1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả trồng cây dược liệu dong riềng đỏ trên địa bàn xã bình văn – huyện chợ mới – tỉnh bắc kạn

80 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn” thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2019 đã chọn xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là điểm thử nghiệm trồng các mô hìn

Trang 1

HOÀNG THỊ HẠNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU DONG RIỀNG ĐỎ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÌNH VĂN - HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

Khóa học : 2014 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

HOÀNG THỊ HẠNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU DONG RIỀNG ĐỎ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ BÌNH VĂN - HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Lớp : K46 - Kinh tế & PTNT

Khóa học : 2014 - 2018 Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đỗ Hoàng Sơn

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài của mình Để có được kết quả như vậy, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo hướng dẫn, Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo, các tổ chức cá nhân liên quan đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn:

1 Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2 ThS Đỗ Hoàng Sơn – Giảng viên Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn

3 Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm

4 Bạn bè, đồng nghiệp, gia đình

Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng … năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thị Hạnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Thống kê một số cây lương thực chính 38

Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng dong riềng của các hộ điều tra tại thôn Khuôn Tắng – xã Bình Văn 43

Bảng 4.3: So sánh chi phí sản xuất cho 1ha Dong riềng đỏ và chi phí sản xuất cho 1ha lúa 46

Bảng 4.4: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế dong riềng đỏ và lúa năm 2017 47

Bảng 4.5: Ý kiến của các hộ được phỏng vấn về kết quả tập huấn 50

Bảng 4.7: Tình hình sử dụng phân bón trong sản xuất 1ha dong riềng đỏ 53

Bảng 4.8: Tính bền vững của việc sản xuất dong riềng đỏ 55

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Các khái niệm có liên quan 5

2.1.2 Khái quát về cây dược liệu Dong riềng đỏ 12

2.1.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam 17

2.2 Cơ sở thực tiễn 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới và Việt Nam 19

2.2.2 Một số dự án nuôi trồng, bảo tồn, chế biến dược liệu trên địa bàn tình Bắc Kạn 27

2.2.3 Khái quát về dự án: 30

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đối tượng nghiên cứu 33

3.2 Phạm vi nghiên cứu 33

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 33

Trang 7

3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 34

3.4.3.Phương pháp so sánh 34

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Văn 35

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Bình Văn 38

4.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Văn 42

4.2 Thực trạng phát triển sản xuất cây Dong riềng đỏ 43

4.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng Dong riềng đỏ trong năm 2017 43 4.2.2 Tình hình tiêu thụ dong riềng của xã Bình Văn 44

4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây Dong riềng đỏ 45

4.3.1 So sánh chi phí sản xuất của dong riềng đỏ với chi phí sản xuất lúa 46

4.3.2 So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế dong riềng đỏ và lúa năm 2017 47

4.3.3 Đánh giá hiệu quả xã hội của việc sản xuất dong riềng đỏ 48

4.4 Phân tích tác động và tính bền vững của việc sản xuất dong riềng đỏ 52 4.4.1 Tác động của việc trồng dong riềng đỏ đến vấn đề xã hội 52

4.4.2 Tác động của việc trồng dong riềng đỏ đến môi trường tự nhiên của xã Bình Văn 53

4.4.3 Tính bền vững của việc sản xuất dong riềng đỏ 54

4.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn khi trồng dong riềng đỏ 56

4.6 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất dong riềng đỏ 57

4.6.1 Giải pháp chung 57

4.6.2 Giải pháp cụ thể 57

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, chuyển đổi những cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây dược liệu hàng hóa là một trong những chủ trương của Đảng, Nhà nước Việc lựa chọn cây trồng phù hợp gắn với kỹ thuật trồng trọt, thu hái, chế biến theo hướng dẫn GACP (Thực hành tốt trồng trọt và thu hái theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới WHO) là một thách thức, đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa "bốn nhà" (Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân) để tạo ra hướng phát triển mới trong nông nghiệp ở nước ta hiện nay

Ngày 27-2-2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án phát triển cây dược liệu gắn với xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới (NTM) Ngoài việc giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, hoàn thành xây dựng NTM, cây dược liệu còn làm thay đổi cơ cấu cây trồng của vùng theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao trình độ sản xuất của người dân thông qua việc tăng cường khả năng trao đổi, liên kết giữa các vùng miền nhằm từng bước đưa kinh

tế vùng núi phát triển bền vững

Bắc Kạn được biết đến là địa phương có nhiều cây dược liệu quý Tuy nhiên những năm gần đây, tình trạng khai thác tràn lan khiến diện tích cây dược liệu ngày càng bị thu hẹp, nhiều cây thuốc quý đứng trước nguy cơ bị tận diệt Cây dược liệu có ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, trong

đó tập trung nhiều ở các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Na Rì… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền y, dược cổ truyền ở địa phương, cũng là nền tảng phát triển kinh tế cho nhiều hộ dân khi mở rộng diện tích trồng các loại cây dược liệu có giá trị

Trang 9

Thấy được tiềm năng và giá trị của cây dược liệu, vừa qua UBND tỉnh ban hành kế hoạch phát triển y, dược cổ truyền trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm

2020, trong đó có mục tiêu phát triển nguồn tài nguyên dược liệu của tỉnh Để thực hiện được những mục tiêu đó, thì cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của nhiều cấp, ngành trong việc quản lý, bảo tồn, phát triển cây dược liệu Đồng thời, cần chấn chỉnh hoạt động thu mua, khai thác cây dược liệu trong tự nhiên theo hướng bảo tồn và phát triển; có những chính sách ưu đãi đối với việc quy hoạch vùng chuyên canh, phát triển trồng cây dược liệu tại địa phương

Dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn” thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2019 đã chọn xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là điểm thử nghiệm trồng các mô hình dược liệu với diện tích dự kiến là 6,5 ha với 04 loài cây: Ba kích tím, Hà thủ ô đỏ, Dong riềng đỏ và Hoài Sơn Diện tích trồng cây Dong riềng đỏ tại xã Bình Văn là 02 ha trong năm 2017, đây là cây dược liệu ngắn ngày được trồng thử nghiệm lần đầu tiên tại địa phương Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của cây dược liệu Dong riềng

đỏ để từ đó có những định hướng và giải pháp cho phát triển mở rộng loại cây này là vô cùng cấp thiết

Cây Dong riềng đỏ được lựa chọn trồng trên đất nông nghiệp trồng lúa một

vụ khó khăn về nước tưới Kết quả thành công của mô hình trồng cây dược liệu Dong riềng đỏ là cơ sở quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp kém hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hóa tại địa phương Để khuyến khích người dân tham gia phát triển mô hình trồng dược liệu, dự án đã

có những chính sách như hỗ trợ giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật giúp cho

bà con có được kết quả cao trong việc trồng dong riềng đỏ, có thu nhập ổn định Tuy nhiên xã Bình Văn là một xã miền núi có địa hình khá phức tạp, đất đai manh mún nhỏ lẻ, độ màu mỡ thấp, hệ thống kênh mương đã có nhưng chưa được đảm bảo Cùng với đó là khí hậu thất thường, mà năng suất chất lượng cây trồng, vật nuôi chưa cao, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn

Trang 10

Để dự án có thể triển khai thành công, cần có những đánh giá để trả lời các câu hỏi như: Hiệu quả kinh tế cây dong riềng đỏ mang lại là như thế nào? Có mang lại lợi ích kinh tế cao hơn các cây trồng khác hay không? Trong quá trình trồng dong riềng đỏ người dân gặp phải những khó khăn gì? Đề tài của tôi tập trung trả lời các câu hỏi nêu trên và từ đó đưa ra những giải pháp giải quyết những khó khăn phát sinh tronng quá trình xây dựng và phát triển cây Dong riềng đỏ tại vùng trồng dược liệu xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh

Bắc Kạn Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

”Đánh giá hiệu quả trồng cây dược liệu Dong riềng đỏ trên địa bàn xã Bình Văn - Huyện Chợ Mới – Tỉnh Bắc Kạn”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên

có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế

Trang 11

- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với công việc thực tế sau này

- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế

- Nghiên cứu đề tài là cơ hội để mỗi sinh viên vận dụng những kiến thức

đã học vào trong nghiên cứu khoa học, là cơ sở để hình thành các ý tưởng nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển cây dược liệu bản địa sau này

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, trở ngại trong quá trình sản xuất dong riềng đỏ và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của cây dong riềng đỏ

- Kết quả nghiên cứu góp phần đảm bảo sản xuất cây dược liệu, đóng góp cho phát tiển bền vững kinh tế xã hội vùng núi và có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các lớp khóa sau

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Khái niệm về mô hình

Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng

và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi

mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể để trình bày và nghiên cứu

Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế

Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu

Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho

Trang 13

một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau

Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để

mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và

đều được thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu

* Mô hình sản xuất

Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo

ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất – yếu tố không thể thiếu trong nền sản xuất Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công

cụ sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm, đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại

Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong những nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tó kỹ thuật của sản xuất, do đó mà mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các điều kiện sản xuất trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế

* Mô hình trồng trọt

Mô hình trồng trọt là mô hình tập trung vào các đối tượng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, là mô hình trình diễn các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về cây trồng như: lúa, ngô, rau, khoai tây, lạc…

Mô hình trồng trọt giúp hoàn thiện quá trình nghiên cứu của nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp Mà nông dân vừa là chủ thể sản xuất vừa là

Trang 14

nhà thực nghiệm, đồng thời nông dân là đối tượng tiếp thu trực tiếp các tiến

bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, và họ cũng là người truyền bá kỹ thuật này cho các nông dân khác cùng làm theo Mô hình trồng trọt cần được thực hiện trên chính những thửa ruộng của người dân, trong đó người dân sẽ đóng vai trò chính trong quá trình thực hiện, còn nhà nghiên cứu và các bộ khuyến nông đóng vai trò là người hỗ trợ thúc đẩy để giúp nông dân thực hiện và giải quyết những khó khăn gặp phải

* Vai trò của mô hình

Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống Nhờ mô hình mà ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của số liệu quan sát được và các giả định rút ra, giúp ta hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp Và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lý hệ thống, giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống

Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng người nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại một khu vực nào đó Từ đó đưa ra quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đã có

2.1.1.2 Khái niệm đánh giá mô hình

- Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích tòan bộ quá trình triển khai thực hiện mô hình, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của

mô hình trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu

Đánh giá để khẳng định những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hộ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được

Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản

và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được

Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:

Trang 15

- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:

+ Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không

+ Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông qua các hoạt động đã chỉ ra

- Đánh giá sử dụng các phương pháp để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của mô hình Nó cũng điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện mô hình nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời

- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có khoa học, lấy mẫu theo phương pháp thống kê

- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn

- Việc đánh giá sẽ tập chung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động Đánh giá có nhiều loại khác nhau Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3 loại chính như sau:

* Đánh giá tiền khả thi/ khả thi

Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô hình,

để xem xét xem liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện Tổ chứ tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem mô hình hay hoạt động có được đưa vào thực hiện hay không

* Đánh giá thực hiện

- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định

Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho mô hình dài hạn Tùy theo mô hình mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là ba tháng, sáu tháng hay một năm một lần

Trang 16

Mục đích của đánh giá định kỳ là tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo

- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc mô hình hay hoạt động Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của nó Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện mô hình Những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công và hạn chế, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho mô hình hay hoạt động khác

- Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung của mô hình hay nói cách khác là xét xem hoạt động

có đúng thời gian dự định hay không, nhanh hay chậm thế nào…

- Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: Là xem xét lại việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng theo nguyên tắc đã được quy định hay không để có điều chỉnh và rút kinh nghiệm

- Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về việc tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các mô hình hay hoạt động trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó

- Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét lại các kỹ thuật mà mô hình đã đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường

- Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả của mô hình

có thể áp dụng rộng rãi hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không

Trang 17

* Đánh giá tổng kết

Thông thường sau khi kết thúc một mô hình hay hoạt động, người ta tổ chức hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện, đánh giá về những thành công hay chưa thành công, phân tích các nguyên nhân gây thất bại, lấy đó làm các bài học để tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình sau này

* Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá

Các loại chỉ tiêu dùng cho hoạt động đánh giá là các chỉ tiêu mang tính toàn diện hơn Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá phải căn cứ vào mục đích

và hoạt động của mô hình, thường có các nhóm chỉ tiêu sau đây:

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông theo mục tiêu đã đề ra: diện tích, năng xuất, cơ cấu, đầu tư, sử dụng vốn…

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của mô hình hay hoạt động khuyến nông: tổng thu, tổng chi, thu – chi, hiệu quả lao động, hiệu quả đồng vốn

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của mô hình hay hoạt động khuyến nông đến đời sống, văn hóa, xã hội: ảnh hưởng đến môi trường đất (sói mòn,

độ phì, độ che phủ,…), ảnh hưởng đến đời sống (giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bình đẳng giới,…)

- Các chỉ tiêu đánh giá phục vụ quá trình xem xét, phân tích hoạt động khuyến nông với sự tham gia của cán bộ khuyến nông và nông dân

2.1.1.3 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên

để phục vụ cho lợi ích của con người

Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội là thực hiện những yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử dụng các nguồn lực xã hội Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí bỏ ra

Trang 18

Trên quan điểm toàn diện, có ý kiến cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế không thể loại bỏ mục tiêu nâng cao trình độ về văn hóa, xã hội và đáp ứng các nhu cầu xã hội ngày một tốt hơn cùng với việc tạo ra môi trường bền vững Điều đó thể hiện mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường hiện tại và lâu dài Đó là quan điểm đúng đủ trong kinh

tế vi mô và kinh tế vĩ mô phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay

* Một số công thức nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế

+ Giá trị sản xuất: GO (Gross Output) là toàn bộ giá trị của cải và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kì nhất định (thường là 1 năm), đây là tổng thu của hộ (Vũ Đình Thắng, 2006) [1]

IC =

Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i

+ Giá trị gia tăng: VA (Valua Added) là phần giá trị tăng thêm của doanh nghiệp hay người sản xuất tính theo công thức:

VA = GO – IC Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó + Lợi nhuận:

TPr = GO – TC Trong đó: GO là giá trị sản xuất

TC là tổng chi phí trong sản xuất

Trang 19

+ Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích: là tỷ lệ giũa tổng khối lượng sản phẩm thu được chia cho một đơn vị diện tích (sào/ha)

GO/sào hoặc GO/ha + Giá trị sản xuất trên một đồng chi phí: GO/TC

+ Giá trị sản xuất trên một công lao động: GO/CLĐ

+ Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích: VA/sào hoặc VA/ha

+ Giá trị gia tăng trên một đồng chi phí: VA/TC

+ Giá trị gia tăng trên một công lao động: VA/CLĐ

* Một số công thức tính hiệu quả kinh tế

+ Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [11]

Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được/Chi phí sản xuất

hay H = Q/C

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

Q là kết quả thu được

C là chi phí sản xuất + Công thức 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa giá trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó

Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được – Chi phí sản xuất

hay H = Q – C

2.1.2 Khái quát về cây dược liệu Dong riềng đỏ

2.1.2.1 Đặc điểm của cây Dong riềng đỏ

Tên khoa học: Canna edulis Kur, thuộc Họ Cannaceae

Tên khác: Khoai đao, Khương vu, củ bột Dong riềng đỏ; Slim Khón, Aslim

(Tày, Cao bằng); Slim Tàu Tằng (Tày, Lạng sơn); Dong riềng đỏ (Kinh, Thái)

Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m

Trang 20

Thân cây màu đỏ Củ cây dong riềng đỏ gần giống củ dong riềng thường, nhưng bé hơn

Năng suất cây dong riềng có thể thu được 20 – 30 tấn/ha

Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc ở ngọn cây Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều Cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 –

8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng quả nang, hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 - 5 mm Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g

Dong riềng đỏ mọc ở mọi miền của nước ta, đặc biệt tập trung ở các vùng núi đá vôi phía Bắc như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái nguyên, Lạng Sơn.…

2.1.2.2 Kỹ thuật trồng cây dong riềng đỏ

- Thời vụ: Thời vụ trồng Dong riềng đỏ được trồng từ tháng 2 đến tháng

5, tốt nhất là từ cuối tháng 2 đầu tháng 3 Ngoài ra, theo kinh nghiệm của nông dân Thái Nguyên thì Dong riềng đỏ có thể trồng quanh năm (khác với các giống khác), trừ các tháng khô hạn hoặc mưa nhiều

- Mật độ: Mật độ thích hợp cho trồng dong riềng đỏ là 30.000 – 35.000 cây/ha; khoảng cách thích hợp là 60 x 60cm hoặc 80 x 40cm

- Làm đất: Cây dong riềng đỏ là cây chịu được bóng rợp, có thể trồng dưới tán cây thưa, góc vườn, chân bờ rào, bờ ao, ngõ ra vào với diện tích nhỏ Nhưng trên đất xốp, nhiều mùn, nơi đủ ẩm, có nắng thì dong riềng đỏ phát triển mạnh, cho năng suất cao, phẩm chất tốt Chính vì vậy các vùng đất bãi, phù sa ven sông rất thích hợp Nếu trồng tập trung với diện tích lớn nên cày bừa, làm đất kỹ Cày rạch hàng với khoảng cách hàng cách hàng 60 - 80cm rồi rải phân chuồng, phân vi sinh để bón lót trên hàng với khoảng cách trồng cây cách nhau 40- 60cm Những vùng đất miền núi giàu mùn, nhiều chất hữu

Trang 21

cơ hoặc đất mới khai hoang lần đầu không cần bón phân lót mà chỉ cần bón thúc khi cây đã lớn và vào thời kỳ xuống củ là đủ Dong riềng đỏ phát triển củ theo chiều ngang, rễ cây ăn sâu do vậy làm đất phải chú ý cày sâu 15 - 20cm, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ Nếu trồng dong riềng trên đất đồi núi, đất đá, bãi thoát nước thì không cần phải làm đất mà sau khi dọn cỏ, bổ hốc rộng khoảng 20 x 20cm, sâu khoảng 20 - 25cm rồi trồng đất hót ra để phía trên dốc, gặp mưa, màu dồn xuống hố, bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây Nếu trồng trên đất ruộng, vườn, bãi đọng nước thì cần lên luống rộng 1,2 – 1,4m

- Chuẩn bị giống:

+ Trồng bằng mầm: Có thể trồng bằng mầm hoặc củ Nếu bằng mầm thì chặt ngọn chỉ để lại thân và gốc khoảng 30 – 35cm Bằng củ thì mỗi củ ít nhất phải có 3 đốt

+ Trồng bằng hạt: Hạt dong riềng đỏ được phơi thật khô Trước khi ủ mầm cần xử lý bằng cách ngâm trong axit sulphuric (H2SO4) đậm đặc trong vòng 25 phút Đổ ra rá xối nước nhiều lần rồi rửa hạt đã xử lý bằng xà phòng bột cho sạch axit Dùng thúng hoặc rổ, lót vải và cho hạt vào Tiếp tục phủ bằng vải và tưới nước Để trong bóng râm Hàng ngày tưới nước giữ ẩm Khoảng 2 – 4 ngày hạt nứt nanh, đem gieo trong bầu đất Tiếp tục chăm sóc cây giống trong vườn ươm khoảng 1 – 2 tháng cây có 4 – 5 lá là trồng được

- Phân bón: Dong riềng là cây dễ trồng nhưng do thời gian sinh trưởng dài (280ngày) nên cần lượng phân lớn và bón rải và hợp lý theo từng đợt Lượng phân bón cho 1 ha: 10 – 15 tấn phân hữu cơ + 200 kg N + 120 kg

P205 + 160 kg K20

+ Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ và lân

+ Bón thúc lần 1: Khi cấy 5 - 6 lá: Bón 1/3 đạm + 1/3 kali (Cây sinh trưởng phát triển và đẻ nhánh nhanh)

+ Bón thúc lần 2: Sau lần 1 từ 45 - 60 ngày: Bón 2/3 lượng đạm, 2/3 kali -Kỹ thuật trồng và chăm sóc:

Trang 22

+ Cách trồng: Sau khi xẻ rãnh hoặc bổ hốc xong, bón phân hữu cơ đã trộn với lân vào, phủ lớp đất mỏng, đặt cây/củ vào, phủ lên trên lớp đất mỏng

Sau trồng nếu có rơm rạ phủ giữ ẩm mặt luống giữ ẩm là tốt nhất

+ Chăm sóc: Khi cây 5 - 6 lá làm cỏ, xới xáo nhẹ kết hợp bón thúc đợt

1 Khi bón phân thúc thì bón cách gốc 10 - 15cm hoặc bón giữa 2 khóm Không bón phân trực tiếp vào gốc cây, làm cây chết Khi cây được từ 45 - 60 ngày, làm cỏ, xới xáo, vun gốc chống đổ khi mưa bão

- Phòng trừ sâu bệnh: Một số loại sâu bệnh hại chính trên cây dong riềng đỏ như: sâu khoang, bệnh cháy lá, ngoài ra còn xuất hiện sâu cấu, sâu róm, bọ nẹt…

+Sâu khoang: Gây hại trên nhiều loại cây trồng trong đó có dong riềng

đỏ hại ở giai đoạn đầu sinh trưởng của cây hại nặng nhất khi cây 5 - 10 lá

Biện pháp phòng trừ:

Kiểm tra vườn dong riềng thường xuyên để phát hiện sâu bệnh hại kịp thời + Dọn sạch cỏ dại là nơi trú ngụ của sâu bệnh hại

+ Bón phân cân đối, không bón thừa đạm

+ Dùng bả chua ngọt để bắt, diệt trưởng thành

+ Diệt ổ trứng và sâu non bằng tay (sâu thường ẩn kín trong nõn lá); + Khi mật độ sâu cao, sâu non mới nở (tuổi nhỏ): Dùng thuốc Patox 95SP, Karate 2.5EC, SecSaigon 5EC phun vào buổi chiều mát

+ Bệnh khô lá: Bệnh khô lá ở dong riềng thường xuất hiện ở giai đoạn 150 -

Trang 23

- Thu hái, chế biến: Sau khi trồng 10 - 12 tháng có thể thu hoạch sản phẩm Cây dong riềng đỏ khi ra hoa rộ là thời điểm thu hoạch cho năng suất cao nhất Chặt gần sát gốc toàn bộ thân lá hoa Dùng máy thái đơn giản thái toàn bộ thân lá dài khoảng 4cm Phơi khô dưới nắng khoảng 2 – 3 nắng hoặc sấy khi lượng nước trong sản phẩm chỉ còn khoảng 12% là được Đóng bao 2 lớp, khối lượng khoảng 50kg

2.1.2.3 Công dụng của cây dược liệu Dong riềng đỏ

Từ lâu nay trong nhân gian, nhất là trong cộng đồng người thiểu số đã biết sử dụng các cây thuốc nam để chữa bệnh tim mạch, mà đặc biệt là cây Dong riềng đỏ Đồng bào thiểu số thường dùng củ cây dong riềng đỏ để chữa các cơn đau thắt ngực, suy tim, suy mạch vành

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã cho ra đời nhiều thuốc, phương tiện, kỹ thuật chữa bệnh tim mạch mới như thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ mỡ máu, máy tim phổi, kỹ thuật tim mạch can thiệp…song không phải bất cứ người dân nào cũng đủ điều kiện để tiếp cận với y học hiện đại, do

bị hạn chế chi trả, nhận thức, địa lý…chính vì vậy các bác sỹ, các nhà khoa học vẫn tiếp tục tìm kiếm các thảo dược tự nhiên có tác dụng chữa bệnh tim mạch tương tự như các glycozid, trợ tim, coumarin, strophantin, thevetine…

đã tìm thấy trước đây

Từ những lý do trên, năm 2005 Bác sỹ Hoàng Cầm cùng nhóm nghiên cứu là GS Nguyễn Nghĩa Thìn, GS Trịnh Bình, PGS.TS Nguyễn Trọng Thông, PGS.TS Phùng Quốc Việt, TS Bác sỹ Nguyễn Khang Sơn, ThS.Ngô Thành Trung, ThS Mai Phương Giang…đã tiến hành thực hiện đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm B2005-04-46TĐ Đề tài đã khảo sát tính đồng nhất về thực vật, xác định tên khoa học, hình thái giải phẫu đại thể vi thể, định tính, định lượng, cấu trúc phân tử các hoạt chất trong cây Dong riềng đỏ Theo đó độc tính cấp trên chuột, độc tính bán trường diễn của vị thuốc mới này cũng được tiến hành song song bởi Bộ môn Vô phôi và Bộ môn dược lý của Đại

Trang 24

học Y Hà Nội (Hoàng Sầm, 2006) [2] Kết quả cho thấy các tiêu chí được khảo sát hoàn toàn phù hợp với nhận định và kì vọng ban đầu: đây là cây thuốc chữa bệnh mạch vành hiệu quả cao, an toàn tuyệt đối Qua sử dụng điều trị trên hàng nghìn người bệnh mạch vành chưa đặt stent và đã đặt stent nhận thấy đây là cây thuốc mới chưa có trong dược điển nhưng hiệu quả điều trị rất cao Các nghiên cứu này đã được cấp quyền tác giả số 3764/2009/QTG và 948/2015/QTG

Từ những thông tin trên cho thấy việc nghiên cứu xác định và phát triển giống cây Dong riềng đỏ để làm thuốc chữa bệnh tim là một yêu cầu cấp bách hiện nay, về việc triển khai nghiên cứu cũng như các kết quả nghiên cứu thành mô hình nhân rộng ở địa bàn các tỉnh miền núi là phù hợp không chỉ về mặt cơ sở khoa học mà còn là định hướng phát triển của các địa phương trong chương trình xóa đói giảm nghèo Theo đó nhu cầu sử dụng nguyên liệu dong riềng đỏ phục vụ cho sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng cho cả nước lên tới hàng trăm tấn/năm

2.1.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm việc phát triển dược liệu, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của Việt Nam và coi đó là một trong các nhóm giải pháp của công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, do giá trị thu nhập của dược liệu mang lại Ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, với quan điểm phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội; phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu [10]

Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở

sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát

Trang 25

triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái

Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu

Nhà nước hỗ trợ đầu tư về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật

và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu

Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa (GDP)

Ngày 19-12-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 210/2013/NĐ-CP

về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nói chung và gây trồng, thu hái cây dược liệu nói riêng [10]

Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 1 năm 2014 phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển ngành dược liệu Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [10]

Bộ Y tế ban hành ra nhiều nghị định, quyết định khuyến khích địa phương, các công ty, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào phát triển ngành dược

Quyết định số 206/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 22 tháng 1 năm 2015 về việc ban hành về danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2010 [12] Nhiều địa phương trong cả nước như: Quảng Ninh, Hà Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Lâm Đồng, An Giang,… bước đầu

đã xây dựng định hướng và triển khai các mô hình trồng dược liệu Hầu hết

Trang 26

các mô hình dược liệu do các tỉnh triển khai chỉ là các mô hình thí điểm, khả năng nhân rộng còn hạn chế do chưa hình thành cụ thể những quy chuẩn, quy chế, những quy định về đầu tư và khuyến khích đầu tư,…

Từ chính sách đến thực tế phát triển các vùng trồng dược liệu trong những năm qua tại Việt Nam, đề tài này thấy rằng, quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vẫn chỉ là kế hoạch, chưa được chú trọng đầu tư, bố trí nguồn kinh phí để phát triển dược liệu Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dược liệu còn thiếu, hoạt động kinh doanh, sản xuất dược liệu vẫn dựa theo các quy định về quản lý thuốc tân dược, cho nên, có nhiều bất hợp lý Để nâng cao công tác quản lý chất lượng dược liệu và củng cố hệ thống cung ứng dược liệu, cần có cơ chế hỗ trợ, ưu tiên đối với dược liệu trồng trong nước, dược liệu khai thác hợp pháp, thuốc sản xuất từ dược liệu trong nước… Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn các dược liệu nhập khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới và Việt Nam

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu trên thế giới

Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc tính thì tránh; những cây cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú

Năm 2838 TCN, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách: “Thần nông bản thảo” Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng Đây là cuốn

sách nền tảng cho sự phát triển của ngành y học dược thảo Trung Quốc cho đến nay

Trang 27

Năm 1959, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây

thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn ỘBản thảo cương mụcỢ Đây là

cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ

Năm 348 Ờ 322 TCN, Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về

cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm ỘLịch sử vạn vậtỢ đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng Tuy tác phẩm

chỉ dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhýng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này

Năm 60 Ờ 20 TCN, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp

Năm 79 Ờ 24 TCN, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo bộ

sách ỘVạn vật họcỢ gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ắch

Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách ỘLes plantes de médicinales

du Cambodye, du Laos et du VietnamỢ gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây

thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa

ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc [13]

Năm 2004, Tổ chứ Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực

hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Good Agricultural and Collection Practices Ờ GACP) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thế từ chọn cây

thuốc, chọn vùng trồng trọt thắch hợp, thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc

Trang 28

và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định chung cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới (WHO, 2003) [3]

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% thuốc được pha chế tại các của hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/năm Ở Trug Quốc, có 940 xí nghiệp và sưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33.1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị suất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt 600 triệu USD Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu cây dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế

Như vậy, con người đã nghiên cứu về các loại cây thuốc từ rất lâu đời Ban đầu, những nghiên cứu về cây thuốc chỉ dừng lại ở mức độ mô tả các đặc điểm và cách sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật đã phát triển, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về hoạt chất chính có tác dụng trong cây thuốc, tạo sự tin tưởng cho người bệnh khi sử dụng các sản phẩm thuốc từ cây cỏ

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về cây dược liệu tại Việt Nam

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta có nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Theo GS.TS Phạm Hoàng

Hộ và GS.TS Nguyễn Nghĩa Thìn, số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đớn khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc

307 họ thực vật

Trang 29

Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây cỏ để làm thuốc Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để

sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng và chữa bệnh Đồng thời còn dựa vào hệ thống Triết học phương Đông, vận dụng vào y học để chữa bệnh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của con người Việt Nam

Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879 – 257 TCN),người dân đã có tục ăn chầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt và phòng ngừa các bệnh đường ruột

Cuối thế kỷ III TCN, ở Việt Nam giao chỉ đã phát hiện và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí, lá lốt,

sả, quế, vông nem…

Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh

(Nguyễn Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân” , ông cũng đề suất việc

trồng cây thuốc và chữa bệnh cho nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách

“Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh

tư y như” gồm 590 vị thuốc

Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu

trong sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển

Trang 30

Trong nền y học cổ truyền hiện đại, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến

Y học cổ truyền trong hệ thống các bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh

Điều 49, chương III, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam (1992) đã nêu rõ “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe cho người dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”

Ngày 4/11/1955, Bộ y tế có công văn 9126 YD/PBCB hướng dẫn các địa phương khai thác và sử dụng các loại thuốc Nam để chữa bệnh trong nhân dân Nghị định 238/TTg về việc thành lập Viện nghiên cứu Đông y; Thành lập các vườn thuốc mẫu y học cổ truyền từ Trung ương cho đến các địa phương với mục đích giúp cho sinh viên, học viên học tập, người dân biết cách nhận biết và sử dụng một số cây thuốc Nam để chữa bệnh

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây dược liệu trong nhân gian để phục vụ công tác chữa bệnh, bảo tồn và phát triển các loại cây thuốc, bài thuốc quý Năm 1963, Hội đồng Dược điển Việt Nam được thành lập để tổ chức công tác xây dựng Dược điển Việt Nam và tiêu chuẩn hóa thuốc; Hội đồng Dược điển

đã biên soạn, trình Bộ y tế ban hành 04 bộ Dược điển Việt Nam, xuất bản vào các năm 1979, 1990, 2002 và 2009 Dược điển Việt Nam xuất bản lần thứ 4 (năm 2009) gồm 314 chuyên luận dược liệu và thuốc từ dược liệu

Khoa học ngày càng phát triển, Con người ngày càng đi sâu khám phá thế giới tự nhiên, trong đó nghiên cứu các loại cây thuốc có tầm quan trọng đặc biệt GS.TS Đỗ Tất Lợi là một nhà nghiên cứu cây thuốc nổi tiếng ở nước ta; sau nhiều năm nghiên cứu và sưu tầm các loại dược liệu, ông đã biên soạn cuốn sách

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, mô tả đặc điểm hình thái và cách sử dụng gần 800 loài cây thuộc 164 họ thực vật có tác dụng chữa 60 nhóm bệnh Đây

là một công trình nghiên cứu rất có giá trị trong nước cũng như trên thế giới Trên

cơ sở cuốn sách này, năm 1968 Hội đồng chứng chỉ tối cao Liên Xô đã công nhận học vị tiến sĩ cho Dược sĩ Đỗ Tất Lợi Năm 1980, ông được Chính phủ phong học

Trang 31

hàm Giáo sư đại học Đến năm 1996, GS.TS Đỗ Tất Lợi vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học kỹ thuật (Đỗ Tất Lợi, 2004) [4]

Theo thống kê, ở nước ta hiện có 3.948 loài cây được dùng làm thuốc với khoảng trên dưới 300 loài thường xuyên được khai thác sử dụng cho thị trường trong và ngoài nước Nhu cầu thì thị trường dược liệu ở nước ta hiện nay khoảng 50.000 – 60.000 tấn dược liệu mỗi năm, trong đó khoảng 2/3 được khai thác tự nhiên và trồng trọt Có khoảng 20.000 – 30.000 tấn dược liệu cho nhu cầu thuốc y học cổ truyền, bao gồm cả số lượng nhập khẩu qua nhiều con đường Mặc dù Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu làm thuốc nhưng theo điều tra của Viện dược liệu, nhiều loài cây thuốc có giá trị chữa bệnh và kinh tế cao trước đây có trữ lượng lớn cho khai thác thì nay đã bị giảm sút và trở nên hiếm như: Hà thủ ô đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên, Ngũ gia bì gai, Ba kích, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Hoàng tinh… Đã

có 123 loài thuộc 53 họ được đưa vào Danh lục đỏ, Sách Đỏ Việt Nam và Danh mục thuộc Nghị định 48 CP/2002 của chính phủ Trong đó có tới 55 loài được phân dạng theo IUCN ở mức bị đe dọa tuyệt chủng Nhiều cây thuốc trước những năm 90 đã di thực thành công và đã trồng đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước thì nay đã phải nhập lại như: Đương quy, Bạch truật, Xuyên khung, Ngưu thất, Huyền sâm… đây là những vị thuốc chiếm một tỷ trọng rất lớn trong điều trị bằng y học cổ truyền Chỉ tính riêng mức sử dụng một vị dược liệu của một bệnh viện y học cổ truyền cũng phải tới 4 – 5 tấn mỗi năm Mặc dù hiện nay, thuốc tân dược được phát triển mạnh ở hầu khắp các nước trên Thế giới nhưng đại bộ phận dân cư các nước đang phát triển vẫn ưa sử dụng thuốc cổ truyền, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Cùng với sự phát triển không ngừng của những tiến bộ khoa học, người

ta càng nhận biết nhiều hơn nhũng giá trị của thảo dược trong phòng và chữa bệnh Theo đánh giá của WHO, có khoảng 70 – 80% dân số các vùng nông thôn các nước đang phát triển (Ethiopia 90%, India 70%, Tanzania 60%,

Trang 32

Uganda 60%) dựa chủ yếu vào sử dụng thuốc cổ truyền cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe Với dân số chiếm tới hơn 1/6 nhân loại, thị phần thuốc có nguồn gốc tự nhiên của Trung Quốc cũng vào khoảng 30 – 50% Doanh thu từ sản xuất Đông dược đạt 1,8 tỷ USD mỗi năm Ngay tại một số quốc gia phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược cũng tang lên nhiều trong hơn thập niên trở lại đây Nhật bản có tổng giá trị thuốc từ thảo dược trong năm

2000 là 2,4 tỷ USD Mỹ thu khoảng 1,5 tỷ USD lợi nhuận mỗi năm từ thảo dược Các nước phát triển khác như Canada, Đức, Pháp, Úc, Bỉ… cũng ngày càng tăng xu thế sử dụng thuốc có nguồn gốc tự nhiên như là các liệu pháp bổ trợ (Canada là 70%, Úc là 48%, Pháp là 49%, Úc là 42%, Bỉ 31%) Theo đánh giá của WHO tổng giá trị dược liệu và thuốc từ dược liệu sử dụng hiện nay vào khoảng 80 tỷ USD mỗi năm Các nước phát triển đồng thời cũng là những nước có những tập đoàn dược phẩm hàng đâu thế giới Họ đang tìm cách khai thác triệt để những thế mạnh của tiềm năng dược liệu phương Đông để tại nên những sản phẩm đặc biệt có giá trị trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe Việt Nam với dân số trên 90 triệu người như hiện nay, theo thống kê, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2011 là 2,4 tỷ USD, trong đó nước sản xuất trong nước đạt 1,15 tỷ USD và Việt Nam cũng đang được nhìn nhận như là một thị trường dược phẩm có sức hấp dẫn lớn đối với các doanh nghiệp dược phẩm cả trong và ngoài nước Thế giới biết đến Việt Nam là một quốc gia giàu tiềm năng dược liệu Làm sao để phát huy thế mạnh của dược liệu để đưa nền công nghiệp dược Việt Nam trở thành nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã trở thành mục tiêu có tính chiến lược của quốc gia Ngày 15/8/2002, đã có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành dược đến năm 2010 trong đó đã nhấn mạnh đến thế mạnh của nguồn tài nguyên cây thuốc Việt

Nam Trong đề án “phát triển công nghiệp dược và xây dựng mô hình hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 và tầm nhìn trên

Trang 33

năm 2020” đã khảng định: xây dựng cơ sở chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ

dược liệu để đáp ứng 20% nhu cầu cho sản xuất thuốc vào năm 2015 và 30% vào năm 2020 Chủ động nguồn thuốc sản xuất trong nước và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam chính là mục tiêu cũng như là điều kiện tiên quyết trong chiến lược phát triển ngành dược Việt Nam Khảo sát thị trường dược liệu, thuốc từ dược liệu của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng để nắm rõ nhu cầu sử dụng dược liệu, góp phần định hướng cơ cấu cây trồng dược liệu của Việt Nam là hết sức cần thiết và là mục tiêu cần được đưa ra Đối tượng và phương pháp nghiên cứu – Thị trường dược liệu trong nước – Nhu cầu sử dụng dược liệu của các bệnh viện y học cổ truyền (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2012) [5]

Trương Thị Tố Uyên (2010), khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện

56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc.Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa bệnh ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư (Trương Thị Tố Uyên, 2010) [6]

Báo cáo khoa học “tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La (1994)” đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc Riêng Sơn La có 70 họ,

109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó: Nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27 chi và 31 loài; nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; nhóm dương sỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài (Trần Đình Đại, Nguyễn Trung Vệ, 1994) [7]

Trang 34

Năm 2005, Bộ y học, Vụ y thế cổ truyền biên soạn cuốn sách ỘCây hoa cây thuốcỢ, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng

chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán

bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng

Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc

Bảo Thắng (2003) đã xuất bản cuốn sách ỘKỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc NamỢ Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, phòng

trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng

mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh (Bảo Thắng, 2003) [8]

Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc (Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần, 2005) [9], TS Nguyễn Bá Hoạt đã hýớng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn là nguyên liệu cho sản xuất quốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại chà trên diện tắch lớn, xây dựng vùng dýợc liệu theo hýớng an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thông tin cõ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn

2.2.2 Một số dự án nuôi trồng, bảo tồn, chế biến dược liệu trên địa bàn tình Bắc Kạn

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi ngoài thế mạnh về nông lâm nghiệp, thì tiềm năng về cây dược liệu đóng vai trò rất lớn cho phát triển kinh tế xã hội

Trang 35

của tỉnh Theo số liệu chưa đầy đủ, Bắc Kạn có trên 1.000 loại cây dược liệu, trong đó có gần 20 loại cây quý và hiếm Cây dược liệu có ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh, tập trung nhiều ở các huyện Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền y, dược

cổ truyền ở địa phương, cũng là nền tảng phát triển kinh tế cho nhiều hộ dân khi mở rộng diện tích trồng các loại cây dược liệu có giá trị

Tuy nhiên, hiện nay dược liệu Bắc Kạn mới chỉ được sử dụng trong các bài thuốc dân gian, chưa được khai thác có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Một thực trạng đáng quan tâm là những năm gần đây, do tình trạng khai thác ồ ạt, tràn lan các cây dược liệu mọc tự nhiên đã dẫn đến diện tích, sản lượng của các loại cây này bị thu hẹp, một số loại cây gần như bị tận diệt Rất nhiều loại cây dược liệu bản địa quý như Hoàng liên ô rô, Bảy lá một hoa, Ba kích, Hà thủ ô, Bình vôi tím hầu như không còn Hiện nay, các sản phẩm từ cây dược liệu xuất hiện trên thị trường trong tỉnh Bắc Kạn phần lớn là do được nhập từ các tỉnh, thành phố hoặc các quốc gia lân cận về Ngoại trừ một số loại cây dược liệu đã biến mất thì với những diện tích cây dược liệu có giá trị kinh tế, hoặc quý hiếm còn lại cũng chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân bản địa, chưa đủ cung cấp ra thị trường

Hiện nay việc bảo tồn, phát triển các loại cây dược liệu ở Bắc Kạn chưa thu hút được sự tham gia của của xã hội mà mới dừng lại ở quy mô hộ gia đình, chỉ khoảng 10 - 20 loại cây, diện tích nhỏ lẻ, vừa đủ phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh hàng ngày của các hộ dân Đi đôi với đó, do thiếu vốn đầu tư, kỹ thuật chăm sóc cũng như thị trường nên việc mở rộng quy mô, diện tích trồng cây dược liệu đang gặp khó khăn

Năm 2009 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Quyết định số 3808/2009/QĐ-UBND ngày 16/12/2009 phê duyệt Chương trình phát triển cây dược liệu giai đoạn 2010 – 2015 tầm nhìn đến 2020; năm 2010 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ký Quyết định số 435/2010/QĐ-UBND ngày 12/3/2010 ban hành

Trang 36

Quy chế quản lý khai thác, kinh doanh và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Quyết định trên đã nêu rõ: Huy động các ngành xây dựng các

dự án về phát triển cây thuốc theo tiêu chí GAP từ nguồn cây thuốc bản địa vừa đảm bảo an toàn, chất lượng vừa có tác dụng bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc của địa phương Đặc biệt, khuyến khích các hoạt động trồng cây thuốc dưới tán cây rừng hoặc tận dụng đất rừng, đất chưa sử dụng và chuyển đổi loại hình

sử dụng đất phát triển cây thuốc, khôi phục lại vùng phân bố cây thuốc bản địa, phát triển bền vững phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương [14] Năm 2014 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã ký Quyết định số 468/2014/QĐ-UBND ngày 20/3/2014 về Bảo tồn, phát triển một số động, thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; năm 2015 Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 11/2015/NQ-HĐND ngày 03/4/2015 Quy định một số chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó có phần hỗ trợ phát triển dược liệu [15] Trong thời gian qua, trên địa bàn của tỉnh cũng đã có một vài đề tài, dự án tiến hành Tuy nhiên, kết quả chỉ mới dừng lại ở điều tra thực trạng cây dược liệu, trồng thử nghiệm rải rác một số cây mà chưa hệ thống được các vùng trồng dược liệu, loại cây và sản phẩm cho thị trường, chưa thiết lập được chuỗi giá trị từ sản xuất giống, trồng trọt, thu hái, chế biến, chiết xuất, sản xuất, phân phối các sản phẩm Đây là hạn chế lớn nhất trong chiến lược phát triển cây dược liệu ở tỉnh Bắc Kạn

Trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện nhiều đề tài, dự án trồng và phát triển thử nghiệm đối với một số cây dược liệu có giá trị cao Có thể kể đến Đề

tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, phân bố và khả năng phát triển cây kim tuyến tại một số huyện của tỉnh Bắc Kạn”, bước đầu đã nghiên cứu thành

công phương pháp nuôi cấy mô invitro cây kim tuyến trong phòng thí nghiệm, hoàn thiện các quy trình nhân nhanh cây kim tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô, quy trình kỹ thuật giá thể ra cây sau nuôi cấy, kỹ thuật trồng trong nhà lưới Đề tài cũng đã trồng thử nghiệm cây kim tuyến trong các

Trang 37

môi trường nhà lưới, môi trường tự nhiên tại các xã Đôn Phong (huyện Bạch Thông) và Yên Mỹ (huyện Chợ Đồn) Thành công bước đầu của Đề tài là cơ

sở khoa học để tiến tới triển khai các chương trình hỗ trợ phát triển dược liệu trong cộng đồng dân cư

Dự án “Nghiên cứu đánh giá, nhân giống và kỹ thuật trồng gừng đá Bắc Kạn” đã giúp bảo tồn và nhân giống thành công cây gừng đá bằng phương pháp

nuôi cây mô tế bào Dự án đã sản xuất 22.000 cây giống nuôi cấy mô và xây dựng 2ha mô hình trồng gừng đá tại xã Liêm Thủy huyện Na Rì, trong đó 1ha mô hình trồng gừng đá từ cây giống nuôi cấy mô và 1ha mô hình trồng gừng đá từ củ giống thông thường Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình trồng thử nghiệm bằng cây giống nuôi cấy mô sinh trưởng phát triển tốt, là cơ sở quan trọng để tỉnh xem xét, khuyến khích mở rộng diện tích trồng gừng đá trong những năm tới

Đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng sử dụng vườn thuốc nam tại các trạm y tế xã của tỉnh Bắc Kạn” bên cạnh việc đánh giá thực

trạng sử dụng vườn thuốc nam trong khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã, phường

đã xây dựng thành công mô hình vườn mẫu với nhiều loại thuốc nam phổ biến, có tác dụng điều trị hiệu quả một số chứng bệnh thông thường Thành công của Đề tài sẽ góp phần bảo tồn nguồn gen cây thuốc nam của địa phương, đồng thời nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân

Những dự án trước đây triển khai tại Bắc Kạn quy mô nhỏ, phạm vi hẹp với số loài hạn chế chưa mang tính hàng hóa

2.2.3 Khái quát về dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn”

Ngày 25 tháng 02 năm 2016, UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 232/QĐ-UBND về việc phê duyệt tổ chức, cá nhân trúng tuyển là đơn vị chủ

trì thực hiện dự án: “Nghiên cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn” là

Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Ngày 13/9/2016, UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 1469/QĐ-UBND về

việc phê duyệt nội dung thuyết minh và dự toán kinh phí thực hiện dự án: “Nghiên

Trang 38

cứu phát triển trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn” UBND tỉnh Bắc Kạn là cơ quan

chủ quản dự án, cơ quan quản lý dự án là Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn, cơ quan chủ trì thực hiện dự án là Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Thời gian thựchiện dự án 36 tháng (từ 8/2016 đến 7/2019) Tổng

kinh phí thực hiện dự án là: 2.803,251 triệu đồng (Hai tỷ, tám trăm linh ba triệu, hai trăn năm mươi mốt ngàn đồng) Đây là một dự án nghiên cứu triển

khai xây dựng các mô hình trồng dược liệu tại tỉnh Bắc Kạn với quy mô lớn nhất từ trước đến nay

xây dựng mô hình trồng, chế biến dược liệu quý của Bắc Kạn, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng dược liệu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định được vùng trồng và cây dược liệu đặc thù phù hợp của Bắc Kạn có khả năng sản xuất hàng hóa

- Xác định các vùng khí hậu, đất đai phù hợp cho loại cây dược liệu đặc thù;

- Xác định loại cây dược liệu có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp sản xuất hàng hoá và có nhu cầu thị trường, trồng trên đất sản xuất nông nghiệp;

- Xác định loại cây dược liệu có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp sản xuất hàng hoá và có nhu cầu thị trường, trồng dưới tán rừng của đất lâm nghiệp;

- Phân tích đánh giá hàm lượng dược tính của các cây dược liệu trồng thử nghiệm đã lựa chọn;

Các loại cây dược liệu định hướng lựa chọn trồng tại Bắc Kạn là: Dong riềng đỏ, Ba kích tím, Hà thủ ô đỏ, Đảng sâm, Hoài sơn, Ban lá dính

2 Xây dựng được mô hình 10ha trồng 6 loại cây dược liệu

- Mô hình 2 loại cây dược liệu đã được lựa chọn trồng dưới tán rừng;

- Mô hình 6 loại cây dược liệu trồng trên đất soi bãi, đất một vụ chuyển đổi

Trang 39

3 Xây dựng được mô hình chế biến tiêu thụ 6 sản phẩm dược liệu

- Xây dựng được mô hình sản xuất, sơ chế biến dược liệu và bao tiêu sản phẩm làm đầu mối dài lâu trong liên kết với các Công ty, Viện, Trường trong phát triển dược liệu: Mô hình sơ chế thành nguyên liệu thô 4 sản phẩm; Mô hình chế biến bán thành phẩm 2 sản phẩm;

- Xây dựng được mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm dược liệu

4 Truyền thông về kỹ thuật, vùng trồng dược liệu cho tỉnh Bắc Kạn

- Xây dựng được 1 tài liệu về kỹ thuật gây trồng và chế biến cho người dân và cộng đồng vùng trồng dược liệu;

- Xây dựng được 1 tài liệu hướng dẫn truyền thông về vùng dược liệu với các phương tiện và công cụ phù hợp cho địa phương;

- Tập huấn kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch, sơ chế, chế biến, tiếp cận thị trường bao tiêu sản phẩm cho người trồng dược liệu

Địa bàn xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là một trong những vùng được dự án đánh giá là có tiềm năng và đã lựa chọn làm nơi thử nghiệm xây dựng các mô hình trồng cây dược liệu Trên cơ sở thực hiện mô hình của

dự án thông qua nhóm hộ nông dân và HTX tại xã Bình Văn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch phát triển mở rộng vùng trồng dược liệu ra nhiều địa phương khác trong tỉnh

Trang 40

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả trồng cây dược liệu dong riềng

đỏ tại xã Bình Văn – huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: xã Bình Văn – huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn

- Thời gian nghiên cứu: 14/8/2017 đến 21/12/2017

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xă hội và môi trường của địa bàn nghiên cứu

- Thực trạng của việc sản xuất dong riềng đỏ tại xã Bình Văn – huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất cây dong riềng đỏ so với cây lúa

- Phân tích tác động và tính bền vững của việc sản xuất dong riềng đỏ

- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất dong riềng đỏ

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất dong riềng tại xã Bình Văn – huyện Chợ Mới – tỉnh Bắc Kạn trong những năm tiếp theo

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

* Thu thập số liệu thứ cấp

Các thông tin thứ cấp cần thu thập bao gồm: Điều kiện tự nhiên,kinh tế,

xã hội xã Bình Văn, sử dụng các số liệu đã thống kê, báo cáo tổng kết của xã Bình Văn để có số liệu cần thống kê Tham khảo các tài liệu là các văn bản, sách, báo chí, internet… các nghị định, chỉ định, nghị quyết các chính sách của Nhà nước có liên quan đến vấn đề phát triển giống dong riềng đỏ

* Thu thập số liệu sơ cấp

- Thông qua điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi chuẩn bị trước đối với các hộ nông dân tham gia trồng dong riềng đỏ tại xã Bình Văn

Ngày đăng: 04/06/2019, 16:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Thắng (2006), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, ĐH KTQD, NXB Lao động (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Vũ Đình Thắng
Nhà XB: NXB Lao động (Ngày truy cập: 23/12/2017)
Năm: 2006
3. WHO (2003), Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants, Switzerland (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants
Tác giả: WHO
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Minh Tâm (2012), Nghiên cứu, phân tích và đánh giá tổng quan về các loài cây dược liệu đã được trồng thành công tại Hà Nội và khu vực đồng bằng miền Bắc, Báo cáo chuyên đề Dự án của Viện Y học cổ truyền Trung ương, Hà Nội (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, phân tích và đánh giá tổng quan về các loài cây dược liệu đã được trồng thành công tại Hà Nội và khu vực đồng bằng miền Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Tâm
Năm: 2012
6. Trương Thị Tố Uyên (2010), Tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ sinh học, Đại học Sư phạm Thái Nguyên (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Trương Thị Tố Uyên
Năm: 2010
7. Trần Đình Đại, Nguyễn Trung Vệ (1994), Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiều Sinh, thị xã Sơn La, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Hà Nội (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiều Sinh, thị xã Sơn La
Tác giả: Trần Đình Đại, Nguyễn Trung Vệ
Năm: 1994
8. Bảo Thắng (2003), Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội (Ngày truy cập: 23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam
Tác giả: Bảo Thắng
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2003
9. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần (2005), Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc. NXB Nông nghiệp, Hà Nội (Ngày truy cập:23/12/2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc
Tác giả: Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
2. Hoàng Sầm (2006), Nghiên cứu dịch chiết cây Dong riềng đỏ ứng dụng điều trị cơ tim thiếu máu cục bộ, Đề tài cấp bộ B2005-04-46TĐ, Đại học Thái Nguyên (Ngày truy cập: 23/12/2017) Khác
4. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội (Ngày truy cập: 23/12/2017) Khác
10. Danh mục các dự án ưu đãi đầu tư ( Ban hành kèm theo Quyết định số 1976/QD-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ) (Ngày truy cập: 23/12/2017).Tài liệu internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w