1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

11 714 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 275,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư,

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BỘ MÔN KẾ TOÁN GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

CHỦ ĐỀ: CASE STUDY 1 - TÌM HIỂU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nhóm lớp 13: Ca 2 Thứ 2+4

Danh sách thành viên:

Họ và tên Mã sinh viên

1 Phạm Việt Hùng 18A4030123

2 Nguyễn Thành Công 18A4030030

3 Nguyễn Thùy Dương 325401041

Năm học 2018

Trang 2

CHỦ ĐỀ: CASE STUDY 1 - TÌM HIỂU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nhóm lớp 13: Ca 2 Thứ 2+4

Danh sách thành viên:

Họ và tên Mã sinh viên

1 Phạm Việt Hùng 18A4030123

2 Nguyễn Thành Công 18A4030030

3 Nguyễn Thùy Dương 18A4010113

Trang 3

Kế toán quản trị là lĩnh vực chuyên môn của kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực

trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó

Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán

A Sự hình thành và phát triển của kế toán quản trị qua từng giai đoạn:

1 Giai đoạn cuối thế kỷ 19 đến chiến tranh thế giới thứ 2:.

- KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các DN trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đáng giá được hoạt động của chúng Một trong các DN áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày KTQT cũng được áp dụng tại công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường sắt vào năm 1840 khi phạm vị hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công việc xử lý ngày càng phức tạp Để kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị Trên cơ sở của hoạch toán chi phí Albert Fink – phó chủ tịch công ty là người đầu tiên tính toán được chi phí cho 1 tấn/km vận chuyển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ này Trong ngành luyện kim, KTQT cũng được áp dụng từ rất sớm Andrew Carnegie – một doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để quản lý DN của mình từ năm 1872 Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau,ông ta đã chia DN của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi

và hoạch toán.Carnegie sử dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư và nhân công

sử dụng ở rừng bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt dộng của chúng Việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu cũng được thực hiện trong quá trình sản xuất Bằng cách này Carnegie đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đưa ra được giá bán hợp lý

- Không chỉ trong ngành đường sắt, luyện kim, KTQT trong giai đoạn này còn được

áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hoá chất và cơ khí chế tạo Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát được các chi phí sản xuất trực

Trang 4

tiếp Các phương pháp phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm và các thông tin

về sử dụng TSCĐ vẫn bị bỏ qua

- KTQT tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX mà Pierre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan là những người đóng góp nhiều cho sự phát triển của KTQT trong giai đoạn này Công ty Du Pont Power được thành lập vào năm 1903 bằng việc hợp nhất các công ty nhỏ sản xuất các bộ phận sản phẩm với nhau Để dễ dàng kiểm soát và đáng giá hiệu quả hoạt động của tùng bộ phận,

Du Pont chia công ty thành các bộ phận nhỏ và thay đổi từ mô hình quản trị tập trung sang mô hình quản trị phân quyền

- Theo nguyên tắc “phân quyền trách nhiệm để kiểm soát tập trung” Brown và Sloan đã đưa ra nhiều sáng kiến để giải quyết các vấn đề phức tạp trong quản trị công ty Cùng với việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị DN công

ty đã thực hiện việc phân quyền trách nhiệm.Các bộ phận và các phòng ban trong công ty được giao quyền tự chủ, tự ra ưuyết định và tự chịu trách nhiệm trong định giá, liên kết sản xuất, tìm kiếm khách hàng, thiết kế sản phẩm, mua vật tư và điều hành quá trình sản xuất Nhờ áp dụng cơ chế phân quyền công ty tạo diều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và chủ động sáng tạo của họ trong điều kiện được trực tiếp tiếp cận với thông tin do KTQT cung cấp để ra các quyết định phù hợp và kịp thời

- Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1930, ủy ban chứng khoán Mỹ buộc các công ty phải công bố báo cáo tài chính Do vậy nghiên cứu kế toán trong giai đoạn này đều tập trung vào các báo cáo tài chính nên KTQT bị sao nhãng Cho dến thập kỉ 80, do sức ép cạnh tranh và sự thành công vượt bậc của các DN ở châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản, KTQT ở Mỹ mới lại được tiếp tục nghiên cứu và phát triển Các phương pháp JIT (Just in time) và kế toán chi phí,…được áp dụng rộng rãi và lần đầu tiên KTQT cũng được đưa vào giảng dạy tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets

2 Giai đoạn từ chiến tranh thế giới thứ 2 đến năm 1970:

Dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của kế toán quản tri là quyển sách đầu tiên về

kế toán quản trị của Robert Anthony được xuất bản vào năm 1956 như là một dấu mốc quan trọng của sự ra đời kế toán quản trị Quyển sách này tập trung vào ba vấn đề chính: Giới thiệu kế toán quản trị là gì, làm thế nào có thể hệ thống và phân tích vấn đề mới để ra quyết định, giới thiệu các công cụ kiểm sóat chi phí thích hợp Từ sau khi có sự giới thiệu về kế toán quản trị của Robert Anthony thì nhiều công cụ kế toán quản trị đã được phát triển trong suốt giai đọan này Sự quan tâm của kế toán quản trị đã chuyển biến mạnh mẽ vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lâp kế họach và kiểm soát của nhà quản tri, thông qua việc sử dụng các kỹ

Trang 5

thuật như phân tích để ra quyết định và kế toán trách nhiệm Sư phát triển công cụ

kế toán quản trị đã phản ánh được các lý thuyết kinh tế nhưng tất cả đều dựa trền

ba giả thuyêt cơ bản :

+ Các hoạt động diễn ra hàng ngày các câp quản lý điều hành

+ Môi trường kinh doanh bên ngoài ổn định, ít chịu tác động của giá và nhu cầu thị trường

+ Mục đích chủ yếu của kế toán quản trị là phục vụ cho vięc ra quyết định

- Chính các giả thuyết này đã khiến cho các kỹ thuật quản trị bị giới han xung quanh viêc là làm sao xây dựng được công cụ phục vụ cho việc ra quyết định, làm sao giải quyết những vấn đề việc làm điều khiể truyền thống là tăng lợi nhuận và tăng tính hiêu quả Ngoài ra, những kỹ thuật mới trong thời kỳ này không xem xét các yêu vào bên ngoài doanh nghiệp như những thay đổi về công nghệ, những thay đổi

về nhu cầu sản phẩm hay những sáng tạo của đối thủ canh tranh Có thể nói, đặc điểm của kế toán quản trị trong giai đoạn này là sự định hình lại lĩnh vực kế toán quản đã có từ trước, giới thiệu các lý thuyết kinh tế để khẳng định và bổ sung cho các kỹ thuật kế toán quản trị truyền thống đã tồn tại và khẳng định lag kế toán quản trị có thể cung cấp các mô hình và các công cụ hiệu quả để hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định

- KTQT mang ý nghĩa như là sự hộ trợ từ 1 nhà quản trị gián tiếp đối với nhà quản trị trực tiếp thông qua việc cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch kiểm soát và

ra quyết định

3 Giai đoạn từ năm 1970 đến 1995

- Đây là thời kỳ của sự phát triên vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự toàn cầu hóa kinh tế ngày càng nhanh chóng, su cạnh tranh quyết liêt giữa các doanh nghiệp

Vì vậy, kế toán quản trị không còn dừng lại ở vị trí là một phần của KTTC , tham gia gián tiếp vào quản lý mà trở thành một bộ phận cấu thành quá trình quản lý để tất cả các nhà quản lý có các tiếp cận với thông tin

- Trong xu hướng đó, KTQT được đòi hỏi phải phục vụ sao cho tốt nhất các công việc dự báo, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyét định Chính như cầu thông tin này đã hình thành nên nền KTQT riêng biệt Từ đó, ngành KT đã bắt đầu hìn thành hai thái cực cơ bản và phát triển nhanh chóng:

+ Một là.,cung cấp thông tin về trách nhiệm vật chất- pháp lý của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự kiểm tra ,giám sát của các cá nhân, doanh nghiệp có quyền lợi kinh tế liên quan

+ Hai là, cung cấp thông tin cho công việc quản trị các hoạt động trong doanh nghiệp của các nhà quản trị như lập kế hoạch, tổ chức điều hành , kiểm tra và ra quyết định

Trang 6

- Vào những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ 20, những nhà nghiên cứu và thực hành kế toán quản trị nhận thấy những nội dung của kế toán quản trị trước đây không còn thích hợp để giải quyết các vấn đề mà nhà quản trị phải đối mặt Vì vậy , các nhà nghiên cứu về kế toán quản trị bắt đầu mở rộng hướng nghiên cứu kế toán quản trị sang :

+ Mở rộng kế toán quản trị sang lĩnh vực phi tài chính

+ Tìm hiểu nhiều hơn về những vấn đề đương thời và nhu cầu thông tin của nhà quản trị để xây dựng mô hình kế toán quản trị phù hợp hơn

+ Các hướng dẫn thực hành đổi mới hơn

- Từ năm 1980 đến 1995 được xem là "luồng gió mới" thổi vào kế toán quản tị làm cho kế toán quản trị phát triển cả về chiều rộng lẫn chiếu sâu KTQT tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong quán trình hoạt động sản xuata kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và chuyển kế toán chi phí sang quản trị chi phí

4 Giai đoạn từ 1995 đến nay

- Năm 1995: Kế toán quản trị chuyển sang quan tâm đến việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả nguồn lực thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng , giá trị cho cổ đông, sự thay đổi trong quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ và học hỏi - phát triển

- Từ năm 2000 đến nay, kế toán quản trị chuyển sang quản lý nguồn lực một cách chiến lược bằng cách phân tích quy trình giá trị các bên liên quan, quản lý rủi ro

và báo cáo phát triển bền vững

- Mục tiêu của KTQT ngày nay là tạo thêm giá trị cho đơn vị thông quan việc sử dụng nguồn lực tốt nhất Các giá trị bao gồm:

+ Giá trị cho sản phẩm , dịch vụ của đơn vị phục vụ khách hàng

+ Giá trị cho cổ phiếu của đơn vị trên thị trường chứng khoán

- Từ năm 2000 trở đi , KTQT xuất hiện trong việc quản trị trong các tổ chức của Nhà nước Đặc biệt là trong các đơn vị công như trường học , bệnh viện … nhằm mục đích hỗ trợ cho việc quản trị trong các tổ chức của Nhà nước Đặc biệt , là trong các tổ chức giáo dịc trên thế giới, với các mục tiêu như:

+ Nhấn mạnh hơn quyền tự chủ của các trường Đại học và Cao đẳng, cả trong học tập và quản lý các vấn đề khác

+ Sử dụng các mô hình kế toán quản trị để phân bổ kinh phí công để thúc đẩy hoạt động có hiệu quả hơn

+ Đảm bảo chất lượng của quá trình giáo dục

- KTQT hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới ,hình thái phát triển tầm nhìn chiến lược đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin

Trang 7

Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị

Giai đoạn Trọng tâm của kế

toán quản trị

Các kĩ thuật kế toán quản trị

Vị trí của kế toán quản trị trong tổ chức

- Trước những năm

1950 Chi phí: xác địnhchi phí và kiểm

soát tài chính

Dự toán và kế toán chi phí Hoạt động mangtính chuyên môn,

nghiệp vụ

- Từ 1950 - 1965 Lợi nhuận: cung

cấp thông tin cho hoạch định và kiểm

soát

Phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm

Chức năng tham mưu, báo cáo cho quản lý

- Từ 1965 - 1985 Cắt giảm hao phí:

tiết kiệm chi phí thông qua việc quản trị chi phí chiến lược

Phân tích quá trình

và quản trị chi phí đương đại

Hoạt động nhóm

- Từ 1985 - 1995 Quản trị nguồn

lực và tạo ra giá trị: tạo ra giá trị

thông quan quản trị nguồn lực chiến lược – sử dụng hiệu quả các nguồn lực

Phân tích các yếu

tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức

Là một phần của quá trình quản trị

- Từ năm 2000 Quan ly nguon luc

mot cac chien luoc

Phan tich quy trinh gia tri cac ben lien quan, quan ly rui

ro va bao cao phat trien ben vung

KTQT di vao cac

to chuc hanh chung

su nghiep cua the

gioi

B Lịch sử hình thành kế toán quản trị ở Việt Nam

Ở nước ta, trước năm 1995, chưa xuất hiện khái niệm kế toán quản trị trong thực hành kế toán Hệ thống kế toán Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của

hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế; đồng thời đảm nhiệm hệ thống thông tin có ích cho các quyết định kinh tế Vì vậy, kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả hoạt động tài chính Nhà nước và hoạt động tài chính doanh nghiệp Do đó, các báo cáo kế toán giai đoạn này cũng đã có hình thức và một số

Trang 8

nội dung tương đồng với báo cáo kế toán quản trị, như các báo cáo chi phí, báo cáo phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp,…Tuy nhiên, những báo cáo này chủ yếu phục vụ cho việc quản lý điều hành ở cấp chủ quản; chưa phục vụ trực tiếp cho việc quản lý điều hành tại doanh nghiệp

1 Từ năm 1954 trở về trước

- Trong thời kỳ phong kiến: kế toán ở Việt Nam chỉ đơn giản là việc ghi chép mang tính liệt kê tài sản, nhằm phục vụ cho người sở hữu tài sản nắm được về tình hình tài sản của mình

- Khi thực dân Pháp vào xâm chiếm Việt Nam, xây dựng các nhà máy, đồn điền phục vụ cho chính sách bóc lột, đồng thời có sử dụng kế toán Nghề kế toán qua

đó được du nhập vào Việt Nam Tuy nhiên, kế toán ở Việt Nam thời kỳ đó vẫn còn chưa phát triển

2 Giai đoạn 1954-1975

- Sau khi đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và bị Mỹ nhảy vào xâm chiếm miền Nam, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền: Miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô phát triển theo đường lối XHCN, miền Nam tiếp tục cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Bối cảnh lịch sử đó đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán Việt Nam Miền Bắc áp dụng hệ thống kế toán của Liên Xô còn miền Nam áp dụng hệ thống kế toán Mỹ

3 Giai đoạn 1976-1994

Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam thống nhất đi lên xây dựng Chủ nghĩa xó hội Hệ thống kế toán áp dụng ở Việt Nam trong thời kỳ này là hệ thống kế toán của Liên Xô trong cơ chế kế hoạch hoỏ tập trung Tuy nhiờn, trong thời kỳ này, kế toán chỉ là cụng cụ phản ỏnh thụ động tình hình hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao

4 Giai đoạn 1995 đến nay

- Đây là thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước Trong giai đoạn này, kế toán

đó cú những bước chuyển mình lớn lao

- Trước hết về vai trò và vị trí, sự phát triển của kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu về việc cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời đó đưa kế toán lên một vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính doanh nghiệp Kế toán ngày nay trước hết

là công cụ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp, thông tin

kế toán là cơ sở cho các quyết định kinh tế; Nhà nước càng dựa vào kế toán để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế của mình

- Đồng thời, càng trong giai đoạn này, hoạt động kế toán, kiểm toán đó phát triển thành một nghề nghiệp độc lập được xó hội thừa nhận thông qua sự ra đời và phát triển của 3 hệ thống: Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán độc lập và Kiểm toán nội

Trang 9

bộ; hình thành Hội Kế toán Việt Nam, Cõu lạc bộ Kế toán trưởng Hơn thế hệ thống khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán đó và đang được từng bước hoàn thiện và tiếp cận với thông lệ quốc tế thể hiện ở sự ban hành Lụât Kế toán năm

2003 - được đánh giá là luật cởi mở, tiến bộ, thông thoỏng; ban hành các chuẩn mực kiểm toán và kế toán; chế độ kế toán doanh nghiệp; kế toán hành chính sự nghiệp và hệ thống kế toán Ngân sách Nhà nước, v.v Gần đây, với việc ban hành mẫu báo cáo tài chính mới, thông tin kế toán đó được hướng tới mục đích phục vụ các đối tượng quan tâm khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là phục vụ cho việc tính thuế, và do đó kế toán thuế được tách riêng ra thành một phần hành kế toán riêng biệt

- Nhìn chung hoạt động kế toán, kiểm toán Việt nam đó không ngừng cải thiện về chất lượng dịch vụ và đó được xác định là ngành thương mại dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để ngành kế toán kiểm toán nước ta hội nhập vào hệ thống kế toán- kiểm toán khu vực và thế giới

- Đội ngũ kế toán và kiểm toán có trình độ ngày càng cao Phương pháp kế toán đang chuyển dần từ thủ công sang kế toán trên máy Bên cạnh đó, Kế toán quản trị

và Phân tích hoạt động kinh doanh đó được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học từ khoảng 10 năm trở lại đây, góp phần củng cố kiến thức và trình độ chuyên môn cho những người làm công tác kế toán, kiểm toán, gúp phần phát huy vai trò của kế toán phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và cho kinh

-tế thị trường ở Việt Nam nói chung

- Từ sau những năm 1995, sự đổi mới sâu sắc cơ chế quản lý kinh tế đòi

hỏi nền tài chính quốc gia phải được tiếp tục đổi mới một cách toàn

diện Điều đó đòi hỏi các hoạt động tài chính cần phải được quản lý

bằng pháp luật, bằng các công cụ và biện pháp quản lý có hiệu lực

Ngày 01/11/1995 Bộ Tài chính đã ban hành Chế độ kế toán kèm theo

Quyết định 1141/QĐ/BTC/CĐKT áp dụng thống nhất trong toàn quốc

Hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành lần này bao gồm 4 bộ

phận cơ bản:

+ Chế độ tài khoản kế toán

+ Chế độ báo cáo tài chính

+ Chế độ chứng từ kế toán

+ Chế độ sổ sách kế toán

- Trong mỗi chế độ ở trên đều bao gồm 2 phân hệ, một phân hệ mang

tính bắt buộc, một phân hệ mang tính hướng dẫn, tạo sự linh hoạt cho

kế toán đáp ứng các yêu cầu về thông tin cho quản trị nội bộ

- Ngày 17/6/2003 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kì

họp thứ 3 thông qua Luật kế toán đầu tiên Luật kế toán này có hiệu lực

thi hành từ ngày 01/01/2004 Theo đó, tại điều 4 khỏan 3 đã thừa nhận

Trang 10

và đưa ra định nghĩa về kế toán quản trị như sau: “Kế toán quản trị là

việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính

theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn

vị kế toán” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hành kế toán quản

trị ở doanh nghiệp

Kế toán quản trị tiến hóa tại Việt Nam

- Cũng như theo xu thế tiến hoá chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm

rộ Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân làm 2 cách:

+ Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng Các doanh nghiệp thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiện cho tương lai Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này

+ Thứ hai: dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó Phương pháp lập kế hoạch này thường được vận dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ

- Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được

- Hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí cũng được hình thành theo nhu cầu quản trị của doanh nghiệp, theo cùng với hệ thống lập kế hoạch (dự toán) Tuy nhiên, việc kiểm soát chi phí chỉ dừng lại ở một vài khoản mục chi phí phát sinh tương đối lớn

và chiếm tỉ trọng cao như: chi phí quảng cáo tiếp thị, chi phí vận chuyển, lương… (trong chi phí bán hàng) ; chi phí tiếp khách, đào tạo,…(trong chi phí quản lý doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc quản lý chi phí ở khâu sản xuất (đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất) cũng được tổ chức chặt chẽ nhằm giảm giá thành sản phẩm

- Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh

Ngày đăng: 03/06/2019, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w