Quá trình khảo sát, thu thập tài liệu về công trình không thể tránh khỏi các yếu tổ rủi ro không lường hết được, làm cho việc xác định tổng mức đầu tư luôn phải điều chỉnh trong quá trìn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Vũ Mạnh Kiên
Chuyên ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Đề tài nghiên cứu: Xác định tổng mức đầu tư dự án xây dựng công trình có xét những
yếu tố rủi ro, áp dụng cho dự án “ Nâng cấp tuyến đê tả sông Thao đoạn từ km64 đến km8 0 từ thị xã Phú Thọ đến cầu Phong Châu” tỉnh Phú Thọ Tôi xin cam đoan đây là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Tác giả
Vũ Mạnh Kiên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè
và đồng nghiệp Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Quản lý xây dựng với đề tài:
Xác định tổng mức đầu tư dự án xây dựng công trình có xét những yếu tố rủi ro, áp dụng cho dự án “Nâng cấp tuyến đê tả sông Thao đoạn từ km64 đến km80 từ thị xã Phú Thọ đến cầu Phong Châu” tỉnh Phú Thọ đã được hoàn thành
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS Vũ Thanh Te đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo Trung tâm Khoa học và triển khai kỹ thuật Thủy Lợi - Trường Đại học Thủy lợi, các cán bộ thư viện trường Đại học Thủy lợi, các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ và
cổ vũ động viên tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết quả dự kiến đạt được 2
1.1 Tổng quan về tổng mức đầu tư 4
1.1.1 Những khái niệm về tổng mức đầu tư cho dự án xây dựng công trình 4
1.1.1.1 Một số đặc điểm của thị trường xây dựng Việt Nam 4
1.1.1.2 Một số đặc điểm của giá xây dựng công trình[1] 4
1.1.1.3 Tổng mức đầu tư xây dựng công trình[2] 6
1.1.1.4 Điều chỉnh tổng mức đầu tư[3] 6
1.1.2 Những hạng mục chi phí trong tổng mức đầu tư 7
1.1.3 Phương pháp xác định tổng mức đầu tư khi chưa xét đến yếu tổ rủi ro[4]9 1.1.3.1 Phương pháp xác định theo thiết kế cơ sở của dự án 9
1.1.3.2 Tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng, năng lực phục vụ của công trình 13
1.1.3.3 Phương pháp xác định theo số liệu của dự án có các công trình xây dựng có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tương tự đã thực hiện 15
1.1.3.4 Phương pháp kết hợp 16
1.2 Tổng quan về rủi ro cho một dự án 18
1.2.1 Những khái niệm về rủi ro cho dự án xây dựng[5] 18
1.2.1.1 Rủi ro 18
1.2.1.2 An toàn 19
1.2.1.3 Phân biệt rủi ro và bất định 19
1.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro đến chi phí của dự án 20
1.3 Tình hình thay đổi tổng mức đầu tư của các dự án trong thời gian qua 23
1.3.1 Thực trạng đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay 23
Trang 41.3.2 Tình hình thay đổi tổng mức đầu tư của các dự án giao thông ở Việt Nam
trong thời gian qua 24
1.3.3 Các tác động của rủi ro đến hiệu quả kinh tế - xã hội khi thực hiện của dự án[6] 25
1.3.3.1 Chi phí dự án (cost) 26
1.3.3.2 Thời gian dự án (time) 26
1.3.3.3 Chất lượng công trình (quality) 27
1.4 Phân tích và đánh giá 28
1.4.1 Phân tích 28
1.4.2 Đánh giá 28
1.5 Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH TỔNG MỨC ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN KHI XÉT ĐẾN CÁC YẾU TỐ RỦI RO 30
2.1 Cơ sở khoa học về rủi ro 30
2.1.1 Phương pháp luận về quản lý rủi ro[7] 30
2.1.2 Phân tích những rủi ro xảy ra đối với một dự án xây dựng 32
2.1.2.1 Phân tích các rủi ro điển hình của dự án bắt nguồn từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư 32
2.1.2.2 Phân tích các rủi ro điển hình của dự án trong giai đoạn thực hiện đầu tư 35
2.1.2.3 Phân tích rủi ro điển hình của dự án trong giai doạn kết thúc đầu tư 41
2.2 Phương pháp đo lường và phân tích rủi ro[8] 42
2.2.1 Đo lường rủi ro theo phương pháp định tính 42
2.2.2 Đo lường rủi ro theo phương pháp định lượng 43
2.2.2.1 Phương pháp phân tích độ nhạy 43
2.2.2.2 Phương pháp áp dụng lý thuyết mô phỏng 45
2.3 Nhận dạng và quản lý rủi ro trong dự án xây dựng 48
2.3.1 Nhận dạng các hạng mục có khả năng rủi ro 48
2.3.2 Quản trị rủi ro[8] 51
2.3.2.1 Phương pháp luận về quản trị rủi ro 51
Trang 52.3.2.2 Phương pháp quản trị rủi ro 52
2.4 Phân tích nguyên nhân có rủi ro cơ bản ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư của dự án 56
2.4.1 Nguyên nhân bên ngoài 56
2.4.2 Nguyên nhân bên trong 56
2.5 Xác định chi phí gặp rủi ro trong tổng mức đầu tư, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư khi có rủi ro 58
2.5.1 Các thành phần chi phí gặp rủi ro 58
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu thực tế về quá trình thực hiện đầu tư dự án nâng cấp đê kết hợp giao thông 59
2.5.2.1 Quy trình nghiên cứu 59
2.5.2.2 Thiết kế bảng câu hỏi 60
2.5.2.3 Nội dung bảng câu hỏi 62
2.5.3 Phương pháp xác định các chi phí rủi ro trong xây dựng 65
2.5.3.1 Cơ sở xác định 65
2.5.3.2 Công thức tổng quát 66
2.6 Phân tích và đánh giá 67
2.6.1 Phân tích 67
2.6.2 Đánh giá 67
2.7 Kết luận chương 67
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG TỔNG MỨC ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN ”NÂNG CẤP TUYẾN ĐÊ TẢ SÔNG THAO ĐOẠN TỪ KM64 ĐẾN KM80 TỪ THỊ XÃ PHÚ THỌ ĐẾN CẦU PHONG CHÂU” TỈNH PHÚ THỌ CÓ KỂ ĐẾN RỦI RO 68
3.1 Giới thiệu về dự án” Nâng cấp tuyến đê tả sông Thao đoạn từ km64 đến km80 từ thị xã Phú Thọ đến cầu Phong Châu” tỉnh Phú Thọ 68
3.1.1 Tổng quan về dự án[9] 68
3.1.2 Tổng mức đầu tư xây dựng dự án 75
3.2 Những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án 78
3.2.1 Thống kê ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro 78
3.2.2 Thống kê các thông tin các đối tượng tham gia khảo sát 85
3.2.2.1 Vai trò của người khảo sát: 85
3.2.2.2 Kinh nghiệm làm việc 86
Trang 63.2.2.3 Loại dự án tham gia 86
3.3 Đánh giá mức độ rủi ro của dự án 87
3.3.1 Đánh giá các khả năng xuất hiện các rủi ro 87
3.3.2 Phân tích các rủi ro này dựa trên xác suất xuất hiện 87
3.4 Xác định tổng mức đầu tư cho dự án này dựa trên kết quả phân tích 92
3.4.1 Phương pháp xác định tổng mức đầu tư khi chưa có rủi ro 92
3.4.2 Phương pháp xác định tổng mức đầu tư khi có rủi ro 93
3.4.3 Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro, phân tích các biện pháp giảm thiểu rủi ro 94
3.4.4 Phân tích và đánh giá 96
3.4.4.1 Phân tích 96
3.4.4.2 Đánh giá 96
3.5 Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Các rủi ro điển hình của dự án bắt nguồn từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư 35
Hình 2.2 Các rủi ro điển hình của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư 40
Hình 3.1 Một số mặt cắt ngang tuyến thiết kế 74
Hình 3.2 Biểu đồ thống kê đơn vị công tác 85
Hình 3.3 Biều đồ thống kê kinh nghiệm làm việc 86
Hình 3.4 Biểu đồ thống kê loại dự án tham gia 86
Hình 3.5 Sơ đồ bố trí cọc và cừ cho tường chắn đất 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.Tần suất của hậu quả trong giai đoạn thi công 50
Bảng 2.2 Bảng phân cấp nguy hiểm và phân loại rủi ro 51
Bảng 2.3 Xác định xác suất P khi sảy ra sạt lở mái kè 66
Bảng 3.1 Mực nước thiết kế đê Tả Thao đoạn từ KM64 đến KM80 theo quy hoạch 71 Bảng 3.2 Tổng hợp khối lượng các hạng mục chính của dự án 76
Bảng 3.3 Tổng hợp các chi phí trong TMĐT của dự án 77
Bảng 3.4 Danh sách các đơn vị gửi bảng khảo sát 78
Bảng 3.5 Một số dự án điều tra, tìm hiểu 79
Bảng 3.6 Tổng hợp thông tin một số dự án về quy mô và giá trị TMĐT[11] 80
Bảng 3.7 Một số nguyên nhân điều chỉnh TMĐT của một số dự án thuộc phạm vi tìm hiểu 82
Bảng 3.8 Bảng xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro 84
Bảng 3.9 Bảng xếp hạng mức độ xuất hiện của các yếu tố rủi ro 84
Bảng 3.10 Thống kê xác suất P của một số dự án điều tra 88
Bảng 3.11 Thống kê sác suất xảy ra rủi ro của các hạng mục 93
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển châu á
BOT Build-Operate-Transfe: xây dựng-khai thác-chuyển giao
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ODA Official Development Assistance: Đầu tư nước ngoài
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây ngành xây dựng Việt Nam có những bước tiến đáng kể, với tốc độ tương đối nhanh Hàng trăm dự án lớn được đầu tư mỗi năm với số vốn rất lớn, đòi hỏi nhà nước, các cấp các ngành ra sức kêu gọi đầu tư từ các tổ chức doanh nghiệp Vốn đầu tư cho các dự án lớn chủ yếu là vốn vay ODA của các nước phát triển như Nhật Bản, Ấn Độ hay từ ngân hàng thế giới WB, ngân hàng phát triển châu á ADB Vì thế để các nhà đầu tư tham gia góp vốn vào các dự án xây dựng thì điều quan trọng là thấy được sự hiệu quả của dự án, với một giá trị tổng mức đầu tư phù hợp
Ngành xây dựng với những sản phẩm xây dựng có tính đa dạng, chi phí phục vụ cho đầu tư xây dựng công trình lớn với thời gian kéo dài, chịu nhiều tác động của các yếu
tố tự nhiên, xã hội Quá trình khảo sát, thu thập tài liệu về công trình không thể tránh khỏi các yếu tổ rủi ro không lường hết được, làm cho việc xác định tổng mức đầu tư luôn phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án, thường gói gọn trong chi phí dự phòng tối đa là 10%, như dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng khi khởi công và
ký hợp đồng BOT chỉ có tổng mức đầu tư khoảng 24.500 tỷ đồng sau một thời gian xây dựng dự án đã được điều chỉnh lên tới 45.000 tỷ đồng, dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông được đầu tư xây dựng bằng vốn vay ODA của Trung Quốc có tổng mức đầu tư 552,86 triệu USD, sau một thời gian thi công được điều chỉnh lên
868,04 triệu UDS, tăng 315,18 triệu USD Theo chủ đầu tư nguyên nhân làm tăng tổng mức đầu tư là do sử dụng công nghệ mới lần đầu nên chưa có kinh nghiệm, chậm giải phóng mặt bằng, trượt giá đây chính là các yếu tố rủi ro chưa được nhìn nhận đúng đắn Tổng mức đầu tư của dự án được lập trong giai đoạn thiết kế cơ sở, khi mà các số liệu về công trình chi mang tính tổng quát, dài, rộng, cao trong khi ở giai đoạn bản vẽ thi công thì đều tuân thủ theo dự toán lập Do đó cần xác định được chi phí nào có thể
gia tăng khi thực hiện dự án là vấn đề hết sức khó khăn
Xuất phát từ yêu cầu thực tế tác giả nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu phân tích,
đánh giá rủi ro của các dự án đầu tư ngay từ ý tưởng đầu tiên, chính vì thế cái tên.: Xác
định tổng mức đầu tư dự án xây dựng công trình có xét những yếu tố rủi ro, áp dụng
Trang 12cho dự án “ Nâng cấp tuyến đê tả sông Thao đoạn từ km64 đến km80 từ thị xã Phú
Thọ đến cầu Phong Châu” tỉnh Phú Thọ Được tác giả chọn làm đề tài của mình
2 M ục tiêu của đề tài
Phân tích tìm ra những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư xây dựng công trình,
từ đó xây dựng được tổng mức đầu tư của công trình có kể đến các yếu tố rủi ro này Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Các nguyên nhân nào dẫn đến sự gia tăng TMĐT trong quá trình thực hiện dự án?
- Trong các nguyên nhân đó thì nguyên nhân nào thường hay sảy ra và nguyên nhân nào có tác động mạnh nhất?
- Các bên tham gia dự án cần làm gì để hạn chế việc thay đổi TMĐT khi thực hiện dự án?
3 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ tiếp cận cơ sở lý luận về lý thuyết rủi ro và phương pháp xác định tổng mức đầu tư của công trình, dự án Từ đó tìm ra những nguyên nhân chính dẫn đến những thay đổi của tổng mức đối với công trình, dự án trong quá trình thực hiện dự án
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu và nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp chuyên gia
4 Kết quả dự kiến đạt được
- Xác định được phương pháp luận vể rủi ro cho dự án
- Xây dựng được phương pháp xác định tổng mức đầu tư có xét những yếu tố rủi ro chủ yếu trong quá trình thực hiện dự án
Trang 13- Áp dụng phương pháp này xây dựng tổng mức đầu tư cho dự án” Nâng cấp tuyến đê
tả sông Thao đoạn từ km64 đến km80 từ thị xã Phú Thọ đến cầu Phong Châu” tỉnh Phú Thọ có xét đến những rủi ro trong quá trình thực hiện dự án
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔNG MỨC ĐẦU TƯ VÀ RỦI RO TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG
1.1 T ổng quan về tổng mức đầu tư
1.1.1 Những khái niệm về tổng mức đầu tư cho dự án xây dựng công trình
1.1.1.1 Một số đặc điểm của thị trường xây dựng Việt Nam
Thị trường xây dựng Việt Nam được vận hành theo đường lối đã được Đảng và Nhà nước ta lựa chọn là xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Đặc điểm này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường xây dựng là rất quan trọng
Môi trường pháp lý thiếu, chưa ổn định Nhiều văn bản pháp luật còn bộc lộ những bất cập và đã phải bổ sung, sửa đổi nhiều lần, thường xuyên Đây là một trong những nguyên nhân làm cho tính cạnh tranh trên thị trường xây dựng thiếu lành mạnh và gây tốn kém, lãng phí cho nhà nước, xã hội
Cung và cầu trên thị trường xây dựng mất cân đối nghiêm trọng Lực lượng cung dư thừa, nhưng lại có điểm còn thiếu như thiếu các lực lượng xây dựng đặc chủng tinh nhuệ, thiếu những công ty mạnh có khả năng cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đều có quy mô nhỏ, chỉ có một số ít các doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn Tính cạnh tranh trên thị trường rất gay gắt Thị trường xây dựng Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
1.1.1.2 Một số đặc điểm của giá xây dựng công trình[1]
Giá CTXD là dự tính và mang tính đơn chiếc Cách xác định giá xây dựng công trình
có nhiều điểm khác so với cách xác định giá sản phẩm công nghiệp, đó là không thể xác định giá theo chủng loại, quy cách, chất lượng từng lô hàng mà chỉ có thể dự tính giá đơn chiếc
Xác định giá xây dựng công trình là một quá trình từ tổng mức đầu tư của dự án ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình đến dự toán xây dựng công trình ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình và giá trị thanh toán, quyết toán
Trang 15vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
Giá xây dựng là loại giá được tổ hợp theo cơ cấu bộ phận cấu tạo đối tượng (sản phẩm) nên có giá hạng mục công trình, bộ phận hạng mục, bộ phận kết cấu, chi tiết kết cấu
Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng
Chi phí đầu tư xây dựng công trình được biểu thị qua các chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu tổng mức đầu tư của dự án ở giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình
- Dự toán xây dựng công trình ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình
- Giá trị thanh toán, quyết toán vốn đầu tư khi kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
Chi phí đầu tư xây dựng công trình được lập theo từng công trình cụ thể, phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, nguồn vốn sử dụng và các quy định của Nhà nước
Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu đầu tư
và hiệu quả dự án, đồng thời phải bảo đảm tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng công trình, bảo đảm tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường
Nhà nước thực hiện quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình, hướng dẫn phương pháp lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng công bố định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật và các thông tin liên quan để chủ đầu tư tham khảo xác định chi phí đầu tư
Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi công trình được đưa vào khai thác, sử dụng Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn để thực hiện việc lập, thẩm tra và kiểm soát chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nguồn vốn sử dụng, điều kiện cụ thể của dự án
Trang 161.1.1.3 Tổng mức đầu tư xây dựng công trình[2]
Tổng mức đầu tư xây dựng công trình được hiểu theo điều 134 Luật xây dựng 50/2014/QH2013: “Tổng mức đầu tư là chi phí dự tính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nội dung dự án và thiết kế cơ sở; đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán xây dựng công trình được xác định phù hợp với nội dung báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công” Khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình hay lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, chủ đầu tư phải xác định tổng mức đầu tư để tính toán hiệu quả đầu tư xây dựng Tổng mức đầu
tư đã được phê duyệt là chi phí tối đa mà chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình và là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn để thực hiện đầu tư xây dựng công trình
1.1.1.4 Điều chỉnh tổng mức đầu tư[3]
Tổng mức đầu tư được điều chỉnh đối với một trong các trường hợp sau đây:
- Ảnh hưởng của động đất, bão, lũ, lụt, sóng thần, hoả hoạn, địch hoạ hoặc sự kiện bất khả kháng khác
- Xuất hiện các yếu tố đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án
- Khi quy hoạch xây dựng thay đổi trực tiếp ảnh hưởng đến địa điểm, quy mô, mục tiêu của dự án
Nội dung, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư điều chỉnh được quy định tại các Khoản 2, 3 Điều 7 Nghị định số 32/2015/NĐ-CP
Trường hợp khi thay đổi cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư, kể cả sử dụng chi phí dự phòng để điều chỉnh mà không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư được quyền quyết định việc điều chỉnh; trường hợp vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định
Trang 17Tổng mức đầu tư điều chỉnh được xác định bằng tổng mức đầu tư đã được phê duyệt
cộng (hoặc trừ) phần tổng mức đầu tư bổ sung Giá trị phần tổng mức đầu tư bổ sung được xác định thành một khoản chi phí riêng và phải được tổ chức thẩm định hoặc
thẩm tra trước khi quyết định phê duyệt
1.1.2 Những hạng mục chi phí trong tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư được tính toán và xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu khả thi) hoặc lập báo các kinh tế kỹ thuật
Tổng mức đầu tư của một công trình xây dựng bao gồm 07 thành phần:
Công thức tổng quát ước tính tổng mức đầu tư xây dựng:
V = GBT,TĐC + GXD + GTB + GQLDA + GTV + GK + GDP
Trong đó
+ V: Tổng mức đầu tư xây dựng công trình
+ Chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư (GBT,TĐC ):
- Chi phí bồi thường nhà cửa, vật kiến trúc, cây trồng trên đất
- Chi phí thực hiện tái định cư
- Chi phí tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng
- Chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng
- Chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Chi phí xây dựng (GXD):
- Chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình
- Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ
- Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng
- Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công
Trang 18- Nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
+ Chi phí thiết bị (GTB):
- Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ
- Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ
- Chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh
- Chi phí vận chuyển, bảo hiểm
- Thuế và các loại phí liên quan khác
+ Chi phí quản lý dự án (GQLDA):
Bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện công việc quản lý dự án từ khi lập dự án đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử dụng và chi phí
giám sát, đánh giá dự án đầu tư
+ Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng công trình (GTV):
- Chi phí khảo sát xây dựng
- Chi phí lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, khả thi và báo cáo kinh tế ky thuật
- Chi phí thi tuyển thiết kế kiến trúc
- Chi phí thiết kế xây dựng công trình
- Chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
- Chi phí tư vấn quản lý dự án
- Chi phí kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp với chất lượng công trình
- Một số chi phí khác
+ Chi phí khác(GK):
- Chi phí rà phá bom mìn, vật nổ
Trang 19- Chi phí bảo hiểm công trình
- Chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế, quan trắc biến dạng công trình
- Chi phí bảo đảm an toàn giao thông phục vụ thi công các công trình
- Chi phí kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
- Chi phí nghiên cứu khoa học có liên quan đến dự án
- Vốn lưu động ban đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh
- Lãi vay trong thời gian xây dựng
- Một số chi phí khác
+ Chi phí dự phòng(GDP): Dự phòng do phát sinh khối lượng và dự phòng do yếu tố trượt giá
1.1.3 Phương pháp xác định tổng mức đầu tư khi chưa xét đến yếu tổ rủi ro[4]
1.1.3.1 Phương pháp xác định theo thiết kế cơ sở của dự án
Theo thông tư 06/2016 TT-BXD ngày 10/3/2016 Chi phí xây dựng được tính theo khối lượng chủ yếu từ thiết kế cơ sở, các khối lượng khác dự tính và giá xây dựng phù hợp với thị trường; chi phí thiết bị được tính theo số lượng, chủng loại thiết bị phù hợp với thiết kế công nghệ, giá thiết bị trên thị trường và các yếu tố khác (nếu có); chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được tính theo khối lượng phải bồi thường hỗ trợ, tái định cư của dự án và các chế độ của nhà nước có liên quan; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác được xác định bằng cách lập dự toán hoặc tạm tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí xây dựng và chi phí thiết bị; chi phí
dự phòng
Đối với công trình chỉ yêu cầu lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán công trình gồm chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư (nếu có) Dự toán công trình tính theo khối lượng từ thiết kế bản vẽ thi công
Trang 201 Xác định chi phí bồi thường hỗ trợ tái định cư
Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (G BT,TĐC) được hướng dẫn trong thông tư 37/2014/TT-BTNMT và nghị định 47/2014NĐ-CP , xác định theo khối lượng phải bồi thường và tái định cư của dự án và các quy định hiện hành của nhà nước về bồi thường, tái định cư của địa phương nơi xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt ban hành
2 Xác định chi phí xây dựng
Chi phí xây dựng của dự án (Gxd) bằng tổng chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, thuộc dự án xác định theo công thức sau
(1-1) n: số công trình hạng mục công trình thuộc dự án
Chi phí xây dựng công trình hạng mục công trình được xác định theo công thức sau:
(1-2) : khối lượng công tác xây dựng chủ yếu hoặc bộ phận kết cấu chính thứ j của công trình thuộc dự án, (j=1÷m)
: đơn giá xây dựng chủ yếu hoặc đơn giá theo bộ phận kết cấu chính thứ J của công trình Đơn giá có thể là đơn giá xây dựng công trình đầy đủ hoặc giá xây dựng tổng hợp đầy đủ (bao gồm cả chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trước)
: chi phí xây dựng các công tác khác hoặc bộ phận kết cấu khác còn lại của công trình, hạng mục công trình ước tính theo tỷ lệ % trên tổng chi phí xây dựng các công tác chủ yếu hoặc tổng chi phí các hạng mục kết cấu chính của công trình hạng mục công trình
: mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định cho công tác xây dựng
Trang 213 Xác định chi phí thiết bị
Trường hợp dự án có các nguồn thông tin, số liệu chi tiết về dây truyền công nghệ, số lượng, chủng loại, giá trị từng thiết bị hoặc giá trị toàn bộ dây truyền công nghệ, Gía một tấn hoặc một cái hay toàn bộ dây truyền thiết bị tương ứng thì chi phí thiết bị
của dự án bằng tổng chi phí thiết bị của các công trình thuộc dự án
Trường hợp dự án có thông tin về giá chào hàng đồng bộ, về thiết bị dây truyền công nghệ của nhà sản xuất hoặc đơn vị cung ứng thiết bị thì chi phí thiết bị của dự
án có thể được lấy trực tiếp từ các báo giá hoặc giá chào hàng thiết bị đồng bộ này
4 Xác định chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn và chi phí đầu tư xây dựng và chi phí khác
Chi phí quản lý dự án
(1-3) T: định mức tỷ lệ % đối với chi phí quản lý dự án
chi phí xây dựng trước thuế
chi phí thiết bị trước thuế
Chi phí xây dựng
(1-4) Ci: chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ i tính theo tỷ lệ
Dj: chi phí tư vấn đâu tư xây dựng thứ j tính bằng lập dự toán
: mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành đối với khoản mục chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ i tính theo tỷ lệ
Trang 22: mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành đối với khoản
mục chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ j tính bằng lập dự toán
Chi phí khác
(1-5)
Ci: chi phí khác thứ i tính theo định mức tỷ lệ
Di: chi phí khác thứ i tính bằng lập dự toán
Ek: chi phí khác thứ k có liên quan khác k=1÷l
: mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành đối với khoản
mục chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ i tính theo tỷ lệ
: mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành đối với khoản
mục chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ j tính bằng lập dự toán
5 Xác định chi phí dự phòng
Chi phí dự phòng xác định do hai yếu tố: Dự phòng chi phí cho yếu tố khối lượng
công việc phát sinh và dự phòng chi phí cho yếu tố trượt giá
(1-6) : Chi phí dự phòng do khối lượng công việc phát sinh xác định như sau
Kps: hệ số dự phòng do công việc phát sinh là 10%
Riêng đối với trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật thì hệ số dự phòng do khối
lượng công việc phát sinh là 5%
Khi tính dự phòng cho yếu tố trượt giá cần căn cứ vào độ dài thời gian thực
hiện dự án, tiến độ phân vốn, tình hình biến động giá trên thị trường trong thời gian
Trang 23thực hiện dự án và chỉ số giá xây dựng chi phí này được xác định theo công thức sau
(1-6b)
T: dộ dài thời gian thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình (năm)
t: số tự năm phân bổ vốn thực hiện dự án (t=1÷T)
Vt: vốn đâu tư dự kiến trong năm thứ t
chi phí lãi vay của vốn đầu tư dự kiến thực hiện trong năm thứ t
: mức độ trượt giá bình quân tính trên cơ sở bình quân các chỉ số giá xây dựng công trình theo loại công trình của tối thiểu 3 năm gần nhất so với thời điểm tính toán(không tính cho thời điểm có biến động bất thường về giá nguyên liệu nhiên liệu và vật liệu xây dựng)
: mức dự báo biến động của các yếu tố chi phí, giá cả trong khu vực và quốc
tế so với mức độ trượt giá bình quân năm đã tính
1.1.3.2 Tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng, năng lực phục vụ của công trình
Phương pháp tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng của công trình và giá xây
dựng tổng hợp theo bộ phận kết cấu, theo diện tích, công năng sử dụng (sau đây gọi
là giá xây dựng tổng hợp), suất vốn đầu tư xây dựng công trình tương ứng tại thời điểm lập dự án có điều chỉnh, bổ sung những chi phí chưa tính trong giá xây dựng
tổng hợp và suất vốn đầu tư để xác định tổng mức đầu tư
1 Xác định chi phí xây dựng
Chi phí xây dựng của dự án bằng tổng chi phí xây dựng của các công trình, hạng mục công trình thuộc dự án được xác định theo công thức sau
(1-7)
Trang 24Chi phí xây dựng của công trình, hạng mục công trình được xác định theo công thức sau
(1-8) : suất chi phí xây dựng tính cho một đơn vị công suất sản xuất, năng lực phục vụ đơn giá xây dựng tổng hợp tính cho một đơn vị diện tích công trình, hạng mục công trình thuộc dự án
: các khoản mục chi phí chưa được tính trong suất chi phí xây dựng hoặc chưa tính trong đơn giá xây dựng tổng hợp tính cho một đơn vị diện tích hoặc công suất, năng lực phục vụ của công trình, hạng mục công trình thuộc dự án
N: diện tích hoặc công suất sản xuất, năng lực phục vụ của công trình, hạng mục công trình thuộc dự án
2 Xác định chi phí thiết bị
Chi phí thiết bị của dự án bằng tổng chi phí thiết bị của các công trình thuộc dự án Chi phí thiết bị của dự án được xác định theo công thức sau:
(1-9) : suất chi phí thiết bị tính cho một đơn vị diện tich hoặc một đơn vị công suất, năng lực phục vụ của công trình thuộc dự án
: các khoản mục chi phí chưa được tính trong suất chi phí thiết bị của công trình thuộc dự án
Trang 251.1.3.3 Phương pháp xác định theo số liệu của dự án có các công trình xây dựng có các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tương tự đã thực hiện
Các dự án, công trình có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự là những công trình xây dựng có cùng loại, cấp công trình, quy mô, công suất của dây chuyền thiết bị, công nghệ tương tự Khi áp dụng phương pháp này phải tính quy đổi các số liệu của dự án tương tự về thời điểm lập dự án và điều chỉnh các khoản mục chi phí chưa xác định trong tổng mức đầu tư
Trường hợp có đầy đủ thông tin, số liệu về chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục xây dựng công trình có chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tương tự đã thực hiện thì tổng mức đầu tư được xác định theo công thức sau:
(1-10) n: số công trình tương tự đã thực hiện
i: số thứ tự của công trình tương tự đã thực hiện
: chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình tương tự đã thực hiện thứ i của dự án đầu tư (i=1÷n)
: hệ số quy đổi về thời điểm lập dự án đầu tư xây dựng công trình
: hệ số quy đổi về địa điểm xây dựng dự án
: những chi phí chưa tính hoặc đã tính trong chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trinh tương tự đã thực hiện thứ i
Trường hợp tính bố sung thêm những chi phí cần thiết của dự án dang tính toán nhưng chưa tính đến trong chi phí đầu tư xây dựng cồng trình, hạng mục công trình của dự án tương tự Trường hợp giảm trừ những chi phí đã tính trong chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình của dự án tương
tự nhưng không phù hợp hoặc không cần thiết cho dự án đang tính toán
Trang 26Trường hợp với nguồn số liệu về chi phí đầu tư xây dựng của các công trình, hạng mục công trình có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã thực hiện chỉ có thể xác định được chi phí xây dựng và chi phí thiết bị của các công trình thì cần qui đổi các chi phí này về thời điểm lập dự án Trên cơ sở chi phí xây dựng và chi phí thiêt bị đã quy đổi này, các chi phí bồi thường hỗ trợ và tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng công trình, chi phí khác và chi phí dự phòng được xác định
tương tự như khi tính với trương hợp “Xác định tổng mức đầu tư từ thiết kế cơ sở”
1.1.3.4 Phương pháp kết hợp
Đối với dự án có nhiều công trình, tùy theo điều kiện yêu cầu cụ thể của dự án và nguồn có được có thể vận dụng kết hợp các phương pháp trên để xác định TMĐT của
dự án
Các căn cứ xác định tổng mức đầu tư
a) Suất vốn đầu tư xây dựng công trình
Suất vốn đầu tư xây dựng công trình là chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tổng hợp quan trọng trong công tác quản lý, là công cụ trợ giúp các cơ quan quản lý, chủ đầu tư và nhà tư vấn khi xác định tổng mức đầu tư của dự án, làm cơ sở để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư xây dựng
Nội dung của suất vốn đầu tư bao gồm các chi phí cần thiết cho việc xây dựng, mua sắm và lắp đặt thiết bị, quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng và các khoản chi phí khác Các chi phí được tính cho một đơn vị năng lực sản xuất hoặc phục vụ theo thiết
kế của công trình thuộc dự án Năng lực sản xuất hoặc phục vụ của công trình thuộc
dự án là khả năng sản xuất sản phẩm hoặc phục vụ của công trình theo thiết kế cơ sở của dự án và được xác định bằng các đơn vị đo thích hợp và được ghi trong quyết định đầu tư
Phân loại suất vốn đầu tư:
- Theo hình thức đầu tư: Công trình xây dựng mới, công trình cải tạo, mở rộng, nâng cấp hoặc công trình có yêu cầu đặc biệt về công nghệ
Trang 27- Theo loại hình công trình: Công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình NN&PTNT, công trình hạ tầng kỹ thuật…
- Theo thành phần chi phí: Suất chi phí xây dựng, suất chi phí thiết bị, suất vốn đầu
tư ở nước ta đã 3 lần được biên soạn và giới thiệu để tham khảo vào các năm 1993,
1997 và 2005 Suất vốn đầu tư được giới thiệu vào các năm này còn rất nhiều bất cập, cụ thể:
- Chưa quy định rõ ràng về đặc điểm, quy mô, tính chất, kết cấu và những thông số
kỹ thuật của đối tượng đầu tư
- Danh mục chỉ tiêu chưa đầy đủ cho các loại công trình, hạng mục công trình
- Mức chi phí trong chỉ tiêu mới chủ yếu tính toán ở 2 khâu là chi phí xây dựng và chi phí thiết bị; còn các chi phí khác liên quan đến công trình, dự án chưa được đề cập như thuế, chuyển nhượng đất đai, dự phòng, lãi vay, vốn lưu động ban đầu cho sản xuất kinh doanh
Việc điều chỉnh thường xuyên theo giá cả, tỷ suất lợi nhuận, tỷ giá hối đoái là rất khó khăn Do đặc điểm về địa lý, địa chất, thủy văn nên giá trị sử dụng công trình xây dựng ở mỗi địa phương, mỗi khu vực rất khác nhau
Suất vốn đầu tư xây dựng công trình được công bố theo Quyết định 1161/QĐ-BXD ngày 15/10/2015 Nội dung chỉ tiêu suất vốn đầu tư xây dựng công trình bao gồm các chi phí cần thiết cho việc xây dựng, mua sắm và lắp đặt thiết bị, quản lý dự án, tư vấn đầu tư xây dựng và các khoản chi phí khác Các chi phí này được tính cho một đơn vị năng lực sản xuất hoặc phục vụ theo thiết kế của công trình thuộc dự án Suất vốn đầu
tư xây dựng công trình được tính toán cho các loại công trình xây dựng dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình thủy lợi
Nội dung chi phí trong chỉ tiêu suất vốn đầu tư xây dựng công trình được công bố theo công văn trên chưa bao gồm chi phí cho một số công tác sau
- Chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư
- Chi phí khác: đánh giá tác động môi trường, đăng kiểm chất lượng, quan trắc biến
Trang 28dạng…
- Lãi vay trong thời gian thực hiện dự án
- Vốn lưu động ban đầu (đối với dự án sản xuất kinh doanh)
- Chi phí dự phòng trong tổng mức đầu tư
b) Chỉ số giá xây dựng
Chỉ số giá xây dựng được biểu thị bằng tỷ số giữa giá xây dựng tại thời điểm so sánh với giá xây dựng tại thời điểm được chọn làm gốc Như vậy, chỉ số giá xây dựng phản ánh đúng mức độ biến động (tăng hay giảm) của giá xây dựng công trình qua các thời kỳ
Chỉ số giá xây dựng là một trong những công cụ quản lý có hiệu quả, giúp cho các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng có căn cứ để xác định hợp lý mức vốn đầu tư, làm cơ sở cho việc xác định đúng dự toán, xác định giá gói thầu trong quá trình lập và quản lý thực hiện dự án
1.2 T ổng quan về rủi ro cho một dự án
1.2.1 Những khái niệm về rủi ro cho dự án xây dựng[5]
1.2.1.1 Rủi ro
Rủi ro là khái niệm được đề cập khá rộng rãi ở tất cả các mặt trong đời sống xã hội Trong cuộc sống chúng ta vẫn thương nhắc đến rủi ro là nhưng tác động gây ra thiệt hại về của cải, vật chất và tính mạng con người Đó có thể là những thảm họa thiên nhiên như bão, lũ, hạn hán … Hay những rủi ro do lạm phát, do khủng hoảng kinh tế Nhưng rủi ro đó có thể là do những tác động của ngoại cảnh và cũng có thể là do chính chủ thể gây ra
Hiện nay, rủi ro là vấn đề được nhìn nhận, đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau, rất khó
có thể đưa ra một khái niệm mang tính tổng quát phản ánh hết nội dung hàm chứa trong nó
Mặc dù có một số quan niệm khác nhau về rủi ro nhưng trong phạm vi luận văn chỉ tập
Trang 29trung nghiên cứu các rủi ro làm thay đổi kết quả theo chiều hướng bất lợi
Từ cơ sở kể trên, có thể đưa ra một khái niệm về rủi ro như sau: Rủi ro là tổng hợp của
những sự kiện ngẫu nhiên tác động lên sự vật, hiện tượng làm thay đổi kết quả của sự vật, hiện tượng (thường theo chiều hướng bất lợi) và những tác động ngẫu nhiên đó có thể đo lường được bằng xác suất
1.2.1.2 An toàn
Là khái niệm nhằm đánh giá mức độ, khả năng không xảy ra rủi ro gây tổn thất cho doanh nghiệp Để lượng hóa an toàn ta dùng hai chỉ tiêu cơ bản là xác suất an toàn ( Pa) và xác suất rủi ro (Pr)
Xác suất an toàn: liên hệ với xác suất rủi ro thông qua biểu thức
Pa + Pr = 1 (1-11) Tương quan giữa hai đại lượng cho thấy xác suất an toàn càng cao thì xác suất rủi ro càng thấp và ngược lại Khi xác định được xác suất an toàn, thông qua biều thức ta xác định được xác suất rủi ro do đó thay vì đánh giá mức độ rủi ro trong sản xuât kinh doanh ta có thể đánh giá qua xác suất an toàn của dự án thực hiên và ngược lại
1.2.1.3 Phân biệt rủi ro và bất định
Trong cuộc sống chúng ta đối diện với nhiều tình huống mà không thể biết được chuyện gì tốt xấu sẽ xảy ra Những tình huống như vậy có người gọi là rủi ro có người cho là bất định Tuy nhiên, hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau, hiểu được
sự khác biệt này sẽ giúp chúng ta có cách hành xử hợp lý hơn
- Rủi ro (risk) là những tình huống có nhiều biến cố có thể xảy ra và ta biết xác suất xuất hiện và kết quả của các biến cố này
- Bất định (Uncertainty) là tình huống ta không biết chắc chắn chuyện gì xảy ra cũng như khả năng xảy ra những biến cố này Người ta không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc chắn là bao nhiêu phần trăm Khi đầu tư xây dựng dự án, CĐT luôn mong muốn việc xác định TMĐT là chính xác nhất, thay đổi ít nhất, nhưng công
Trang 30việc đó còn chịu nhiều tác động của các điều kiện tư nhiên, xã hội mà điều kiện đó thay đổi chúng ta không thể biết trước một cách chắc chắn
Vậy thì phân biệt rủi ro và bất định để làm gì? Chúng ta thường đối diện với bất định hơn là rủi ro
Những gì xảy ra trong thực tế chủ yếu là bất định, chúng ta không biết tất cả các khả năng có thể xảy ra cũng như xác suất xuất hiện của những khả năng này Điều chúng ta thấy là có những biến cố xảy ra nhiều hơn và đặc biệt là chúng ta có thể tác động để thay đổi xác suất xuất hiện cũng như kết quả của biến cố Có một điều là đôi khi chúng
ta lại nghĩ rằng đó là những tình huống rủi ro Một nhà đầu tư khi đầu tư xây dựng con đường đã phải khảo sát kỹ càng về lưu lượng xe đi lại nhưng nếu chi phí cho 1km lưu thông quá cao để nhanh thu lại vốn thì lưu lượng xe sẽ giảm làm tăng thêm thời gian hoàn vốn, để thay đổi điều này nhà đầu tư hoàn toàn thay đổi được
Sự khác biệt giữa rủi ro và bất định là khả năng chúng ta có thể tác động để thay đổi xác suất xảy ra các biến cố và kết quả của biến cố Nếu chúng ta không làm gì cả thì
đó là rủi ro, còn nếu chúng ta có thể tham gia làm hạn chế thiệt hại và tăng những lợi ích thì đó là bất định Điều này cũng không ngoại trừ đối với nghành xây dựng hiện nay, rủi ro hay bất định luôn có thể sảy ra ở bất cứ quá trình, giai đoạn, hay công đoạn nào đó, gây ra những thiệt hại nhất định
1.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro đến chi phí của dự án
Những yếu tố liên quan đến tổng mức đầu tư
Đứng trên quan điểm quản lý xây dựng thì tổng mức đầu tư là cơ sở để chủ đầu tư lập
kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư được lập ra ngay từ lúc lập thiết kế sơ bộ và kết thúc khi hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác Như vậy các yếu tố có liên quan đến tổng mức đầu tư bao gồm những công việc chính như thiết kế, thi công xây dựng, lắp đặt, nghiệm thu, vận hành thử, bàn giao Trong mỗi công việc đó lại chia nhỏ như trong thiết kế còn có yếu tố khảo sát phục vụ thiết kế, tổ chức thiết kế, lập bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ thi công lập dự toán thi công Trong thi công còn có công tác chuẩn bị như lập mặt bằng công trường, khai thác vật liệu, làm đường vận chuyển, xây dựng mạng lưới điện, hệ thống cấp nước,
Trang 31xây dựng nhà ở và nhà điều hành công trường, xây dựng các khu phụ trợ thi công, xây dựng những công trình tạm, thi công các hạng mục công trình… Tuy nhiên, nếu dựa trên sự phân chia các bên tham gia dự án thì có ghép thành hai yếu tố chính:
- Yếu tố về kỹ thuật – công nghệ nhằm trực tiếp tạo ra khối lượng công trình, được thể hiện chủ yếu trong nhóm chi phí xây dựng Đó là những chi phí về vật liệu xây dựng,
xe máy, thiết bị thi công, nhà xưởng phụ trợ, chi phí lao động và quản lý
- Yếu tố về năng lực tài chính đóng vai trò là nguồn lực về tài chính, được thể hiện trong nhóm chi phí thiết bị; chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý
dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác Hai yếu tố trên có ảnh hưởng chính đến tổng mức đầu tư
Mức độ ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư
Hai loại yếu tố trên ảnh hưởng rất đa dạng đến các hạng mục chi phí trong tổng mức đầu tư Trong nhóm chi phí xây dựng thì ảnh hưởng lớn nhất là sự biến động giá nguyên vật liệu Ảnh hưởng của nhóm tài chính phụ thuộc nhiều yếu tố rõ rệt nhất là
do lạm phát khiến giá đầu vào tăng lên Ảnh hưởng lớn thứ hai là thiếu hụt ngân sách, khối lượng hoàn thành không được thanh toán kịp thời, giải ngân chậm, buộc phải điều chỉnh lại tổng mức đầu tư tại thời điểm thanh toán để bù cho nhà thầu
Một số sai sót và rủi ro thường gặp trong thực hiện dự án
- Hồ sơ khảo sát không đầy đủ, chưa đủ căn cứ để thiết kế
- Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công không đầy đủ theo quy định, sai lệch về quy mô, cấp công trình, vốn, diện tích đất sử dụng so với quyết định đầu tư
- Công tác dự toán: Tổng dự toán vượt tổng mức đầu tư, dự toán chi tiết vượt tổng dự toán; vận dụng sai định mức, đơn giá, xác định giá đối với những công việc chưa có quy định về giá thiếu căn cứ
- Công tác đấu thầu: Hồ sơ mời thầu không đầy đủ, rõ ràng, chi tiết; phê duyệt hồ sơ
và kế hoạch đấu thầu không đúng thẩm quyền, không đủ số lượng nhà thầu tham dự tối thiểu, không chấp hành quy định về thời gian; mở thầu không đủ thành phần; xét thầu
Trang 32không công bằng, thiếu cơ sở
- Hợp đồng thi công không chặt chẽ, đầy đủ, đúng quy định
- Khối lượng phát sinh không có thiết kế, dự toán phê duyệt bổ sung, sửa đổi
- Thi công sai thiết kế được duyệt
- Không chấp hành đúng quy định về giám sát thi công, giám sát quyền tác giả của tư vấn thiết kế
- Hồ sơ nghiệm thu không đầy đủ: Thiếu biên bản nghiệm thu từng phần, các tài liệu kết quả thí nghiệm vật liệu, bê tông, kết cấu
- Nhật ký thi công ghi không đầy đủ diễn biến phát sinh và sự cố trong quá trình thi công
- Hồ sơ nghiệm thu tổng thể không đầy đủ
- Hồ sơ hoàn công không đầy đủ, không đúng với thực tế
- Báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành chưa lập hoặc lập không đầy
đủ, không đúng quy định
- Các thông tin, thông số làm căn cứ lập dự án đầu tư không phù hợp: các chỉ số kỹ thuật, các tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp
- Chưa xem xét tất cả các phương án đầu tư có thể có sự lựa chọn tối ưu
- Lựa chọn giải pháp xây dựng chưa lưu ý đến sự lạc hậu về công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Dự toán bị cắt giảm một cách không có căn cứ trong quá trình thẩm định và phê duyệt, sau này phải duyệt bổ sung
- Dự toán chi phí phát sinh được lập muộn, thậm chí khi đã thi công xong hạng mục, vì vậy không có tác dụng đối với việc quản lý chi phí
- Tiến độ bị kéo dài do nguyên nhân chủ quan, khách quan
Trang 33- Do giám sát không chặt chẽ nên không phát hiện kịp thời các hạng mục có khiếm khuyết kỹ thuật, sử dụng nguyên vật liệu kém chất lượng
- Khi nghiệm thu các hạng mục phát hiện ra khiếm khuyết nhưng không kiên quyết yêu cầu đơn vị thi công khắc phục ngay
- Về đơn giá:
+ Áp dụng sai giá khu vực, giá trúng thầu hoặc đơn giá công trình
+ Áp dụng sai hệ số vận chuyển, hệ số điều chỉnh giá
+ Vật tư đưa vào công trình không đúng chủng loại quy định
+ Tính sai khối lượng vật liệu được tính chênh lệch do áp dụng sai định mức
+ Áp dụng sai thời điểm được tính chênh lệch giá
1.3 Tình hình thay đổi tổng mức đầu tư của các dự án trong thời gian qua
1.3.1 Thực trạng đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay
Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà nước liên tục gia tăng và chiếm tỷ lệ khoảng 30% GDP, tuy nhiên việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án trong những năm quan còn nhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu
tư, hiệu quả đầu tư kém, làm giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế.Mặc dù chưa có một
cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệu chính xác về thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB là bao nhiêu (10%, 20% hay 30% như nhiều chuyên gia nhận định) nhưng thất thoát, lãng phí là có thực và nó xảy ra ở tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu
tư, đến khâu nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình Giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm 2015 đạt khoảng 974,4 nghìn tỷ đồng (tăng 11,4% so với năm 2014; tăng 75,7% so với năm 2010 Chính phủ
đã ban hành luật và nghị định thông tư hướng dẫn mới như luật xây dựng 2014,luật đầu tư công 2014, luật nhà ở, luật kinh doanh bất động sản Tính đến 01/01/2015 cả nước có khoảng 77.750 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực của ngành xây
dựng (Nguồn: baoxaydung.vn)
Trang 34Tập trung thu hút vốn đầu tư FDI trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn vay và viện trợ, huy động vốn từ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân Các dự án về nhà ở, đường giao thông lớn, huyết mạch được đầu tư bước đầu mang lại hiệu quả Vấn đề xây dựng cũng còn nhiều hạn chế do cơ chế về xây dựng định mức, đơn giá có rất nhiều công tác định mức không phản ảnh được chi phí thực tế của nhà thầu bỏ ra, chi phí nhân công, chi phí chung, lợi nhuận doanh nghiệp XD thực sự là không thỏa đáng so với mức độ khó
khăn phức tạp nhiều rủi ro của ngành XD
1.3.2 Tình hình thay đổi tổng mức đầu tư của các dự án giao thông ở Việt Nam trong thời gian qua
Dự án “Đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh tuyến số 1, Bến Thành - Suối Tiên" Có
tổng mức đầu tư ban đầu là 17.387,6 tỷ đồng được duyệt theo QĐ số 1453/QĐ-UBND ngày 6/4/2007 của UBND TP Hồ Chí Minh Nay được điều chỉnh lên 47.325,2 tỷ Dự
án đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Suối Tiên được khởi công kể
từ tháng 3/2007, dự kiến hoàn thành vào đầu năm 2018 Dự án bao gồm tuyến đường sắt đi ngầm dài 2,6km, tuyến đường sắt đi trên cao dài 17,1km và 11 nhà ga trên cao, 3 nhà ga ngầm và 1 depot Dự án do Ban quản lý đường sắt đô thị TP Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư, Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam là đơn vị tư vấn lập dự án Theo Bộ GTVT nguyên nhân tăng tổng mức là do biến động giá của nguyên nhiên liệu, lương tối thiểu, khối lượng xây dựng tăng do yêu cầu chủ quan của chủ đầu tư, do thay đổi các điều kiện tính toán tổng mức đầu tư như tỷ giá và chi phí
dự phòng rủi ro, trượt giá.(Nguồn: http://tuoitre.vn)
Dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông tuyến 2A thuộc dự án đường sắt đô thị Hà Nội,
do Bộ GTVT làm chủ đầu tư có tổng mức đầu tư ban đầu là 552 triệu USD, trong đó vay vốn ODA của Trung Quốc là 419 triệu USD, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 133 triệu USD Tổng mức đầu tư sau điều chỉnh là 886 triệu USD, tăng 250 triệu USD, dự kiến chạy thử vào tháng 9/2017
Tương tự, dự án đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội tuyến số 3 thuộc đường sắt đô thị Hà
Nội, do ủy ban nhân dân TP Hà Nội làm chủ đầu tư có tổng mức 1,2 tỷ USD, nhận nguồn
Trang 35vốn vay từ ngân hàng châu á ADB và chính phủ Pháp (DGT) Qua nhiều lần điêu chỉnh
tổng mức đầu tư tăng lên hơn 400 triệu Euro, dự kiến hoàn thành vào năm 2019
Dự án đường nối giữa đường cao tốc Pháp Vân Cầu Giẽ và đường cao tốc Hà Nội Hải Phòng đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên giúp giảm ách tắc và rút ngắm 70km khi lưu thông qua Hà Nội, được khởi công năm 2012 nhưng bị dừng lại do không bố trí được
vốn Do tính cấp thiết của dự án nên hiện nay đang chuẩn bị được tái khởi động lại với
tổng mức đầu tư 1.700 tỷ nhưng dự án vẫn chưa được chính thức ký kế hoạch vốn, vốn đang được sử dụng là vốn ứng từ ngân sách của Tỉnh Trong khi đó cầu Hưng Hà nằm trên tuyến đường này nối Hà Nam và Hưng Yên với tổng mức đầu tư 2.800 tỷ dự kiến hoàn thành cuối năm 2017, lúc này khó phát huy được hiệu quả gây lãng phí
(Ngu ồn: http://vnexpress.net)
Các dự án cơ bản đều có sự điều chình liên quan đến tổng mức đầu tư, không ít thì nhiều Nguyên nhân thì là rất nhiều và phổ biến, sự lý giải của chủ đầu tư và ban quản
lý thì cũng đều phù hợp, nhưng thiệt hại về kinh tế thì nhà nước phải gánh chịu Đây là
một thực tế hiện nay diễn ra ở rất nhiều các dự án, cần có giải pháp kêu gọi xã hội hóa đầu tư và hoàn thiện các văn bản pháp quy để hướng dẫn thực hiện, đây là một vấn đề đang rất khó khăn
1.3.3 Các tác động của rủi ro đến hiệu quả kinh tế - xã hội khi thực hiện của dự án[6]
Như đã trình bày trước đó, rủi ro có thể xuất hiện ở mức độ nhỏ và không gây ra ảnh hưởng đáng kể đến công trình (nằm trong giới hạn cho phép) nên mức độ tác động đến
dự án chỉ ở dạng tiềm tàng Nhưng khi rủi ro đó vượt mức cho phép chúng sẽ gây ra một tác động nào đó và nhiều trường hợp rủi ro sẽ phát triển đến mức độ cao và gây ra ảnh hưởng lớn đến dự án mà ta thường gọi là ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án, hiệu quả về kinh tế-xã hội Nắm bắt được quá trình phát triển của rủi ro sẽ giúp ta lường trước được các ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả dự án và nhanh chóng đề ra biện pháp giảm thiểu, khắc phục và phòng ngừa trước khi rủi ro phát triển đến giai đoạn gây ra tác động Sơ đồ dưới đây cho thấy 3 giai đoạn phát triển cơ bản của rủi ro
Trang 36xảy ra trong công trình:
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của rủi ro
Trong phạm vi nghiên cứu, ở đây ta xét đến rủi ro đã xuất hiện và gây ra ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án Ảnh hưởng của rủi ro có thể khác nhau trong mỗi giai đoạn của dự án và lại khác nhau ở các công tác trong từng giai đoạn Vì vậy ta chỉ đứng trên
góc độ tổng thể của dự án để xem xét các nhân tố bị ảnh hưởng từ rủi ro
Thông thường, hiệu quả kinh tế-xã hội của một dự án được thể hiện qua các tiêu chí như sau :
1.3.3.1 Chi phí dự án (cost)
Bài toán về chi phí không riêng gì ngành công trình mà bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào cũng gặp phải Làm thế nào để dự án đạt hiệu quả về chi phí? Làm thế nào vẫn đảm bảo được chất lượng dự án ở mức cao nhất nhưng chi phí ở mức thấp nhất có thể? Những câu hỏi tương tự như vậy cũng chính là cơ sở để các nhà đầu tư tính toán mức
độ hiệu quả của dự án và thực hiện quyết định đầu tư
Rủi ro xảy ra là điều mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng không mong muốn xảy đến vì nó làm tăng chi phí của dự án chưa kể những ảnh hưởng hệ luy liên quan như kéo dài thời gian dự
án, dư luận xã hội, ảnh hưởng danh tiếng chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn thiết kế v.v
1.3.3.2 Thời gian dự án (time)
Thông thường các dự án đều được vạch sẵn tiến độ thực hiện nên nếu không dự trù được yếu tố rủi ro có thể xảy ra và có chiến lược quản trị rủi ro hợp lí trong quá trình thực hiện dự án thì khi xảy đến sẽ gây kéo dài thời gian chuẩn bị hoặc thực hiện dự án
và làm giảm thời gian khai thác sớm dự án Thời gian kéo dài cũng đồng nghĩa với việc phát sinh thêm chi phí đầu tư xây dựng, chưa kể đến các ảnh hưởng của điều kiện
tự nhiên đến chất lượng dự án khi thời gian thực hiện kéo dài
Trang 371.3.3.3 Chất lượng công trình (quality)
Yếu tố này đặc biệt quan trọng và rất được quan tâm bởi nhà đầu tư dự án, các bên liên quan khác và đặc biệt là xã hội Những năm gần đây đã có rất nhiều sự cố kỹ thuật xảy
ra trong các dự án xây dựng được dư luận báo chí truyền thông lên tiếng phản ảnh Chi phí có thể tăng thêm, thời gian có thể kéo dài nhưng nếu chất lượng công trình không đảm bảo thì nó sẽ là nơi cư ngụ lý tưởng của các rủi ro tiềm tàng để rồi khi đưa vào khai thác sử dụng có thể sẽ xảy ra những hậu quả rất khôn lường đến an sinh xã hội kèm theo là chi phí cho khâu sửa chữa, tăng cường, bảo dưỡng thậm chí có khi phải phá bỏ để xây dựng mới
Ba yếu tố nêu trên: chi phí (cost), thời gian (time) và chất lượng công trình (quality) là
ba yếu tố quan trọng nhất khi đầu tư dự án, cũng là cơ sở chính để đánh giá hiệu quả kinh tế của bất kỳ dự án nào Và đây cũng chính là 3 yếu tố chịu ảnh hưởng nhiều nhất khi rủi ro xảy đến
Hình 1.2 Ba yếu tố quan trọng thể hiện hiệu quả kinh tế của một dự án
Lấy ví dụ cho thấy tác động của rủi ro đến 3 yếu tố cơ bản này có thể kể đến sự cố sập
đổ viện khoa học xã hội vùng Nam bộ ở thành phố Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 10 năm
2007 do thi công hố móng tầng ngầm của cao ốc Pacific bên cạnh nằm tại số nhà 45-47 Nguyễn Thi Minh Khai, P Bến Nghé, Q1 Với diện tích mặt bằng 1.750 m2, cao 78.45m, gồm ba tầng hầm và 1 tầng kỹ thuật (chiều sâu 11.8m); 1 trệt và 20 tầng lầu; tổng diện tích sàn xây dựng là trên 22.000m2 Trong quá trình thi công, chủ đầu tư
43-đã điều chỉnh thiết kế (chưa được Sở Xây dựng thành phố cho phép) lên thành 6 tầng hầm (chiều sâu 21.1m), một tầng trệt, 21 lầu, diện tích sàn lên tới hơn 41.000 m2 Nhiều nghiên cứu phân tích đánh giá cho thấy nguyên nhân xuất phát ở các khâu quản
Trang 38lý, thiếu sót trong khảo sát đất nền phục vụ thiết kế tầng ngầm, thiết kế kỹ thuật và cả chất lượng thi công Cái giá phải trả cho rủi ro này là thiệt hại không nhỏ về kinh tế của chủ đầu tư như :
- Chi phí cho việc khoan bổ sung hai lỗ khoan mỗi lố sâu 80m
- Chi phí cho việc thi công chống thấm hơn 3,5 tỷ
- Chi phí đền bù cho công trình Sở ngoại vụ 5,0 tỷ
- Chi phí đền bù cho Viện KHXH vùng Nam bộ 12,0 tỷ
- Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian ngưng thi công 24,0 tỷ
- Chi phí bị chậm 2 năm rưỡi khai thác công trình ước tính 150,0 tỷ
Qua các khái niệm và ví dụ đã nêu cho thấy tổng mức đầu tư xây dựng công trình tăng
do hai nhóm yếu tố chủ yếu
- Rủi ro liên quan về công nghệ: Thể hiện ở trong chi phí xây dựng
- Rủi ro liên quan về tài chính: Thể hiện ảnh hưởng của lạm phát, không đủ năng lực
để cấp phát vốn đầu tư
1.4.2 Đánh giá
- Rủi ro liên quan đến công nghệ: Mức độ rủi no này là thường xuyên xảy ra, các chỉ tiêu kỹ thuật về mức độ chịu gió bão, động đất mới chỉ là các dự báo lúc lập tổng mức đầu tư Trong quá trình thực hiện dự án cụ thể sẽ được xem xét – ví dụ, tràn thi công
hồ chứa Cửa Đạt sự cố phần nào do lũ về nhanh quá so với thiết kế…
Trang 39- Rủi ro liên quan đến tài chính: Trượt giá vật liệu đây là rủi ro phổ biến nhất, liên quan chặt chẽ đến tiến độ thi công, nguồn vốn không ổn định do các dự án được lấy từ nhiều nguồn vốn như vốn ngân sách thì là nguồn vốn ổn định song chỉ đáp ứng được 30% đến 60%, vốn từ trái phiếu chính phủ cung ổn định nhưng phụ thuộc vào định kỳ hàng năm, vốn vay tín dụng có bảo lãnh của chính phủ, vay tín dụng có thế chấp lãi
suất cũng cao phụ thuộc vào việc trả hàng năm Ngoài ra vốn ODA cũng khó giải ngân, như vậy các nguồn vốn không ổn định, lãi suất cao, rải ngân chậm dẫn đến việc điều chình tổng mức nhiều lần
Trang 40CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH TỔNG MỨC ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN KHI XÉT ĐẾN CÁC YẾU TỐ RỦI
RO
2.1 Cơ sở khoa học về rủi ro
2.1.1 Phương pháp luận về quản lý rủi ro[7]
Có khá nhiều cách tiếp cận khi phân tích đánh giá rủi ro Lý thuyết xác suất là một trong
nhũng cách tiếp cận cổ điển, có cơ sở khoa học và sử dụng rộng rãi hàng thế kỷ nay
Khi phân tích rủi ro, các yếu tố đầu vào đều không phải là các yếu tố xác định hoàn toàn mà là các biến ngẫu nhiên liên tục hoặc gián đoạn
Rủi ro là các yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành và thực hiện các
dự án Đánh giá mức độ tác hại của rủi ro để tìm mọi biện pháp ngăn chặn các tác động tiêu cực đến kết quả của dự án là những nghiên cứu có tính hệ thống của lý thuyết quản lý
Đánh giá rủi ro dựa vào lý thuyết xác suất đầu tiên do Von Bortkiewiczl, thế kỉ thứ 19 ứng dụng vào phép đo tần suất tai nạn trong diễn tập của quân đội Đức Ông đó nghiên cứu các ghi chép về các binh lính bị ngã ngựa trong Binh Đoàn số 20 trong vòng 10 năm Đối với tập hợp 20 các quan sát, ông tính toán tần suất tương đối với 0,1,2,3 hay
4 người tử vong có thể xảy ra và so sánh kết quả với thực tế Các tính toán đó phù hợp tốt với thực tế
Đến thế kỉ thứ 18, Gauss đã phát triển lý thuyết phân phối chuẩn Lý thuyết này tiên đoán xác suất của một số tai nạn sẽ xảy ra trong một chu kì thời gian Từ những nghiên cứu về rủi ro đã hình thành nền công nghiệp bảo hiểm
Thử nghiệm lớn đầu tiên để phân tích và điều khiển rủi ro là dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 Trước đây, các công nghệ mới được phát triển với các thực nghiệm mà không có sự xem xét về an toàn trong việc thiết kế hay các giai đoạn phát triển Một ví dụ là các vụ nổ tàu thuỷ chạy hơi nước rất phổ biến trong dòng sông Mississippi vào thế kỉ thứ 19 Tuy nhiên, bắt đầu với dự án