuất những giải pháp, chính sách hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đến năm 2020
Trang 16- Phương pháp thống kê mô tả: Tập hợp số liệu và thông tin đã thu thập
được, chọn lọc, thống kê và xử lý những thông tin cần thiết
Tác giả đã áp dụng phương pháp này để tiến hành thu thập các số liệu thứ cấp từ các phòng, ban cấp huyện như các số liệu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện qua các năm được thu thập từ các bản Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 đến năm 2017 của huyện; thực trạng công tác đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước được thu thập từ bộ phận Kế hoạch - Đầu tư gồm các bản Báo cáo tình hình giám sát đầu tư, quyết toán đầu tư công, tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư trong kỳ, tình hình công tác đấu thầu,.v.v trên địa bàn huyện qua các năm (từ năm 2015 đến năm 2017) Từ những số liệu thu thập được, tác giả đã chọn lọc, thống kê và xử lý những thông tin, số liệu cần thiết cho đề tài nghiên cứu
để phân tích, phục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: Sau khi thu thập và phân tích các số liệu cần thiết sẽ
tiến hành so sánh qua các thời kỳ
Sau khi thu thập, xử lý số liệu, tác giả tiến hành so sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua các năm trong phần thực trạng và so sánh mức độ thực hiện các chỉ tiêu đánh giá trong phần khảo sát, đánh giá từ các đối tượng điều tra
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo: Khảo cứu các tài liệu liên quan
phục vụ cơ sở lý luận, thực tiễn; phỏng vấn và thu thập thông tin từ các chuyên gia quản lý, sử dụng vốn và công trình đầu tư nhằm xây dựng quan điểm, định hướng, chiến lược và rút ra các kết quả, hạn chế và nguyên nhân nhằm đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công
Phương pháp này được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận văn, để có nguồn thông tin chính xác, khách quan với thực tế địa phương, tác giả đã tham khảo, nghiên cứu các văn bản pháp luật (như Luật, Nghị định, Hướng dẫn,…về công tác đầu tư công), các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến nội dung đề tài, tham khảo ý kiến từ các cán bộ, chuyên viên đang công tác tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện; tiến hành phỏng vấn, điều tra các đối tượng có liên quan trực tiếp đến công tác đầu tư công, đây là căn cứ quan trọng để rút ra kết quả,
Trang 17hạn chế, nguyên nhân, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để công tác quản lý đầu
tư công ngày càng được hoàn thiện
5 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Trang 18PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
ĐẦU TƯ CÔNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Những vấn đề cơ bản về đầu tư công và công tác quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước
1.1.1 Đầu tư công
1.1.1.1 Khái niệm
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế Việt Nam, việc gia tăng vốn
xã hội được gọi là đầu tư công Việc tăng vốn xã hội thuộc chức năng của Chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà Chính phủ thực hiện Đầu tư công bao gồm: Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương); Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và dài hạn), cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách hàng năm, tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định; Đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước, mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
Khái niệm “đầu tư công” còn được hiểu là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước
để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh như: Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo, Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể
cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật; Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ
Trước đây "đầu tư công" vẫn được quan niệm một cách khá đơn giản: nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế nhà nước tiến hành Đầu tư công được xét không phải từ gốc độ mục đích mà từ
Trang 19gốc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư Đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác
tư vào các chương trình dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.”
Đầu tư công bao gồm: Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ, ngành Trung ương và địa phương); Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và dài hạn), cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách hàng năm, tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định; Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước [8]
Nói tóm lại, đầu tư công bao gồm tất cả các khoản đầu tư do Chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành Đầu tư công được xét không phải từ gốc độ mục đích mà từ gốc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư Đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước, và các vốn khác do nhà nước quản lý
1.1.1.2 Vai trò của đầu tƣ công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Cơ sở hạ tầng là đối tượng chính của đầu tư công, là một bộ phận đặc thù của
cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục Có cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác
Trang 20Việc phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng gồm có sáu tác động quan trọng sau đây:
- Cơ sở hạ tầng phát triển mở ra khả năng thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế-xã hội
- Cơ sở hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại là điều kiện để phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển
- Cơ sở hạ tầng phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng và nâng cao điều kiện sống của hộ
- Cơ sở hạ tầng thực sự có ích với người nghèo và góp phần vào việc giữ gìn môi trường
- Đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn, đem đến tác động cao nhất đối với giảm nghèo
- Phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng về mặt
xã hội cho người nghèo
Đối với nền kinh tế nói chung và nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa như nước ta nói riêng thì đầu tư công là một trong những công cụ điều hành của nhà nước, góp phần tạo nền tảng cơ bản cho sự phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy, dẫn dắt đầu tư của các thành phần kinh tế khác, kích thích các thành phần kinh tế phát triển có hiệu quả hơn và đồng đều hơn Bởi lẽ, như một tất yếu khách quan đầu
tư của tư nhân và nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào các ngành nghề, khu vực có khả năng sinh lời cao, mức độ an toàn lớn, dẫn đến mất cân đối trong các ngành cũng như các vùng kinh tế Do vậy, để nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ, hài hòa và hợp lý thì Chính phủ sẽ dùng vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước
để đầu tư vào một số lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đủ khả năng hoặc không được phép đầu tư, chẳng hạn các dự án có vốn đầu tư lớn, khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không thể thu hồi vốn hay đối với các lĩnh vực mang tính chủ quyền quốc gia, tài nguyên quốc gia
Vai trò của đầu tư công được thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau:
Trang 211) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội Đồng thời tạo điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư phát triển
2) Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đẳng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính phủ, chương trình 30a, các chương trình xóa đói giảm nghèo hỗ trợ sản xuất…), nâng cao và ổn định đời sống người dân
3) Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh Các công trình, dự án về quốc phòng an ninh đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này Nhưng đó lại là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia
Qua đó có thể thấy, đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước có tác động khá lớn tới tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo định hướng đề ra Hoạt động đầu tư công góp phần tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tăng thu nhập bình quân đầu người Mặt khác, đầu tư công cũng một phần tăng tích lũy vốn, thu hút người lao động, giải quyết việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên của quốc gia Đồng thời nó sẽ tạo ra cơ cấu kinh tế mới, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội
Nói tóm lại, hoạt động đầu tư công có vai trò to lớn với sự phát triển các mặt của nền kinh tế, đời sống xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, là một công cụ góp phần điều tiết kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô Nó mang tính định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân
1.1.2 Vốn đầu tƣ công
1.1.2.1 Khái niệm
Theo quan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư công là toàn bộ các chi phí bỏ ra
để thực hiện mục đích đầu tư Vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính sau: Vốn đầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và vốn đầu tư
Trang 22Theo quan điểm khác, vốn đầu tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, thường được thực hiện qua các
dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia và mục tiêu chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động Như vậy, khái niệm vốn đầu tư ở đây thường được gắn cụ thể với số vốn hay ngân sách dành để cấp cho một dự án đầu tư hay một chương trình cụ thể
Vốn đầu tư gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương
dự án Nhà nước Dựa vào các tiêu thức khác nhau người ta phân vốn ngân sách nhà nước đầu tư công thành các loại khác nhau Vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước là nguồn vốn của nhà nước, bao gồm: Nguồn vốn thu trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài
b Nguồn hình thành vốn đầu tư công của ngân sách nhà nước
Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư công thu trong nước, bao gồm:
- Một phần tích lũy trong nước từ thuế, phí, lệ phí
- Viện trợ theo dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam
Trang 23- Vốn thu hồi nợ của ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước
- Vốn từ giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
- Vốn từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Luật Ngân sách Nhà nước định nghĩa
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền kinh tế - xã hội; các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ ngân sách nhà nước có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà nước, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của ngân sách nhà nước Thu của ngân sách nhà nước được thực hiện chủ yếu là từ thuế và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ phí và thu khác Chi của ngân sách nhà nước bao gồm: chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên cho quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, sự nghiệp văn hóa, giáo dục và đào tạo, chi các sự nghiệp kinh tế Muốn tăng nguồn tích lũy của ngân sách nhà nước phải phấn đấu tăng thu và tiết kiệm chi Vốn đầu tư phát triển qua kênh ngân sách nhà nước, được thể hiện qua hai phần: một phần vốn đầu tư xây dựng công trình tập trung của Nhà nước, một phần từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm
- Nguồn vốn tín dụng nhà nước: Là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, do
Bộ Tài chính phát hành Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn, nhưng nguồn thu lại không thể đáp ứng được Để thỏa mãn nhu cầu này, Chính phủ thường cân đối ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ Ở nước ta hiện nay, trái phiếu Chính phủ có các hình thức sau đây: Tín phiếu, trái phiếu kho bạc,
Trang 24tác động lên hai mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm
bảo kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số
dự án nào đó, nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng
- Nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước: Hiện nay, ở các
quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước vì nhiều lý do khác nhau: bảo đảm
những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh doanh ở những lĩnh vực mà tư
nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu quả kinh tế thấp, nhất là ở
những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch vụ công cộng
Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước được hình thành từ rất nhiều
nguồn khác nhau: Là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp cho các tập đoàn, công
ty nhà nước nắm 100% vốn hoặc cổ phần chi phối, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có
xu hướng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua
phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối với các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ
phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để
lại doanh nghiệp
- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Các ngân hàng thương mại và các tổ chức
tài chính trung gian khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư phát triển Các tổ
chức này có ưu điểm là có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu về vốn của các pháp
nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tượng vay vốn chấp hành đầy đủ
những quy chế tín dụng Sở dĩ các tổ chức này có thể thu hút, huy động nguồn vốn
bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lượng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử
dụng dưới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa dạng
- Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh: Nguồn vốn đầu tư của khu vực
dân doanh được hình thành từ nguồn tiết kiệm của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và tiết kiệm của dân cư
c Phạm vi sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư công
Vốn của ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc
đối tượng sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách nhà
nước và quy chế quản lý đầu tư Cụ thể vốn ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát
cho các đối tượng sau:
Trang 25- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh không có khả năng thu hồi và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép
- Các doanh nghiệp nhà nước được sử dụng vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của nhà nước để lại để đầu tư (đầu tư mở rộng, trang bị lại kỹ thuật)
Chi đầu tư công của ngân sách nhà nước đó là những khoản chi lớn của nhà nước đầu tư vào việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và nó được thực hiện bằng chế độ cấp phát không hoàn trả từ ngân sách nhà nước
1.1.2.3 Đặc điểm của đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
Đầu tư là khâu mở đầu cho mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất của nền kinh tế Quá trình đầu tư phải trải qua một thời gian lao động dài mới có thể đưa vào sử dụng được Và đặc biệt đối với đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thì thời gian hoàn vốn chậm và đáp ứng mục tiêu xã hội là chủ yếu Một dự án đầu tư là một thực thể độc lập trong môi trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm Đồng thời, dự án khi triển khai thực hiện được xác định rõ ràng về mục tiêu, nguồn lực, thời gian khởi công hoàn thành, cơ cấu, chất lượng nhất định và hiệu quả mang lại Do vậy, nguồn vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước bố trí thực hiện dự án đó có tính thống nhất và tính xác định cao
Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, do thời gian kéo dài nên các yếu tố chính trị, kinh tế và tự nhiên can thiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp và thậm chí gây ra những tổn thất mà những nhà đầu tư không lượng hết khi lập dự án Do vậy, vốn đầu tư phát sinh so với dự toán ban đầu là điều
Trang 26Sản phẩm của đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, giao thông, bến bãi,…có tính cố định gắn liền với đất đai
Vì thế trước khi quyết định đầu tư dự án từ nguồn này phải được quy hoạch cụ thể, khi triển khai thực hiện thường gặp khó khăn trong đền bù, giải phóng mặt bằng
Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bị tách rời Nguồn vốn này thuộc quyền sở hữu của nhà nước Trong đó quyền sử dụng lại giao cho một tổ chức bằng việc thành lập các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án Từ đặc điểm này mà nguồn vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước dễ bị thất thoát nếu chủ đầu tư, ban quan lý dự án không ngừng nâng cao trách nhiệm, trình độ quản lý đáp ứng yêu cầu quản lý và nhà nước không ngừng nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt
1.1.3 Quản lý đầu tƣ công
1.1.3.1 Khái niệm
Hoạt động đầu tư ở Việt Nam được quản lý theo quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Trong đó, liên quan trực tiếp đến quản lý đầu tư công là các Luật: Đầu tư công, Đấu thầu, Đầu tư, Xây dựng, các nghị định hướng dẫn thi hành các luật khác của Chính phủ Ngoài ra, quản lý đầu tư công còn liên quan tới nhiều luật như: Đất đai, Bảo vệ môi trường, Khoáng sản, Dầu khí, Thuế thu nhập doanh nghiệp,…và các hệ thống văn bản hướng dẫn các luật này
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác quản lý quy hoạch, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một đồng bộ các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung
và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng
Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Quản lý đầu tư công là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập danh sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nên kinh tế [16]
Trang 27Quản lý đầu tư công là quá trình quản lý từ khâu phê duyệt chủ trương đầu
tư, phê duyệt chương trình, dự án, lập kế hoạch đầu tư, xác định danh mục chương trình, dự án đầu tư, triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra đánh giá, thanh tra các chương trình, dự án đầu tư công và kế hoạch đầu tư công
Như vậy, quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện
sở hữu nhà nước trong các dự án công, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các
dự án Kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước
1.1.3.2 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước [16]
1) Định hướng đầu tư, xây dựng dự án, sàng lọc bước đầu:
- Định hướng đầu tư: Đây là xuất phát điểm của quy trình quản lý đầu tư công, được thể hiện qua chiến lược hay kế hoạch tổng thể do cấp quyết định cao nhất đề ra Định hướng này giúp cho hoạt động đầu tư công của Chính phủ phản ánh được các ưu tiên của quốc gia, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng chương trình và ra quyết định của các bộ - ngành và các cấp chính quyền địa phương
- Xây dựng dự án đầu tư: Căn cứ vào chiến lược đầu tư, các bộ - ngành - địa phương xây dựng các hồ sơ dự án trong đó bao gồm các thông tin cơ bản như sự cần thiết, mục tiêu, các hoạt động chính, ngân sách dự toán, tiến độ thực hiện, kết quả kỳ vọng, của dự án
- Sàng lọc dự án bước đầu: Mục đích của bước này là đảm bảo dự án do các
bộ - ngành - địa phương đề xuất đảm bảo thỏa mãn các điều kiện tối thiểu để có thể được xem xét ở các bước kế tiếp Các điều kiện tối thiểu này bao gồm sự cần thiết, tính nhất quán đối với các ưu tiên của Chính phủ và sự phù hợp về tài khóa Sàng lọc tốt ở khâu này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực ở những bước sau
2) Lập, thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư
Trang 283) Lựa chọn và lập kế hoạch ngân sách dự án: Bất kỳ dự án đầu tư công nào
đều là một bộ phận của kế hoạch đầu tư công tổng thể, vì vậy việc lựa chọn và lập ngấn sách dự án phải được cân nhắc phù hợp với chu kỳ ngân sách (hang năm, trung hạn, dài hạn) để đảm bảo dự án phù hợp với ưu tiên và khả thi về mặt tài khóa trong từng chu kỳ ngân sách Để đảm bảo tính công bằng và tăng cường hiệu lực giám sát sau này, các tiêu thức lựa chọn dự án phải được công khai Đầu tư công hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn dự án tốt mà còn phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động quản lý và bảo trì tài sản Ngân sách chi thường xuyên vì vậy mà được điều chỉnh thích hợp để phản ánh những khản chi mới phát sinh này
4) Triển khai dự án: Sự thành công (hay thất bại) trong triển khai dự án phụ
thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó chắc chắn bao gồm (i) lựa chọn đúng dự án tốt; (ii) lập ngân sách chính xác; (iii) chuẩn bị các điều kiện cần về năng lực quản lý tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự, thu hồi đất; (iv) kế hoạch mua sắm máy móc, vật tư; (v) theo dõi và quản lý chi phí; (vi) quản lý các rủi ro phát sinh làm ảnh hưởng đến tiến độ và chi phí của dự án Bản thân từng nhiệm vụ này đều rất phức tạp vì có những hướng dẫn cần thiết cho việc triển khai dự án Về mặt tổ chức, việc bố trí nhân sự, xây dựng bộ máy quản lý, dự kiến tiến độ,… tất cả phải được chuẩn bị kỹ càng và thực tế Quy trình đấu thầu công khai, công bằng, và hiệu quả cũng cần được xây dựng và công bố Cũng cần lường trước những cơ chế để ngăn chặn (hoặc
ít nhất là giảm thiểu) nguy cơ tăng chi phí trong tương lai
5) Điều chỉnh dự án: Trong quá trình triển khai dự án, có thể xuất hiện
những tình huống mới ảnh hưởng đến thiết kế, tiến độ, hay chi phí của dự án Vì vậy, hoạt động quản lý dự án cần có một sự linh hoạt nhất định để có thể ứng phó với những tình huống này Tuy nhiên, để tránh khả năng những điều chỉnh này bị lợi dụng cũng như để giảm chi phí điều chỉnh, cần thực hiện tốt các khâu ở phía trước, đặc biệt là các khâu thẩm định, lựa chọn, ký kết hợp đồng mua sắm, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai dự án Đồng thời, hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ cũng cần được thực hiện để có được bức tranh cập nhật về tình hình triển khai dự án, đặc biệt là về chi phí và lợi ích Bên cạnh đó
Trang 29cũng cần có cơ chế để đình chỉ thậm chí hủy bỏ các dự án được phát hiện là kém hiệu quả và lãng phí
6) Vận hành dự án: Sau khi dự án đầu tư công hoàn tất, phải có một quá
trình (i) bàn giao dự án cho tổ chức vận hành; (ii)vận hành dự án; (iii) bảo trì, bảo dưỡng tài sản hình thành từ dự án; (iv) hạch toán chính xác và kịp thời những thay đổi về giá trị tài sản; (v) đánh giá mức độ hữu dụng của dự án căn cứ vào chất lượng
và số lượng dịch vụ nó mang lại
7) Đánh giá và quyết toán sau khi hoàn thành dự án: Đây là một khâu rất
quan trọng nhưng lại hay bị bỏ qua Mục đích chính của khâu này là đánh giá xem
dự án có được triển khai theo đúng thiết kế, tiến độ và ngân sách dự toán, có chất lượng và kết quả đúng như kỳ vọng và đạt được các mục tiêu để ra ban đầu hay không Một mục đích nữa của khâu này là so sánh dự án đang xem xét với các dự
án tương tự khác để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc thiết kế và triển khai các dự án khác trong tương lai Bên cạnh việc đánh giá này, dự án cũng có thể được kiểm toán (một cách chọn lọc) để đánh giá mức độ tuân thủ của dự án đối với hệ thống luật định đề đâu tư công
1.1.3.2 Nguyên tắc cơ bản trong quản lý đầu tƣ công
Phù hợp với mục tiêu quản lý đó chính là thống nhất giữa tính chính trị, kinh
tế kết hợp hài hòa, hợp lý về mặt xã hội Bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước Bảo đảm quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải được đảm bảo bằng pháp luật Nguyên tắc này không cho phép các cơ quan nhà nước thực hiện việc quản lý dự án đầu tư công một cách tùy tiện, chủ quan mà phải dựa vào pháp luật, làm đúng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả
Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn Phân cấp theo quy mô, đây là một trong những tiêu chí chủ đạo trong quá trình quản lý đầu tư công ở Việt Nam
Cụ thể là mức độ phân cấp đối với các chức năng và nhiệm vụ quản lý đầu tư công
Trang 30thường phụ thuộc vào quy mô và tầm quan trọng của dự án, được chia thành các dự
án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C
Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động đầu tư công Các dự án đầu tư công liên quan đến nguồn tài chính Theo
đó, chính quyền cấp huyện được quyền quyết định các dự án đầu tư sử dụng vốn đầu tư công do cấp cấp mình quản lý (nguồn vốn đầu tư cân đối theo tiêu chí, nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, các khoản tăng thu, tiết kiệm chi, nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương cấp huyện, )
1.1.3.3 Phân cấp quản lý đầu tƣ công
Cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư công là đơn vị có chức năng quản lý đầu tư công thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; đơn vị được giao quản lý đầu tư công của bộ, cơ quan trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan,
tổ chức khác được giao kế hoạch đầu tư công; Sở Kế hoạch và Đầu tư; phòng, ban có chức năng quản lý nhà nước về đầu tư công thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã; cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư công bao gồm Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Ủy ban nhân dân các cấp
Phân cấp quản lý đầu tư công gắn với phân cấp quản lý tài chính Có hai nguồn, một là nguồn từ Trung ương, hai là nguồn khai thác tại chỗ ở địa phương Một cách tương đối nhất quán, chính quyền địa phương cấp huyện được quyền quyết định gần như hoàn toàn đối với các dự án đầu tư từ ngân sách địa phương do cấp huyện quản lý Vốn đầu tư công được phân bổ theo hai cấp ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương
Phần lớn nguồn lực đầu tư công được phân cấp cho ngành và địa phương quản lý Và hệ quả tất yếu là việc quyết định đầu tư công đã tách rời việc bố trí vốn Các ngành và địa phương quyết định về dự án đầu tư, nhưng nguồn vốn đều được ghi là “xin từ ngân sách cấp trên”
Nguyên tắc phân cấp đầu tư từ Trung ương xuống địa phương vẫn được thực hiện theo quy mô và tầm quan trọng của dự án, được chia thành các dự án quan trọng của quốc gia là dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C Bên cạnh đó, mặc dù phân cấp quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước mạnh nhưng vẫn còn thiếu sự
Trang 31kiểm tra, hướng dẫn từ cấp có thẩm quyền phân cấp dẫn tới việc cấp dưới được phân cấp có thể làm những việc vượt thẩm quyền, quyết định dự án đầu tư nhưng nguồn vốn lại đề nghị cấp trên cân đối; hoặc để tự cân đối ngân sách tại chỗ thì các cấp dưới được phân cấp phải chật vật tìm cách tăng thu, dẫn đến việc thu hút đầu tư bằng mọi giá, làm trầm trọng thêm tình trạng phát triển tự phát, không theo quy hoạch
Có thể nói những yếu kém, hạn chế trong công tác phân cấp quản lý đầu tư
từ nguồn ngân sách nhà nước là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đầu tư dài trải, chồng chéo, công trình thi công chậm, thiếu đồng bộ, sản phẩm dở dang nhiều dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp Bản thân chỉ thị số 1792/CT - TTg của Thủ tướng chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ cũng đã thừa nhận “do phân cấp quản lý quá rộng lại thiếu các biện pháp quản lý đồng bộ dẫn đến tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn lực của nhà nước”
Luật Đầu tư công năm 2014 đã có sự thay đổi trong phân cấp quyết định chủ trương đầu tư cũng như thẩm định nguồn vốn, khả năng cân đối vốn… kỳ vọng sẽ khắc phục được tình trạng yếu kém trước đây
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước [15]
Quản lý đầu tư công là một quá trình phức tạp, chịu sự ảnh hưởng cả nhiều yếu tố từ khách quan đến chủ quan Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản lý đầu
tư công là:
- Năng lực của cơ quan nhà nước: Đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án
Trang 32- Kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước
Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng
- Thủ tục hành chính và các quy định của pháp luật: việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình
tự ổn định và rành mạch cho hoạt động quản lý đầu tư tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Bối cảnh thực tế: Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học - công nghệ,… đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp
- Công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án Các dự án công
bị người dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt bằng sẽ gặp nhiều khó khăn về sau Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện sẽ mang lại lợi ích cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng
1.2 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư công từ ngân sách nhà nước và kinh nghiệm quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước một số địa phương trong nước
1.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước
Trang 33Về tổng thể, hoạt động đầu tư nói chung ở nước ta, trong đó có đầu tư sử dụng vốn nhà nước trong thời gian vừa qua được quản lý theo quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật ngân sách nhà nước, Luật đầu tư công, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật đất đai, Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,… Riêng hoạt động đầu tư từ nguồn vốn nhà nước không nhằm mục đích kinh doanh được điều chỉnh bằng các nghị quyết của Quốc hội, các văn bản hướng dẫn thi hành các luật liên quan hoặc các nghị định của Chính phủ như:
Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, các nghị định sửa đổi, bổ sung Quy chế nói trên gồm: Nghị định số 12/2000/NĐ - CP ngày 5/5/2000, nghị định số 07/2003/NĐ - CP ngày 30/1/2003
Nghị định số 59/2015/NĐ - CP ngày 18/6/2015 của chính phủ về Quản lý dự
án đầu tư xây dựng
Nghị định số 32/2015/NĐ - CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Nghị định số 46/2015/NĐ - CP ngày 12/6/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 về kế hoạch đầu tư trung hạn
và hằng năm
Văn bản số 1011/BKHĐT-TH ngày 02/3/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về hướng dẫn một số nội dung về lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công theo Luật đầu tư công
Nghị định số 136/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu
tư công
Ngoài ra còn có các nghị định số 11/2013/NĐ - CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu phát triển đô thị Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 26/6/2014 quy định chi tiết về lựa chọn nhà thầu
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước một số
Trang 34Ở Việt Nam, đầu tư từ khu vực nhà nước đã trở thành một động lực quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, tạo ra các tác động lan tỏa lớn, nhất là các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Đầu tư Nhà nước đã phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, đầu tư từ các khu vực khác suy giảm (ví dụ như năm 2008 - 2009)
Cơ cấu đầu tư công đã có một số chuyển biến theo chiều hướng tích cực Đã tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng, góp phần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xử lý bất hợp lý vùng miền; đã tập trung nhiều hơn cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ lực lượng lao động Cụ thể trong tổng mức đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn Bình quân giai đoạn 2001 - 2010, chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bằng khoảng 95% tổng chi đầu tư phát triển Nguồn lực ngân sách nhà nước đã được tập trung cho việc phát triển các dự án hạ tầng thiết yếu trong nền kinh tế, các dự án không có khả năng hoàn vốn trực tiếp
Trong công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình đã hình thành được bộ khung pháp luật tương đối đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư nhà nước nói riêng Hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư đến nay cơ bản
đã bao quát được hầu hết hoạt động đầu tư từ khu vực nhà nước Bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn những hạn chế đó là:
- Hiệu quả đầu tư công (theo hệ số ICOR) có xu hướng giảm dần Nguyên nhân cơ bản của tình trạng hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng giảm dần là do tình trạng đầu tư còn dàn trải và tiến độ còn chậm của nhiều dự án lớn
- Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư xã hội còn và có xu hướng giảm chậm
- Tình trạng đầu tư công thiếu quy hoạch, đầu tư phân tán, đầu tư thiếu đồng
bộ, đầu tư cùng lúc vào nhiều dự án… vẫn còn xảy ra Một số dự án triển khai chậm, kéo dài tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và chậm đưa công trình vào sử dụng; thậm chí có công trình đã đưa vào sử dụng nhưng hiệu quả đầu tư không đạt như mong muốn và dự tính ban đầu
Trang 35- Nguồn vốn đầu tư phát triển còn hạn chế trong khi nhu cầu đầu tư công lớn và tăng nhanh nên việc bố trí đầu tư còn dàn trải, làm giảm hiệu quả trong đầu tư xây dựng cơ bản
- Việc triển khai các phương thức đầu tư mới nhằm kêu gọi đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng như hợp tác đầu tư (PPP), BOT, BTO, BT,… chưa được quan tâm chú ý Còn thiếu các cơ chế mang tính đột phá và vượt trội trong kêu gọi, thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước
- Các dự án đầu tư có tiến độ triển khai rất chậm, nhất là các dự án trọng điểm do các nguyên nhân như giải phóng mặt bằng, thiếu vốn, nhà thầu năng lực còn kém và khả năng quản lý đầu tư công của tỉnh, thành phố còn kém hiệu quả
1.2.2.1 Kinh nghiệm của thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Thời gian qua, các dự án đầu tư công từ nguồn ngân nhà nước trên địa bàn huyện ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô, các dự án chủ yếu tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành, các lĩnh vực quan trọng đã tạo nên sự chuyển biến rõ rệt, kinh tế - xã hội phát triển, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, đời sống của nhân dân được cải thiện
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý đầu tư công của huyện còn bộc lộ một số không ít những hạn chế khó khăn:
- Việc lập một số dự án còn thiếu tầm chiến lược, thiếu nghiên cứu vĩ mô, chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết quy hoạch, thăm dò địa chất Vì vậy dự án phải điều chỉnh nhiều lần, gây lãng phí trong đầu tư, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và hiệu quả dự án
- Một số dự án thực hiện chậm so với yêu cầu, khả năng giải ngân thấp, công tác thanh quyết toán kéo dài, công trình chậm được đưa vào sử dụng dẫn đến hiệu quả đầu tư hạn chế Với yêu cầu về quy mô đầu tư lớn hơn trong vài năm tới nếu vẫn vận hành hệ thổng như hiện nay thì chắc chắn không đạt yêu cầu
- Một số dự án xây dựng chưa nhận được sự đồng thuận của người dân Vấn
đề này có thể do thông tin dự án chưa đến hoặc chưa đầy đủ cho nhân dân, có thể do mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích khác nhau nhưng cũng có thể có dự án chưa thực
Trang 36sự khả thi và chưa hẳn đã thuyết phục về hiệu quả tổng hợp không chỉ kinh tế mà còn là môi trường, xã hội,…
- Chế độ, chính sách tiền lương của nhà nước có biến động dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung hồ sơ làm chậm tiến độ đấu thầu, tiến độ thi công Giá cả vật tư, nguyên liệu trượt gía nhanh, trong khi đó vốn đầu tư còn dàn trải, không đáp ứng tiến độ thanh toán vì vậy đầu tư thường có nguy cơ bị thua lỗ
- Công tác chuẩn bị đầu tư còn lúng túng, bị động, chưa có kế hoạch dài hạn dẫn đến dự án phê duyệt tràn lan, đầu tư dàn trải
- Trên địa bàn huyện còn tồn tại 02 Ban quản lý dự án nên sự phối hợp giữa các ban còn thiếu đồng bộ Ban thiếu cán bộ, cán bộ chưa phù hợp với chuyên môn, chuyên ngành, công việc còn phụ thuộc nhiều vào đơn vị tư vấn
- Chủ đầu tư thực hiện công tác báo cáo giám sát đánh giá đầu tư, báo cáo công tác đầu thầu thiếu kịp thời để giúp cơ quan quản lý nhà nước tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn chung
- Công tác đấu thầu còn nhiều sai sót như: Một số gói thầu còn tổ chức đấu thầu hạn chế, không đúng quy định của Luật đấu thầu; Còn hiện tượng thông đồng giữa các bên trong đấu thầu như số lượng mua hồ sơ mời thầu thì khá nhiều nhưng một số gói thầu khi nộp thầu chỉ có 3 đến 5 nhà thầu nộp, trong đó hầu hết hồ sơ bị loại ở giai đoạn sơ bộ, giá trúng thầu tính cạnh tranh không cao; Trách nhiệm của một số chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tổ chuyên gia tư vấn đấu thầu chưa cao, còn hiện tượng hạn chế bán hồ sơ mời thầu, thông báo mời thầu không rộng rãi
Để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước, Thị
xã Hồng Lĩnh đã đưa ra một số giải pháp sau:
- Cần tập trung xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách về đầu tư công rõ ràng,
cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương và bảo đảm thực hiện đúng chủ trương, quy định của Đảng, Nhà nước đề ra
- Thực hiện phân cấp quản lý sẽ tăng cường và nâng cao vai trò của cơ sở, giảm tải sự đầu tư của nhà nước, huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư Tuy nhiên do đội ngũ cán bộ ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa được đào tạo kiến thức cơ bản, ràng buộc trách nhiệm trước pháp luật chưa cao, năng lực của các đơn vị
Trang 37tư vấn trên địa bàn còn yếu, trách nhiệm chưa cao nên phân cấp phải được thực hiện đúng quy định và thời điểm Trước khi thực hiện phân cấp, cần phải thực hiện kiểm tra, đánh giá năng lực về quản lý đầu tư công của các đơn vị được phân cấp, đối với những đơn vị chưa đủ năng lực thì phải được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức để bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ đề ra Thực hiện phân cấp hợp lý sẽ tránh được tình trạng trình
tự thủ tục không đảm bảo, chất lượng công trình kém, thời gian thực hiện kéo dài, thất thoát vốn đầu tư do năng lực quản lý yếu kém của chủ đầu tư gây ra
- Tăng cường hiệu lực pháp lý của các quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức liên quan đến công tác lập, thẩm định và phê duyệt đối với chất lượng quy hoạch nhằm mục đích nâng cao chất lượng của quy hoạch, tăng tính thống nhất giữa quy hoạch các cấp, hạn chế quy hoạch treo Tăng cương đào tạo nâng cao trình
độ, năng lực của cán bộ lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch
1.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Đầu tư công là lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò chủ yếu trong việc xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hàng năm, ngân sách huyện dành một tỷ lệ lớn chi cho đầu tư công Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của nhiều địa phương trong cả nước chất lượng hoạt động đầu tư trên địa bàn huyện còn hạn chế Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên và nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công từ nguồn NSNN huyện tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
- Quản lý Nhà nước đối với đầu tư công từ NSNN phải theo hướng phát hiện những bất cập trong chế độ, chính sách và cơ chế liên quan đến vốn đầu tư công Từ
đó sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học - công nghệ và sự biến đổi của cơ chế thị trường, đủ sức làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý của Nhà nước ngày càng có hiệu quả và hiệu lực hơn trong lĩnh vực đầu tư công từ NSNN trong thời gian tới
- Nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch, thiết kế, thẩm định, đấu thầu, phê duyệt và quản lý cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu tư công từ NSNN
- Nâng cao chất lượng quản lý trong quản lý đầu tư công từ NSNN, bộ máy thực thi công tác quản lý cần được kiện toàn, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, viên chức và người lao động làm việc trong lĩnh
Trang 38vực này Có cơ chế, hình thức thưởng phạt và xử lý nghiêm minh những vi phạm, sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gây lãng phí, thất thoát nguồn lực tài chính của Nhà nước
- Nâng cao chất lượng quản lý đối với công tác thanh toán, quyết toán với vốn đầu tư công từ NSNN của huyện Quảng Trach tỉnh Quảng Bình theo hướng: chính xác, đúng chế độ, giảm thiểu các thủ tục gây phiền hà, giảm nợ đọng, loại trừ các sai phạm gây thất thoát, lãng phí hay tham ô, tham nhũng Quản lý đầu tư công từ NSNN theo hướng nâng cao năng lực kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán và thanh tra các khâu có liên quan đến việc đầu tư công từ NSNN
- Giám sát chặt chẽ đối với các nhà thầu các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Ban hành quy định trách nhiệm và chế tài xử lý vi phạm cụ thể cho các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án, các nhà thầu về công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án, dự toán, thiết kế bản vẽ thi công, tổ chức đấu thầu và thi công
1.2.2.3 Kinh nghiệm của Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Đầu tư công, nâng cấp và cải tạo cơ sở hạ tầng luôn là yêu cầu cấp thiết để phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nguồn vốn để thực hiện việc này là không nhỏ và nguồn lực từ NSNN không thể đáp ứng đủ Huy động vốn đầu tư cho ngân sách từ việc đấu giá quyền sử dụng đất là một chính sách hữu hiệu nhằm huy động vốn phát triển hạ tầng giao thông Quận Hải Châu - thành phố Đà Nẵng
đã đề ra chiến lược phát triển dựa trên nguyên tắc “hạ tầng đi trước” để tạo bước ngoặt phát triển kinh tế phát triển phù hợp với tiềm năng của địa phương Chính sách “Nhà nước và nhân dân cùng làm đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quận với sự ủng hộ của người dân trong công tác nhường đất đổi lấy hạ tầng đã mang lại thành công vượt bậc cho quận
Trong chính sách khai thác quỹ đất, giải tỏa đền bù, tái định cư, quận đã chú trọng giải quyết thỏa đáng nhu cầu về đất ở cho các hộ giải tỏa tái định cư, nhất là các đối tượng chính sách, cán bộ và các đối tượng nghèo Đây là một trong những nhân tố quan trọng giúp quận đẩy nhanh được tiến độ giải phóng mặt bằng và tiến
độ xây dựng các công tŕnh trên địa bàn Hải Châu thực hiện tốt việc khai thác quỹ đất còn nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nâng cao ý thức của người dân,
Trang 39tạo thế trận lòng dân thuận cho việc chỉnh trang xây dựng quận, vì một quận giàu đẹp và văn minh Thành công trên lãnh vực này của quận còn nhờ vào công tác quản lý nhà nước được thực hiện khá tốt khiến các nguồn vốn được tạo ra từ quỹ đất không bị thất thoát hoặc rơi vào túi của một số ít các nhà đầu tư
Trong công tác giải phóng mặt bằng UBND quận đã triển khai đồng bộ cho các ngành liên quan và giao cho các Ban đền bù chuyên trách trực tiếp thực hiện Trong khai thác quỹ đất, giao cho các chủ đầu tư quản lý các dự án và khai thác quỹ đất Quận Hải Châu thực hiện chủ trương thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo, tiếp dân và xử lý các vướng mắc, kiến nghị của nhân dân
Bên cạnh đó, công tác quản lý nguồn thu, bố trí kế hoạch chi đầu tư công từ nguồn khai thác quỹ đất đều hạch toán đầy đủ qua ngân sách quận và được thanh toán theo quy định qua Kho bạc nhà nước
Về các hình thức thu tiền sử dụng đất, quận áp dụng theo cách Nhà nước đầu
tư trực tiếp Đối với tất cả các dự án đầu tư khu dân cư, khu tái định cư đều được UBND quận phê duyệt quy hoạch chi tiết, phê duyệt dự án đầu tư khả thi và chỉ định đơn vị quản lý Giá đất để thu tiền sử dụng đất do UBND quận quyết định Đất
đã có hạ tầng kỹ thuật được quản lý, bố trí theo chỉ đạo thống nhất của UBND quận,
ưu tiên theo thứ tự sau: bố trí tái định cư cho các bộ giải tỏa, bố trí theo xét duyệt của UBND quận đối với hộ chính sách, CBCNV bức xúc về nhà ở, sau đó còn lại áp dụng hình thức đấu giá chuyển quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu Toàn bộ nguồn thu về tiền sử dụng đất, các đơn vị phải nộp vào ngân sách quận, sau đó được trích lại 1% để chi phí cho hoạt động quản lý quỹ đất và lập các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất Chi phí đầu tư kết cấu hạ tầng (bao gồm cả chi phí giải phóng mặt bằng) được ngân sách quận cấp lại cho các chủ đầu tư theo đúng trình tự cấp phát và thanh toán vốn đầu tư công
Về quy trình thực hiện, việc thực hiện các dự án đầu tư đã được UBND quận phê duyệt phải qua các khâu, các công đoạn theo đúng quy định mà trong đó công tác đền bù giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng Công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện nghiêm ngặt theo 6 bước,
Trang 40hoa màu bị thiệt hại; thu thập hồ sơ giấy tờ liên quan đến đất đai, tài sản bị giải tỏa
để xét và phê duyệt tính pháp lý về nhà đất; tính toán thẩm định, phê duyệt giá trị đền bù, chi trả tiền đền bù cho hộ bị giải tỏa; nhận mặt bằng và bàn giao cho đơn vị thi công
Việc thu tiền sử dụng đất trên địa bàn quận cũng được thực hiện khá năng động và linh hoạt Những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, hộ giải tỏa có giá trị đền bù thấp thì cho nợ một phần hoặc toàn bộ tiền đất trong thời gian 3-5 năm và có thể gia hạn đến 10 năm, có chính sách giảm 10% giá trị sử dụng đất khi nộp đủ số tiền trong thời gian 30 ngày (đối với đất ở) và 60 ngày (đối với đất chuyên dụng) kể
từ ngày được giao đất,