Được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo các trong trường, sự cộng tác của các cơ quan chuyên môn và các bạn bè cộng sự với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân tác giả đã ho
Trang 1i
Tên tôi là: Phạm Hồng Sơn
H ọc viên lớp: K24QLXD12
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những nội dung
và k ết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa h ọc nào./
Tác gi ả
Ph ạm Hồng Sơn
Trang 2ii
L ỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Thủy Lợi Hà Nội
Được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo các trong trường, sự
cộng tác của các cơ quan chuyên môn và các bạn bè cộng sự với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, chuyên ngành
Quản lý xây dựng với nội dung: “Nghiên c ứu phương pháp đánh giá chất lượng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng công trình đê sông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cán bộ hướng dẫn khoa học là thầy giáo GS.TS Vũ Thanh Te -người đã dành nhiều thời gian chỉ bảo, hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành được luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo trong Trường Đại học Thủy lợi trong thời gian học tập tại đây, sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa, Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa, gia đình, bạn bè đồng nghiệp trong công tác và học tập để hoàn thành luận văn này
Hà N ội, ngày tháng năm 2017
Tác gi ả
Ph ạm Hồng Sơn
Trang 3iii
DANH M ỤC HÌNH VẼ V DANH M ỤC BẢNG BIỂU VII DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT VIII
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÊ ĐIỀU VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÊ ĐIỀU TỈNH THANH HÓA 6
1.1 T ổng quan về hệ thống Đê điều 6
1.1.1 T ổng quan tình hình chung hệ thống đê sông trên thế giới 6
1.1.2 T ổng quan về hệ thống đê sông ở Việt Nam 9
1.1.3 T ổng quan về hệ thống đê sông tỉnh Thanh Hoá [2] 10
1.2 T ổng quan về chất lượng công trình Đê điều 17
1.2.1 T ổng quan về quản lý chất lượng công trình đê điều trên thế giới 17
1.2.2 T ổng quan về quản lý chất lượng công trình đê điều ở Việt Nam 18
1.2.3 T ầm quan trọng của hệ thống đê sông trong sự phát triển kinh tế, xã hội 19
1.3 Nh ững sự cố về đê điều trong thời gian qua 20
1.3.1 Khái quát nh ững hư hỏng đê sông 20
1.3.2 Đánh giá một số những hư hỏng đê sông hiện nay thường gặp [3] 24
1.4 Công tác qu ản lý chất lượng đê điều của Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa 33
1.4.1 Công tác qu ản lý bảo vệ đê điều: 36
1.4.2 Công tác đầu tư, tu bổ đê điều 40
1.4.3 Thu ận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện 40
K ết luận chương 1 42
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 43
2.1 Các y ếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng công trình đê điều 43
2.1.1 Y ếu tố tự nhiên 43
2.1.2 M ặt cắt đê chưa đảm bảo cao trình chống lũ 45
2.1.3 Ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội đến công trình đê điều 46
2.1.4 Công tác qu ản lý trong thi công công trình 46
Trang 4iv
2.2 H ệ thống các văn bản pháp quy áp dụng trong đánh giá và quản lý chất lượng công
trình đê điều 46
2.2.1 Các tài li ệu có tính chất pháp quy: 46
2.2.2 Các tài li ệu có tính chất tiêu chuẩn: 49
2.3 Cơ sở khoa học sử dụng trong đánh giá chất lượng công trình đê điều 50
2.3.1 Phương pháp đánh giá 50
2.3.2 Phương pháp cho điểm theo thang điểm trước của các chỉ tiêu đánh giá 52
2.3.3 Tiêu chí đánh giá 55
K ết luận chương 2 70
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QU ẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÊ ĐIỀU THANH HÓA 71
3.1 Thu th ập thông tin phục vụ cho công tác đánh giá chất lượng công trình đê điều 71 3.2 Phân lo ại, phân cấp theo mức độ nguy hiểm 71
3.3 K ết quả đánh giá chất lượng công trình đê điều Thanh Hóa 72
3.4 Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý chất lượng công trình đê điều 76
3.4.1 Gi ải pháp quản lý dữ liệu 77
3.4.2 Gi ải pháp quan trắc, theo dõi sự làm việc của công trình 77
3.4.3 Gi ải pháp tổ chức thực hiện 78
3.4.4 Gi ải pháp về cơ sở vật chất 87
K ết luận chương 3 95
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98
PH Ụ LỤC: 99
Trang 5v
Hình 1.1 Đê sông an toàn cao ở Nhật Bản [1] 7
Hình 1.2 Đoạn đê Richmond – Mỹ [1] 8
Hình 1.3 Đê sông Yodo Osaka – Nhật Bản [1] 8
Hình 1.4 Vài nét về thủy lợi Hà lan [1] 8
Hình 1.5 Hệ thống đê tự động Maeslant [1] 8
Hình 1.6 Bản đồ hệ thống đê điều tỉnh Thanh Hoá 10
Hình 1.7 Đoạn đê kết hợp giao thông từ K0+350-K0+950 đê hữu sông Mã chưa đủ cao trình năm 2016 (Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá) 11
Hình 1.8 Đoạn K60-K60,8 đê hữu sông Mã, đê thấp, chiều rộng mặt đê nhỏ 4-4,5m năm 2016 12
Hình 1.9.Láng nh ựa mặt đê năm 2016 đê hữu sông Mã đoạn từ K4+400-K4+900 12
Hình 1.10 Đoạn K27,95-K28,851 đê hữu sông Chu mặt đê được láng nhựa, làm khung kh ống chế tải trọng năm 2016 (Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
13
Hình 1.11 Kè Hậu Hiền đoạn K38,830-K39,5 năm 2015 14
Hình 1.12 Kè bãi Thọ trường đoạn từ K18+644-K18+994 đê tả sông Chu năm 2017 14
Hình 1.13 Đoạn K11,1-K12 đê hữu sông Lèn được gia cố bê tông mặt đê năm 2016 15
Hình 1.14 Đoạn từ K13,43-K13,61 đê sát sông đã được làm kè gia cố bảo vệ đê năm 2015 15
Hình 1.15 Đê tả sông Lạch Trường từ K9,387-K18,3 năm 2015 16
Hình 1.16 Đoạn từ K8-K9 đê tả Lạch Trường đê thấp 16
Hình 1.17 Đê sông Đào – Nam Định 20
Hình 1.18 Đê sông Côn – Tuy Phước 20
Hình 1.19 Vỡ đê và vùng ngập lụt năm 2017 [Nguồn: Báo điện tử http://vietnamnet.vn] 21
Trang 6vi
Hình 1.20 Đê vỡ do tràn và sạt lở năm 2017 [Nguồn: Báo điện tử
http://vietnamnet.vn] 21
Hình 1.21 Các loại hư hỏng đê và các công trình liên quan [1] 22
Hình 1.22 Các hư hỏng mái đê khác.[1] 23
Hình 1.23 Sủi đê sông 24
Hình 1.24 Xử lý giờ đầu sự cố mạch đùn, mạch sủi sau chân đê năm 2015 24
Hình 1.25 Sạt trượt mái đê 25
Hình 1.26.S ự cố sạt lở mái đê phía sông tại K17+250 đê tả sông Chu năm 2017 26
Hình 1.27 Thẩm lậu, lỗ rò ở mái đê 27
Hình 1.28.Vòi th ấm phía sông đê hữu sông Chu đoạn từ K38+700 đến K39+300 năm 2014 27
Hình 1.29 Hố sụt trên mái đê phía sông đê hữu sông Chu đoạn từ K38+700 đến K39+300 năm 2014 27
Hình 1.30 Tràn đê hữu Cầu Chày đoạn từ K25+000-K26+800 năm 2017 29
Hình 1.31 Hiện tượng nứt đê 29
Hình 1.32 X ử lý nứt mặt đê đoạn K17,07-K17,22 xã Hà Toại, huyện Hà Trung năm 2015 30
Hình 1.33 Kè sông bị sạt lở 31
Hình 1.34 Sạt lở tại kè đoạn K30,026-K30+490 đê tả sông Mã năm 2017 31
Hình 1.35 Khuyết tật trong thân đê 32
Hình 1.36 Tổ mối trong thân đê sông Cầu đoạn đoạn K15+700 xã Tiên Phong, huy ện Hà Châu, tỉnh Thái Nguyên (Nguồn: Báo điện tử baothainguyen.vn) 32
Hình 1.37 Xói lở chân đê 33
Hình 1.38 Xói lở chân đê tả sông Chu đoạn từ K27+585-K28+215 năm 2013 33
Hình 1.39 Sơ đồ phân cấp quản lý các công trình đê điều 34
Hình 2.1 H ội thảo tham vấn ý kiến chuyên gia tại Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá 55
Hình 3.1 Khu v ực nghiên cứu 73
Trang 7
vii
B ảng 1.1 Trọng điểm công trình đê, kè, cống xung yếu năm 2017 38
B ảng 2.1 Danh sách thành viên nhóm chuyên gia 53
B ảng 2.2 Tiêu chí cho điểm theo chiều cao đê 56
B ảng 2.3 Tiêu chí cho điểm theo kết cấu công trình 56
B ảng 2.4 Tiêu chí cho điểm theo nền đê 57
B ảng 2.4 Tiêu chí cho điểm theo tuổi công trình 57
B ảng 2.5 Tiêu chí cho điểm theo bãi sông 58
B ảng 2.6 Tiêu chí cho điểm theo tình trạng công trình 59
B ảng 2.7 Tiêu chí cho điểm theo độ tin cậy của các Công trình qua đê 60
B ảng 2.8 Bảng đánh giá tình trạng công trình 61
B ảng 2.9 Tiêu chí cho điểm theo Hậu quả của sự cố công trình (C) 61
B ảng 2.10 Loại Hậu quả của sự cố công trình (C) ảnh hưởng 62
B ảng 2.11 Tần suất kiểm tra đánh giá công trình 64
B ảng 2.12 Nội dung công tác kiểm tra hiện trường 65
B ảng 2.13 Cấp an toàn công trình 69
B ảng 3.1 Các hạng mục cần được phát hiện đối với công trình đê điều 85
B ảng 3.2 Hạng mục tổng quát cần được phát hiện (công trình qua đê) 87
Trang 8BNN&PTNT : B ộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
S ở NN&PTNT : S ở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 91
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông Phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía Đông Thanh Hóa mở ra phần
giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung
du, miền núi
thống đê bảo vệ cho 17 huyện, thị, thành phố với 450 xã, trong đó có 296 xã có
đê đi qua
Các tuyến đê này được hình thành từ lâu đã và đang phát huy rất tốt vai trò phòng chống lũ bảo đảm an toàn dân sinh kinh tế, an ninh quốc phòng Được đầu tư tu bổ qua nhiều thời kỳ, tuy nhiên do nguồn kinh phí có hạn cho nên việc đầu tư chưa đồng bộ còn mang tính chắp vá, chủ yếu mới đầu tư cho những đoạn xung yếu, việc đầu tư sửa chữa, nâng cấp không theo kịp được với sự xuống cấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là những diễn biến bất thường của khí hậu mấy năm gần đây
Do Thanh Hóa là tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ, các sông bắt nguồn từ vùng Thượng Lào, vùng núi phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh, độ dốc lòng sông lớn, sông quanh
Trang 10thủy văn, mưa lũ có chiều hướng cực đoan và ngày càng phức tạp, đe dọa sự mất
an toàn cho nhiều tuyến đê trên địa bàn tỉnh
Những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương
và của tỉnh đầu tư kinh phí tu bổ, nâng cấp nên đã xóa dần các trọng điểm xung
yếu về đê điều, các tuyến đê, kè, cống yếu ách Tuy nhiên vẫn chưa thể đáp ứng
so với nhu cầu thực tế, chất lượng hệ thống đê điều còn tồn tại do lịch sử để lại, nhiều đoạn đê được đắp trên nền đất yếu sinh lầy, thân đê được đắp bằng nhiều loại đất không đồng chất, địa chất thân và nền đê yếu, nhiều đoạn đê cao trên 5m nhưng chưa có cơ nên khi có mưa lũ dễ xảy ra sạt trượt; trong thân đê còn ẩn
chứa nhiều tai họa như tổ mối, hang cầy cáo; các cống dưới đê sông con do địa phương tự làm cách đây 40-50 năm bằng vật liệu xây dựng là đá, gạch xây chất lượng không bảo đảm, nên đến nay có 238 cống đã bị hư hỏng như tiêu năng bị xói sập, cửa cống không có hoặc bị hư hỏng, cống quá ngắn, bị lùng mang,
thủng đáy… Ngoài ra, tại nhiều tuyến sông có đê, hoạt động khai thác, tập kết cát trái phép và tình trạng xe quá tải đi trên đê vẫn còn diễn ra, gây sạt lở bờ, bãi sông, lấn chiếm vào phần đất sản xuất của người dân, ảnh hưởng đến thoát lũ và làm hư hỏng mặt đê, gây mất an toàn cho công trình đê điều
Trước thực trạng đã nêu, đề tài: “Nghiên cứu phương pháp đánh giá chất lượng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng công trình đê sông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” là cấp thiết
Trang 113
1.2 Mục đích của đề tài
- Trên cơ sở thu thập, điều tra, phân tích, đánh giá thực tế hiện trạng công trình
đê điều trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, xây dựng cơ sở khoa học trong đánh giá chất lượng công trình đê điều
- Trên cơ sở khung đánh giá chất lượng công trình đê điều đã được xây dựng, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng đê điều tỉnh Thanh Hoá
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Hệ thống đê điều tỉnh Thanh Hoá
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các yêu cầu trên đây, đề tài sẽ lựa chọn hướng tiếp cận toàn diện, đa chiều, từ đánh giá, kế thừa các kết quả, phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện đến phân tích đầy đủ các cơ sở khoa học để nghiên cứu mối quan
hệ và các tác động Trên cơ sở đó ứng dụng vào các điều kiện thực tế của đối tượng nghiên cứu nhằm giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Cụ
thể các hướng tiếp cận sẽ bao gồm:
Từ kết quả đánh giá hiện trạng chất lượng công trình và phương thức quản lý hệ thống đê điều trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng công trình phù hợp nhất, làm cơ sở ứng dụng cho công tác quản lý đê điều trên phạm vi cả nước
- Phương pháp thống kê, khảo sát đánh giá hiện trạng: Tác giả sẽ tiến hành
thu thập các số liệu thuỷ văn, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội trong phạm vi nghiên cứu, đặc biệt là các tài liệu liên quan đến hiện trạng đê điều tỉnh Thanh Hoá làm cơ sở khảo sát tại một số vị trí đặc thù đề xuất cơ sở khoa học trong đánh giá chất lượng công trình đê điều
Trang 124
- Phương pháp kế thừa, áp dụng có chọn lọc: Kế thừa, áp dụng có chọn lọc
các nghiên cứu, đề tài, dự án liên quan để có cách nhìn tổng quan nhất về các
vấn đề có liên quan đã và đang được nghiên cứu
- Phương pháp điều tra đo đạc, quan sát thực tế, điều tra hiện trường : Sử
dụng các thiết bị quan trắc, đo đạc và theo dõi diễn biến công trình
- Phương pháp phân tích tổ hợp: Tổng hợp các sự cố ảnh hưởng đến công
trình đê điều, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản
lý công trình đê điều
- Phương pháp chuyên gia, tranh thủ ý kiến của các nhà khoa học, các nhà
qu ản lý có kinh nghiệm: Trong quá trình phân tích tổ hợp tham khảo, lấy ý
kiến các nhà quản lý, các chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực tế đánh giá ảnh hưởng của các sự cố từ trước tới nay, đồng thời tham khảo các giải pháp quản lý hiệu quả để đưa ra phương án tối ưu nhất
- Kết hợp một số phương pháp khác để nghiên cứu giải quyết một số vấn đề đặt
ra
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về chất lượng công trình đê
điều
- Ý nghĩa thực tế: Kết quả nghiên cứu xây dựng được phương pháp đánh giá
chất lượng và nêu ra các giải pháp quản lý chất lượng công trình đê điều
1.6 Kết quả dự kiến đạt được:
- Xây dựng được phương pháp luận trong đánh giá chất lượng công trình trong giai đoạn vận hành khai thác;
- Đánh giá thực trạng chất lượng đê điều Thanh Hóa;
- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng công trình đê điều Thanh Hóa
Trang 135
1.7 Nội dung chính của luận văn
Nội dung chính gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÊ ĐIỀU VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÊ ĐIỀU TỈNH THANH HÓA
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÊ ĐIỀU
Trang 146
ĐÊ ĐIỀU TỈNH THANH HÓA.
1.1 Tổng quan về hệ thống Đê điều
1.1.1 Tổng quan tình hình chung hệ thống đê sông trên thế giới
Đê sông là công trình phòng lũ được xây dựng hai bên bờ sông, ngăn không cho nước lũ, nước triều gây ngập lụt vùng được tuyến đê bảo vệ Nhiệm vụ của đê là
bảo vệ đất đai, nhà cửa và các cơ sở hạ tầng khác chống lại ngập lụt Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của từng vùng, đê có thể chống lũ với tần suất xuất hiện cao nhưng cũng có đê chống lũ tần suất thấp, hoặc thậm chí cho lũ tràn Đê được phân thành đê tự nhiên và đê nhân tạo
Đê tự nhiên là loại đê được hình thành do sự lắng đọng của các trầm tích trong sông khi dòng nước này tràn qua bờ sông thường vào mùa mưa lũ Khi tràn qua
bờ, vận tốc dòng nước giảm làm các vật liệu trong dòng nước lắng đọng theo thời gian nó sẽ cao dần và cao hơn bề mặt của đồng lụt
Đê nhân tạo là đê do con người tạo nên, đê nhân tạo có thể là vĩnh cửu hoặc tạm thời được xây dựng để phòng chống lũ trong trường hợp cần thiết
Đê và các hạng mục Công trình qua đê hình thành nên một hệ thống công trình phòng chống, bảo vệ vùng nội địa khỏi bị lũ lụt và thiên tai khác từ phía sông
Vì tính chất quan trọng của nó mà công tác nghiên cứu thiết kế, xây dựng đê sông ở trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia có nhiều hệ thống đê biển, đê sông đã có một lịch sử phát triển rất lâu đời Tuy nhiên, tùy thuộc vào các điều
kiện tự nhiên và trình độ phát triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống đê biển, đê sông đã được phát triển ở những mức độ khác nhau
Ở các nước phát triển: Hà Lan, Nhật, Đức, Đan Mạch ,Mỹ hệ thống đê sông đã được xây dựng rất kiên cố nhằm phòng chống lũ (triều cường kết hợp nước dâng) đặc biệt ở Hà Lan một quốc gia với khoảng 20% diện tích nằm dưới mực
Trang 157
nước biển Khoảng vài thập niên trước đây quan điểm thiết kế đê sông, đê biển truyền thống ở các nước châu Âu là hạn chế tối đa sóng tràn qua do vậy cao trình đỉnh đê rất cao Nhưng vì lượng sóng tràn qua là rất ít nên mái phía trong
đê thường được bảo vệ rất đơn giản như chỉ trồng cỏ bản địa, phù hợp cảnh quan với môi trường Nhìn chung, mặt cắt ngang đê điển hình rất rộng, mái thoải, có
cơ mái ngoài và trong kết hợp làm đường giao thông dân sinh và bảo dưỡng cứu
hộ đê Ngoài ra, cơ đê phía ngoài còn đảm nhận nhiệm vụ quan trọng là giảm sóng leo sóng tràn qua đê, góp phần hạ thấp cao trình đỉnh đê thiết kế
- H ệ thống đê sông ở Nhật Bản
Hình 1.1 Đê sông an toàn cao ở Nhật Bản [1]
Trang 168
Hình 1.2 Đoạn đê Richmond – Mỹ [1] Hình 1.3 Đê sông Yodo Osaka – Nhật Bản [1]
Ở Nhật Bản đang có kế hoạch xây dựng nâng cấp các đê sông thành đê an toàn cao, lợi dụng tổng hợp và thân thiện với môi trường Khái niệm đê an toàn cao được người Nhật áp dụng là “đê sông với bề rộng đủ lớn để ngăn chặn được sự
cố vỡ đê và hậu quả của nó” Về thực chất là mở rộng chân đê và làm mái đê phía trong rất thoải để tạo ra một vùng bảo vệ rộng lớn
- H ệ thống đê sông ở Hà Lan
Hà Lan có diện tích 41.543km², dân số 16,5 triệu người, mật độ 486 ng/km² Hà Lan là vùng đất thấp, châu thổ của 4 con sông Rhine, Maas, Schelde và IJssel
Lịch sử thủy lợi Hà Lan là lịch sử đấu tranh với biển và với nước từ trên 2000 năm đến nay Các con đê được đắp riêng rẽ cho các vùng nhỏ, dần dần được liên kết thành những vùng lớn hơn, mức độ an toàn không cao nên thường xuyên bị
vỡ đê từ năm 1700 đến 1950
Hình 1.4 Vài nét về thủy lợi Hà lan [1] Hình 1.5 Hệ thống đê tự động Maeslant [1]
Trang 179
Dự án Delta Works của Hà Lan kết thúc vào năm 1997 với 15 hạng mục công trình chính, bao gồm hệ thống đê sông, đê biển với chiều dài 16.493km, trong đó 2.415km đê chính và 14.077km đê phụ, hệ thống cống chắn nước dâng do bão, cống tiêu nước và âu thuyền
Năm 1959, Dự luật Châu thổ được ban hành để thực hiện dự án Delta Works Mục tiêu của dự án Delta Works:
- Xây dựng các đập ngăn nước dâng do bão, an toàn chống lũ, ngăn biển thành các hồ nước ngọt
- Đường giao thông ven biển dài 700km, tạo giao thông thuỷ Scheldt-Rhine
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng, phục vụ du lịch và nông nghiệp Hệ thống các công trình bảo vệ ở Biển Bắc của Hà Lan được coi là một trong Bảy Kỳ Quan của Thế giới Hiện đại (theo Hiệp hội Kỹ sư dân dụng Hoa Kỳ)
1.1.2 Tổng quan về hệ thống đê sông ở Việt Nam
Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt
Trải qua quá trình phát triển, hệ thống đê hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với khoảng 13.200km đê, trong đó có khoảng 10.600km
đê sông và gần 2.600km đê biển Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km
đê từ cấp III đến cấp đặc biệt còn lại là đê dưới cấp III và đê chưa được phân
cấp Trong đó các hệ thống đê có quy mô như sau:
- Hệ thống đê Bắc bộ và Bắc Trung bộ: dài 5.620km, có nhiệm vụ bảo vệ chống
lũ triệt để, bảo đảm an toàn cho vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ
- Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung bộ và Nam Trung bộ có tổng chiều dài 904km
- Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có chiều dài 4.075km
Trang 181.1.3 Tổng quan về hệ thống đê sông tỉnh Thanh Hoá [2]
Hệ thống đê điều tỉnh Thanh Hoá hiện có 1.008 km đê; trong đó đê cấp III đến
cấp I dài 315 km (Đê cấp I: 64,7km; cấp II: 183,5km; cấp III: 66,7km), đê dưới
cấp III dài 693 km Toàn bộ hệ thống đê bảo vệ cho 17 huyện, thị, thành phố với
450 xã, trong đó có 296 xã có đê đi qua
Hình 1.6 Bản đồ hệ thống đê điều tỉnh Thanh Hoá
- Về cao trình: Đối với các tuyến đê sông lớn (từ cấp III- I), cơ bản cao trình đê
đã đáp ứng yêu cầu chống lũ; đối với các tuyến đê sông con (đê dưới cấp III), chỉ một số tuyến đê được tu bổ trong những năm gần đây như đê tả, hữu sông
Trang 1911
Bưởi, đê tả Cầu Chày đảm bảo yêu cầu chống lũ; còn lại về cơ bản đê chưa đủ cao trình, không có chiều cao gia thăng hoặc chiều cao gia thăng thấp hơn 0,3m chưa đảm bảo yêu cầu chống lũ
Hình 1.7 Đoạn đê kết hợp giao thông từ K0+350-K0+950 đê hữu sông Mã chưa đủ cao trình
năm 2016 Hình 1.8 (Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
- Về mặt cắt ngang: Đối với đê sông lớn hiện còn 28 đoạn, dài 28,023km chiều rộng mặt đê B=3 -4,5m, chưa đủ tiêu chuẩn thiết kế Nhìn chung các tuyến đê sông lớn của Thanh Hóa có chiều cao đê lớn, có nhiều đoạn chiều cao đê tính từ chân đê lên đến đỉnh đê từ 8-12m; hiện còn lại 38 đoạn với chiều dài 56,5km chiều cao thân đê trên 5m nhưng chưa có cơ phản áp
Trang 2012
Hình 1.9 Đoạn K60-K60,8 đê hữu sông Mã, đê thấp, chiều rộng mặt đê nhỏ 4-4,5m năm 2016
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Hình 1.10 Láng nhựa mặt đê năm 2016 đê hữu sông Mã đoạn từ K4+400-K4+900
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
- Về công trình kè bảo vệ bờ: Hiện tại trên 12 tuyến đê thuộc các triền sông Chu, sông Mã, sông Lèn, sông Lạch Trường, sông Bưởi, sông Cầu Chày có 197 đoạn
kè bảo vệ bờ với chiều dài 117,46km kè lát mái và 152 mỏ hàn, trong đó:
Trang 2113
+ Đê sông Mã: Có 61 đoạn kè bảo vệ, với chiều dài kè lát mái: 48.669m và 90
mỏ hàn, trong đó:
* Có 40 đoạn kè lát mái bảo vệ đê dài 31.224m và 80 mỏ hàn
* 21đoạn kè lát mái bảo vệ bãi phía sông, chiều dài 16.942m và 11 mỏ hàn
+ Đê sông Chu: Trên toàn tuyến có 38 đoạn kè bảo vệ, với chiều dài kè lát mái:
19.709m và 45 mỏ hàn, trong đó:
* Có 38 đoạn kè lát mái bảo vệ đê dài 17.078m và 45 mỏ hàn
* 3 đoạn kè lát mái bảo vệ bãi phía sông, chiều dài 2.631m
Hình 1.11 Đoạn K27,95-K28,851 đê hữu sông Chu mặt đê được láng nhựa, làm khung
khống chế tải trọng năm 2016
(Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Trang 2214
Hình 1.12 Kè Hậu Hiền đoạn K38,830-K39,5 năm 2015
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Hình 1.13 Kè bãi Thọ trường đoạn từ K18+644-K18+994 đê tả sông Chu năm 2017
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Trang 2315
+ Đê sông Lèn: Trên toàn tuyến có 39 đoạn kè bảo vệ, với chiều dài kè lát mái:
16.986m và 27 mỏ hàn, trong đó:
* Có 36 đoạn kè lát mái bảo vệ đê dài 15.756m và 26 mỏ hàn
* 3 đoạn kè lát mái bảo vệ bãi phía sông, chiều dài 1.230 m và 01 mỏ hàn
Hình 1.14 Đoạn K11,1-K12 đê hữu sông Lèn được gia cố bê tông mặt đê năm 2016
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Hình 1.15 Đoạn từ K13,43-K13,61 đê sát sông đã được làm kè gia cố bảo vệ đê năm 2015
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Trang 2416
+ Đê sông Lạch Trường: Trên toàn tuyến có 11 đoạn kè bảo vệ đê, với chiều dài
kè lát mái: 9.199
Hình 1.16 Đê tả sông Lạch Trường từ K9,387-K18,3 năm 2015
(Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Hình 1.17 Đoạn từ K8-K9 đê tả Lạch Trường đê thấp
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
- Về địa chất thân và nền đê: Do lịch sử hình thành, chất lượng đê còn nhiều tồn
tại chưa đảm bảo cho công tác chống lũ: Nhiều đoạn đê đi qua vị trí nền đất yếu nhưng chưa được gia cố, thân đê được đắp bằng nhiều loại đất không đồng chất;
Trang 2517
khu vực bãi ven sông thường là cát, đất cát pha nên thường xảy ra sự cố nứt sạt
Độ rỗng của đê lớn, trong thân đê còn ẩn chứa nhiều ẩn họa như tổ mối , thường
xảy ra các hiện tượng rò rỉ, thẩm lậu; trong các năm trước đây khi có lũ lớn, trên toàn hệ thống đê sông lớn đã xảy ra 85 điểm rò rỉ, thẩm lậu và 78 vị trí xảy ra mạch đùn, mạch sủi
- Về hiện trạng lòng sông: Do Thanh Hóa là tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ, các sông
bắt nguồn từ vùng Thượng Lào, vùng núi phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh, độ dốc lòng sông lớn, sông quanh co uốn khúc, lòng sông hẹp; khoảng cách giữa 2 đê bình quân từ 400-500m, có nhiều đoạn mặt cắt bị thu hẹp đột ngột, khoảng cách giữa 2 đê < 100m, dẫn đến chế độ thủy văn, thủy lực của các sông rất phức tạp, lưu tốc về mùa lũ rất lớn; trong khi đó về mùa khô, nhiều đoạn sông mực nước
hạ thấp đến mực nước kiệt, làm cho diễn biến lòng sông, bãi sông rất phức tạp Đến thời điểm này, toàn bộ hệ thống sông ngòi của Thanh Hóa có 264 đoạn kè bảo vệ, trong đó trên các tuyến đê sông lớn có 138 đoạn đê sát sông với chiều dài 71,4km đã có kè bảo vệ; một số kè xây dựng từ lâu, không làm lọc, hoặc làm
lọc theo truyền thống, mái đê phía trên đỉnh kè dốc, bị sụt lún, xói lở chất lượng không đảm bảo bị hư hỏng chưa được tu sửa; mặt khác do diễn biến dòng chảy, một số kè đang có diễn biến sạt lở
1.2 Tổng quan về chất lượng công trình Đê điều
1.2.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình đê điều trên thế giới
Ở các nước phát triển: Hà Lan, Nhật, Đức, Đan Mạch, Mỹ hệ thống đê sông đã được xây dựng rất kiên cố nhằm phòng chống lũ (triều cường kết hợp nước dâng) đặc biệt ở Hà Lan một quốc gia với khoảng 20% diện tích nằm dưới mực nước biển Việc đánh giá an toàn công trình đê điều rất được chú trọng, nhìn chung phương pháp đánh giá an toàn đê được chia làm 2 bước: Đơn giản và chi tiết Phương pháp đánh giá đơn giản chủ yếu dựa trên các kinh nghiệm: Đầu tiên dựa trên kinh nghiệm quản lý, nghĩa là người quản lý dựa trên kinh nghiệm của
Trang 26số phần mềm máy tính là cần thiết Tuy nhiên trong trường hợp thiếu dữ liệu điều tra hoặc dữ liệu chuâ đảm bảo chính xác thì cần thiết phải có điều tra thêm Theo bản hướng dẫn đánh giá an toàn đê của người Hà Lan, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn của công trình được đề cập như kè, cống, cửa khẩu, cây cối, nhà cửa , Ngoài ra họ cũng đề cập đến sự thay đổi của chế độ dòng
chảy ảnh hướng đến sự an toàn của bãi trước đê và bản thân con đê Do điều kiện thời gian có hạn và hiểu biết còn chưa sâu rộng nên chương nay chỉ đề cập đến một số yếu tố chính như chiều cao đê, kè lát mái, đùn sủi, thẩm lậu và sự ổn định mái đê phía sông và đồng Các yếu tố tác động khác như cây cối, nhà cửa, thay đổi chế độ dòng chảy xin không đề cập trong chương này Tuy nhiên những yếu tố này cần được phân tích chi tiết tại Việt Nam
1.2.2 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình đê điều ở Việt Nam
Hệ thống công trình phòng lũ là một hệ thống rất quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, do đó việc hướng dẫn để đánh giá chất lượng cho hệ
thống công trình phòng lũ là một dụng cụ rất quan trọng bởi vì dựa trên dụng cụ
đó các nhà quản lý, kỹ sư có thể biết được hệ thống công trình của mình có ổn định hay không dưới các điều kiện thiết kế
Trang 2719
Hiện tại Việt Nam chưa có được một bản hưỡng dẫn đánh giá đầy đủ Thông
thường việc đánh giá chất lượng công trình được dựa trên bới nhiều bản hướng
dẫn khác nhau ở nhiều thời điểm khác nhau với nhiều điều kiện chính sách khác nhau ở các thời điểm đó Các văn bản hướng dẫn đó chủ yếu chỉ đề cập đến chính sách nhiều hơn là về kỹ thuật Ngoài ra, các tiêu chuẩn thiết kế hầu hết đã được xây dựng từ rất lâu, mang tính chất đơn lẻ và chưa được điều chỉnh, bổ sung và cập nhật cho phù hợp với các điều kiện thực tế đã thay đổi hiện nay Do vậy các nhà quản lý, kỹ sự gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng
1.2.3 Tầm quan trọng của hệ thống đê sông trong sự phát triển kinh tế, xã hội.
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, hệ thống đê và các công trình
bảo vệ bờ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phòng chống và giảm
nhẹ thiên tai, bảo vệ an toàn các trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế, các vùng dân cư rộng lớn trải dài theo các triền sông, duyên hải từ Bắc chí Nam Hệ thống
đê sông ở đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng sông Cửu Long đã được hình thành và phát triển từ hàng nghìn năm nay Hiện nay, trong điều kiện đất nước ta đang công nghiệp hoá, hiện đại hoá những yêu cầu về việc bảo vệ các khu dân cư và kinh tế chống lại sự tàn phá của bão, lũ, nước dâng ngày càng trở nên cấp bách Bên cạnh việc củng cố, nâng cấp các hệ thống đê sông đã có, việc quy hoạch bảo
vệ bờ sông, bờ biển và xây dựng các hệ thống đê mới đang được đặt ra ở mọi
miền của đất nước
Vì vậy hệ thống đê sông có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao khả năng phòng chống lũ, đảm bảo an sinh xã hội cho đời sống nhân dân, công tác an ninh quốc phòng được giữ vững Tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển hàng hoá, phát triển du lịch và các ngành nghề khác góp phần to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay và định hướng phát triển lâu dài
Trang 2820
Hình 1.18 Đê sông Đào – Nam Định
(Nguồn: Báo điện tử baonamdinh.vn)
Hình 1.19 Đê sông Côn – Tuy Phước
(Nguồn: Báo điện tử http://tuyphuoc.binhdinh.gov.vn)
1.3 Những sự cố về đê điều trong thời gian qua
1.3.1 Khái quát những hư hỏng đê sông
Hệ thống đê sông là công trình quan trọng nhất trong việc phòng, chống lũ Vì vậy, những năm gần đây Nhà nước đã tập trung đầu tư nguồn ngân sách khá lớn cho các chương trình tu bổ, nâng cấp hệ thống đê sông (Chương trình nâng cấp
hệ thống đê sông theo Quyết định 2068/QĐ-TTg ngày 9/12/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ; Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư theo Quyết định 923/QĐ-TTg ngày 28/6/2017 của Thủ tướng chính Phủ), hầu hết các tuyến đê sông đều được đắp trên nền đất yếu lại thường xuyên bị tác động của thiên nhiên như mưa, lũ, sóng to của bão, gió Cùng với biến đổi dòng chảy do điều tiết các hồ chứa ở thượng nguồn, cho nên thường xuyên xảy ra sạt lở, thẩm lậu, ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn của đê mỗi khi gặp lũ cao, bão lớn
Đối với đê sông ngoài việc bồi trúc tăng khả năng ổn định của công trình, công tác hộ đê chống lụt sửa chữa ngay những hư hỏng ban đầu có ý nghĩa quyết định
để ngăn ngừa rủi ro do đê vỡ Sủi, sạt trượt mái đê kè, rò, thấm, nứt, tràn, rò cửa cống, mang cống v.v… là các hiện tượng hư hỏng thường gặp ở đê sông lúc nước sông lên cao
Trang 3022
a) N ứt dọc đỉnh đê b) Xói lở do mưa tác động
c) H ư hỏng và trượt mái d) Sập mái
e) Sụt quanh cống dưới đê f) Lún tạo thành hang tại cống
l) Cống tiêu bị đổ, gãy g) Hố nước trên đỉnh đê
Hình 1.22 Các loại hư hỏng đê và các công trình liên quan [1]
S ập Ống dẫn
kiểm tra
Trang 3123
a) Hang sâu 4cm b)Trượt mái sau lũ
c) Hang chồn d) Sạt lở cục bộ do mưa lớn
e), f) T ổ mối/kiến dọc đê
Hình 1.23 Các hư hỏng mái đê khác.[1]
Trang 3224
1.3.2 Đánh giá một số những hư hỏng đê sông hiện nay thường gặp [3]
a) Mạch đùn, mạch sủi sau chân đê
Mạch đùn, mạch sủi thường xảy ra vào mùa nước lớn, khi mực nước trong đồng
và đê có chênh lệch
Hình 1.24 Sủi đê sông
Hình 1.25 Xử lý giờ đầu sự cố mạch đùn, mạch sủi sau chân đê năm 2015
(ngu ồn Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hoá)
Trang 3325
- Nguyên nhân: Mạch đùn, mạch sủi thường xảy ra khi áp lực nước thấm qua
nền lớn, ở nơi nền đê là cát mà tầng đất phủ ở trên mỏng
- Cách xử lý:
+ Làm giảm áp lực nước thấm
+ Để nước thoát ra được dễ dàng
+ Giữ được đất cát không bị xói lở trôi ra ngoài
b) Sạt lở và trượt mái đê
Sạt lở và trượt mái đê là trường hợp nguy hiểm hay gặp trong mùa lũ, nếu sửa
chữa chậm có thể sinh vỡ đê Ở mái đê xuất hiện đường nứt nhỏ hình cung, khe
nứt và chiều dài đường cung nứt dần dần mở rộng, mái đê bị trễ xuống
a Sạt trượt mái đê phía sông b Sạt trượt mái đê phía đồng
Hình 1.26 Sạt trượt mái đê
Trang 34+ Tiêu, thoát nước ở ao hồ, đầm sâu
+ Giảm áp lực nước thấm, khôi phục lại sự ổn định của thân đê, mái đê Nếu đê
bị sạt lở ở phía bờ sông ta cần bạt mái, củng cố chân đê bằng cách thả rồng tre,
rọ đá hoặc bỏ đá hộc để tăng cường khả năng chống xói cho bờ sông Nếu đê bị
sạt lở phía đồng cần đào rãnh dẫn thấm và đắp trả lại mái cũ hoặc đắp thêm gờ đất phản áp cao 1,5-2,0m
Hình 1.27 Sự cố sạt lở mái đê phía sông tại K17+250 đê tả sông Chu năm 2017
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
c) Thẩm lậu, lỗ rò ở mái đê
Thẩm lậu là hiện tượng nước sông thấm qua thân đê, chảy thành vòi hay rò rỉ mái đê phía đồng Khi nước chảy từ mái đê phía đồng ra thành vòi hoặc chảy tập trung một chỗ hoặc nhiều gọi là lỗ rò
Trang 3527
Hình 1.28 Thẩm lậu, lỗ rò ở mái đê
Hình 1.29 Vòi th ấm phía sông đê hữu sông Chu đoạn từ K38+700 đến K39+300 năm 2014
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
Hình 1.30 Hố sụt trên mái đê phía sông đê hữu sông Chu đoạn từ K38+700 đến K39+300 năm 2014 (Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
Trang 3628
- Nguyên nhân:
+ Do kích thước mặt cắt ngang của đê nhỏ chưa đảm bảo yêu cầu thiết kế
+ Chất lượng đê đắp không đảm bảo, đầm nện chưa đủ chặt, đất đắp có hàm lượng lớn
+ Tổ mối và các loại hang hốc của các loài động vật, vi sinh vật
- Cách xử lý:
+ Tiêu thoát nước mái trong, không để mái sũng nước
+ Ngăn nước mái ngoài để nước không cuốn đất thân đê ra ngoài
d) Nước tràn qua đê
Khi mực nước lũ vượt quá chiều cao đê, nước tràn qua đê, trường hợp này rất nguy hiểm, phải kịp thời khắc phục
- Nguyên nhân:
+ Do đê không đủ cao độ, tiêu chuẩn thiết kế còn thấp, lại gặp lũ lớn vượt quá
khả năng thoát lũ của dòng sông
+ Có thể do đê bị lún, cao trình đê bị thấp
- Cách xử lý:
+ Dùng công trình phân lũ để hạ thấp mực nước lũ
+ Tôn cao đỉnh đê
+ Đắp con chạch đất, đắp con chạch bằng bao tải
Trang 3729
Hình 1.31 Tràn đê hữu Cầu Chày đoạn từ K25+000-K26+800 năm 2017
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
Trang 3830
Hình 1.33 Xử lý nứt mặt đê đoạn K17,07-K17,22 xã Hà Toại, huyện Hà Trung năm 2015
(Nguồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
- Nguyên nhân: Do đắp đất đê bị co ngót, do lún cục bộ, do thấm
- Cách xử lý:
+ Ngăn không cho nước theo khe nứt chảy ra mái đê phía đồng
+ Ngăn cản khe nứt mở rộng
g ) Phòng chống sóng
Khi lũ lớn những nơi mặt sông rộng, sóng do gió hoặc do tàu thuyền vận chuyển xử
lý chống lụt có thể làm sạt lở mái đê từ mức nước lũ đến đỉnh đê
Hiện tượng này sẽ nguy hiểm đối với đê vùng cửa sông, ngã ba sông
Cách xử lý: Làm tiêu hao năng lượng sóng, gia cố mái đê, khôi phục thân đê
Trang 39Hình 1.35 Sạt lở tại kè đoạn K30,026-K30+490 đê tả sông Mã năm 2017
(Ngu ồn: Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa)
- Nguyên nhân:
+ Do dòng chảy khoét chân bờ sông, kè làm hỏng chân
+ Đất bị ngâm nước lâu làm cường độ chống cắt giảm nhanh Nơi nào có bờ, kè mái dốc thì có thể xảy ra lở bờ
Trang 4032
+ Do thời tiết nắng hạn, làm cho mặt đê bị nứt nẻ, gặp mưa
+ Do nước ngầm từ phía đồng chảy ra sông thời gian trước lũ, mực nước lũ hạ thấp đột ngột do vỡ đê
- Cách xử lý:
+ Tăng cường khả năng chống xói để ổn định bờ, kè
+ Giảm vận tốc dòng chảy
i) Khuyết tật trong thân đê
Tuyến đê hiện nay một phần hư hỏng do các vi sinh vật sinh sống trong đê, các
vi sinh vật phát triển trong thân đê làm tơi xốp đất, dẫn đến đất đắp đê bị yếu, dẫn tới hiện tượng thẩm lậu, xói ngầm đê
Hình 1.36 Khu yết tật trong thân đê
Hình 1.37 Tổ mối trong thân đê sông Cầu đoạn đoạn K15+700 xã Tiên Phong, huyện Hà
Châu, tỉnh Thái Nguyên
(Nguồn: Báo điện tử baothainguyen.vn)