1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị

145 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 4,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi có luật Hợp tác xã HTX năm 2012 ra đời, các HTXNN ở huyện Vĩnh Linh đã có sự chuyển biến quan trọng cả về nhận thức và chất lượng hoạt động dịch vụ, đáp ứng đáng kể nhu cầu của nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ LIÊN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS PHAN THANH HOÀN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHAN THỊ LIÊN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8 31 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS PHAN THANH HOÀN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự vi phạm tôi sẽ bị xử

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp

đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân Tất cả đều là những sự giúp đỡ quý báu mà tôi biết

ơn sâu sắc

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phan Thanh Hoàn đã hướng dẫn nhiệt tình

chu đáo và đóng góp ý kiến vô cùng quý giá để tôi có thể hoàn thiện luận văn Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế cung cấp những kiến thức cần thiết giúp tôi phục vụ cho học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực tế vào nghiên cứu luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến UBND huyện Vĩnh Linh, UBND các xã thuộc huyện và các cơ quan liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, điều tra, thu thập các số liệu cần thiết để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi có điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn./

Quảng Trị, tháng 3 năm 2019

Trang 5

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: PHAN THỊ LIÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Định hướng đào tạo: Ứng dụng

Mã số: 8340410 Niên khóa: 2017-2019

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THANH HOÀN

Tên đề tài: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC

XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LINH,

TỈNH QUẢNG TRỊ

1 Mục đích và đối tượng nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, nghiên cứu thực trạng và giải pháp về chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập số liệu; phương pháp điều tra chọn mẫu; thống kê mô

tả, kiểm định, bằng phần mềm SPSS Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, thống kê, quy nạp, vận dụng lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ và đảm bảo tính khoa học đối với các vấn đề luận văn đề cập

3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Luận văn đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2016-

2018 để thấy được những hạn chế, tồn tại đối với chất lượng của dịch vụ HTXNN đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Ngoài ra, luận văn cũng đã đưa ra một số kiến nghị với Trung ương và địa phương về các giải pháp nâng cao chất lượng HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu luận văn 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 6

1.1.Lý luận về dịch vụ 6

1.1.1.Khái niệm dịch vụ 6

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ 7

1.2 Lý luận về HTX và HTXNN 8

1.2.1 Khái niệm HTX, HTXNN 8

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của HTX 10

1.2.3 Đặc điểm của HTX 12

1.2.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX 14

1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp 15

1.2.6 Các mô hình HTXNN ở Việt Nam 18

1.3 CLDV và CLDV của HTXNN 19

1.3.1 Khái niệm CLDV, CLDV của HTXNN 19

I H ỌC

KINH

Trang 8

1.3.2 Đặc điểm dịch vụ nông nghiệp của các HTXNN 21

1.3.3 Nội dung thể hiện CLDV của các HTXNN 23

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLDV của các HTXNN 26

1.4.1 Các nhân tố bên ngoài 26

1.4.2 Các nhân tố bên trong 28

1.5 Các tiêu chí đánh giá CLDV của HTXNN 30

1.5.1 Doanh thu và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của HTX 30

1.5.2 Vốn hoạt động của hợp tác xã 31

1.5.3 Mức độ hài lòng của thành viên đối với HTX 31

1.6 Kinh nghiệm trong nâng cao CLDV của các HTXNN 31

1.6.1 Kinh nghiệm của HTXNN của HTX Bình Định, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình 31

1.6.2 Kinh nghiệm của HTX thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định 33

1.6.3 Kinh nghiệm của HTXNN Triệu Thuận, Triệu Phong, Quảng Trị 34

1.6.4 Kinh nghiệm trong nâng cao CLDV rút ra cho các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 37

2.1 Tình hình cơ bản của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

2.1.2 Điều kiện kinh tế 39

2.1.3 Cơ sở hạ tầng 40

2.1.4 Đặc điểm xã hội 41

2.2 Thực trạng hoạt động của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 42

2.2.1 Số lượng HTX trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 42

2.2.2 Phân loại HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 44

2.2.3 Cơ cấu tổ chức của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 46

I H ỌC

KINH

Trang 9

2.2.4 Số lượng thành viên của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh

Quảng Trị 47

2.2.5 Thông tin về cán bộ quản lý và giúp việc của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 49

2.2.6 Nguồn vốn của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 52 2.2.8 Kết quả hoạt động kinh doanh của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh 54

2.3 Thực trạng chất lượng dịch vụ của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh 55

2.3.1 Các dịch vụ chủ yếu của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 55

2.3.2 Phương thức tổ chức thực hiện dịch vụ 59

2.3.3 Chất lượng dịch vụ của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 61

2.4 Đánh giá của đối tượng điều tra về chất lượng dịch vụ của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 70

2.4.1 Thông tin cơ bản đối tượng điều tra 70

2.4.2 Đặc điểm sử dụng dịch vụ của các thành viên HTNXX trên địa bàn huyện Vĩnh Linh 71

2.4.3 Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về chất lượng dịch vụ của các HXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 73

2.5 Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 83

2.5.1 Kết quả đạt được 83

2.5.2 Hạn chế 84

2.5.3 Nguyên nhân hạn chế 85

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 87

I H ỌC

KINH

Trang 10

3.1 Phương hướng, mục tiêu nâng cao CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện

Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 87

3.1.1 Phương hướng 87

3.1.2 Mục tiêu 87

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 88

3.2.1 Giải pháp giành riêng cho từng dịch vụ 88

3.2.2 Tăng cường nguồn vốn cho HTXNN 90

3.2.3 Xây dựng phương án kinh doanh dịch vụ hiệu quả 91

3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các mô hình HTXNN hoạt động dịch vụ có hiệu quả 92

3.2.5 Nâng cao chất lượng cán bộ HTX 92

3.2.6 Nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với CLDV của các HTXNN 93

3.2.7 Kiện toàn bộ máy tổ chức HTX 94

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

1.Kết luận 96

2 Kiến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 1 101

PHỤ LỤC 2 106

PHỤ LỤC 3 108

SỐ LIỆU SPSS 108 Quyết định hội đồng chấm luận văn

Nhận xét của phản biện 1 và 2

Biên bản hội đồng chấm luận văn

Bản giải trình chỉnh sửa

Xác nhận hoàn thiện

I H ỌC

KINH

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Cơ cấu mẫu điều tra 4Bảng 2.1: Giá trị sản xuất huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2016-2018 39Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2016-2018 41Bảng 2.3: Phân loại HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai

đoạn 2016-2018 44Bảng 2.4: Số lượng thành viên của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 48Bảng 2.5: Thông tin về cán bộ quản lý và giúp việc của các HTXNN trên địa bàn

huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 50Bảng 2.6: Quy mô vốn bình quân của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 53Bảng 2.7: Kết quả hoạt động kinh doanh bình quân của các HTXNN trên địa bàn

huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 54Bảng 2 8: Các dịch vụ chủ yếu của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 56Bảng 2.9: Kết quả hoạt động dịch vụ tưới tiêu và thủy lợi nội đồng bình quân của các

HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn

2016-2018 62Bảng 2.10: Kết quả hoạt động dịch vụ bảo vệ thực vật bình quân của các HTXNN

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 64Bảng 2.11: Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón bình quân của các

HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn

2016-2018 65Bảng 2.12: Kết quả hoạt động dịch vụ bảo vệ hoa lợi xã viên bình quân của các

HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn

2016-2018 67Bảng 2.13: Kết quả hoạt động dịch vụ thu mua nông sản bình quân của các TXNN

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2016-2018 68

Trang 12

Bảng 2.14: Kết quả hoạt động dịch vụ tín dụng cho thành viên bình quân của các

HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

giai đoạn 2016-2018 69Bảng 2.15: Thông tin cơ bản của đối tượng phỏng vấn 71Bảng 2.16: Mức độ sử dụng dịch vụ tưới tiêu và thủy lợi nội đồng của các HTXNN

trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 72Bảng 2.17: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về chất lượng dịch vụ Tưới tiêu và

thủy lợi nội đồng 73Bảng 2.18: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về chất lượng dịch vụ bảo vệ thực

vật 74Bảng 2.19: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về dịch vụ cung ứng vật tư,

phân bón 75Bảng 2.20: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về dịch vụ bảo vệ hoa lợi xã viên 76Bảng 2.21: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về dịch vụ thu mua nông sản 77Bảng 2.22: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về dịch vụ tín dụng cho

thành viên 78Bảng 2.23: Đánh giá của đối tượng phỏng vấn về giá cả của từng dịch vụ 79Bảng 2.24: Đánh giá của đối tượng điều tra về công tác tổ chức quản lý, điều hành

và năng lực của HĐQT của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 80Bảng 2.25: Đánh giá của chung của đối tượng phỏng vấn về chất lượng dịch vụ 82

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Huyện Vĩnh Linh là một trong những huyện có nền nông nghiệp phát triển của tỉnh Quảng Trị với 57 hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) hoạt động Từ khi có luật Hợp tác xã (HTX) năm 2012 ra đời, các HTXNN ở huyện Vĩnh Linh đã có sự chuyển biến quan trọng cả về nhận thức và chất lượng hoạt động dịch vụ, đáp ứng đáng kể nhu cầu của những người lao động, thành viên Các HTX hoạt động theo

mô hình HTX kiểu mới đã thay đổi cơ bản phương thức quản lý, điều hành, hoạt động Vì vậy, số HTXNN hoạt động tốt có xu hướng ngày càng tăng lên Nhiều HTX năng động, nhạy bén trong cơ chế thị trường, xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh hợp lý và ngày càng hoạt động có kết quả tốt

Các HTXNN ở huyện Vĩnh Linh đã góp phần không nhỏ trong việc trợ giúp nông hộ về dịch vụ như: cung ứng vật tư, phân bón; giống cây trồng; tưới tiêu và thuỷ lợi nội đồng; dịch vụ bảo vệ thực vật; dịch vụ làm đất; dịch vụ bảo vệ đồng…Chính vì vậy, nền nông nghiệp của huyện Vĩnh Linh ngày càng khởi sắc và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Mặc dù vậy, bên cạnh các HTX hoạt động dịch vụ tốt thì vẫn còn nhiều HTX trên địa bàn huyện Vĩnh Linh vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: số HTX làm ăn có hiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho thành viên chưa cao, chưa đóng góp nhiều vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương; tính hình thức trong chuyển đổi HTX theo Luật Hợp tác xã chưa được khắc phục căn bản; nhiều HTX quy mô nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, khả năng cạnh tranh thấp, chậm đổi mới Những tồn tại và khó khăn này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của khu vực HTX: số lượng HTX khá giỏi tăng chưa nhiều, nhiều HTX hoạt động cầm chừng và yếu kém đi; không ít HTX mới chỉ làm được dịch vụ đầu vào, còn bỏ trống khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp tín dụng cho xã viên, chưa mạnh dạn thực hiện liên doanh, liên kết để mở thêm nhiều ngành nghề mới

Có thực trạng nêu trên là do chất lượng dịch vụ (CLDV) của HTX chưa cao, dẫn đến khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần còn gặp nhiều hạn chế, một bộ

Trang 15

phận không nhỏ hộ nông dân không mặn mà với cách thức làm dịch vụ của HTX; bên cạnh đó nguồn vốn hoạt động, trình độ quản lý, điều hành còn hạn chế Trong khi đó, kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện đã có bước phát triển mới về quy

mô, tính chất và hiệu quả, ngày càng xuất hiện nhiều hộ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp giỏi theo mô hình trang trại, bắt đầu chuyển sang xu hướng sản xuất hàng hóa và có nhu cầu liên kết, hợp tác với nhau để tự bảo vệ và phát triển kinh tế của mình, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa trong cơ chế thị trường; mặt khác một số tổ chức, tư thương vùng lân cận luôn mở rộng, phát triển thị phần cung ứng một số dịch vụ do HTX đảm trách như các loại vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, máy làm đất

CLDV có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của HTXNN trong môi trường kinh doanh đang diễn biến ngày càng phức tạp Một HTXNN có chất lượng dịch vụ được người sử dụng đánh giá cao sẽ giúp HTX củng

cố được vị trí của mình, tăng khả năng cạnh tranh với các loại hình kinh tế khác Nâng cao chất lượng dịch vụ là nội dung quan trọng và cần thiết trong điều hành, hoạt động của HTX

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh của các HTXNN, thúc đẩy kinh tế hộ phát triển rất cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ của HTXNN trên địa bàn huyện

Từ những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”

làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

- Phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về CLDV của các HTXNN

- Đánh giá thực trạng CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Trang 16

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: đánh giá thực trạng CLDV của các HTXNN giai đoạn

2016 – 2018, điều tra trong năm 2018 và đề xuất giải pháp nâng cao CLDV trong giai đoạn tiếp theo

- Phạm vi không gian: thực hiện nghiên cứu trên địa bàn huyện Vĩnh Linh,

tỉnh Quảng Trị

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Để phục vụ công tác nghiên cứu, tác giả đã sử dụng nguồn thông tin và số liệu thứ cấp tại các báo cáo đã có sẵn từ các cơ quan: UBND huyện Vĩnh Linh, UBND các xã, các HTXNN trên địa bàn huyện và các cơ quan tổ chức liên quan nhằm tổng hợp, phân tích và kết hợp theo từng mục tiêu, nội dung cụ thể của đề tài

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

+ Phương pháp chọn mẫu

Theo thống kê tại thời điểm ngày 31/10/2018, trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có 11.957 thành viên thuộc 57 HTXNN trên địa bàn, với độ tin cậy chính xác là 90%, sai số lệch chuẩn là ±10% Do biết được tổng thể nên xác định kích cỡ mẫu tối thiểu theo công thức chọn mẫu của Slovin:

N/[1+N(e 2 )] = 11.957/[1+11.957(10% 2 )]= 99

Kích thước mẫu tối thiểu theo công thức ở trên là 99 mẫu, dựa vào kết quả này

và trong khuôn khổ thời gian cho phép cũng như khả năng có thể tiếp cận, để tăng

độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất kích thước mẫu được chọn để

Trang 17

điều tra là 300 mẫu, lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn Tác giả căn cứ vào phân tổ thành viên của các HXT từ đó chọn ra số lượng thành viên phù hơp đối với mỗi nhóm HTX Cụ thể ở bảng sau đây

Bảng 1 Cơ cấu mẫu điều tra Tổng

HTXNN Tỷ lệ

Tổng số thành viên được phỏng vấn

Tác giả chọn 16 thành viên thuộc 3 HTXNN có quy mô dưới 16 thành viên,

105 thành viên thuộc 20 HTX có quy mô từ 30-<100 thành viên, 179 thành viên thuộc 34 HTX có quy mô từ 100-<500 thành viên trên địa bàn huyện Vĩnh Linh Số lượng thành viên trong mỗi nhóm được đều ở mỗi HTX và nhưng có sự chênh lệch cho đủ số lượng phỏng vấn

Như vậy, tác giả tiến hành điều tra CLDV do các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh thông qua việc tiến hành điều tra phỏng vấn 300 người bao gồm thành viên của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, trong đó có những người thuộc

bộ máy quản lý và giúp việc và thành viên còn lại Tác giả gửi bảng câu hỏi đến từng HTX và thu lại bảng câu hỏi trực tiếp với sự hỗ trợ của các Giám đốc HTX, vì vậy số phiếu thu về đủ 300 phiếu

4.2 Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ số tuyệt đối, số tương đối và

số bình quân để làm rõ các đặc trưng cơ bản của vấn đề nghiên cứu nhằm đánh giá

Trang 18

CLDV của các HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, giai đoạn 2015-2017

- Phương pháp so sánh: So sánh theo thời gian để thấy được mức độ biến động, tăng trưởng của dịch vụ do HTXNN trên địa bàn huyện Vĩnh Linh cung cấp

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp

Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Trang 19

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG

DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

1.1.Lý luận về dịch vụ

1.1.1.Khái niệm dịch vụ

Có nhiều khái niệm về dịch vụ, theo từ điển tiếng Việt (2004): “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [18]

Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [11]

Tác giả Nguyễn Văn Thanh cho rằng:“Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”[8]

Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là những hoạt động lao động tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thế, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người

Bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào cũng đều hình thành những hệ

thống cung ứng về dịch vụ của mình Không có các hệ thống này thì không thể c

các dịch vụ Mỗi loại dịch vụ cụ thể đều gắn liền với mỗi hệ thống cung ứng nhất định Hệ thống này lại gắn kết với những ý tưởng, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp và mức độ cung ứng dịch vụ cho khách hàng Chính vì vậy khi đề cập đến dịch vụ không thể không nói đến hệ thống cung cấp dịch vụ Hệ thống cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố vật chất và con người được tổ chức chặt chẽ theo

Trang 20

một hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ một cách có hiệu quả Các yếu tố trong hệ thống bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, người cung ứng dịch vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn tới sự thay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ Hệ thống bao hàm quá trình hoạt động có định hướng, bao gồm các yếu tố vô hình và hữu hình, các yếu tố vật chất và tâm lý tình cảm đan xen nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ

Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có một số đặc thù, tính chất giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, và chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận thấy bằng mắt thường được Peter & Angela (2006) cho rằng dịch vụ có bốn đặc trưng cơ bản: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không lưu trữ và tính không thể chia tách

Tính vô hình: không tồn tại dưới dạng vật chất, dịch vụ không có hình hài

Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trước khi được sử dụng Dịch vụ không thể cấp bằng sáng chế và dịch vụ không thể trưng bày hay quảng bá

Tính không chia cắt được (không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ

thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất

và quá trình tiêu dùng phải đồng thời diễn ra Thiếu mặt này thì không có mặt kia,

do vậy dịch vụ không thể chuyển giao quyền sở hữu

Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất,

điều này cũng có nghĩa hầu hết người cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với người tiêu dùng ở một mức độ nào đó và được khách hàng cảm nhận đó như là một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó Vì tính chất này nên rất khó để đánh

giá được chất lượng dịch vụ

Tính không lưu trữ được: Dịch vụ không được lập kho để lưu trữ như hàng

hóa được Hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ được ấn định trong ngày Công suất chỉ trở

Trang 21

nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ Mỗi dịch vụ chỉ được tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại Dịch vụ bị giới hạn bởi

thời gian và không gian

Ngoài các tính chất trên, dịch vụ có thể được mô tả với các thuộc tính như sau:

Thiếu tính chất có thể chuyên chở được: Dịch vụ phải được tiêu thụ tại nơi

“sản xuất” dịch vụ

Thiếu tính đồng nhất: Dịch vụ thường được sửa đổi để phù hợp cho mỗi khách hàng Việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ Cả việc nhập và xuất của quá trình cung cấp dịch vụ thì rất dễ biến đổi cũng như các mối quan hệ của quá trình này nên rất khó duy trì chất lượng đồng nhất

Yếu tố nhân lực: Dịch vụ bao gồm đáng kể các hoạt động của con người, hơn

là các quá trình được định ra một cách chính xác Vì vậy quản trị nhân lực trong kinh doanh dịch vụ là rất quan trọng, nhân tố con người thường là nhân tố then chốt mang lại sự thành công trong ngành dịch vụ

Biến động nhu cầu: Rất khó để dự đoán nhu cầu, nhu cầu dịch vụ có thể thay đổi theo mùa, thời gian trong ngày, chu kỳ kinh doanh

Phải có mặt người mua dịch vụ: Hầu hết việc kinh doanh dịch vụ đều đòi hỏi phải có mức độ tương tác cao giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ

Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp,

hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích

Trang 22

của mỗi thành viên Kinh tế hợp tác có hai hình thức, đó là tổ hợp tác (hợp tác giản đơn) và HTX

HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau Năm 1942, Ivan Emelianoff, một nhà nghiên cứu về HTX nhận xét rằng sự đa dạng của HTX là muôn màu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể Ngày nay, HTX có mặt ở hầu hết các quốc gia và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về HTX

Liên minh HTX quốc tế (International cooperrative alliance - ICA) được thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, đã định nghĩa HTX như sau: HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một

xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ; Năm 1995, định nghĩa này đã được hoàn thiện: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội

và quan tâm chăm sóc người khác

Tổ chức Lao động quốc tế (International Labuor Organization - ILO) định nghĩa "HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ,

sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách

sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung"

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng như sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động của các mô hình HTX ở các nước trên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung, đó là: HTX là một

tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình) Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tương trợ, giúp đỡ

Trang 23

cộng đồng Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX

Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX, Luật TX năm 1996 ra đời, Luật HTX năm 2003, sau đó được thay thế bởi Luật HTX năm 2012 (có hiệu lực từ 01/7/2013) Theo đó, "HTX là một

tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là

xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo qui định của pháp luật

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của HTX

Theo Điều 29 Luật Hợp tác xã 2012, cơ cấu tổ chức hợp tác xã gồm đại hội thành viên, HĐQT, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên [13]

a, Đại hội thành viên

Đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã Đại hội thành viên gồm đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu

Đại hội thành viên thường niên phải được họp trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính do HĐQT triệu tập

Đại hội thành viên bất thường do HĐQT, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên hoặc thành viên đại diện của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên triệu tập theo quy định

Trang 24

chủ tịch và thành viên, số lượng thành viên HĐQT do điều lệ quy định nhưng tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người

c, Chủ tịch Hôi đồng quản trị

Là người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và có

quyền hạn, nghĩa vụ lập chương trình, kế hoạch hoạt động của HĐQT và phân công nhiệm vụ cho các thành viên HĐQT; Chuẩn bị nội dung, chương trình, triệu tập và chủ trì cuộc họp của HĐQT, đại hội thành viên trừ trường hợp Luật Hợp tác xã

2012 hoặc điều lệ có quy định khác; Chịu trách nhiệm trước đại hội thành viên và HĐQT về nhiệm vụ được giao; Ký văn bản của HĐQT theo quy định của pháp luật

và điều lệ; Thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Hợp tác

ủy quyền của chủ tịch HĐQT; Trình HĐQT báo cáo tài chính hằng năm; Xây dựng phương án tổ chức bộ phận giúp việc, đơn vị trực thuộc của hợp tác xã trình HĐQT quyết định; Tuyển dụng lao động theo quyết định của HĐQT; Thực hiện quyền hạn

và nhiệm vụ khác được quy định tại điều lệ, quy chế của hợp tác xã

Trường hợp giám đốc (tổng giám đốc) do hợp tác xã thuê thì ngoài việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ quy định nêu trên còn phải thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo hợp đồng lao động và có thể được mời tham gia cuộc họp đại hội thành viên, HĐQT

e Ban Kiểm soát

Hợp tác xã có từ 30 thành viên trở lên phải bầu ban kiểm soát Đối với hợp tác

xã có dưới 30 thành viên việc thành lập ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do điều

Trang 25

Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật và điều lệ Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do đại hội thành viên bầu trực tiếp trong số thành viên, đại diện hợp tác xã thành viên theo thể thức bỏ phiếu kín Số lượng thành viên ban kiểm soát do đại hội thành viên quyết định nhưng không quá 07 người

Nhiệm kỳ của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo nhiệm kỳ của HĐQT

1.2.3 Đặc điểm của HTX

Từ khi có luật Hợp tác xã mới năm 2012 ra đời, đặc điểm của HTX có những thay đổi thích hợp so với HTX kiểu cũ Hiện tại, HTX có những đặc điểm sau: Thứ nhất, thành viên HTX bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, liên kết rộng rãi những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, cả người có ít vốn và người có nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ; cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách là xã viên HTX không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, chỉ làm những gì

mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được, hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển

Thứ hai, sở hữu của HTX là sở hữu đan xen, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, HTX không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên, mà tôn trọng sở hữu của các thành viên; Sở hữu tập thể bao gồm các loại quỹ không chia, các tài sản hình thành do quá trình tích luỹ của HTX tạo nên và tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng làm tài sản không chia

Thứ ba, tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn, trừ một số lĩnh vực có quy định riêng HTX hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường, liên doanh liên kết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế

Thứ tư, về mặt quản lý, có sự phân biệt rõ chức năng quản lý của ban quản trị

và chức năng điều hành của giám đốc HTX Thành viên ban quản trị nhất thiết phải

là thành viên HTX, do đại hội thành viên bầu Giám đốc HTX có thể là thành viên

Trang 26

hoặc người ngoài HTX do ban quản trị thuê, hoạt động như một giám đốc điều hành Đây là điểm quan trọng tạo điều kiện để HTX có thể có đội ngũ cán bộ điều hành chuyên nghiệp, nhờ đó có thể nâng cao được hiệu quả quản lý của HTX trong tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình

Thứ năm, hình thức phân phối trong HTX vừa theo lao động, vừa theo vốn góp cổ phần và theo mức độ tham gia dịch vụ HTX là một tổ chức kinh tế, hoạt động lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên

Thứ sáu, mô hình HTX rất linh hoạt và đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành; với nhiều trình độ phát triển, từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành viên, đến mở mang ngành nghề, vươn lên sản xuất kinh doanh tổng hợp và hình thành được các doanh nghiệp của HTX; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX

Với những đặc điểm trên, HTX kiểu mới hoàn toàn khác HTX kiểu cũ được xây dựng trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trước đây (có các đặc trưng là tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, không thừa nhận vai trò của kinh tế hộ, phủ nhận vai trò kinh tế hàng hóa, tổ chức theo địa giới hành chính, sản xuất mang tính chất tập thể hóa, tập trung, phân phối theo ngày công lao động, thực hiện quá nhiều nghĩa vụ xã hội và mô hình được thực hiện đồng loạt trong cả nước, ít chú ý đến đặc điểm riêng của từng vùng, từng ngành)

HTX kiểu mới cũng khác với công ty cổ phần HTX được thành lập do các thành viên tự nguyện tập hợp, liên kết nhau lại để cùng kinh doanh hoặc hỗ trợ nhau kinh doanh; mỗi thành viên, dù góp ít hay nhiều vốn đều bình đẳng với nhau trong quyết định các vấn đề chung của HTX, với nguyên tắc cơ bản là mỗi người một lá phiếu (nguyên tắc đối nhân) Trong khi đó, công ty cổ phần do các nhà đầu tư đứng

ra thành lập, tổ chức hoạt động lấy mục tiêu là lợi nhuận, các thành viên của công ty (các cổ đông) chỉ có quyền tham gia quyết định các vấn đề của công ty theo mức độ góp vốn (nguyên tắc đối vốn) Phân phối trong các công ty cổ phần là theo tỷ lệ vốn góp; còn HTX thì vừa phân phối theo vốn góp, vừa phân phối theo lao động và theo

Trang 27

mức độ tham gia các dịch vụ Nếu công ty cổ phần chỉ chịu tác động của thiết chế nhà nước và cơ chế thị trường, thì HTX còn chịu tác động của thiết chế cộng đồng

1.2.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX

HTX có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau:

Thứ nhất, tham gia HTX là tự nguyện Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có

đủ điều kiện theo quy định của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX; không ai, không tổ chức nào có thể bắt buộc người dân tham gia HTX;

xã viên có quyền ra HTX theo qui định của Điều lệ HTX Tự nguyện là nguyên tắc đầu tiên của HTX Xã viên không chịu bất kỳ áp buộc nào

Thứ hai, HTX hoạt động dân chủ, bình đẳng, công khai Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai kết quả hoạt động, phương hướng sản xuất, kinh doanh, việc trích lập các quỹ; chia lãi theo vốn góp, theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; các đóng góp xã hội; các quyền lợi, nghĩa vụ của từng xã viên, trừ những vấn đề thuộc

về bí mật kinh doanh, bí quyết công nghệ sản xuất do Đại hội xã viên quy định

Ở HTX, trước khi thành lập, tất cả xã viên đều hiểu biết rõ ràng nhu cầu chung của mình về kinh tế, văn hóa, xã hội; HTX đáp ứng nhu cầu chung đó (thông qua cung cấp sản phẩm hay dịch vụ chung) có hiệu quả hơn so với từng xã viên tự mình đáp ứng Phương án hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX chính là phương án tổ chức hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ chung cho mọi xã viên Mọi xã viên đều có quyền như nhau bàn bạc về việc thực hiện phương án sao cho có hiệu quả nhất Đến khi thành lập HTX, mọi xã viên phải góp vốn dù ít hay nhiều Khi sử dụng dịch vụ của HTX, xã viên có thể tiêu dùng nhiều ít khác nhau, nhưng xã viên nào cũng được lợi Phần thu nhập còn lại được đưa vào quỹ phúc lợi và quỹ phát triển của HTX mang lại lợi ích chung cho cộng đồng xã viên và mỗi xã viên đều được hưởng một cách bình đẳng Với cách thức như vậy, rõ ràng HTX được quản lý một cách dân chủ bởi tất cả xã viên; mỗi xã viên có một phiếu biểu quyết như nhau; mọi vấn đề của HTX đều được công khai, minh bạch trước xã viên

Trang 28

Thứ ba, HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thu nhập; lập và mức trích lập các quỹ; mức tiền công, tiền lương đối với những người làm việc cho HTX; Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX

Xét cho cùng, HTX là tổ chức kinh tế tự quản của xã viên, mang lại lợi ích cho

xã viên, tự chủ về tài chính thì đương nhiên tự chủ về hoạt động và trong mọi quyết định của mình Không cá nhân, tổ chức nào có thể can thiệp vào công việc nội bộ của HTX Ngay cả khi Chính phủ hoặc các tổ chức khác hỗ trợ HTX thì vẫn phải tôn trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự quyết định của HTX Một khi nguyên tắc này bị phá vỡ thì HTX không thể tồn tại, nếu có thì chỉ tồn tại về mặt hình thức

1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp

a, Sự cần thiết

Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bệnh phá hoại Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác mang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm đáp ứng yêu cầu thời

vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng lẻ không có hiệu quả

Khi nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, như dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thủy lợi Nếu từng hộ nông dân

tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không

đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp hơn so với hợp tác Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, dẫn đến hình thành dịch vụ HTX

Trang 29

Ở nước ta, sau khi hộ nông dân được xác định là hộ kinh tế tự chủ, giờ đây, họ đang đứng trước nhu cầu phải tổ chức lại để tạo nên sức mạnh mới trong điều kiện mới là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nói cách khác, họ đã và đang cần những hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết kinh tế phù hợp, có hiệu quả nhằm tự bảo vệ và phát triển kinh tế của mình, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa Bởi vì, khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, do tính phức tạp của sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác để cùng tồn tại và phát triển Trong sản xuất hàng hóa, tuy đã là hộ tự chủ nhưng bản thân nông

hộ luôn đứng trước những giới hạn trong việc góp sức, góp vốn kinh doanh, tìm hiểu thị trường và tiêu thụ sản phẩm, nghĩa là họ cần được hỗ trợ cả các dịch vụ đầu vào và đầu ra Mặt khác, phát triển nông nghiệp hàng hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và mở cửa nền kinh tế, đòi hỏi phải có sự hợp tác, liên doanh, liên kết của nhiều lực lượng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ, từ nghiên cứu - ứng dụng, triển khai các thành tựu, quy trình khoa học và công nghệ, biến người nông dân không chỉ là những ông chủ nhỏ với lợi ích nhiều hơn mà còn kết hợp được hài hòa với lợi ích của các thành phần kinh tế, với lợi ích kinh tế của Nhà nước

Như vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan

hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn

b, Vai trò của dịch vụ HXT trong nông nghiệp

Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, một lực lượng lớn cư dân và người lao động nhỏ lẻ vì nhiều lý do họ không thể tham gia, không thể cạnh tranh với hai khu vực nêu trên Do đó, họ tự tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình hộ cá thể Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và tiến bộ khoa học

kỹ thuật, họ phải liên kết lại với nhau, một mặt nhằm tăng năng lực cạnh tranh, mặt khác giảm chi phí nhờ hiệu ứng quy mô Dịch vụ HTXNN có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ nói riêng trong

Trang 30

quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò

đó thể hiện ở những mặt sau:

Một là, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp trong tiến trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Các HTXNN có tác động tích cực đến việc hỗ trợ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo ra mối liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường, khai thác các tiềm năng về vốn, kỹ thuật, để phát triển các ngành nghề, đa dạng hóa kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ nông dân, xã viên với nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước, tăng cường mối quan hệ liên minh công nông về kinh tế

Mặt khác, hiện nay sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, phân tán, các hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp còn nhiều bất cập, bởi vậy phát huy vai trò hỗ trợ, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tín dụng nội bộ của HTX nông nghiệp để giúp đỡ các hộ nông dân sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường

Hai là, góp phần mở rộng thị trường nông sản Cùng với quá trình phát triển

sản xuất hàng hoá của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nông sản hàng hoá ở nông thôn, nhất là các vùng chuyên canh và các hộ trang trại ngày càng tăng lên đòi hỏi tăng cường khâu tổ chức sản xuất, chế biến nông lâm sản để tăng thêm giá trị kinh tế, nâng cao chất lượng, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, giảm thiểu rủi ro và sự chèn ép của tư thương, không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn hướng ra xuất khẩu

Ba là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động trên địa bàn

nông thôn Phát triển các HTXNN sẽ góp phần phát triển các ngành nghề nông thôn, bao gồm các ngành nghề nông lâm thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, đan lát gốm sứ; Khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nông thôn, dịch vụ thương mại, cung ứng vật tư hàng hoá phục vụ sản xuất đời sống, tiêu thụ sản phẩm của nông dân Trong quá trình hình thành và phát triển các ngành nghề nông thôn sẽ sử dụng một số lượng nông dân đáng kể, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân vùng nông thôn

Trang 31

Bốn là, góp phần tiếp nhận khoa học công nghệ, thiết bị hiện đại vào các khâu

sản xuất nông nghiệp Khoa học công nghệ là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng kinh tế hộ gia đình, các cá nhân xét về cơ sở vật chất kĩ thuật ở khu vực nông thôn còn rất nhỏ bé, chỉ có thành lập HTXNN mới tập hợp được sự đóng góp của đông đảo xã viên, khai thác mọi tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, các HTXNN còn là nơi tổ chức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học công nghệ và thông tin thị trường đến các hộ nông dân, xã viên

Năm là, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo

cho người dân nông thôn Mặc dù Đảng và hà nước đã có nhiều chính sách nhằm giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân nông thôn nói riêng, nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn chiếm tỷ lệ khá cao Vì vậy, phát triển HTXNN phù hợp với những đặc điểm cụ thể của từng nơi sẽ có vai trò từng bước giải quyết mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ở nông thôn

Mô hình HTX ở Việt Nam đã trải qua hơn 54 năm hình thành và phát triển với nhiều lần tìm tòi, thử nghiệm, sửa đổi nhằm phù hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau cũng như tìm kiếm mô hình phù hợp, hiệu quả Không thể phủ nhận những đóng góp của các HTX trong mỗi giai đoạn nhất định nhưng cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, vai trò của các HTX hiện nay còn mờ nhạt trong xu thế phát triển mạnh của các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế như mô hình tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

1.2.6 Các mô hình HTXNN ở Việt Nam

a, HTX dịch vụ nông nghiệp

HTX dịch vụ nông nghiệp: Tổ chức và hướng dẫn được xã viên thực hiện

chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thực hiện dịch vụ đầu vào và hoạt động giúp đỡ nhau mang tính cộng đồng [12] Theo mô hình này, HTX cần đạt được:

Tổ chức xã viên, nông dân thực hiện quá trình sản xuất vì lợi ích chung của kinh tế mỗi hộ gia đình và cộng đồng Đây là bước đầu tiên và hết sức quan trọng

Trang 32

thông qua công tác tuyên truyền, vận động để nông dân hiểu rõ lợi ích của việc hợp tác Thực hiện tốt vấn đề trên, thực chất là làm tốt việc tổ chức sản xuất, hướng dẫn nông dân, xã viên cùng nhau hợp tác trồng cây gì, nuôi con gì có hiệu quả, xác định

cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng và cơ cấu kinh tế hợp lý…tạo ra vùng sản xuất sản phẩm tập trung có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn Vấn đề này tư nhân không thể làm được mà chỉ có HTX

Tổ chức dịch vụ đầu vào sản xuất kinh tế hộ: Tùy theo điều kiện cụ thể từng nơi, từng HTX như: cơ sở vật chất -kỹ thuật, vốn, khả năng của cán bộ; nhu cầu của

xã viên mà HTX tổ chức ít hay nhiều hoạt động dịch vụ như: dịch vụ tưới tiêu, dịch

vụ cung ứng vật tư, làm đất, bảo vệ thực vật, thú y, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, dịch vụ vốn, dịch vụ tiêu thụ nông sản phẩm…

Thực hiện những hoạt động mang tính cộng đồng xã hội Tùy theo quy mô và phạm vi hoạt động mà HTX tổ chức bộ máy quản lý thích hợp để có thể hình thành các tổ, đội dịch vụ như: tổ dịch vụ làm đất, tổ dịch vụ vật tư, tổ dịch vụ tín dụng, tổ khoa học kỹ thuật, tổ tiêu thụ sản phẩm…Hoạt động dịch vụ không chỉ cho xã viên HTX mà cho cả những hộ ngoài HTX

b, HTXNN sản xuất - kinh doanh - dịch vụ tổng hợp

Đây là mô hình hợp tác xã đa chức năng Ngoài việc HTX tổ chức, thực hiện những nội dung của mô hình HTX dịch vụ, còn tổ chức sản xuất-kinh doanh tập thể như chế biến nông, lâm, hải sản; sản xuất tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ đời sống xã viên và cộng đồng dân cư Những hoạt động trên của HTX không chỉ ở địa bàn HTX mà có thể ở ngoài địa bàn (xã khác, huyện khác, thậm chí ngoài tỉnh)

Trang 33

Khác với chất lượng hàng hóa có thể quan sát bằng kiểu dáng, hình thức bên ngoài trước khi khách hàng quyết định mua, chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đánh giá sau khi đã mua và sử dụng dịch vụ Như vậy chất lượng dịch vụ là những

gì khách hàng cảm nhận được Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến cá nhân nhu cầu của chính họ Trên thực tế có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy theo góc độ của người quan sát

Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ Theo Lehtinen và Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ Gronroos (2001) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ đó là (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì khách hàng cảm nhận được và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào Tuy nhiên khi nói đến chất lượng dịch vụ, không thể không đề cập đến những đóng góp to lớn của Parasuraman & ctg (1988, 1991) Parasuraman & ctg (1988) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “ mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ” Nghiên cứu của Parasuraman cho rằng Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hưởng thụ Như vậy, theo Parasuraman thì sự cảm nhận chất lượng của khách hàng là việc đánh giá có tính khách quan nhất về chất lượng dịch vụ

Theo Hurbert (1995) thì trước khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình thành một “kịch bản” về dịch vụ đó Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng về chất lượng dịch vụ Dịch vụ

là một loại sản phẩm vô hình Khách hàng nhận được sản phẩm này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận Đặc điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng Một đặc điểm khác là chất lượng dịch vụ rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài và dễ bị nhầm lẫn

Trang 34

Như vậy, qua các quan điểm về chất lượng dịch vụ trên chúng ta có một định

nghĩa chung về chất lượng dịch vụ như sau: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách

giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ” Tìm hiểu chất lượng

dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ nông nghiệp Vì vậy nó không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho HTX kinh doanh dịch vụ nông nghiệp phát triển thế mạnh của mình một cách tốt nhất

b, Chất lượng dịch vụ của HTXNN

Từ định nghĩa và cách hiểu chung của chất lượng dịch vụ, có thể định nghĩa chất lượng dịch vụ của HTXNN là mức độ đáp ứng sự mong đợi của thành viên HTXNN về các DVNN mà HTXNN đó cung cấp

1.3.2 Đặc điểm dịch vụ nông nghiệp của các HTXNN

Hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN là hoạt động nhằm cung ứng, trao đổi, tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp dịch vụ theo một phương thức nhất định nào đó (trao đổi, mua bán), hay còn gọi chung là dịch vụ nông nghiệp (DVNN)

DVNN là những điều kiện, những yếu tố cần thiết hoặc cần có cho một quá trình sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp (ví dụ cung cấp giống cây trồng, con gia súc, làm đất, tưới, tiêu nước, bảo vệ và phòng trừ sâu bệnh ), mà người sản xuất không có sẵn, không thể làm hoặc tạo ra được, hoặc nếu

tự làm cũng không có hiệu quả, cho nên họ phải tiếp nhận các điều kiện, các yếu tố

đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê và nhờ… [8] DVNN có các đặc điểm sau:

a, Tính thời vụ

Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ, vì vậy hoạt động DVNN cũng mang tính thời vụ rõ nét Nghĩa là việc cung ứng, sử dụng các DVNN chỉ xuất hiện vào những khoảng thời gian nhất định trong năm, đặc biệt là những dịch vụ cho ngành trồng trọt

Trang 35

Trong thị trường dịch vụ nông thôn, các thành phần kinh tế khác nhau tham gia dịch vụ ngày càng đông đảo Do đó, cạnh tranh giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường ngày càng khốc liệt HTX muốn mở rộng dịch vụ có hiệu quả, không

có cách nào khác là phải tìm mọi cách cạnh tranh thắng lợi, phù hợp với thế mạnh của mình như nâng cao chất lượng, hạ giá dịch vụ, cung cấp kịp thời, thuận tiện và

có cách tiếp thị phù hợp v.v

b, Tính có thể tự thực hiện

Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp là loại sản xuất đơn giản, ít đòi hỏi trình độ

cao về chuyên môn Những dịch vụ có tính lao vụ như làm đất, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh người sản xuất đều có thể tự làm lấy được Vì vậy, cần nắm vững nhu cầu về dịch vụ của khách hàng và phải biết loại dịch vụ nào xã viên tự làm được và làm có hiệu quả thì để họ làm Đối với những dịch vụ có tính kỹ thuật, phức tạp cao

mà hộ xã viên tự làm sẽ có hiệu quả rất thấp, đôi khi còn gây ra những tác động đáng kể đến sức khỏe con người và của cải (ví dụ: phun thuốc trừ sâu, bệnh; tiêm, thiến gia súc, gia cầm ) thì HTX cần phải đảm nhiệm

DVNN chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và trên phạm vi rộng lớn Những loại dịch vụ này đòi hỏi sự hợp tác của cả bên cung cấp dịch vụ và bên

sử sử dụng dịch vụ Cho nên, những loại dịch vụ này cần ưu tiên được trong lựa chọn và tổ chức hoạt động, đồng thời, cần khuyến khích xã viên sử dụng dịch vụ của HTX để giảm thấp chi phí sản xuất của hộ

c, Được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao

Trong thị trường dịch vụ nông thôn, các thành phần kinh tế khác nhau tham gia dịch vụ ngày càng đông đảo Do đó, cạnh tranh giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường ngày càng khốc liệt HTX muốn mở rộng dịch vụ có hiệu quả, không

có cách nào khác là phải tìm mọi cách cạnh tranh thắng lợi, phù hợp với thế mạnh của mình như nâng cao chất lượng, hạ giá dịch vụ, cung cấp kịp thời, thuận tiện và

Trang 36

Những loại dịch vụ này đòi hỏi sự hợp tác trong cung cấp và sử dụng dịch vụ

Vì vậy, đây là những loại dịch vụ HTX không chỉ cần ưu tiên trong lựa chọn và tổ chức hoạt động, mà còn cần khuyến khích xã viên sử dụng dịch vụ của HTX để giảm thấp chi phí sản xuất của hộ gia đình

e, Nhiều loại DVNN rất khó định lượng chính xác

Các dịch vụ rất khó định lượng (cân, đong, đo, đếm ) như dịch vụ tưới tiêu, bảo vệ thực vật, bảo vệ đồng, khuyến nông Vì vậy, sẽ rất khó khăn cho việc xác định nhu cầu, lập kế hoạch, ký kết hợp đồng giao khoán và đặc biệt là hạch toán, thanh toán hợp đồng Đây cũng là vấn đề khó, dễ đưa đến thiệt thòi cho người sử dụng dịch vụ và sự mất công bằng giữa xã viên với nhau Việc tính đơn giá dịch vụ tưới, tiêu căn cứ vào diện tích (đầu sào) như hiện nay rõ ràng là không hợp lý, vì nó không tính đến chất lượng tưới, tiêu, do vậy đây cũng là loại dịch vụ mà người tiêu dùng rất hay thắc mắc khi thanh toán

Khi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ thì chức năng hoạt động dịch vụ của HTX nhằm thỏa mãn nhu cầu hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ được coi là quan trọng nhất và mang tính phổ biến

Đó là các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho trồng trọt và chăn nuôi, dịch vụ cho vay vốn, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ chuyển giao công nghệ, dịch vụ tưới tiêu và bảo vệ cây trồng, bảo vệ đồng Các loại dịch vụ này do các tổ chức dịch vụ

hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thực hiện đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất, cải thiện dần đời sống nông dân Mặt khác, khi cuộc sống vật chất của nông dân được cải thiện sẽ thúc đẩy các loại dịch vụ phục vụ sinh hoạt đời sống cộng đồng phát triển: dịch vụ văn hóa, giáo dục, khám chữa bệnh Số lao động dôi dư trong sản xuất nông nghiệp đuợc chuyển sang làm dịch vụ sẽ tạo điều kiện tập trung ruộng đất, hình thành các trang trại có quy mô hợp lý, phù hợp cho thâm canh, tăng năng suất, khắc phục tình trạng manh mún

1.3.3 Nội dung thể hiện CLDV của các HTXNN

Mỗi loại hình dịch vụ có các nội dung thể hiện CLDV khác nhau Căn cứ vào yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, đặc trưng của chất lượng dịch vụ do HTXNN cung cấp, nội dung thể hiện CLDV của các HTXNN như sau:

Trang 37

a, Cung cấp dịch vụ đầy đủ

Tính đầy đủ của dịch vụ thể hiện khả năng cung ứng dịch vụ thể hiện mức độ sẵn sàng cung cấp, tổ chức các khung lịch thời vụ, sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu… cho thành viên HTX một cách đầy đủ HTXNN cần tổ chức dịch vụ đang dạng để cho thành viên có thể lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế của mình Mỗi địa bàn sản xuất nông nghiệp đều có nhu cầu về tưới tiêu, phân bón, bảo vệ thực vật…ở những mức độ khác nhau Tham gia HTX, các thành viên muốn tối đa hóa lợi ích của mình Một trong những lợi ích mà thành viên muốn được hưởng lợi đó là được cung cấp dịch vụ đầy đủ, phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất của mình Vì vậy, khi nói đến CLDV của các HTXNN, cần chú ý đến việc cung cấp đầy đủ dịch vụ và các tính năng của dịch vụ sao cho công việc của thành viên được thuận lợi và hiệu quả

b, Cung cấp dịch vụ kịp thời

Sản xuất nông nghiệp luôn cần phải đúng thời vụ Vì vậy, dịch vụ cần được cung cấp kịp thời Thời gian cung cấp cần tổ chức khoa học để sao cho đáp ứng kịp thời, phù hợp với thời gian gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch của thành viên Các công việc như thu hoạch, tưới tiêu cần có kế hoạch và thời gian cụ thể để thành viên chủ động tham gia Các HTXNN cung ứng dịch thể vai trò của mình trong việc tập hợp, vận động, thay đổi cách tổ chức san xuất của nông dân, thành viên, ứng dụng

có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Cung cấp dịch vụ kịp thời sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp cho thành viên

c, Cung cấp dịch vụ hiệu quả

DVNN mà HTX cung cấp cần phải mạng lại lợi ích cho thành viên, phải có hiệu quả, phù hợp Khi nói đến hiệu quả, chúng ta thường so sánh với những gì nhận được so với chi phí bỏ ra Các HTXNN cung cấp dịch vụ sao cho thành viên cảm thấy họ nhận được những lợi ích thiết thực và dịch vụ của HTX mang lại Ví dụ: dịch vụ tưới tiêu và thủy lợi nội đồng cần cung cấp đủ nước tưới tiêu cho đồng ruộng, không để xảy ra tình trạng khô hạn, cây lúa, rau màu không có nước tưới, hay dịch vụ bảo vệ hoa lợi xã viên không bảo vệ được đồng ruộng để trâu bò, vật nuôi phá hoại…

Trang 38

Khi cung cấp dịch vụ, các HTXNN phải xác định được lợi ích mà dịch vụ mình mang lại cho thành viên Thành viên cảm nhận được những lợi ích thiết thực

mà dịch vụ mang lại thì sẽ đánh giá cao về tính hiệu quả của dịch vụ Khi đó chất lượng dịch vụ HTXNN cũng được đánh giá cao

d, Cung cấp dịch vụ đồng bộ

Địa bàn sản xuất nông nghiệp của thành viên thường rộng, với những địa hình không hoàn toàn giống nhau Mỗi thành viên khi tham gia HTXNN đều muốn được HTX cung cấp dịch vụ như nhau ở mỗi địa bàn Vì vậy, tính đồng bộ của dịch vụ rất quan trọng khi nói đến CLDV Mỗi HTXNN không nên để xảy ra tình trạng nơi thừa, nơi thiếu dịch vụ Có như vậy, các thành viên sẽ tin tưởng vào hoạt động của HTX và tuân thủ sự sắp xếp, điều hành của HĐQT, và nhờ vậy, hiệu quả sản xuất sẽ được nâng cao

e, Năng lực quản lý, điều hành của HĐQT

Năng lực quản lý, điều hành của HĐQT quyết định đến hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ của HTX HĐQT của HTX cần có phẩm chất, trình độ, năng lực ở những trình độ phù hợp Khi có năng lực quản lý, điều hành tốt thì các công việc của HTX được thực hiện tốt, khi đó chất lượng dịch vụ được kiểm soát chặt chẽ được sự quản lý, điều hành của một lực lượng có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ Bên cạnh đó, HĐQT cần quản lý nhân viên HTX sao cho khi giao tiếp với thành viên cần có thái độ tốt, đúng mực, thân thiện Điều này rất quan trọng trong đánh giá chất lượng dịch vụ của các HTXNN Thành viên được cung cấp dịch vụ với thái

độ niềm nở thì họ sẽ cảm thấy thoải mái, vui vẻ, càng thêm tin tưởng vào HTX Tóm lại, năng lực quản lý, điều hành của HĐQT rất quan trọng trong việc phản ánh chất lượng dịch vụ của các HTXNN

f, Giá cả của dịch vụ

Tham gia HTX, các thành viên rất chú trọng lợi ích của mình Mục đích chính của HTX chính là tối đa hóa lợi ích cho thành viên Vì vậy, giá cả các dịch vụ mà HTX cung cấp rất quan trọng, phải tương ứng với lợi ích mà thành viên nhận được Giá cả của dịch vụ rất quan trọng trong việc phản ánh chất lượng dịch vụ Thành viên sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ trong sự so sánh với giá mà họ phải trả Vì vậy, các

Trang 39

chính sách về giá rất cần chú trọng để nâng cao sự hài lòng của thành viên về chất lượng dịch vụ, qua đó nâng cao được chất lượng dịch vụ của các HTXNN

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLDV của các HTXNN

Hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp nói chung, HTX nông nghiệp nói riêng chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng khác nhau Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ có thể được chia thành hai nhóm, đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài và nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên trong HTX

1.4.1 Các nhân tố bên ngoài

a, Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của các HTXNN Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vì vậy các dịch vụ HTXNN cung cấp để sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng bởi điều kiện

tự nhiên Các hoạt động dịch vụ này được cung cấp theo mùa vụ sản xuất nông nghiệp của bà con nông, vì vậy để chủ động đối phó với các tác động của yếu tố tự nhiên, các HTXNN phải tính đến các yếu tố tự nhiên có liên quan thông qua các hoạt động cung cấp, bố trí dịch vụ HTX mình, tạo thuận lợi cho người dân bên ngoài HTX và thành viên

b, Điều kiện kinh tế

Điều kiện kinh tế gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái…tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTXNN Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với HTXNN Để đảm bảo thành công trong hoạt động kinh doanh dịch vụ trước biến động về kinh tế, các HTXNN cần nắm bắt được những thay đổi về cung cầu, sức mua trên thị trường nông sản để có các chiến lược cung cấp dịch vụ phù hợp với HTX mình

Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu thụ nông sản lớn, việc tiêu thụ nông sản của người nông dân gặp nhiều thuận lợi Khi đó các dịch vụ cung cấp của các HTXNN cũng được sử dụng với tần suất cao, mang lại lợi ích cho HTX và ngược lại

Trang 40

c, Môi trường chính trị

Môi trường chính trị ổn định là nhân tố rất quan trọng trong phát triển kinh tế, bởi vì nếu tình hình chính trị thiếu ổn định sẽ tạo ra rủi ro và như vậy HTXNN sẽ rất khó huy động vốn và bản thân họ cũng không muốn đầu tư, mở thêm loại hình dịch vụ mới Do vậy, để phát triển kinh tế, các nước đều chú trọng tạo lập một môi trường chính trị ổn định, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các loại hình kinh tế trong đó có HTX

d, Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến quá trình cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch vụ của HTX Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới khả năng cung ứng các loại dịch vụ, nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của HTXNN do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh doanh dịch vụ và theo đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ của các HTXNN

e, Văn hóa- xã hội

Yếu tố văn hóa- xã hội ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ của các HTX thông qua các tập quán sinh hoạt, sản xuất của người nông dân Vì vậy, nếu HTX hiểu được lối sống, tập quán sản xuất của người nông dân thì sẽ có thể cung ứng, điều chỉnh các dịch vụ phù hợp Từ đó HTX có thể nâng cao chất lượng dịch vụ của mình

Văn hóa xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của HTXNN HTX cần phải phân tích các yếu tố văn hóa - xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa

có thể tạo ra một loại dịch vụ mới nhưng cũng có thể xóa đi một loại dịch vụ hiện

có của HTX

f, Chính sách của Nhà nước

Hoạt động của HTXNN nói riêng, và hoạt động của bất kỳ đơn vị nào đều chịu

sự ảnh hưởng của các chính sách Nhà nước Các chính sách của Nhà nước bao gồm

Ngày đăng: 04/06/2019, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm