Đây là một loại hình du lịch có nhiều tác động tích cực đối với cộng đồng và đáp ứng các nguyên tắc phát triển bền vững như: góp phần nâng cao thu nhập cho các cộng đồng địa phương, giảm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN CÔNG THANH
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ SƠN TRẠCH, HUYỆN BỐ
TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 8 31 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân đây tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình:
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường cùng các thầy giáo,
cô giáo của Trường Đại Học Kinh tế Huế đã giúp đỡ, tạo điều kiện và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua
Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới HĐND, UBND huyện Bố Trạch; HĐND, UBND xã Sơn Trạch, UBND Huyện Bố Trạch và các phòng ban, đơn vị: Phòng Văn hóa – Thông tin; Chi cục Thống kê huyện Bố Trạch đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành chương trình học tập
và nghiên cứu đề tài khoa học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Phạm Xuân Hùng
là thầy giáo hướng dẫn khoa học cho tôi Thầy rất quan tâm, tận tình hường dẫn,
có những góp ý quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: NGUYỄN CÔNG THANH
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế Mã số: 8310110
Niên khóa: 2017-2019
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM XUÂN HÙNG
Tên đề tài: PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ
SƠN TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân phân tích trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển mô hình
du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu: Phỏng vấn sâu, điều tra hộ gia đình
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: gồm các phương pháp như: phương pháp phân tổ thống kê; phương pháp so sánh, tổng hợp phân tích
3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về du lịch cộng đồng, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện
Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012-2017 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình du lịch cộng đồng có sự phát triển khá mạnh trong những năm gần đây tại địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, các mô hình du lịch cộng động vẫn còn mang tính tự phát, sản phẩm chưa đa dạng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách Vì vậy, trong thời gian tới chính quyền địa phương cần thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện quy hoạch du lịch cộng đồng, tăng cường công tác đào tạo, liên kết cho người dân địa phương nhằm phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 5
1.1 Khái niệm du lịch và du lịch cộng đồng 5
1.1.1 Khái niệm du lịch 5
1.1.2 Khái niệm du lịch cộng đồng: 5
1.2 Phát triển du lịch cộng đồng 7
1.2.1 Phát triển du lịch bền vững 7
1.2.2 Đặc trưng của du lịch cộng đồng 9
1.2.3 Mục tiêu của phát triển du lịch cộng đồng 10
1.2.4 Các nguyên tắc của du lịch cộng đồng 10
1.2.5 Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương 12
1.2.6 Du lịch cộng đồng trong sự phát triển bền vững 14
1.3 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế-xã hội 16
1.3.1 Hiệu quả về kinh tế 16
1.3.2 Hiệu quả về xã hội 18
1.3.3 Hiệu quả về môi trường 19
1.3.4 Giá trị đối với ngành du lịch 20
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng 21
1.5.1 Quá trình phát triển du lịch cộng đồng 21
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 61.5.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở một số nơi trên thế giới 22
1.5.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ SƠN TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 30
2.1 Tổng quan thực trạng du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 30
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tại vùng nghiên cứu 32
2.2.1 Tình hình chung huyện Bố Trạch 32
2.2.2 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tại xã Sơn Trạch 33
2.2.3 Tài nguyên và tiền năng du lịch tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 35
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tại địa bàn nghiên cứu 37
2.3.1 Thực trạng phát triển du lịch tại huyện Bố Trạch 37
2.3.2 Thực trạng phát triển du lịch tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 38
2.4 Thực trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 40
2.4.1 Đặc điểm của các mô hình du lịch cộng đồng 40
2.4.2 Một số mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu 43
2.4.3 Đánh giá của người dân về các hoạt động du lịch cộng đồng 46
2.5 Đánh giá của du khách và người dân về hoạt động du lịch cộng đồng 52
2.6 Cơ hội và tiềm năng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 53
2.7 Đánh giá một số thách thức trong phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 56
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ SƠN TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 58
3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 58
3.2 Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình 60
3.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến chính quyền địa phương: 60
3.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến cộng đồng địa phương: 61
3.2.3 Nhóm giải pháp tới công ty du lịch: 62
3.2.4 Nhóm giải pháp tới khách du lịch: 63
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 73.2.5 Các hoạt động bổ trợ 63
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch ở Quảng Bình 2012 - 2017 30
Bảng 2.2: Số lượng khách tham quan đến Quảng Bình giai đoạn 2015 - 2017 31
Bảng 2.3: Doanh thu của ngành du lịch Quảng Bình 32
Bảng 2.4: Tổng lượt khách du lịch đến với Bố Trạch (2016-2017) 37
Bảng 2.5: Số lượng khách du lịch và doanh thu từ dịch vụ du lịch tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 39
Bảng 2.6: Số lượng khách du lịch sử dụng loại hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch 41
Bảng 2.7 Đặc điểm đối tượng điều tra 46
Bảng 2.8: Các hoạt động du lịch của các cơ sở kinh doanh du lịch tại xã Sơn Trạch 47
Bảng 2.9: Đánh giá tác động tích cực của các hoạt động du lịch cộng đồng đến người dân địa phương 49 Bảng 2.10: Đánh giá về tác động tiêu cực của du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch 52
NG ĐẠ
I H ỌC
KINH
TẾ HU
Ế
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch hiện là một ngành kinh tế phát triển nhanh và ngày càng có nhiều đóng góp trong cơ cấu nền kinh tế của nhiều quốc gia Đối với Việt nam, Đảng và nhà nước
đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Vì vậy, phát triển du lịch được xem là một định hướng chiến lược quan trọng nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Du lịch cộng đồng là một loại hình đang được phát triển ở nhiều địa phương hiện nay Đây là một loại hình du lịch có nhiều tác động tích cực đối với cộng đồng và đáp ứng các nguyên tắc phát triển bền vững như: góp phần nâng cao thu nhập cho các cộng đồng địa phương, giảm áp lực của con người lên các nguồn lực tự nhiên và cảnh quan địa phương; thúc đẩy sự công bằng trong phát triển du lịch với việc mang lại cho toàn bộ cộng đồng những lợi ích từ việc cung cấp các dịch vụ du lịch; tạo ra các cơ hội việc làm cho địa phương, cải thiện chất lượng lao động ở các vùng địa phương, và giảm di cư từ nông thôn ra các đô thị; góp phần phục hồi và phát triển các giá trị văn hóa và nghề truyền thống, tạo ra các cơ hội để giao lưu văn hóa và kinh tế giữa Việt Nam và các nước khác
Là địa phương có hệ thống hang động phong phú, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
huyện Bố Trạch lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã xác định: “Phát triển dịch vụ
du lịch là hướng đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời kỳ mới”1 Để thu hút khách du lịch, chính quyền địa phương đã có nhiều chính sách để phát triển du lịch sinh thái ở các xã thuộc vùng Phong Nha – Kẻ Bàng Nhờ vậy, nhiều mô hình du lịch cộng đồng đã hình thành, phát triển và hoạt động có hiệu quả, mang lại thu nhập cho người dân
Xã Sơn Trạch là một trong các xã của huyện Bố Trạch đi đầu trong việc xây dựng mô hình du lịch cộng đồng Tuy vậy, sự phát triển các mô hình này vẫn tồn tại
Trang 10một số bất cập như: đa số các mô hình này đều mang tính chất nhỏ lẻ, tự phát của cá nhân, hộ gia đình cùng với việc hạn chế về công nghệ thông tin, quảng bá, truyền thông, chất lượng dịch vụ chưa cao nên lợi ích kinh tế và mức độ tác động đến địa phương chưa tương xứng với tiềm năng Vì vậy, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạc u n ố Trạch, tỉnh
Quảng Bình” nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và các yếu tố ảnh hưởng đến sự
phát triển bền vững, hiệu quả của các mô hình này sẽ rất cần thiết cho sự phát triển của
du lịch tại địa phương
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng (đề tài tập trung nghiên cứu mô hình homestays), đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các mô hình này tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, kinh nghiệm phát triển các mô hình du lịch cộng đồng trong và ngoài nước, để rút ra các bài học kinh nghiệm cho du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
Đánh giá thực trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
Đánh giá cảm nhận của các du khách về trải nghiệm dịch vụ du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình;
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững, hiệu quả các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mô hình du lịch cộng đồng ở xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Phạm vi thời gian: Phân tích hiện trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng trong giai đoạn 2012 – 2017
Trang 11Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến sự phát triển; hiệu quả và cảm nhận của du khách về dịch vụ du lịch của các mô hình du
lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
(a) Số liệu thứ cấp: Nghiên cứu và tổng hợp tài liệu để làm rõ những khái niệm,
các lý thuyết và các mô hình du lịch cộng đồng Số liệu thứ cấp bao gồm liên quan đến nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực, các tổ chức tham gia phát triển du lịch cộng đồng; kết quả hoạt động của một số mô hình du lịch cộng đồng (như số lượng khách, doanh thu, lợi nhuận, khả năng tạo việc làm ) sẽ được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình; Phòng Thống kê huyện Bố Trạch, báo cáo của xã Sơn Trạch và các báo cáo của các cơ quan liên quan Đây là những số liệu rất cần thiết để nghiên cứu phân tích, đánh giá tổng quan về thực trạng, tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch
(b) Số liệu sơ cấp:
- Phương pháp điều tra:
+ Đối tượng điều tra: Trong nghiên cứu này, các đối tượng sau sẽ được mời tham gia trong quá trình điều tra:
Khách du lịch: là người sử dụng dịch vụ, đây là nhóm đối tượng đánh giá tốt nhất chất lượng du lịch cộng đồng Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra khách để biết được thực trạng cũng như mong muốn của họ trong sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
Người dân địa phương: Một trong những bên liên quan có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch cộng đồng Điều tra người dân địa phương nhằm đánh giá tác động và khả năng tham gia của họ đối với các hoạt động du lịch cộng đồng
+ Địa bàn điều tra: xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch
+ Hình thức điều tra: Phỏng vấn trực tiếp
+ Cách thức chọn mẫu: Đối với khách du lịch: do không biết được tổng thể mẫu điều tra và tính di chuyển thường xuyên của khách du lịch nên phương pháp chọn mẫu thuận tiện sẽ được áp dụng Các điều tra viên sẽ đến các điểm du lịch cộng đồng để tiến hành điều tra bằng bảng câu hỏi thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Trang 12Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu được sử dụng để làm rõ những khó khăn, những trở ngại trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng để đề xuất các giải pháp một cách hợp lý nhất Nội dung phỏng vấn tập trung vào đánh giá thực trạng tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn, thực trạng quản lý các hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian qua Phương pháp lựa chọn mẫu có chủ đích (purposeful sampling) được sử dụng trong nghiên cứu nhằm lựa chọn các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động du lịch cộng đồng tham gia phỏng vấn
4.2 Phương pháp phân tích số liệu:
Phương pháp thống kê: Thống kê mô tả sẽ được sử dụng nhằm mô tả đánh giá của người dân về các tác động của du lịch cộng đồng tại xã Sơn Trạch
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích nhân tố
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch cộng đồng
Chương 2: Thực trạng phát triển các mô hình du lịch cộng đồng tại xã Sơn
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Liên Hiệp Quốc), “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư” [8]
Theo luật Du Lịch Việt Nam (2017), “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[7]
1.1.1.2 Khái niệm khách du lịch
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khách du lịch đứng ở trên các gốc độ khác nhau Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), một số đặc trưng của du khách [8]:
- Là người đi khỏi nơi cư trú của mình không theo đuổi mục đích kinh tế
- Đi khỏi nơi cư trú từ 24h trở lên
- Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến (30, 40, 50 dặm) tùy quan niệm của từng nước
Theo luật du lịch Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Trang 14Cộng đồng dân cư là toàn thể những người cùng sinh sống trong một cộng đồng lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính, gắn bó thành một khối, giữa họ có sự liên kết và hợp tác với nhau để cùng thực hiện lợi ích của mình và lợi ích chung của xã hội
Cộng đồng là một khái niệm không định hình, thường được định nghĩa là một nhóm hay một đơn vị có chung một số đặc điểm hay mối quan tâm nhất định, ví dụ như cộng đồng nông nghiệp, cộng đồng thành thị Trong đó, yếu tố không gian đóng vai trò ở mức độ khác nhau
Có tối thiểu 03 cách hiểu khác nhau về một cộng đồng có không gian của nó Cách thứ nhất, định nghĩa cộng đồng là một tập mà không gian đóng vai trò chủ đạo,
ví dụ như một khu vực địa lý Cách thứ hai, định nghĩa cộng đồng như là một nhóm có chung mối quan tâm mà ở đó không gian đóng vai trò rất nhỏ, ví dụ như cộng đồng các doanh nghiệp, cộng đồng người làm nông nghiệp Cách thứ ba, coi cộng đồng là một đơn vị có thể tự ra quyết định riêng cho chính họ, không nhất thiết phải có yếu tố không gian Cách này bao hàm cả hai định nghĩa ban đầu nhưng nhấn mạnh đặc điểm, một cộng đồng có thể tự đưa ra và thực hiện quyết định nào đó Nói chung định nghĩa này nhắm tới cá thực thể chính trị như một làng, xã mặc dù nó vẫn có thể bao gồm cả một khu vực thương mại hay một khu vực dân cư
1.1.2.2 Du lịch cộng đồng
Trong vài thập niên gần đây, du lịch đã thực sự trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, góp phần to lớn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng trong GDP đất nước và làm tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung, tạo nguồn lực cho cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu, bảo vệ tài nguyên môi trường Du lịch phát triển mang lại cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động du lịch, làm tăng cơ hội giao lưu văn hóa, chuyển giao kiến thức và hiểu biết của người dân Thông qua hoạt động du lịch, một số cộng đồng ở những vùng sâu, vùng xa đã phá thế biệt lập, sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vốn có trước đây còn “nằm ngủ” thành nguồn lực phát triển, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho dân cư cả về vật chất và tinh thần
Du lịch cộng đồng (Community Based Tourism) được định nghĩa tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) [7] Theo đó:
Trang 15Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi Định nghĩa phổ biến về du lịch cộng đồng là: Du lịch cộng đồng mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh tế -
xã hội từ các hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương
Hiện nay du lịch cộng đồng đang được coi là loại hình du lịch mang lại nhiều lợi ích phát triển kinh tế bền vững nhất cho bản địa Du lịch cộng đồng không chỉ giúp người dân bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, mà còn là dịp để bảo tồn và phát huy những nét văn hoá độc đáo của địa phương
1.2 Phát triển du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng hiện nay là loại hình du lịch hấp dẫn phát triển mạnh trên toàn cầu và mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo Theo đánh giá của các chuyên gia, trong những năm qua du lịch cộng đồng có
sự phát triển nhanh, có nhiều đột phá trong thu hút khách du lịch cũng như xây dựng các sản phẩm du lịch mới, không chỉ đóng góp trực tiếp vào việc định hướng phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của từng cộng đồng địa phương, mà còn nâng cao đời sống cho người dân địa phương
1.2.1 Phát triển du lịch bền vững
Du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường
và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
“Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mĩ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống” [8]
Trang 16Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai” [7]
Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo tính bền vững của ba bộ phận: môi trường tự nhiên, kinh tế và văn hoá Mỗi bộ phận đều có tầm quan trọng ngang nhau đối với sự tồn tại và phát triển của ngành du lịch
- Bền vững về môi trường tự nhiên: mối quan tâm về chất lượng môi trường sống đang trở nên sâu rộng trên phạm vi toàn cầu do môi trường sinh thái đang bị xuống cấp một cách chóng mặt Rừng bị phá huỷ, nước và không khí bị ô nhiệm, nước ngọt trở nên quý hiếm, chim chóc và những loài động vật khác có nguy cơ tuyệt chủng Tính bền vững của môi trường tự nhiên vô cùng quan trọng không chỉ đối với ngành du lịch
mà còn đối với sự tồn tại của loài người
- Bền vững về văn hoá: sự phá huỷ môi trường tự nhiên thường đi đôi với sự phá huỷ môi trường văn hoá Môi trường văn hoá bị phá vỡ khi nền văn hoá địa phương thay đổi mạnh mẽ do tác động của những nhân ốc mới hay các tác động ngoại cảnh Lẽ
tự nhiên là các nền văn hoá đều biến đổi dần dần và hoàn thiện theo thời gian Một trong những nhân tố quan trọng có tác động biến đổi văn hoá là quá trình toàn cầu hoá với hệ quả là các quốc gia ngày càng liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn về kinh tế, thương mại, đầu tư, bị tác động bởi quá trình toàn cầu hoá, các quốc gia trở nên giống nhau hơn về mặt văn hoá Sự có mặt của du khách với lối sống, thói quen và hành vi ứng xử của họ sẽ làm thay đổi mạnh mẽ suy nghĩ, thái độ và lối sống của người dân địa phương Do đó việc giáo dục du khách, người dân địa phương và tất cả các đối tượng tham gia vào các hoạt động du lịch về tầm quan trọng của việc bảo tồn các thói quen, phong tục, lối sống và truyền thống văn hoá là rất cần thiết
- Bền vững về kinh tế: để đảm bảo phát triển du lịch bền vững, việc tạo công ăn việc làm với nguồn thu nhập ổn định và được phân bổ công bằng cho các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch là thiết yếu Lợi nhuận từ hoạt động du lịch cần được phân chia rộng rãi, đặc biệt cho cư dân địa phương bởi đây là những đối tượng hiểu rõ nhất về cách thức bảo vệ tài sản của địa phương mình Tuy nhiên, các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch ngoài sự thiếu nhạy cảm về môi trường tự nhiên và văn hoá còn chú trọng vào lợi ích kinh tế mà lãng quên đi những tác động qua lại của hoạt động du lịch
Trang 17đối với cộng động dân cư địa phương Rõ ràng, du lịch chỉ có thể phát triển bền vững trong mối quan hệ hài hoà giữa các yếu tố con người, môi trường, văn hoá và kinh tế Như vậy, phát triển du lịch bền vững có thể hiểu là triển khai các hoạt động khai thác dưới sự quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn
về văn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
1.2.2 Đặc trƣng của du lịch cộng đồng
Bình đẳng xã hội: các thành viên cộng đồng tham gia lập kế hoạch, thực hiện và
quản lý các hoạt động du lịch của cộng đồng mình Các lợi ích được chia đều cho các bên bao gồm các công ty lữ hành và các thành viên cộng đồng
Tôn trọng bản sắc văn hóa địa phương và các di sản thiên nhiên: dù dưới bất cứ
hình thức du lịch nào, môi trường thiên nhiên và văn hóa địa phương đều phải chịu những sức ép hữu hình và vô hình, cộng đồng phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của môi trường tự nhiên và văn hóa địa phương đối với cuộc sống của họ và hoạt động
du lịch mà họ đang cung cấp, về những tác động của DLCĐ đối với nền văn hóa của
họ để có kế hoạch khai thác và bảo vệ hợp lý Việc tôn trọng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sắc thái văn hóa địa phương (tính độc đáo của địa phương, chẳng hạn như địa hình, khí hậu, kiến trúc, nghệ thuật, ẩm thực, lối sống v.v.) sẽ là động lực và nền tảng cho sự tái tạo nguồn tài nguyên cho hoạt động du lịch
Sẻ chia lợi ích và trách nhiệm: Không những lợi ích được chia đều mà các bên
tham gia (doanh nghiệp, cộng đồng) phải có trách nhiệm đóng góp duy tu, cải thiện, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch và hoạt động dân sinh từ nguồn thu hoạt động DLCĐ Trên thực tế, việc bảo tồn thiên nhiên và văn hóa địa phương có mối quan hệ mật thiết với việc lập kế hoạch phát triển của cơ sở hạ tầng cho các hoạt động
du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (nhà ở, đường giao thông, vườn hoa ) trên nguyên tắc hài hòa
Quyền sở hữu tài nguyên và nguyên tắc tham gia quản lý của cộng đồng: việc các
thành viên cộng đồng tham gia lập kế hoạch, thực hiện, quản lý hoạt động DLCĐ là một thể hiện quan trọng của việc cộng đồng sở hữu các tài nguyên du lịch, họ làm chủ trong cung cấp dịch vụ, trong việc đảm bảo tính lâu bền của hoạt động du lịch Du
Trang 18khách có thể trải nghiệm sự đa dạng và phong tục của nền văn hóa địa phương, và quan trọng hơn là để tương tác với cộng đồng Cộng đồng là người “chủ nhà” thật sự,
họ là những người chia sẻ với du khách những điểm sáng thực hành văn hóa địa phương để du khách được tiếp cận, tìm hiểu và chia sẻ văn hóa truyền thống của họ một cách xác thực nhất Họ trực tiếp chia sẻ các tri thức dân gian trong các bình diện của đời sống dân sinh như ẩm thực, âm nhạc, văn học dân gian, phong tục – tập quán, nghề truyền thống, phong cách sống v.v Cả du khách và cộng đồng văn hóa đối xử với nhau bằng sự tôn trọng
Phát triển kinh tế bền vững: để tránh những tác động có hại đến kinh tế, xã hội và
môi trường du lịch, việc tìm kiếm một mô hình du lịch bảo tồn đã dẫn đến sự ra đời của du lịch bền vững lấy phối hợp giữa sinh thái và văn hoá làm tâm điểm, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí vừa nâng cao giá trị cuộc sống Cộng đồng phải chủ động xây dựng kế hoạch kích thích kinh tế địa phương bằng cách tạo ra thu nhập thông qua việc
sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương mình; đồng thời phải biết sáng tạo trong nắm bắt nhu cầu du khách để chủ động cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả và công bằng Bên cạnh nguồn lực vật chất, doanh thu từ du lịch cộng đồng giúp duy trì phát triển văn hóa và truyền thống bản địa trong một thế giới thay đổi nhanh chóng
1.2.3 Mục tiêu của phát triển du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa, bao gồm cả sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa,
Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng địa phương
Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách du lịch một sản phẩm có trách nhiệm đối với môi trường và xã hội [6]
Trang 19Để xây dựng các chương trình du lịch cộng đồng đều phải được xây dựng trên cơ
sở đánh giá khả năng của cộng đồng Khả năng bao gồm khả năng nhận thức về vai trò
và vị trí của mình trong sử dụng tài nguyên, nhận thức được tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng đồng cũng như biết được các bất lợi từ hoạt động du lịch và khách du lịch đối với tài nguyên, cộng đồng Các điều kiện, khả năng tài chính
và nhân lực của cộng đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển du lịch Đồng thời cũng cần phải đánh giá sức hấp dẫn, độc đáo của những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng trong sự phát triển du lịch
- Phân chia lợi ích hợp lý:
Sản phẩm của du lịch cộng đồng là kết quả của mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp du lịch
Cộng đồng địa phương chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ du lịch, tổ chức các hoạt động du lịch và đảm bảo các tài nguyên du lịch Họ là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch cộng đồng
Chính quyền địa phương là người đại diện cho cơ quan nhà nước quản lý hành chính trực tiếp các hoạt động du lịch tại địa phương, đảm bảo trật tự an ninh cho cộng đồng và sự an toàn cho khách du lịch, tạo cho địa phương mình là một điểm đến an toàn đối với khách du lịch
Các doanh nghiệp du lịch bao gồm các doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ du lịch hoạt động trên địa bàn địa phương và các doanh nghiệp lữ hành tại địa phương khác Doanh nghiệp lữ hành là cầu nối trung gian giữa khách du lịch và tài nguyên du lịch tại khu vực cũng như dịch vụ du lịch của cộng đồng địa phương sinh sống tại đó Doanh nghiệp lữ hành là tác nhân quan trọng kích thích thị trường du lịch, tạo điều kiện phát triển du lịch Du lịch cộng đồng sẽ rất khó phát triển nếu thiếu sự tham gia của doanh nghiệp lữ hành
Với nguyên tắc này cộng đồng phải cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch, nguồn thu từ hoạt động du lịch được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi ích đó cũng được chia sẻ qua nộp thuế để phát triển chung cho
xã hội
-Người dân quyết định hoạt động du lịch [6]:
Mọi chương trình của loại hình du lịch này đều được xây dựng dựa vào khả năng
Trang 20của cộng đồng Chính vì vậy, cộng đồng phải được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch thực hiện và quản lý, đầu tư để phát triển du lịch, trong một số trường hợp có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng
Cộng đồng là một thành phần, một đối tác bình đẳng trong chu trình phát triển du lịch Cộng đồng địa phương chính là người tham gia trực tiếp nhất vào hoạt động du lịch Hơn ai hết họ là những người hiểu rõ nhất những mặt mạnh và yếu của mình trong việc tham gia vào các hoạt động du lịch Họ không phải là người ngồi đó đợi các
kế hoạch từ trên xuống Do đó họ phải được quyền tham gia thảo luận để đưa ra những
kế hoạch phát triển phù hợp nhất với khả năng của cộng đồng
-Bảo tồn giá trị của tài nguyên:
Điều kiện về tài nguyên môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn là có ý nghĩa quyết định nhất đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Tài nguyên du lịch giống như mảnh đất để gieo trồng các chương trình du lịch Tài nguyên càng phong phú, càng độc đáo thì càng dễ dàng xây dựng các chương trình du lịch đặc sắc hấp dẫn khách du lịch
Tuy nhiên trong quá trình khai thác cộng đồng cần phải chú ý đến việc bảo tồn giá trị của các tài nguyên Các tài nguyên càng được bảo tồn thì càng có giá trị để thu hút khách du lịch đồng nghĩa với số lượng công ăn việc làm và thu nhập của họ tăng lên
Nếu cộng đồng địa phương khai thác phát triển du lịch bừa bãi làm tổn hại tới tài nguyên môi trường, lai căng văn hóa, làm mất đi đặc trưng văn hóa bản địa thì khu vực
đó không phát triển du lịch một cách bền vững Việc đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống và sự ô nhiễm môi trường sống sẽ làm giảm độ hấp dẫn của điểm đến Vì thế, cộng đồng địa phương phải luôn đề cao ý thức gìn giữ và bảo vệ giá trị của các tài nguyên
1.2.5 Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương
Điều kiện tiềm năng về tài nguyên môi trường tự nhiên và nhân văn có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch cộng đồng
Điều kiện yếu tố cộng đồng dân cư được xem xét đánh giá trên các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, trình độ học vấn và văn hóa, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch
Trang 21Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế đến tham quan du lịch, nghiên cứu, tương lai sẽ thu hút được nhiều khách
Điều kiện về cơ chế, chính sách hợp lý tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch cộng đồng
Sự giúp đỡ, hỗ trợ của chính phủ về nhân lực, tài chính, kinh nghiệm phát triển
du lịch cộng đồng và các công ty lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quảng cáo thu hút khách du lịch đến tham quan [4]
Các chuyên gia đều cho rằng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng phụ thuộc bào các điều kiện cơ bản là:
- Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn là loại tài nguyên do con người sáng tạo ra bao gồm tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người tác động vào tự nhiên xã hội, kể
cả bản thân mình qua quá trình lịch sử Có thể phân chia tài nguyên du lịch nhân văn thành các loại: các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, các đối tượng gắn với dân tộc học: nhà ở, văn hóa truyền thống, các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác, phong tục tập quán, trang phục dân tộc
Tài nguyên du lịch là điều kiện tiên quyết đối với việc hình thành và phát triển của các loại hình du lịch nói chung và du lịch cộng đồng nói riêng Tài nguyên du lịch
là yếu tố quyết định tạo nên giá trị của điểm đến Các điểm đến càng chứa nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc thì càng có sức thu hút khách du lịch, thúc đẩy hoạt động du lịch tại khu vực Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải
kể đến tài nguyên du lịch Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách du lịch, các sản phẩm
du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn, kém hấp dẫn mà phải phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ
Trang 22Đối với du lịch cộng đồng, tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc thì càng
có điều kiện phát triển mạnh và bền vững
- Điều kiện về yếu tố cộng động dân cư được xem xét đánh giá trên các yếu tố số lượng thành viên, bản sắc dân tộc phong tục tập quán, trình độ học vấn và văn hoá, nhận thức trách nhiệm về tài nguyên và phát triển du lịch Xác định phạm vi cộng đồng là những dân cư sống, sinh hoạt và lao động cố định, lâu dài trong hoặc liền kề vùng có tài nguyên thiên nhiên
- Điều kiện có thị trường khách trong nước và quốc tế đến thăm quan du lịch, nghiên cứu, tương sẽ thu hút được nhiều khách Điều kiện về khách du lịch cũng nói lên bản chất của vấn đề phát triển du lịch và vấn đề công ăn việc làm cho cộng đồng
- Điều kiện về cơ chế chính sách hợp lý tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng
- Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước về nhân lực, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và các công ty
lữ hành trong vấn đề tuyên truyền quản cáo thu hút khách du lịch đến thăm quan
1.2.6 Du lịch cộng đồng trong sự phát triển ền vững
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” Với ý nghĩa đó, du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên để đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế, môi trường
Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển
Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa
Đáp ứng cao độ nhu cầu của khách
Duy trì chất lượng môi trường
Theo Hiến chương du lịch bền vững được đưa ra tại Hội nghị Thế giới về Du lịch bền vững tổ chức tại Lanzarote, Canary Islands, Tây Ban Nha năm 1995, phát triển du lịch trên cơ sở bền vững, có nghĩa là về mặt sinh thái phải được đảm bảo lâu dài, đồng thời phải có hiệu quả về khía cạnh kinh tế và phải công bằng về mặt xã hội và dân tộc
Trang 23đối với các cộng đồng địa phương Du lịch phải góp phần vào sự bền vững và sự hòa nhập của phát triển bền vững với môi trường tự nhiên, văn hóa và con người; du lịch phải tôn trọng trạng thái cân bằng dễ bị phá vỡ là đặc trưng của điểm du lịch, đặc biệt
là đảo nhỏ và các môi trường nhạy cảm Du lịch phải quan tâm đến các ảnh hưởng của nó đối với các di sản văn hóa và các yếu tố truyền thống, các hoạt động và động lực của từng cộng đồng địa phương Việc công nhận các yếu tố địa phương này và hỗ trợ các nét đặc thù văn hóa và lợi ích cộng đồng của địa phương phải luôn là vấn đề trung tâm trong việc soạn thảo các chiến lược du lịch, nhất là ở các nước đang phát triển Du lịch bền vững xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập ra kế hoạch và ra quyết định phát triển du lịch Du lịch bền vững là hoạt động phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tạo nên đa dạng các dịch vụ du lịch vừa đảm bảo phát triển bền vững các yếu tố khác Du lịch bền vững là phục vụ cho mục đích phát triển con người, cho nên, du lịch bền vững không chỉ tập trung vào mục đích thu lợi nhuận mà còn nhằm phát triển xã hội gồm giáo dục, sức khỏe, môi trường và các vấn đề tôn giáo
Từ những phân tích trên, có thể nói, du lịch cộng đồng chính là nét tinh túy nhất của du lịch sinh thái và du lịch bền vững Du lịch cộng đồng nhấn mạnh cả hai yếu tố
tự nhiên, môi trường và con người Du lịch cộng đồng hướng đến con người nhưng cũng không phủ nhận tầm quan trọng của yếu tố tự nhiên và môi trường Như vậy, du lịch cộng đồng đang là loại hình du lịch đáp ứng được các yêu cầu của du lịch bền vững, không chỉ là góp phần vào kinh tế địa phương, tăng thu nhập cho người dân mà còn bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của cộng đồng địa phương nơi tổ chức loại hình du lịch này
Khi du lịch cộng đồng được đưa vào khai thác tại các địa phương sẽ tạo ra doanh thu lớn, thu nhập du lịch cũng tăng cao, tăng cường ngân sách đầu tư trở lại cho cuộc sống của chính người dân, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương [3] Và khi kinh tế phát triển sẽ dẫn đường cho các lĩnh vực khác phát triển như văn hóa, giáo dục Điều kiện kinh tế ổn định, người dân sẽ không phải lo lắng nhiều về vấn
đề kinh tế gia đình và có một nguồn thu nhập ổn định, họ sẽ tích cực hơn trong việc tham gia vào những hoạt động cộng đồng và việc đấu tranh để duy trì, bảo tồn các giá trị truyền thống cũng như bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên Họ sẽ không phải khai thác quá mức các nguồn tài nguyên của mình Bên cạnh đó, họ sẽ chú trọng đến việc giáo dục thế hệ trẻ hơn nữa trong việc bảo tồn và phát triển bền vững
Trang 24Du lịch cộng đồng phát triển sẽ tạo ra những cơ hội lớn cho người dân địa phương bởi bên cạnh việc giao lưu và tiếp thu những tinh hoa văn hóa mới của khách
du lịch, họ sẽ có ý thức bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình Điều này đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng địa phương, du khách và đội ngũ nhân viên phục vụ du lịch Đây cũng chính là điều kiện và là mục tiêu phát triển của loại hình du lịch này để tạo ra môi trường du lịch có văn hóa Những mục tiêu mà du lịch cộng đồng muốn đạt được chính là những mục tiêu mà du lịch bền vững hướng tới Chính vì lẽ đó, du lịch cộng đồng đang là hướng phát triển mới của du lịch thế giới trong những năm tới để du lịch đạt được mục tiêu phát triển bền vững
1.3 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
1.3.1 Hiệu quả về kinh tế
Phát triển du lịch cộng đồng mở ra cơ hội cho người dân nhiều vùng ở nông thôn, miền núi cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế Hiện nay Việt Nam đang là nước thuộc nhóm những nước đang phát triển, nằm ở gần cuối của những nước đang phát triển, những vùng thuộc nông thôn, miền núi, những vùng dân tộc thiểu số là nhưng nơi nghèo nàn, mức sống thấp, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhưng chính những nơi đây lại mang những nét đặ trưng của vùng miền, mới độc lạ, thu hút những cảnh đẹp thiên nhiên hoang sơ, những căn nhà sàn dưới chân đồi giữa những tán rừng xanh mát, khí hậu mát mẻ trong lành Đây chính là điểm thu hút khách
du lịch đến tham quan khám phá, tận dụng được những ưu điểm này, người dân vùng miền phát triển du lịch cộng đồng mang lại lợi ích kinh tế, xóa đói giảm nghèo mở ra
cơ hội phát triển [4]
-Tăng thu nhập cho người dân địa phương
Bằng chính những hoạt động thường ngày nhưng khi tham gia vào loại hình du lịch cộng đồng lại mang thêm một nguồn thu nhập khác cho người dân địa phương Ở huyện Bố Trạch xác định phát triển du lịch cộng đồng là đòn bẩy không chỉ giúp người dân từng bước xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương phát triển
-Chi phí cho việc phát triển loại hình du lịch cộng đồng thấp, vừa phải
Việc trang trải chi phí cho mô hình homestay thường không quá cao vì homestay
là hình thức sống tại nhà dân địa phương nên chỉ cần trang trí sao cho sạch sẽ, tươi mới
Trang 25mà không làm mất đi nguyên bản ban đầu, đầu tư homestay là những chi phí liên quan đến ăn ngủ là chủ yếu, thường thì các dịch vụ cần thiết này chi phí không quá cao, vừa phải
-Lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh
Quá trình cải tạo homestay rất nhanh nên chỉ sau 2 tuần – 1 tháng là nhà đầu tư
có thể bắt tay vào khai thác Hơn nữa, cùng với sự bùng nổ của internet và mạng xã hội thì chủ các homestay có thể giới thiệu căn hộ của mình đến với khách hàng tại khắp mọi miền tổ quốc và nhiều nơi trên thế giới Khảo sát giá thuê homestay ở Hà Nội cho thấy giá đang dao động từ 300.000 đồng đến trên 3 triệu đồng/ căn tùy vào vị trí, chất lượng và hệ thống tiện ích Với tỷ lệ đặt phòng khoảng 60% thì 1 tháng chủ homestay đã có khoảng 5,4 – 54 triệu đồng/ căn Dù trừ chi phí quản lý, thuê căn hộ thì đây cũng là mức doanh số ấn tượng
-Tạo sự phát triển đặc iệt của vùng
Du lịch là ngành công nghiệp không khói, có tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh, hơn nữa nhờ chính những bản sắc đặc trưng của vùng chính là điểm nhấn cho
sự thu hút khách du lịch cũng như các nhà đầu tư về kinh tế [4]
- Quảng á cho sản xuất của địa phương
Các loại hình cộng đồng chính là “Du lịch xanh” tham gia vào chính đời sống, văn hóa của vùng địa phương Vì vậy nhằm phục vụ tốt cho những trải nghiệm của khách du lịch sẽ góp phần khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống tại địa phương, mặt khác nó còn tạo ra thương hiệu nổi tiếng cho vùng nói riêng cũng như quốc gia nói chung
Điển hình như homestay tại xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, ở đây khách đến homestay chủ yếu là người nước ngoài, họ được hòa mình vòa đời sống văn hóa, phong tục tập quán, con người nơi đó Đến với xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch du khách được đắm chìm vào không gian văn hóa dân tộc độc đáo Tại các khu homestay đều luân phiên tổ chức lửa trại và giao lưu văn nghệ Không chỉ du khách cảm thấy thú vị mà chính những người dân địa phương cũng cảm thấy thêm màu sắc, vui tươi hơn
Đây chính là động lực để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, các cơ
sở vật chất, cảnh quan thiên nhiên,… được chính quyền hỗ trợ một cách thiết thực, sự quan tâm của các cơ quan chức năng sẽ giúp cộng đồng địa phương tiếp tục phát triển
Trang 26- Du lịch cộng đồng phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
theo
Đầu tiên, du lịch cộng đồng là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành, qua đó nhiều khu vực khác cụng được hưởng lợi từ sự hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, hay dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính Vì vậy, việc khái quát các vấn đề về chính sách du lịch bao trùm một chuỗi lớn các hoạt động lĩnh vực và lợi ích
1.3.2 Hiệu quả về xã hội
Phát triển loại hình du lịch Cộng đồng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần lớn đến hiệu quả xã hội Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân như: sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật,… chính những việc làm này làm tăng tổng sản phẩm quốc nội [4]
Tạo ra nhiều cơ hội việc làm
Du lịch Homestay là loại hình du lịch cộng đồng, sử dụng nguồn nhân lực chính
là những người dân địa phương, từ đó tạo ra cơ hội việc làm cho người dân
Du lịch cộng đồng với tính chất ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội cao, du lịch cộng đồng phát triển góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương mà không cần phải đào tạo đúng chuyên ngành, từ đó từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hiện nay tỷ lệ hộ dân làm kinh tế thoe du lịch chỉ chiếm 11,2% Và trong tương lai sẽ khuyến khích phát triển theo loại hình du lịch này sẽ giải quyết được hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế
và lao động trong nông thôn, vùng miền theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng
Loại hình du lịch Cộng đồng mang lại nguồn thu nhập cao hơn cho người dân địa phương giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng làm mất đi chênh lệnh thu nhập quốc dân giữa các vùng
Du lịch cộng đồng tích cực tham gia vào việc làm tăng thu nhập quốc dân
Thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân
Trang 27thanh toán quốc tế.Các dịch vụ du lịch cộng đồng tăng nguồn thu ngoại tệ từ chính những khách du lịch nước ngoài Hơn nữa, du lịch cộng đồng cũng làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch từ các nguồn khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địa phương và các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn Ở các địa phương
có làng nghề truyền thống, họ tận dụng thế mạnh của mình để phát triển kinh tế bằng việc giới thiệu bán các sản phẩm thủ công Không chỉ bán cho các du khách đến tham quan mà đây còn là cơ hội tăng thu nhập địa phương bằng hình thức xuất khẩu [4]
Tăng cường văn hóa dân tộc:
Du lịch cộng đồng mang đậm bản chất văn hóa vùng miền Du lịch Cộng đồng cũng tác động trở lại văn hóa thông qua việc xây dựng và cải tạo môi trường văn hóa,
xã hội, làm cho môi trường này khởi sắc, tươi mới, làm cho các hoạt động văn hóa năng động và linh hoạt hơn trong cơ chế thị trường Du lịch cộng đồng góp phần khơi dậy các tiềm năng văn hóa giàu có và phong phú của nước ta, đánh thức những cái đẹp, không để bị che phủ hay lãng quên [3]
1.3.3 Hiệu quả về môi trường
Du lịch nghỉ tại nhà dân (Homestay) là loại hình du lịch đang bước đầu phát triển tại Việt Nam, kinh doanh loại hình du lịch cộng đồng từng bước góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân và bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường sinh thái, giúp du lịch phát triển bền vững
Homestay là loại hình du lịch xanh lý tưởng đối với du khách yêu thích khám phá văn hóa tại bản địa
Loại hình du lịch cộng đồng có tác động đến môi trường tự nhiên cũng như các yêu tố môi trường xã hội – nhân văn Đa phần các tác động của loại hình này đến các yêu tố hệ sinh thái là tác động tích cực
Bảo tồn thiên nhiên
Du lịch cộng đồng góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các khu bảo tồn và Vườn Quốc Gia
Hiện nay, Ở Lâm Bình, nhiều cảnh đẹp hùng vĩ, sơn thủy hữu tình và là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của đặc sắc của các dân tộc thiểu số trên địa bàn Bên cạnh đó, diện tích nước hồ thủy điện Tuyên Quang rộng trên 8.000 ha, trong
đó Lâm Bình có trên 4.000 ha đã trở thành một vùng hồ rộng lớn với nhiều cảnh quan
Trang 28thiên nhiên làm say đắm lòng người Lâm Bình còn có những thắng cảnh đẹp khác như: Động Song Long, thác Khuổi Nhi, thác Khuổi Súng, di tích khảo cổ Hang Phia Vài… Để phát triển du lịch cộng đồng hiệu quả và bền vững, ông Nguyễn Văn Hiền, Phó Chủ tịch UBND huyện Lâm Bình cho biết: Huyện có diện tích tự nhiên hơn 78.150 ha, với số dân hơn 30.000 người gồm hơn 10 dân tộc sinh sống, trong đó người Tày chiếm số đông Trong thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục quy hoạch lại các vùng du lịch, chú trọng phát triển và tái tạo lại các giá trị văn hóa của các dân tộc đã bị mai một
và hướng dẫn người dân làm du lịch bền vững
- Cải thiện cơ sở hạ tầng: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường
sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch
Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du khách
1.3.4 Giá trị đối với ngành du lịch
- Tạo ra sự đa dạng sản phẩm dịch vụ du lịch của một vùng, quốc gia Bên cạnh
các dịch vụ phổ biến thường thấy trong du lịch như: dịch vụ lứu trú, ăn uống tại các khách sạn, nhà hàng, vui chơi tại các điểm vui chơi giải trí sầm uất thì du lịch cộng đồng mang đến cho khách du lịch một sự mới mẻ, tạo ra sự đa dạng về các sản phẩm dịch vụ du lịch Du lịch không còn đơn thuần là vui chơi, là những cuộc “cưỡi ngựa xem hoa” mà thực sự là một trải nghiệm trong cuộc sống Khách du lịch được ăn cùng dân, ngủ cùng dân, lao động cùng dân Chính vì thế, du lịch cộng đồng ngày càng thu
hút được nhiều đối tượng khách
- Góp phần thu hút khách du lịch Nhờ việc tạo ra sự đa dạng sản phẩm dịch vụ
du lịch mà khách du lịch có nhiều lựa chọn hơn, phục vụ được mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó góp phần thu hút khách du lịch
Trang 29Mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên cộng đồng tham gia trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời các thành viên khác cũng được lợi từ sự đóng góp của du lịch Theo Diễn đàn của Đồng bào các dân tộc Việt Nam về phát triển du lịch gắn liền với bản sắc văn hóa ở miền Bắc, đến thời điểm hiện tại, du lịch cộng đồng Bản Lác phát triển khá mạnh, trung bình mỗi năm có 3 - 4 vạn lượt khách đến tham quan, nghỉ lại Tính riêng từ đầu năm đến nay, ngành du lịch huyện Mai Châu đã thu hút được gần 14.000 lượt du khách, thu gần 6 tỷ đồng từ du lịch Huyện Sa Pa (Lào Cai) cũng là một trong những địa phương phát triển mạnh du lịch cộng đồng với các điểm du lịch bản làng được du khách tham quan nhiều như bản Cát Cát, Sín Chải, Lao Chải, Tả Van…Bên cạnh đó, phát triển du lịch cộng đồng giúp các công ty du lịch tổ chức được nhiều tour, đa dạng hóa loại hình kinh doanh, mang lại doanh thu cao
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng
1.5.1 Quá trình phát triển du lịch cộng đồng
Năm 1970, du lịch cộng đồng dựa vào cộng đồng xuất phát từ du lịch làng bản xuất hiện và khách du lịch tham quan làng bản, tìm hiểu về phong tục tập quán, cuộc sống hoang dã, lễ hội, cũng có thể một vài khách du lịch muốn tham quan hệ sinh thái, núi non mà thường gọi là du lịch sinh thái Thường thường các chuyến du lịch này được tổ chức tại các vùng rừng núi còn mang tính tự nhiên, hoang dã, hệ sinh thái đa dạng, địa điểm hiểm trở, nhiều núi cao vực sâu nhưng lại thưa thớt dân cư, các điều kiện sinh hoạt, đi lại và hỗ trợ rất khó khăn, nhất là đối với khách tham quan, những lúc như vậy khách du lịch cần có sự giúp đỡ như cần có người dẫn đường để khỏi bị lạc, cần nơi để nghỉ qua đêm, đồ ăn… đã được người bản xứ tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp các dịch vụ Lúc đó, khách du lịch có sự hỗ trợ của người dân bản xứ - đây là tiền đề cho sự phát triển loại hình du lịch cộng đồng Năm 1980, đã xuất hiện những slogan ấn tượng như: “Open your home to the world and the world become your home” - (Hãy mở cánh cửa nhà bạn ra với thế giới và thế giới sẽ trở thành ngôi nhà của bạn.) Hoặc “Become part of my family” - (Hãy là thành viên của gia đình chúng tôi nhé)
Trên thực tế, phát triển du lịch cộng đồng có sự tham gia của cộng đồng địa phương đã có một quá trình hình thành và phát triển ở các nước du lịch phát triển như Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc… Sau đó dần được hình thành và lan rộng không chỉ với một khu, một vùng du lịch, nó đã tạo ra sự phong phú, đa dạng các loại sản phẩm, dịch
Trang 30vụ phục vụ khách du lịch Từ đó, du lịch cộng đồng ở tại nhà dân phát triển mạnh ở nhiều nước phát triển như Châu Phi, Châu Úc, Châu Mỹ La Tinh vào năm 80 – 90 của thế kỷ trước Du lịch cộng đồng ở tại nhà dân bắt đầu phát triển mạnh ở các nước Châu
Á, trong đó có các nước khu vực Asean như: Indonesia, Philippin, Thái Lan
Năm 1995 du lịch cộng đồng tại Việt Nam đã bắt đầu được khá nhiều người chú
ý kể từ khi có chương trình tàu Thanh niên Đông Nam Á, cập cảng lần đầu tiên ở TP HCM Năm 1997 du lịch cộng đồng dần phát triển ở nước ta, trải qua hơn một thập kỷ phát triển du lịch cộng đồng đã dần khẳng định được vị thế của mình trong ngành du lịch nước nhà cũng như du lịch quốc tế
Năm 2002, Việt Nam đón các đoàn khách từ Nhật, Thái Lan và Mỹ du khách từ con tàu Thanh niên Đông Nam Á, và các ngôi nhà cổ gần 100 năm tuổi trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5, TP.HCM là nơi được chọn là nơi đón khách du lịch Và du khách lúc đấy đã có những cảm nhận rất khác biệt về đất nước, con người Việt Nam Năm 2006 du lịch cộng đồng tại Việt Nam bắt đầu trở thành một loại hình được đông đảo lượng khách du lịch tham gia và mang lại lợi ích kinh tế khá cao cho ngành du lịch nước nhà
1.5.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở một số nơi trên thế giới
Dãy Himalayas
Nằm chênh vênh trên cao gần biên giới Tây Tạng, thung lũng Spiti của Ấn Độ lô nhô với những tu viện bên sườn núi Nhà trọ ở đây là những phòng đơn nằm trong những ngôi nhà hai tầng bằng bùn và gạch Du khách có thể được thưởng thức một thực đơn độc đáo với bánh mì, chapatis (bánh mì dẹt) và momos - bánh bột mì hình cầu có thịt dê hoặc thịt cừu băm nhỏ Thức ăn được phục vụ cùng với trà Du khách có thể tham gia một tour đi bộ thú vị, được học nấu ăn và đi săn bò Tây Tạng Cơ sở Mahindra Homestays có phòng cho thuê, một hướng dẫn viên người địa phương và phục vụ tất cả các bữa ăn
Trang 31Phi, vì thế du khách đừng ngạc nhiên nếu bất ngờ thấy một con chim khổng lồ xuất hiện Chuyến tham quan có thể bao gồm hang động Cango và một trại nuôi gia súc hoang dã có báo gêpa và chó rừng
1.5.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Mô hình du lịch cộng đồng ở Bản Lác huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình
Bản Lác nằm cách thành phố Hoà Bình 60 km, thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình, là nơi sinh sống của người dân tộc Thái với 5 dòng họ Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc Là một bản du lịch Bản Lác có khoảng 25 nhà sàn với các dịch vụ du lịch mang đậm bản sắc dân tộc biểu diễn văn nghệ, các bài hát, các điệu xoè Thái, các món ăn và không thể thiếu rượu cần Ở đầu Bản Lác có một khu đất rộng có thể tổ chức các hoạt động sinh hoạt, giao lưu tập thể như cắm trại, thi hát karaoke Với không gian và những nét văn hoá rất riêng như vậy Mai Châu đang là địa điểm du lịch hấp dẫn Mỗi năm Mai Châu đón khoảng 42 ngàn lượt khách du lịch trong đó có hơn 10 ngàn lượt khách nước ngoài mỗi năm đến chiêm ngưỡng những ngôi nhà sàn truyền thống và những trang phục nhiều mầu sắc của những người phụ nữ dân tộc và để tìm kiếm sự yên tĩnh tránh
xa những ồn ào và ô nhiễm của các khu đô thị
Khách du lịch đến với Bản Lác sẽ được yêu cầu mua vé tại Uỷ ban nhân dân huyện Mai Châu, giá vé là 7.000 VNĐ/người (tính đến tháng 4/2013) Lợi nhuận thu được từ việc bán vé vào cửa sẽ được gửi trực tiếp về các cơ quan quản lý cấp huyện và nguồn lợi này sẽ được chia sẻ với bản một cách gián tiếp, khi cần 25 trong số 113 hộ gia đình trong bản tham gia một cách tích cực trong các phần khác nhau của dịch vụ du lịch như: du lịch tại gia, biểu diễn văn hoá, mô phỏng các nghề thủ công, các chuyến tham
Trang 32quan quanh bản làng Các hộ gia đình với các mối liên hệ trực tiếp với các công ty du
lịch tại Hà Nội có xu hướng thu hút được nhiều khác hơn so với các hộ khác
Giá nhà nghỉ tại Bản Lác là 15.000 VNĐ/người/đêm đến 50.000 VNĐ/người/đêm tuỳ thuộc vào khách là khách trong nước hay khách du lịch nước ngoài bao gồm ăn uống Giá phòng ngủ riêng là 150.000 - 200.000 VNĐ/phòng/đêm (giá tính đến thời điểm tháng 4/2013) Khách du lịch không phải trả tiền cho các màn
mô phỏng các nghề thủ công truyền thống nhưng họ phải thanh toán cho các chương trình biểu diễn văn hoá và các tour tham quan Bán các đồ thủ công là một trong những thu nhập chính của các hộ Cuối năm các hộ gia đình này chuyển 10% doanh thu cho cơ quan thuế của huyện Mai Châu Tuy nhiên số tiền này được sử dụng như thế nào và nó có thể phục vụ cho bản làng như thế nào thì chưa rõ ràng 90% thu nhập
của các hộ trong bản dùng cho mục đích tiêu dùng cùa gia đình và nâng cấp nhà [4]
Mặc dù người dân địa phương chịu trách nhiệm chính về các hoạt động trong Bản Lác, việc vận chuyển đến và đi từ Bản do các công ty du lịch tại Hà Nội, những đơn vị cùng chia sẻ việc cung cấp các hướng dẫn viên nói tiếng Anh Trong Bản không
có một đơn vị cụ thể để hướng dẫn việc phát triển các hoạt động du lịch, vì vậy mỗi hộ gia đình tự quản lý và điều chỉnh việc kinh doanh của mình, duy trì mối quan hệ và hợp đồng với các công ty du lịch trên cơ sở cá nhân Khi có vấn đề nảy sinh, các hộ
dân trong bản có xu hướng kết hợp với nhau để tìm giải pháp
Để hỗ trợ cho các nhu cầu cơ bản của du khách, người dân bản tự cung cấp các dịch vụ khá tốt cho du khách ngủ, nghỉ tại bản như đồ ăn, hướng dẫn, biểu diễn văn hoá nghệ thuật, hàng thủ công và các loại đồ uống, thậm chí có thể thuê xe máy hay xe
đạp, xe máy của người dân
Hiện tại các công ty lữ hành chủ yếu làm tiếp thị Đôi khi tỉnh Hoà Bình và huyện Mai Châu cũng giới thiệu và quảng bá Mai Châu là điểm đến qua phương tiện
thông tin và truyền hình địa phương
Vì không có một đơn vị quản lý chính thức nào trong bản Lác và không có quỹ bản, nên do đó không có cả kế hoạch phác thảo cho việc phát triển các lĩnh vực du lịch tại bản, cũng giống như các cơ quan quản lý cấp tỉnh hiện nay cũng chưa phân rõ trách nhiệm quản lý của các cấp, mặc dù Mai Châu là điểm du lịch khá nổi tiếng xong vẫn chưa có một bộ phẩn quản lý du lịch riêng hay bất kỳ một kế hoạch phát triển du lịch
Trang 33Bên cạnh sự hợp tác với các công ty du lịch, người dân Bản Lác cũng có rất ít mối quan hệ hai chiều với các tổ chức hoặc cơ quan các cấp lãnh đạo nhà nước Mặc
dù người dân rất mong muốn các tổ chức bên ngoài tới thăm và có thể cung cấp các khoá đào tạo về ngoại ngữ, về chế biến thức ăn, về kỹ năng lễ tân, nhưng họ không biết cụ thể để có thể liên hệ trực tiếp Vì trong số họ rất nhiều có trình độ học vấn thấp
và rất ít người có thể nói được tiếng Anh Điều này khó có thể thay đổi nếu không có
sự hỗ trợ giúp đỡ từ các tổ chức trung gian
Mặc dù ý tưởng phát triển du lịch hay các mục tiêu/mục đích phát triển du lịch, quy hoạch hay chiến lược không được cấp thôn bản đề cập tới, người dân địa phương đều biết rằng: để phát triển du lịch tại thôn bản của họ cần phải bảo tồn các đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán truyền thống, nhà sàn Các vấn đề liên quan tới du lịch như các chương trình vệ sinh thôn bản và nguồn nước sạch là các chủ đề được bàn thảo sôi nổi trong các cuộc họp tạo bản Hơn nữa, nguồn nhân lực được nhìn nhận là nhân tố chính để phát triển du lịch Như vậy, xây dựng năng lực và đào tạo là rất cần thiết Việc này đòi hỏi
được các tổ chức và ban ngành hữu quan quan tâm
Thách thức chủ yếu của bản Lác là thiết lập một cơ cấu tổ chức quản lý - ví dụ như một ban quản lý ở bản - nhiệm vụ cụ thể của ban ngày là điều tiết sự phát triển các hoạt động du lịch của bản Cơ cấu tổ chức này chịu trách nhiệm cho việc phát triển phác thảo kế hoạch hàng năm ví dụ như: các hoạt động xây dựng cần được tiến hành
và có thể xây dựng và duy trì hợp đồng với các tổ chức bên ngoài có thể cung cấp các khoá đào tạo cho dân bản Hiện nay, dường như không ai trong làng muốn nhận trách nhiệm lãnh đạo trong việc này, có thể vì thế mà sẽ dẫn tới một số vấn đề trong thời
gian tới
Để xây dựng thành công “Làng văn hóa du lịch cộng đồng” tại bản Lác - Hòa Bình, chính quyền địa phương luôn coi trọng tuyên truyền, vận động và cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào quy ước, hương ước của bản Mọi người trong bản đều có trách nhiệm nhắc nhở lẫn nhau trong thực hiện nếp sống văn hóa, giao tiếp lịch thiệp, giữ gìn tình làng, nghĩa xóm thuận hòa, đầm ấm Kiên quyết không để cho tệ nạn xã hội xâm nhập vào cộng đồng, ổn định an ninh trật tự, làm tốt công tác vệ sinh môi trường tạo ấn tượng đẹp trong lòng
du khách Cũng để thu hút đông khách du lịch đến thăm, bản Lác đặc biệt coi trọng
Trang 34việc bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc trưng Khôi phục và phát triển nghề
dệt thổ cẩm truyền thống là một trong những thế mạnh ở đây
Và một trong những “bí quyết” níu chân du khách chính là hình ảnh những chàng trai, cô gái Thái duyên dáng, dịu dàng trong những bộ trang phục dân tộc biểu diễn các hoạt động văn hóa dân gian giúp du khách cảm nhận được hơi ấm trong tình đất, tình người của người dân nơi đây Chính từ nét riêng trong hoạt động văn hóa du
lịch cộng đồng mà bản Lác đã nổi tiếng với du khách thập phương
Hầu hết các bài học rút ra được là cuộc sống truyền thống đích thực của đồng bào dân tộc Thái là động lực lớn thu hút du lịch Như vậy việc bảo tồn bản sắc văn hoá
dân tộc này là một nhu cầu Các hoạt động bán hàng thủ công được tổ chức tốt và môi
trường chưa có sự quấy rầy từ bên ngoài được coi là những điểm hay cộng thêm vào
giá trị chuyến đi tới Mai Châu
Tuy nhiên, hạn chế trong việc phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Bản Lác
đó là: chưa có một đơn vị quản lý chính thức trong bản Đơn vị này có vai trò như một Ban quản lý điểm tham quan du lịch, làm nhiệm vụ lập kế hoạch, phác thảo cho việc phát triển du lịch cộng đồng tại bản; giám sát và kiểm tra các hoạt động du lịch trong bản Thêm nữa, người dân bản Lác chưa được cung cấp các khóa đào tạo về ngoại ngữ, giao tiếp, chế biến thức ăn do chưa có sự hỗ trợ của các tổ chức bên ngoài Điều
này làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển bền vững của du lịch Mai Châu
Mô hình du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải, Sa Pa - Lào Cai
Bản Sín Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 4km, nằm trên sườn núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn và những cánh rừng nguyên sinh với hệ sinh thái đa dạng Tại đây chủ yếu là tộc người H’mông sinh sống với khoảng 120 hộ di cư từ Trung Quốc sang từ thế
kỉ 17 Người H’Mông ở bản Sín Chải vẫn còn gìn giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc của tộc người mình Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế văn hóa - xã hội rất hấp dẫn khách du lịch nên nhiều năm trở lại đây khách du lịch đến rất đông Đặc biệt là từ khi chính sách mở cửa và hội nhập thì lượng khách du lịch quốc tế đến tăng lên
nhanh chóng Do đó mà cuộc sống của người dân đã được cải thiện đáng kể
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà du lịch mang lại thì các tác động tiêu cực của du lịch đến cuộc sống người dân cũng rất lớn Trước hết, đó là sự suy giảm tài nguyên rừng do khai thác quá mức để phục vụ cho nhu cầu của người dân và du
Trang 35khách Bên cạnh đó, nhiều nét văn hóa truyền thống của tộc người bị biến đổi, mất đi,
lối sống của người dân thay đổi, nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh
Năm 2001, để giải quyết vấn đề trên tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cùng với Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) đã xây dựng một chương trình phát triển du
lịch dựa vào cộng đồng tại bản Sín Chải trong khuôn khổ dự án “Tăng cường năng lực cho các sáng kiến về du lịch bền vững” Tiêu chí của mô hình là thúc đẩy cộng đồng
tham gia các dịch vụ du lịch nhằm góp phần phát triển bền vững cộng đồng, bảo tồn
được tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa cộng đồng
Thực hiện dự án các tổ chức phi chính phủ IUCN, SNV và chính quyền các cấp
đã cùng với cộng đồng địa phương tiến hành khảo sát, nghiên cứu để xác định tiềm năng và nhu cầu thị trường như: xác định khả năng cung cấp các dịch vụ du lịch của
cộng đồng, xu hướng thị trường khách du lịch Ban quản lý cũng đã nghiên cứu đặc
điểm dân cư, đặc điểm tài nguyên để đánh giá được độ hấp dẫn, tính nhạy cảm và khả năng tham gia của cộng đồng Trên cơ sở những khảo sát đánh giá đó hoạch định đường lối chính sách và lập kế hoạch thực hiện, nêu ra các định hướng phát triển du lịch Xác định khâu điều hành của cơ quan quản lý, vai trò tham gia cộng đồng và cơ cấu tổ chức điều hành hoạt động của mô hình Xây dựng các chương trình nâng cao năng lực thông qua các chuyến tham quan, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn về
các nghiệp vụ du lịch Lên kế hoạch quảng cáo các sản phẩm du lịch
Mô hình du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải được tổ chức như sau:
Hình 2.1: Mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại ản Sín Chải - Lào Cai
Trang 36- Thành phần tham gia:
Các tổ chức, các cấp chính quyền, các đoàn thể đã tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng tại bản Sín Chải đó là: Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển du lịch địa phương thông qua Sở du lịch, Phòng du lịch và Ban hỗ trợ phát triển du lịch Các tổ chức phi chính phủ như IUCN, SNV có vai trò khởi xướng và cung cấp kỹ thuật, tư vấn các vấn đề kinh tế và hỗ trợ tài chính Các tổ chức đoàn thể như:
Hội phụ nữ, Hội nông dân làm nhiệm vụ vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch
Cộng đồng dân cư tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ du lịch, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng
Sản phẩm du lịch:
Qua quá trình triển khai thực hiện chương trình đến nay đã đạt được nhiều kết quả đáng quan tâm Hiện nay trong bản có hơn 40 hộ gia đình tham gia các hoạt động cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch
Cơ chế hoạt động của mô hình:
+ Các tổ chức hỗ trợ và ban quản lý: bao gồm các tổ chức phi chính phủ và chính quyền các cấp
+ Nhân tố tác động: tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn tại bản Sín Chải và khách du lịch
+ Nhân tố tham gia cung cấp các dịch vụ và tham gia bảo tồn tài nguyên môi trường là cộng đồng dân cư bản Sín Chải
Trang 37- Phân chia lợi ích: Cộng đồng thỏa thuận việc phân chia lợi nhuận như sau: 70% doanh thu từ các dịch vụ du lịch thuộc về người dân địa phương, 15% thuộc về Ban quan lý và hỗ trợ phát triển du lịch của làng, 15% đóng góp vào quỹ hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng của bản
-Hoạt động du lịch phát triển đã mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương về nhiều mặt
-Lợi ích mặt kinh tế: sự thành công bước đầu của mô hình là thu hút ngày càng
nhiều khách đến tham quan, tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng dân cư Sự phát triển của du lịch cộng đồng đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc các làng bản Năm 2000, Sín Chải có tới 68% số hộ đói nghèo, đến nay chỉ còn 26%
Lợi ích mặt văn hóa: hoạt động du lịch đã nâng cao niềm tự hào của người dân
trong bản về giá trị văn hóa của tộc người mình Họ nhận thức được trách nhiệm phải gìn giữ và phát triển nền văn hóa của chính tộc người mình vì đây là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch đến nhiều hơn
Lợi ích mặt xã hội: nâng cao vai trò làm chủ của cộng đồng, trách nhiệm của
cộng đồng đối với mỗi thành viên và toàn xã hội, cải thiện được điều kiện sinh hoạt nông thôn, tạo ra sự đổi mới trong quan hệ và nhận thức tình cảm trong cộng đồng, lòng hiếu khách tăng lên
Lợi ích môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: ý thức và trách nhiệm về
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của người dân cao hơn Họ nhận thức được rằng việc bảo vệ sự phong phú đa dạng của tài nguyên thiên nhiên cũng chính là việc bảo đảm
sự bền vững về nguồn thu nhập của chính bản thân họ Môi trường vệ sinh trong bản ngày càng sạch sẽ, gọn gàng hơn TR ƯỜ
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG
ĐỒNG TẠI XÃ SƠN TRẠCH, HUYỆN BỐ TRẠCH,
TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Tổng quan thực trạng du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Theo thông tin từ Sở Du lịch Quảng Bình lượt khách Quốc tế đến với Quảng Bình năm 2017 tăng 150% so với năm 2016 và đạt 100.000 lượt khách Tổng thu
từ du lịch đạt 3.706,3 tỷ đồng, tăng 64,7% , trong đó tổng lượt khách du lịch đến Quảng Bình năm 2017 đạt 3,3 triệu lượt, tăng 70,9% so cùng kỳ Đạt được thành công
đó là sự đồng lòng của toàn thể chính quyền và người dân Quảng Bình trong việc quảng bá và xúc tiến du lịch Việc mở các đường bay Quảng Bình – Chiềng Mai( Thái Lan) , đường bay Đồng Hới – Cát Bi, đã mang lại cho Quảng Bình một lượt khách du lịch nhất định Ngoài ra việc tổ chức một loạt các hoạt động nhằm kéo du khách trở lại với Quảng Bình đã được UBND Quảng Bình, sở Du lịch cùng các sở ban ngành khác triển khai một cách đồng bộ và đạt hiệu quả cao Cụ thể, chương trình “Quảng Bình trong lòng Hà Nội” hồi tháng 3; Liên hoan ẩm thực biển tại bãi biển Nhật Lệ;Lễ hội Hang động Quảng Bình năm 2017… đã có rất nhiều du khách trong và ngoài nước tham dự
Bảng 2.1: Cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch ở Quảng Bình 2012 - 2017
Đvt: Cơ sở kinh doanh
Năm Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015 2016 2017
1 Cơ sở lưu trú 252 263 270 280 287 297 1.1 Khách sạn 50 52 55 61 71 79 1.2 Nhà nghĩ, nhà khách 22 26 27 29 42 43 1.3 Loại cơ sở lưu trú khác 160 165 167 168 151 151 1.4 Loại cơ sở lưu trú không xếp hạng 20 20 21 22 23 24
2 Đơn vị lữ hành* 22 25 27 28 31 36 2.1 Đơn vị lữ hành quốc tế 1 2 3 4 5 10 2.2 Đơn vị lữ hành nội địa 22 23 23 24 26 26
3 Kinh doanh dịch vụ ăn, uống (F&B)
- Cơ sở ăn uống có phục vụ khách du lịch
17
6.166 3.000
21
Nguồn: Sở du lịch & Niên giám thống kê Quảng Bình 2012,2013,2014,2015, 2016, 2017
Cơ sở kinh doanh trong ngành du lịch tỉnh Quảng Bình trong những năm vừa qua
có sự biến động không lớn, đặc biệt năm 2017 so với năm 2016 sự gia tăng lên về cơ
Trang 39sở lưu trú không quá cao như năm 2016 cơ sở kinh doanh lưu trú là 287 cơ sở qua năm
2017 cơ sở kinh doanh lưu trú chỉ tăng thêm 10 cơ sở.Bên cạnh đó, ngành du lịch hiện
có 36 đơn vị lữ hành đăng ký hoạt động, gồm 10 đơn vị lữ hành quốc tế và 26 đơn vị
lữ hành nội địa; 20 nhà hàng được công nhận đạt chuẩn phục vụ khách du lịch và 15 khu, tuyến, điểm tham quan du lịch được du khách trong nước, quốc tế lựa chọn và đánh giá cao; hơn 30 xe điện phục vụ khách tham quan và City tour; nhiều quán cà phê, karaoke sang trọng, hiện đại Kinh doanh dịch vụ ăn uống tính đến năm 2017 Theo thống kê của Sở Du lịch, trên địa bàn tỉnh có 21 nhà hàng được cấp biển hiệu đạt chuẩn phục vụ khách du lịch, tuy nhiên nhà hàng đạt chuẩn phục vụ khách du lịch ở Quảng Bình hiện còn quá ít so với số nhà hàng có trong toàn tỉnh (khoảng 3.000 nhà hàng) tức là không có sự biến động rõ rệt so với năm 2016 tốc độ tăng chỉ là 0%
Bảng 2.2: Số lƣợng khách tham quan đến Quảng Bình giai đoạn 2015 - 2017
Năm Chỉ tiêu 2015 2016 2017
Tổng lượt khách du lịch (lượt) 2.825.961 2.029.677 3.300.000
1 Khách du lịch trong nước (lượt) 2.779.537 1.990.976 3.200.000
2 Khách du lịch quốc tế (lượt) 46.424 38.701 100.000
Nguồn: Báo cáo Sở Du lịch tỉnh Quảng Bình năm 2017
Trong những năm từ 2015-2017 tổng lượt khách du lịch đến tỉnh Quảng Bình có
sự biến động rõ rệt, cụ thể năm 2016 là một năm đầy khó khăn khi tổng lượt khách du lịch đến tỉnh Quảng Bình chỉ đạt 2029677 giảm 796284 lượt khách so vơi với năm
2015 (2825962 lượt khách) Năm 2016, phải nói là năm “đại hoạ” của tỉnh Quảng Bình khi sự cố môi trường biển và 2 trận lũ lụt kép những tháng cuối năm đã làm cho các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của địa phương bị sụt giảm nghiêm trọng, trong đó ngành
du lịch của tỉnh cũng bị thiệt hại đáng kể.Vượt qua một năm 2016 đầy khó khăn, trong
năm 2017, du lịch Quảng Bình đã có sự phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ với nhiều kết quả tích cực Tổng số lượt khách đến với tỉnh năm 2017 ước đạt 3,3 triệu lượt (vượt 10% so với chỉ tiêu kế hoạch), tăng 62,59% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc
tế ước đạt: 100.000 lượt, tăng gần 150% so với cùng kỳ
Trang 40Bảng 2.3: Doanh thu của ngành du lịch Quảng Bình
ĐVT: Tỷ đồng
Năm Chỉ tiêu 2015 2016 2017
Tổng doanh thu của ngành du lịch 3.300 2.442 3.706,3
tế ước đạt: 100.000 lượt, tăng gần 120% so với cùng kỳ Tổng thu từ khách du lịch ước
đạt: 3.706,3 tỷ đồng, doanh thu chuyên ngành du lịch ước đạt 621,37 tỷ đồng
Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 toàn tỉnh đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả của sự cố môi trường biển, 2 trận lũ năm 2016
và ảnh hưởng nặng nề do cơn bão số 10 xảy ra trong tháng 9 năm 2017 Tình hình phát triển các loại hình kinh doanh của tỉnh Quảng Bình trong những năm qua có sự thay đổi rõ ràng, nhất là sự lên nhanh chóng từ năm 2017, mức doanh thu cuả các chỉ tiêu đều tăng cụ thể cơ sở lưu trú năm 2017 tăng 55% so với cùng kỳ năm ngoái (tăng 42.191,4 triệu đồng), đơn vị lữ hành cũng như cơ sở kinh doanh cũng tăng lên hơn 16% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt lên sự cố biển năm 2016 thì năm 2017 tổng tình hình phát triển các loại hình kinh doanh tăng 18,3% (tăng 302.181 triệu đồng)
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tại vùng nghiên cứu
2.2.1 Tình hình chung huyện Bố Trạch
Vị trí địa lý kinh tế: Huyện Bố Trạch là một trong tám đơn vị hành chính cấp
huyện của tỉnh Quảng Bình, nằm ngay cửa ngõ phía Bắc thành phố Đồng Hới, có diện tích trải rộng từ Tây sang Đông chiếm toàn bộ chiều ngang của Việt Nam, vừa tiếp giáp với biển Đông vừa tiếp giáp đường biên giới giữa Việt Nam và Lào Hơn nữa, Bố Trạch còn có cửa khẩu Cà Roòng - Noọng Ma (Việt Nam - Lào), có cảng Gianh, danh thắng nổi tiếng Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận di