Quy định: Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế, bao gồm: Thông tin về người nộp thuế nhập khẩu là yêu cầu quan trọng của công tác quản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN XUÂN HÒA
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN XUÂN HÒA
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS Nguyễn Bá Uân
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Hòa
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý kinh tế tại Trường Đại học Thủy
lợi, được sự đồng ý của Trường Đại học Thủy lợi và sự nhất trí của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Bá Uân, tác giả đã tiến hành thực hiện luận văn thạc sĩ Quản lý
kinh tế với đề tài: “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn”
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các quý thầy cô, các anh chị trong tập thể lớp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới: Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi, và các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn;
PGS.TS Nguyễn Bá Uân, thầy đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm thực tế quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn này;
Xin gửi lời cảm ơn tới những ý kiến đóng góp và sự động viên của gia đình, bạn
bè, các anh/chị trong lớp cao học 24QLKT12 trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn thạc sĩ;
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn, đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả nguồn tài liệu tham khảo quý báu, cảm
ơn tất cả các học viên của những cuốn sách, bài viết, công trình nghiên cứu và website hữu ích được đề cập trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Hòa
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu 3
1.1.1 Thuế nhập khẩu 3
1.1.2 Nội dung quản lý thuế nhập khẩu 9
1.1.3 Các nguyên tắc quản lý thuế nhập khẩu 14
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thuế nhập khẩu 15
1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thuế nhập khẩu 15
1.2 Căn cứ pháp lý của công tác quản lý thuế nhập khẩu 19
1.3 Những kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế nhập khẩu 20
1.3.1 Kinh nghiệm trong nước 20
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra 23
1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 24
1.4.1 Các công trình nghiên cứu 24
1.4.2 Các luận văn, luận án 24
Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN 27
2.1 Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 27
2.1.1 Quá trình hình thành 27
2.1.2 Cơ cấu tổ chức tổ chức bộ máy quản lý và chức năng nhiệm vụ 28
2.1.3 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao 31
2.1.4 Các nguồn lực 32
2.2 Thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 33
2.2.1 Quản lý người nộp thuế 33
2.2.3 Tình hình quản lý thu thuế nhập khẩu 43
Trang 62.3 Đánh giá chung về hoạt động quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan
tỉnh Lạng Sơn 56
2.3.1 Những kết quả đạt được 56
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 57
Kết luận chương 2 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN 65
3.1 Bối cảnh mới và ảnh hưởng của nó đối với hoạt động quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 65
3.1.1 Những cơ hội 65
3.1.2 Những thách thức 66
3.2 Định hướng hoàn thiện quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 66
3.3 Đề xuất giải pháp 67
3.3.1 Giải pháp quản lý và hỗ trợ người nộp thuế 68
3.3.2 Nhóm giải pháp tăng cường chống gian lận thuế nhập khẩu 71
3.3.3 Theo dõi và quản lý chặt các khoản nợ thuế nhập khẩu 77
3.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan 78
3.3.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hải quan đáp ứng yêu cầu quản lý thuế nhập khẩu trong tình hình mới 80
3.3.6 Xây dựng cơ sở vật chất hiện đại trong mọi hoạt động quản lý thuế 82
3.3.7 Tăng cường công tác thanh, kiểm tra nôi bộ 82
3.4 Kiến nghị 83
3.4.1 Đối với Chính phủ 83
3.4.2 Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan 84
3.4.3 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn 85
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 30
Hình 2.2 Tổ chức bộ máy thu thuế nhập khẩu cấp Cục 32
Hình 2.3 Số lượng tờ khai phân luồng năm 2016 35
Hình 2.4 Số thu thuế nhập khẩu từ năm 2011-2016 44
Hình 2.5 Số lượng doanh nghiệp nợ thuế 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu truy thu thuế nhập khẩu qua tham vấn giá 37
Bảng 2.2: Số thu thuế nhập khẩu các năm 2011 -2016 44
Bảng 2.3: Số nợ đọng thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn năm 2014 50
Bảng 2.4: Số nợ đọng thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn năm 2015 51
Bảng 2.5: Số nợ đọng thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn năm 2016 52
Bảng 2.6 Kết quả kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn 54
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACFTA ASEAN- China Free Trade Area
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN- Trung Quốc APEC Asia-Pacific Economic Cooperation, Diễn đàn hợp tác kinh tế
Châu Á- Thái Bình Dương ASEAN Association of South East Asia Nations, Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á ASEM The Asia-Europe Meeting, Diễn đàn Hợp tác Á - Âu
CIF Cost, Insurance, Freight, Tiền hàng, bảo hiểm, cước phí
C/O: Certificate of Origin, Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa FDI Foreign Direct Invesment, Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement, Hiệp định thương mại tự do
GATT Genaral Agreement on Tafiffs and Trade, Hiệp định chung về
thuế quan và mậu dịch GTT02 Danh mục dữ liệu giá của cơ quan Hải quan
HS Hamonized Commodity Description and Coding System-Mã
hàng hóa MFN Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi
MHS Phần mềm biểu thuế và phân loại mức thuế
TTLT Thông tư liên tịch
VAT Value Added Tax- Thuế giá trị gia tăng
VNACCS-VCIS Hệ thống thông quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, chính vì vậy mà trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để đáp yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo
ra những tiền đề cần thiết để chuyển nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Thời gian qua thu thuế nhập khẩu ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh lạng Sơn nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại còn khá phổ biến; hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế hàng hoá nhập khẩu chưa được coi trọng đúng mức gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ thuế cũng chưa được đảm bảo…
Xuất phát từ những tồn tại trong thu thuế nhập khẩu nêu trên đòi hỏi phải luôn quan tâm hoàn thiện Để đạt hiệu quả cao, đây là yêu cầu cấp bách nhằm tăng thu cho ngân sách Nhà nước, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở phía Đông bắc bộ, điều kiện kinh tế - xã hội còn chậm phát triển, nguồn thu từ thuế nhập khẩu là một trong những nguồn thu chủ yếu trên địa bàn
Để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập, tỉnh Lạng Sơn xác định mục tiêu chủ yếu từ nay đến năm 2020 là tranh thủ lợi thế để phát triển kinh tế cửa khẩu, tạo động lực phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác của tỉnh Nếu nguồn thu từ hoạt động nhập khẩu bị giảm sút, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách của ngành, của tỉnh Chính vì vậy đòi hỏi công tác quản lý thuế nhập khẩu phải trở thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên tại Cục Hải quan tỉnh
Lạng Sơn Trong bối cảnh đó, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn”.
Trang 122 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài này nhằm nghiên cứu đạt được các mục đích thiết thực sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế nhập khẩu
- Phân tích, đánh giá về thực trạng công tác công tác quản lý thuế nhập khẩu của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn để thấy rõ những mặt đã đạt được và những tồn tại nhằm chỉ
ra những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết trong công tác công tác quản lý thuế nhập khẩu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế nhập khẩu của Cục
Hải quan tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng đồng bộ các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích Lý
luận kết hợp với thực tiễn để nghiên cứu, gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực
tiễn, bám sát quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước Đồng thời tham khảo
có chọn lọc, kế thừa các công trình khoa học đã công bố của các tác giả có liên quan đến đề tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh
Lạng Sơn và những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý này
b Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung và không gian: Luận văn nghiên cứu công tác quản lý thuế nhập
khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý thuế nhập khẩu tại
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2011 đến năm 2016, các giải pháp được đề xuất đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu
1.1.1 Thuế nhập khẩu
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thường có tên gọi chung là thuế quan (Custom duty)
Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu
nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia
Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là kho ản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu Thuế nhập khẩu được sử
d ụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi
s ự cạnh tranh của nước ngoài” (Trang 439)
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam Tập 4, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội (2005) thì: “Thuế nhập khẩu thu vào hàng đem từ nước ngoài vào trong nước để tiêu dùng Khi cần bảo hộ sản xuất và tiêu dùng hàng nộ địa, người ta đánh thuế vào những hàng nhập thật cao nhằm ngăn chặn hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào Ngược lại, muốn khuyến khích đưa hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường trong nước, người ta không thu hoặc thu rất ít.” (Trang 286)
Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội (2001) thì: “Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa tại biên giới khi hàng nhập qua lãnh thổ hải quan (thông thường là một nước).” (Trang 443)
Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội
Trang 14- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có
ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước
- Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định”
Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế nhập khẩu cùng như các quan niệm về thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể khái quát thành khái niệm chung
về thuế nhập khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước
b Đặc điểm của thuế nhập khẩu
Từ khái niệm của thuế nhập khẩu cho thấy, thuế nhập khẩu cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là:
- Thuế mang tính quyền lực Nhà nước Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế nhập khẩu qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa
và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
- Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo
- Thuế chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội Điều này được thể hiện ở chỗ thuế nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ
Ngoài những đặc điểm chung, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là:
- Thuế nhập khẩu chỉ thu vào hàng hóa nhập khẩu mà không thu vào hàng hóa sản
Trang 15xuất trong nước Khác với thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng cũng là một loại thuế gián thu nhưng thu vào cả hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Thông qua việc thu thuế nhập khẩu, giá vốn của một mặt hàng cụ thể khi đưa từ quốc gia này đến một quốc gia khác sẽ tăng lên tương ứng với mức đánh thuế, từ đó nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo vệ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển
- Thuế nhập khẩu gắn với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng
thời kỳ Bởi lẽ, ngoại thương là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của kinh
tế đối ngoại mà thuế nhập khẩu là công cụ góp phần thực hiện vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương của nhà nước Sự xuất hiện của thuế nhập khẩu bắt nguồn
từ yêu cầu điều chỉnh sự vận động của hàng hóa giữa các quốc gia có chủ quyền Hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ không cố định mà luôn vận động và phát triển theo sự phát triển chung của nhân loại Vì vậy, có thể nói rằng thuế nhập khẩu gắn chặt với hoạt động kinh tế đối ngoại và luôn vận động, phát triển theo
sự phát triển của quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia
- Thuế nhập khẩu chỉ do cơ quan Hải quan quản lý thu, cơ quan Thuế các cấp không thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt vừa do cơ quan Hải quan thu vừa do cơ quan Thuế thu Thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, môn bài chỉ do cơ quan Thuế các cấp thu), nhằm gắn công tác quản lý thu thuế nhập khẩu với công tác quản lý nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động nhập khẩu
1.1.1.2 Vai trò của thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu nằm trong hệ thống thuế quốc gia cho nên cũng có vai trò của thuế nói chung đó là tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dưới góc độ một sắc thuế cụ thể, vai trò của thuế nhập khẩu được thể hiện khác nhau tùy theo thực trạng phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, cụ thể như sau:
a Thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước
Nguồn thu ngân sách nhà nước được cấu thành từ các nguồn chính: thuế, phí, lệ phí Trong đó, thuế đóng góp một tỷ trọng lớn ảnh hưởng đến quy mô ngân sách Trong cơ
Trang 16cấu thuế, thuế xuất nhập khẩu chiếm một phần quan trọng Thông qua thuế nhập khẩu Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng hóa tập trung vào ngân sách Tùy thuộc vào mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại, quan điểm sử dụng mà thuế xuất khẩu, nhập khẩu có vai trò khác nhau đối với những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu ngân sách Nhà nước Với các nước phát triển, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước (chỉ từ 1-5%) Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, thuế xuất nhập khẩu luôn chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách Ở Việt Nam những năm gần đây, thuế xuất khẩu, nhập khẩu ( mà chủ yếu là thuế nhập khẩu) đóng góp khoảng 25-30% trong tổng thu về thuế
Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế và thực hiện các cam kết cắt giảm thuế: ASEAN, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, WTO… nguồn thu
về thuế nhập khẩu giảm dần trong tổng thu về thuế
b Góp phần bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước phát triển
Thuế nhập khẩu tác động trực tiếp tới đầu vào quá trình sản xuất thông qua việc đánh thuế trên hàng nhập khẩu là máy móc, tư liệu, thiết bị sản xuất… Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế giống như các loại thuế gián thu khác, thuế nhập khẩu có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước qua việc tác động vào giá cả của hàng hóa nhập khẩu, cụ thể:
- Với hàng hóa là thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, việc đánh thuế nhập khẩu thấp tác động trực tiếp đến đầu vào của sản phẩm, giá đầu vào giảm, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có điều kiện đổi mới công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước Nhà nước thế hiện quan điểm của mình thông qua chính sách thuế nhập khẩu, và qua nội dung chính sách thuế nhập khẩu, thị trường sẽ xác định tín hiệu hướng dẫn sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế quốc dân từ ngành sản xuất kém hiệu quả sang ngành sản xuất có hiệu quả Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên nền tảng là chiến lược phát triển của nền kinh tế quốc gia
Trang 17- Với những loại hàng hóa khác, tùy thuộc vào nhu cầu và đối tượng sử dụng mà thuế nhập khẩu có tác dụng khuyến khích hay hạn chế tiêu dùng bằng việc đánh thuế thấp hay cao Việc đánh thuế hàng nhập khẩu thể hiện mức độ hàng được sản xuất trong nước (hàng cùng loại, hàng tương tự), bởi lẽ:
+ Khi đánh thuế hàng nhập khẩu cao thì giá cả hàng nhập khẩu cao, điều này dẫn đến hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước, nhờ
đó mà hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh hơn hàng nhập khẩu do giá thành hạ so với hàng nhập khẩu tạo điều kiện sản xuất trong nước phát triển
+ Khi đánh thuế hàng nhập khẩu thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu những mặt hàng đó, người tiêu dùng có điều kiện dùng hàng nhập khẩu (giá rẻ, chất lượng cao…), trực tiếp thúc đẩy các doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện công tác tổ chức quản lý, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành, nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường thì mới
có khả năng cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, vai trò bảo hộ của thuế nhập khẩu sẽ bị hạn chế do việc phải thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực Hơn nữa trong thực tế, nếu quá nhấn mạnh đến vai trò bảo hộ của thuế nhập khẩu với các ngành sản xuất tron nước sẽ không những không thực hiện được chính sách đối ngoại của Nhà nước, mà còn khiến nền sản xuất trong nước trở nên trì trệ, kém phát triển
Có thể khẳng định rằng, thuế nhập khẩu là hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước hiệu quả và minh bạch nhất Ứng với mức thuế nhập khẩu càng cao thì mức độ mở cửa thị trường càng hạn chế và ngược lại Vì vậy, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, và đặc biệt
là thuế nhập khẩu là một trong những nội dung quan trọng nhất của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Theo đó, nước xin gia nhập phải tiến hành đàm phán với những nước thành viên, từ đó lập ra một biểu các cam kết về thuế nhập khẩu Ngoài những nhân nhượng do nước xin gia nhập tực đưa ra, các nước thành viên còn lại có thể đòi cắt giảm thuế, loại bỏ một số biện pháp phi thuế mà họ quan tâm Các cuộc đàm phán song phương này được diễn ra trên cơ sở đưa ra yêu cầu và phản hồi Sau đó, từ các kết quả của tất cả các cuộc đàm phán sẽ tổng hợp chung vào một biểu cam kết của nước xin gia nhập để làm cơ sở thực hiện
Trang 18c Vai trò kiểm soát và điều tiết với hàng hóa nhập khẩu
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mua bán hàng hóa diễn ra ở hầu khắp các nước, dưới nhiều hình thức, đa dạng về chủng loại, có hàng hóa phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu, nhưng cũng có loại hàng hóa xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân như ma túy, vũ khí, văn hóa phẩm đồi trụy… Thông qua việc kiểm tra và thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
để nắm được thực trạng hàng hóa nhập khẩu thuộc chủng loại gì,số lượng bao nhiêu, được nhập từ nước nào…Qua đó, Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hóa nhập khẩu, để có những điều chỉnh chính sách với hàng hóa nhập khẩu kịp thời và phù hợp với thực tiễn
Để điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa, bên cạnh các biện pháp phi thuế quan như: hạn ngạch, giấy phép, cấp phép tự động…thì biện pháp sử dụng công cụ thuế nhập khẩu được các nước sử dụng một cách phổ biến Nhà nước khuyến khích hay hạn chế
nhập khẩu đối với từng loại hàng hóa thông qua công cụ thuế nhập khẩu, chẳng hạn như: với nguyên vật liệu cần cho sản xuất trong nước mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế thì Nhà nước quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu thậm chí bằng 0% nhằm mục đích khuyến khích nhập khẩu thúc đẩy sản xuất trong nước Với những hàng hóa trong nước đã sản xuất đủ nhu cầu tiêu dùng hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (ô tô, điều hòa, rượu bia…), thuế suất thuế nhập khẩu thường quy định ở mức thuế cao nhằm hạn chế nhập khẩu và hạn chế tiêu dùng Như vậy, thông qua công cụ thuế nhập khẩu, Nhà nước thực hiện điều tiết hoạt động nhập khẩu hàng hóa
d Khẳng định vai trò chủ quyền quốc gia, chống phân biệt đối xử trong thương mại
qu ốc tế
Vai trò này được thể hiện ở chỗ, bất kể một loại hàng hóa nào nhập khẩu vào Việt Nam đều phải khai báo, xuất trình, kiểm tra và nộp thuế (nếu có) Mọi hành động phân biệt đối xử của nước ngoài với hàng hóa Việt Nam nếu làm tổn hại đến nền sản xuất
trong nước đều phải chịu các biện pháp trả đũa thông qua áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung
Trang 19Tóm lại, tuy tình hình kinh tế, chính trị của thế giới và mỗi nước từng giai đoạn khác nhau mà việc sử dụng thuế nhập khẩu ở mỗi quốc gia có những đặc điểm khác nhau
Theo xu hướng chung, khi nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh lớn, hàng rào bảo hộ bằng thuế nhập khẩu trở nên không cần thiết Ngược lại ở các nước đang phát triển, thuế nhập khấu đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo hộ nền sản xuất trong nước Là nước đang phát triển và trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, Việt Nam
sử dụng thuế nhập khẩu với hai mục tiêu chủ yếu là bảo hộ và khuyến khích đầu tư, sản xuất trong nước Hầu hết các mặt hàng sản xuất trong nước đều có sự hỗ trợ bằng hàng rào thuế quan mới có thể chống đỡ được sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu trên thị trường
1.1.2 Nội dung quản lý thuế nhập khẩu
1.1.2.1 Q uản lý người nộp thuế nhập khẩu
Căn cứ Điều 3 của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quy định: Người nộp thuế là các tổ chức,
cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế, bao gồm:
Thông tin về người nộp thuế nhập khẩu là yêu cầu quan trọng của công tác quản lý thuế hiện đại, đảm bảo cơ quan Hải quan theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá mức
độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Trên cơ sở các thông tin thu thập được,
Trang 20cơ quan Hải quan có căn cứ để phân loại các người nộp thuế để áp dụng hình thức kiểm tra hàng hóa nhập khẩu phù hợp theo quy định Từ đó tránh thất thu ngân sách, đồng thời giảm phiền hà cho đối tượng chấp hành tốt pháp luật thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế
Ngoài ra, thông tin về đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế cũng là cơ
sở quan trọng giúp cho công tác theo dõi nợ thuế và thu hồi nợ thuế thực hiện đạt hiệu quả cao, đảm bảo thu đúng, đủ và kịp thời các khoản thuế vào ngân sách nhà nước, hạn chế hiện tượng dây dưa, trốn nợ thuế
Theo quy định về quản lý thuế và quản lý hải quan hiện hành, tiêu chí đánh giá người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật được xác định như sau:
- Có hoạt động xuất nhập khẩu tối thiểu 365 ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng xuất nhập khẩu Trong thời gian 365 ngày trở về trước, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng xuất, nhập khẩu được cơ quan hải quan xácđịnh là: Không bị xử lý về hành vi buôn lậu,vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; Không bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế; Không quá hai lần bị xử lý về các hành vi vi phạm khác về hải quan (bao gồm cả hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn) với mức phạt tiền vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Không còn nợ thuế quá hạn quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan; Không còn nợ tiền thuế quá hạn, không còn nợ tiền phạt tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan;
- Thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
Người nộp thuế đáp ứng điều kiện quy định trên đây sẽ được ưu tiên làm thủ tục hải quan trước, ưu tiên khi phân luồng tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu và được ân hạn thuế theo quy định tại điều 18 Thông tư 194/2010/TT- BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính
Trang 21Từ năm 2008 đến nay, ngành Hải quan đã áp dụng quản lý rủi ro trong toàn bộ hoạt động nghiệp vụ theo Quyết định số 48/2008/QĐ-BTC ngày 04/7/2008 của Bộ Tài chính ban hành quy định áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, Quyết định số 35/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2009 và số 15/QĐ-TCHQ ngày 8/3/2011 của Tổng cục Hải quan quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Theo đó, việc phân luồng tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan Hải quan thực hiện căn cứ vào: kết quả đánh giá chấp hành pháp luật của Doanh nghiệp; chủng loại hàng hóa và loại hình xuất, nhập khẩu , cụ thể như sau:
- Đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật và hàng hóa nhập khẩu không bị áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro:tờ khai sẽ được phân vào Luồng xanh (Chấp nhận thông
quan hàng hoá trên cơ sở thông tin khai hải quan của Doanh nghiệp)
- Đối với doanh nghiệp không chấp hành tốt pháp luật hoặc hàng hóa nhập khẩu đang
bị áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro: tờ khai sẽ được phân vào hoặc Luồng vàng (Kiểm
tra chi tiết chứng từ, giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan trước khi thông quan hàng hoá Công chức hải quan kiểm tra nội dung khai của người khai hải quan, kiểm tra số lượng, chủng loại giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan, tính đồng bộ giữa các chứng từ trong hồ sơ hải quan; kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý xuất nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật) hoặc Luồng đỏ (Kiểm tra chi tiết chứng từ giấy
thuộc hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá Công chức hải quan kiểm tra nội dung khai của người khai hải quan, kiểm tra số lượng, chủng loại giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan, tính đồng bộ giữa các chứng từ trong hồ sơ hải quan; kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý xuất nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật; Kiểm tra thực tế hàng hoá: kiểm tra tên hàng, mã số, số lượng, trọng lượng, chủng loại, chất lượng, xuất xứ của hàng hoá Kiểm tra đối chiếu sự phù hợp giữa thực
tế hàng hoá với hồ sơ hải quan) Một số tờ khai của Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật cũng sẽ được phân Luồng đỏ để kiểm tra xác suất ngẫu nhiên và theo dõi, đánh giá
ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp
1.1.2.2 Quản lý căn cứ tính thuế nhập khẩu
Trang 22Để quản lý chặt chẽ các căn cứ tính thuế nhập khẩu, trước tiên chủ thể quản lý phải dựa vào thủ tục khai báo của người nộp thuế nhập khẩu Các đối tượng có hàng hóa nhập khẩu phải căn cứ vào tờ khai hải quan để kê khai đầy đủ, chính xác, trung thực các tiêu thức ghi trên tờ khai Phải tự tính số thuế phải nộp theo quy định và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc kê khai của mình
Căn cứ vào thủ tục khai báo Hải quan của người nộp thuế tại tờ khai Hải quan, cơ quan Hải quan phải thực hiện kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan để kiểm tra tính chính xác các nội dung tờ khai Hải quan thông qua các bước sau:
- Kiểm tra các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan (số lượng, chủng loại chứng từ, tính hợp pháp của chứng từ, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật), kiểm tra nội dung khai hải quan, đối chiếu
nội dung khai hải quan với các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan
Các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan gồm: Tờ khai Hải quan; Hợp đồng mua bán hàng hóa; Hóa đơn thương mại (Invoice); Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O - Certificate of Origin); Bảng kê chi tiết hàng hóa đối với lô hàng nhiều chủng loại (Packing list); Giấy phép nhập khẩu (nếu có);
- Kiểm tra thực tế hàng hóa là quá trình cơ quan Hải quan công khai kiểm tra hiện vật
để đối chiếu với chứng từ khai báo đã đăng ký thủ tục Hải quan, từ đó làm cơ sở để xác định số thuế nhập khẩu phải nộp Để thực hiện việc kiểm tra thực tế có hiệu quả,
cơ quan Hải quan phải tổ chức thu thập trao đổi thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu về: quá trính chấp hành pháp luật của người nộp thuế, chính sách quản lý nhập khẩu; tính chất, chủng loại, nguồn gốc và các thông tin khác liên quan đến hàng hóa nhập khẩu Dựa vào hồ sơ hải quan và các thông tin có liên quan đến hàng hóa nhập khẩu cơ quan Hải quan sẽ quyết định hoặc thay đổi hình thức, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa,
cách xác định tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa đối với từng lô hàng nhập khẩu cụ thể
- Việc kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa phải xác định được cácyếu tố sau: Tên hàng hóa và mã số hàng hóa; xuất xứ hàng hóa, Số lượng hàng hóa, giá tính
thuế, bảo đảm yêu cầu xác định được số thuế phải nộp
Trang 23Bên cạnh việc đẩy mạnh quá trình cải cách thủ tục hành chính: Tự kê khai, tính và nộp thuế của người nộp thuế thì Hải quan cần tổ chức tốt khâu tổ chức thu nộp Mối quan
hệ giữa cơ quan Hải quan, thuế, kho bạc, các ngân hàng phải được tăng cường để tạo thuận lợi cho quá trình trao đổi thông tin, đảm bảo việc thanh khoản, xác định nộp thuế
đúng hạn
Thu nộp tiền thuế là khâu sau của quy trình thủ tục hải quan nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi lẽ việc tổ chức thu nộp thuế đúng thời hạn, đủ số tiền, hạn chế nợ đọng
là tiêu chí căn bản để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế nhập khẩu của cơ
quan Hải quan
Ngoài ra, cơ quan Hải quan cần tập trung quản lý chặt chẽ các người nộp thuế để đảm bảo đôn đốc, thu nộp thuế; tránh tình trạng nợ đọng, gian lận thuế trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu; phát hiện các trường hợp vi phạm từ đó áp dụng các biện pháp xử
lý triệt để
1.1.2.4 Quản lý miễn, giảm thuế, hoàn thuế
Chính sách miễn, giảm nhằm thực hiện các mục tiêu ưu đãi thuế của Nhà nước đối với một số đối tượng và đảm bảo thực hiện đúng các thông lệ, tập quán thương mại quốc
tế Miễn thuế là hình thức ưu đãi thuế mà Chính phủ cho phép cơ sở kinh doanh có hoạt động nằm trong quy định miễn thuế không phải trả thuế cho hoạt động này
Hoàn thuế cho doanh nghiệp nhập khẩu cũng là thể hiện trách nhiệm của cơ quan Hải quan trong việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để tái sản xuất, kinh doanh khi họ đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và chính đáng được hưởng quyền lợi hoàn thuế
Các trường hợp được miễn thuế, xét miễn thuế, thủ tục miễn thuế, thủ tục xét miễn thuế; các trường hợp được xét giảm thuế, thủ tục xét giảm thuế; các trường hợp được hoàn thuế, thủ tục hoàn thuế được quy định cụ thể tại Mục 3, 4, 5, 6 phần V Thông tư 79/2009/TT-BTC ngày 20/4/2009 của Bộ Tài chính
Tuy nhiên đây cũng là yếu tố để các đối tượng lợi dụng trốn lậu thuế, do vậy ngoài việc cần đề ra các chính sách rõ ràng thì cần có các biện pháp quản lý phù hợp nhằm hạn chế các trường hợp gian lận, làm giảm hiệu quả công tác quản lý thu thuế
Trang 241.1.2.5 Quản lý kiểm tra sau thông quan
Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan
Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý nhập khẩu của người khai hải quan
Kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan Trụ sở người khai hải quan bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, cửa hàng, nơi sản xuất, nơi lưu giữ hàng hóa Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày
đăng ký tờ khai hải quan
1.1.3 Các nguyên tắc quản lý thuế nhập khẩu
- Tập trung dân chủ
Bảo đảm đầy đủ các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế nhập khẩu trong quá trình triển khai các biện pháp quản lý thu thuế Thống nhất quy trình, nghiệp vụ quản lý thu thuế và vận dụng thống nhất các văn bản pháp luật về thuế Thống nhất về trình tự, thời gian, yêu cầu và hình thức mẫu biểu trong lập dự toán và quyết toán thuế Thống nhất việc chỉ đạo thu thuế nhập khẩu từ cấp Tổng cục đến cấp Chi cục Phát huy tính chủ động, linh hoạt của cơ sở trong việc khai thác nguồn thu từ thuế và xây dựng quy trình thu thuế Quản lý thuế nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chí tập trung dân chủ, nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và đảm bảo công bằng cho tất cả các người nộp thuế
- Công khai minh bạch
Thu thuế là một hoạt động tài chính của Nhà nước có tác động rất lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của các doanh nghiệp Vì vậy, công khai minh bạch trong quản lý thuế nhập khẩu là một trong những tiêu chí nhằm phát huy được vai trò kiểm tra, kiểm soát của người nộp thuế, hạn chế được tiêu cực phát sinh trong quản lý
Trang 25- Phù hợp, đồng thuận
Trong quá trình quản lý thuế nhập khẩu đòi hỏi các biện pháp triển khai công tác thu thuế phải: Phù hợp với những quy định trong các văn bản pháp luật về thuế hiện hành; Phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của các người nộp thuế nói riêng; Phù hợp với những quy định mang tính chất thông lệ quốc tế trong quản lý thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước Điều này không chỉ giúp cho chính sách thuế có tính khả thi mà còn đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý thuế nhập khẩu
- Mức độ hoàn thành dự toán thu thuế nhập khẩu: tính theo tỷ lệ % của số thu thuế nhập khẩu so với dự toán mà Tổng cục Hải quan đề ra trong khoảng thời gian 01 năm Mức độ hoàn thành dự toán = Số thu thuế/Dự toán thu * 100%
- Hiệu quả công tác thu hồi nợ thuế:tính theo tỷ lệ % số nợ thuế được thu hồi trên tổng
số thuế nợ
Hiệu quả công tác thu hồi nợ thuế = Số nợ thuế/Tổng số thuế nợ * 100%
- Tỷ lệ doanh nghiệp nợ thuế quá hạn: tính theo tỷ lệ % số doanh nghiệp nợ thuế quá hạn trên tổng số doanh nghiệp làm thủ tục hải quan
Tỷ lệ doanh nghiệp nợ quá hạn = Số doanh nghiệp nợ thuế/tổng số doanh nghiệp làm
a Bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực
Trang 26Là một bộ phận của hoạt động quản lý thuế nói chung, hoạt động quản lý thuế nhập khẩu không chỉ là chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận riêng lẻ mà là sự kết hợp đồng thời của tất cả các khâu trong quy trình thu thuế, đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất
từ trên xuống dưới Nếu bộ máy tổ chức đảm bảo sự ổn định tương đối, được tinh giản,
bố trí nhân sự vào từng vị trí phù hợp với chuyên môn được đào tạo và năng lực sở trường của mỗi cá nhân sẽ đáp ứng yêu cầu công việc, giảm chi phí hành chính và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán
bộ, công chức hải quan cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý thuế nhập khẩu Cán bộ, công chức Hải quan có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ hạn chế các trường hợp tham nhũng, việc phát hiện các trường hợp gian lận trong hoạt động nhập khẩu sẽ chính xác và khách quan hơn Một khi đội ngũ lãnh đạo các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, có đủ năng lực quản lý, điều hành ở vị trí đảm nhiệm, công chức thừa hành tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, sử dụng ngoại ngữ, tin học thành thạo, có khả năng xử lý giải quyết linh hoạt các vướng mắc trong quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu thì hiệu quả công tác quản lý thuế nhập khẩu sẽ cao hơn rất nhiều và ngược lại
b Tổ chức và giám sát thực hiện quy trình, thủ tục Hải quan
Cơ quan Hải quan là nơi triển khai các quy trình, thủ tục hải quan cho hàng hóa nhập khẩu Do vậy, công tác quản lý thuế nhập khẩu luôn phải hướng tới đổi mới trong việc
tổ chức thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên để tạo nên sự thông thoáng cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, hạn chế tối đa tình trạng gian lận thuế nhập khẩu Đồng thời, cơ quan Hải quan phải tổ chức thực hiện sao cho thủ tục hành chính
ít cửa nhất, ít giấy tờ nhất, rút ngắn thời gian làm thủ tục và thông quan hàng hóa, chi phí làm thủ tục Hải quan thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong hoạt động thương mại Hiện nay, ngành Hải quan Việt Nam đã áp dụng hình thức người khai hải quan phải tự khai báo, tính thuế và tự chịu trách nhiệm pháp lý đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, quy trình, thủ tục Hải quan
c Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan Hải quan
Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan Hải quan ảnh hưởng lớn đến hoạt động quản lý thuế nhập khẩu của cán bộ Hải quan Do vậy, yêu cầu đối với phương
Trang 27tiện kỹ thuật của cán bộ Hải quan hiện nay là nâng cao tính năng, tác dụng của trang thiết bị kỹ thuật trong giám sát, kiểm tra hải quan; Tăng cường trang thiết bị phục
vụ cho việc kiểm tra hàng hóa nhập khẩu, hành lý của khách nhập cảnh phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn; Trang bị kỹ thuật đầy đủ cho cán bộ kiểm hóa; Trang bị đồng bộ máy soi hiện đại, quy trình nghiệp vụ hoàn chỉnh cho các điểm thông quan; Hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm soát chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm và các loại tội phạm mới
d Sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
Quản lý thuế nhập khẩu liên quan đến nhiều lĩnh vực nên ngoài việc phối hợp trong nội bộ ngành Hải quan đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan chức năng khác như: Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Tài chính, Công an, các Hiệp hội ngành nghề Mối liên hệ khăng khít giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan,
tổ chức này tạo nên sự ràng buộc không thể thiếu trong quản lý thuế nhập khẩu Ngoài
ra, sự phối hợp này không chỉ nằm trong biên giới quốc gia mà phải kể đến Hải quan các nước, Tổ chức Hải quan Thế giới nhằm trao đổi thông tin nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau
1.1.5.2 Nhâ n tố khách quan
a Hệ thống chính sách thuế nhập khẩu của quốc gia
Hệ thống chính sách thuế nhập khẩu là tổng hợp các văn bản pháp luật quy định về thuế, thuế nhập khẩu và hệ thống cơ quan quản lý thuế nhập khẩu (Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố, Chi cục Hải quan trực thuộc) Hệ thống chính sách thuế nhập khẩu đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với các cam kết quốc tế sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để cho công tác quản lý thuế nhập khẩu đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật
b Ý thức tuân thủ pháp luật thuế nhập khẩu của các người nộp thuế nhập khẩu
Trình độ nhận thức cũng như ý thức chấp hành pháp luật thuế nhập khẩu của doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu Hiện nay có những gian lận chủ yếu sau trong việc nộp thuế
Trang 28của các người nộp thuế: khai báo giá tính thuế nhập khẩu không trung thực; khai báo hàng không thanh toán, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo, hay thủ đoạn đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn; gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), thủ đoạn khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam có cam kết giảm thuế
Ngoài ra, còn nhiều doanh nghiệp chây ỳ, cố tình không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế,
có dấu hiệu trốn thuế hoặc không hợp tác với cơ quan chức năng trong việc thu hồi nợ thuế, mặc dù cơ quan Hải quan đã áp dụng các biện pháp thu hồi nợ như: xác minh tài khoản tiền gửi, xác minh tình trạng hoạt động, địa chỉ của doanh nghiệp tại các cơ quan Thuế, cơ quan Công an, các Ngân hàng thương mại, Sở Kế hoạch và Đầu tư; một
số khác doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, giải thể, phá sản hoặc đang trong tình trạng tạm ngừng hoạt động, do vậy việc hoàn thiện hồ sơ thu hồi nợ thuế còn gặp nhiều khó khăn
c Đặc điểm địa bàn hoạt động của Cục Hải quan
Ở một số địa phương do đặc điểm điều kiện tự nhiên có nhiều cửa khẩu phụ, lối mở, đường mòn, dốc núi (như khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc), khu vực biên giới đồng bằng có nhiều đường giao thông đường thủy (như khu vực các tỉnh biên giới Tây Nam), hoạt động quản lý thuế nhập khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn Phần đa ở các Cục Hải quan địa phương trên, lực lượng cán bộ, công chức Hải quan còn mỏng, không thể dàn trải trong toàn bộ phạm vi hoạt động đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về thuế nhập khẩu, buôn lậu, gian lận thương mại
d Các hiệp định, cam kết quốc tế
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thì không thể quốc gia nào
có thể tách riêng độc lập trong thương mại quốc tế Quản lý thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia cũng gián tiếp chịu ảnh hưởng của quá trình hội nhập này Bởi lẽ hệ thống thuế quan chịu ảnh hưởng rất lớn của các quy định, luật lệ, cam kết quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Nếu quốc gia càng tham gia nhiều Hiệp định, cam kết quốc tế thì
sự ràng buộc đối với hệ thống thuế quan càng lớn Việc xây dựng, ban hành hoặc điều chỉnh chính sách thuế của Nhà nước cũng không thể tùy tiện mà phải có lộ trình, trình
Trang 29tự cụ thể Hiện nay, phần lớn các Hiệp định, cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan đều hướng đến mục tiêu cắt giảm thuế quan và mở rộng diện ưu đãi lẫn nhau Do đó sẽ
có làm giảm nguồn thu từ hoạt động nhập khẩu, nhưng cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thì không thể quốc gia nào
có thể tách riêng độc lập trong thương mại quốc tế Quản lý thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia cũng gián tiếp chịu ảnh hưởng của quá trình hội nhập này Bởi lẽ hệ thống thuế quan chịu ảnh hưởng rất lớn của các quy định, luật lệ, cam kết quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Nếu quốc gia càng tham gia nhiều Hiệp định, cam kết quốc tế thì
sự ràng buộc đối với hệ thống thuế quan càng lớn Việc xây dựng, ban hành hoặc điều chỉnh chính sách thuế của Nhà nước cũng không thể tùy tiện mà phải có lộ trình, trình
tự cụ thể Hiện nay, phần lớn các Hiệp định, cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan đều hướng đến mục tiêu cắt giảm thuế quan và mở rộng diện ưu đãi lẫn nhau Do đó sẽ
có làm giảm nguồn thu từ hoạt động nhập khẩu, nhưng cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu
1.2 Căn cứ pháp lý của công tác quản lý thuế nhập khẩu
Thuế nhập khẩu là loại thuế chiếm tỉ trọng lớn trong các sắc thuế mà cơ quan Hải quan quản lý và thu thuế Việc quản lý sắc thuế này chịu sự chi phối bởi rất nhiều nguồn luật trong nước và quốc tế, các cam kết trong hội nhập Đối với luật trong nước, hiện nay sắc thuế này chịu sự tác động của Luật thuế xuất nhập khẩu : Luật Hải quan; Luật
quản lý thuế và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan như sau:
- Luật số 107/2016/QH13 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , Luật quản lý thuế, Hà Nội
- Luật số 54/2014/QH13, ngày 23/6/2014 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Hải quan, Hà Nội
- Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế
Trang 30- Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan
- Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/05/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định
về việc xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan
- Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, ngày 01/9/2016, Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Quyết định số 1966/QĐ-TCHQ ngày10/07/2015 của Tổng cục Hải quan về quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu
1.3 Những kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế nhập khẩu
1.3.1 Kinh nghiệm trong nước
a Kinh nghi ệm thu thuế thuế nhập khẩu của Cục Hải quan Đồng Nai
Hải quan Đồng Nai là một Cục Hải quan lớn của Việt Nam, với địa bàn hoạt động
rộng, có 19 đơn vị trực thuộc, làm thủ tục cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Thuận với lượng hàng hóa có giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm gần 10% tổng kim ngạch của cả nước, số thu thuế xuất nhập khẩu luôn hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao.Trong thời gian qua, dù gặp phải không ít khó khăn nhưng tập thể cán bộ công chức Cục Hải quan Đồng Nai đã nỗ lực đoàn kết, phát huy sức mạnh, trí tuệ tập thể để vững bước đi lên
Để hoàn thành công tác thu thuế nhập khẩu của mình, Cục Hải quan Đồng Nai đã chủ động, sáng tạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Trong thời gian qua, Cục Hải quan Đồng Nai đã xây dựng thành công trang Website phục vụ cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ công
chức của Cục có nguồn tra cứu văn bản, biểu thuế phục vụ công tác nghiệp vụ Trang Web này luôn được cập nhật văn bản và có hệ thống, các văn bản được lưu trữ
một cách khoa học, logic, dễ tra cứu Trên trang Web còn có diễn đàn trao đổi vướng
Trang 31mắc khi thực hiện thủ tục hải quan giữa doanh nghiệp và Cục Hải quan Đồng Nai Nhờ
đó mà Cục Hải quan Đồng Nai đã nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp để quản lý tốt hơn, được cộng đồng doanh nghiệp ca ngợi là điểm sáng trong cải các thủ tục hành chính Cũng qua trang Web này, cán bộ, công chức của Cục Hải quan Đồng Nai luôn
nắm vững chế độ chính sách của Nhà nước về thuế nhập khẩu, nhờ đó mà triển khai các nghiệp vụ một cách tự tin, các trường hợp thu nhầm hoặc bỏ sót thuế rất ít xảy ra
b Kinh nghi ệm thu thuế thuế nhập khẩu của Cục Hải quan Bắc Ninh
Cục Hải quan tỉnh Bắc Ninh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Thái Nguyên Mặc dù mới được thành lập từ năm 2012 đến nay, nhưng Cục đã được cộng đồng doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đồng tình ủng hộ nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngay từ đầu năm Cục đã đề ra các biện pháp như: Công khai, minh bạch các chế độ chính sách về quy trình thủ tục hải quan, về thuế nhập khẩu, các chính sách khác có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như niêm yết tại trụ sở Cục Để các doanh nghiệp nắm được chế độ chính sách về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai báo được kịp thời và chính xác, cũng như tránh được những vướng mắc có thể xảy ra trong quá trình khai báo làm thủ tục hải quan và nộp thuế của mình Đồng thời, Cục thường xuyên tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, hiện đại hóa thủ tục hải quan bằng việc áp dụng khai báo thủ tục hải quan thông qua phần mềm khai báo từ xa, cũng như quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa gia công, sản xuất xuất khẩu bằng các phần mềm quản lý của Ngành, phần mềm số liệu xuất nhập khẩu, xử lý vi phạm …;
Cục tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra để tránh các sai sót trong quá trình làm thủ tục hải quan có thể xảy ra, gây thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước; Thường xuyên làm việc với các cơ quan có liên quan như Ban quản lý các Khu công nghiệp,
Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư để nắm bắt các doanh nghiệp mới được cấp
Trang 32phép cũng như đang làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa ở các cửa khẩu khác về làm thủ tục tại Cục
c Kinh nghi ệm thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Chi cục Hải quan Nam Định
Chi cục Hải quan Nam Định là một đơn vị Hải quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan trên địa bàn tỉnh Nam Định, thực hiện công việc chiếm tới 40% khối lượng công việc, số thu ngân sách đạt gần 20% số thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu trong Cục Hải quan Thanh Hóa Bộ máy tổ chức của Chi cục Hải quan Nam Định được chia thành hai Đội, Đội Tổng hợp và Đội nghiệp vụ, gồm 31 người
Hiện nay, Chi Cục Hải quan Nam Định đang cố gắng phấn đấu thực hiện được chiến lược của Đảng là hiện đại hoá hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng nguồn thu cũng như hiệu quả trong khâu kiểm soát cửa khẩu với phương châm hành động của Ngành là: “chuyên nghiệp – minh bạch – hiệu quả” Trong dài hạn, Chi cục đang cố gắng thực hiện theo phương hướng, tầm nhìn, chiến lược, tuyên ngôn mà toàn ngành đã đề ra: Quản lý hải quan hướng tới tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư
và dịch vụ; thực hiện hải quan điện tử, cơ quan hải quan hoạt động có tính chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính; Quản lý có hiệu quả các hoạt động xuất nhập khẩu
và giao lưu quốc tế, tạo điều kiện cho thương mại và sản xuất phát triển; Bảo vệ và góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế thế giới; Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách; Chống buôn lậu, gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng; Góp phần bảo vệ chủ quyền kinh tế, an ninh quốc gia, an toàn xã hội; Phục vụ quản lý kinh tế xã hội Về mục tiêu trong ngắn hạn của Hải quan Nam Định là từng bước hiện đại hoá các thủ tục hải quan, đào tạo một lớp đội ngũ cán bộ đầy đủ năng lực… thông qua các chương trình dự án như: thủ tục hải quan “một cửa”, khai hải quan từ xa thông qua mạng Internet… nhằm thu hút các doanh nghiệp mở tờ khai, cũng như xuất nhập hàng hoá qua cửa khẩu hoàn thành tốt chỉ tiêu mà nhà nước đã đặt ra
Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, Chi cục Hải quan Nam định luôn chủ động, sáng
tạo trong tổ chức công việc nghiệp vụ, động viên, khích lệ, tạo niềm tin cho cán bộ công chức trong toàn Chi cục Đoàn viên thanh niên của Chi cục ngoài việc tạo thuận
lợi đối với các doanh nghiệp đang làm thủ tục tại Chi cục, còn được giao nhiệm vụ
Trang 33khảo sát các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn đang làm thủ tục
hải quan tại các cửa khẩu, các tỉnh khác để động viên về làm thủ tục tại Chi cục
nhằm làm tăng nguồn thu nộp ngân sách trên địa bàn quản lý Đồng thời đoàn viên thanh niên của Chi cục còn được giao nhiệm vụ tìm kiếm giá các mặt hàng mới trên Internet để quy đổi ra giá CIF Việt Nam nhằm bổ sung vào danh mục hàng nhập khẩu
trọng điểm cấp Cục Ngoài ra trong các năm qua, Chi cục Hải quan Nam Định luôn có
số thuế truy thu qua tham vấn giá là rất lớn Bằng cách này Hải quan Nam Định đã chủ động được nguồn thu thuế và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu thuế của mình
1.3.2 Nh ững bài học kinh nghiệm rút ra
Từ việc đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của ngành Hải quan, quản lý thuế tại một số Cục, Chi cục Thuế tại một số địa phương, rút ra được ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, từ đó xác định được mục tiêu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế trong giai đoạn tiếp theo
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không được buông lỏng quản lý, phải đảm bảo khả năng kiểm tra, kiểm soát và chống gian
lận thương mại, trốn thuế và tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế Đồng thời thành lập Website và thông báo rộng rãi địa chỉ trang Web trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua diễn đàn trên trang Web cơ quan Hải quan sẽ kịp
thời giải đáp các thắc mắc của các doanh nghiệp
- Minh bạch hoá và công khai các chế độ chính sách về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn để họ có cơ sở tính toán trước lượng thuế
phải nộp, chủ động trong việc lập phương án kinh doanh, tạo sự phối hợp tốt hơn giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan hải quan, giảm thiểu các xung đột, tranh chấp không đáng có, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý của
cơ quan hải quan thông qua phần mềm khai báo từ xa, góp phần giảm thiểu tối đa thời gian thông quan cho một lô hàng xuất nhập khẩu
Trang 341.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.4.1 Các công trình nghiên cứu
- Lê Văn Tới, 2005 Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, Luận án Tiến sĩ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã tập
trung làm rõ về lý luận mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế với hoạt động của ngành Hải quan Đã phân tích, đánh giá các mặt hoạt động của Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế: công tác giám sát, quản lý Hải quan; công tác thu thuế xuất nhập khẩu; công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại
- Nguyễn Ngọc Túc, 2007 Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ của Trường Đại học Ngoại thương
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra các định hướng, giải pháp thực hiện công tác cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan trong tình hìnhmới
- Nguyễn Thị Thùy Dương, 2011 Quản lý thu thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận án Tiến sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế và quản lý thuế ở nước ta cùng những thuận lợi, khó khăn của công tác quản lý thu thuế trong hội nhập quốc tế Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010; đề xuất một
số giải pháp quản lý thu thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốctế
1.4.2 Các luận văn, luận án
- Nguyễn Ngọc Thành, 2010 Thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Đại học Kinh tế quốc dân Đề tài đã đề cập một cách hệ thống nội dung thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dựa vào những quy định pháp luật liên quan của Việt Nam Với từng nội dung cụ thể, tác giả đều trích dẫn những văn bản pháp luật có liên quan để người đọc có cái nhìn tổng quát Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là “thu thuế xuất khẩu và thu thuế nhập khẩu”, do
đó nội dung thu thuế xuất nhập khẩu chính là quy trình thu thuế xuất nhập khẩu do Chi Cục Hải quan tỉnh Ninh Bình thực hiện
Trang 35- Nguyễn Giang Hương, 2015, Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ kinh tế của Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài đã đề cập một cách hệ thống nội dung thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dựa vào những quy định pháp luật liên quan của Việt Nam Với từng nội dung cụ thể, tác giả đều trích dẫn những văn bản pháp luật có liên quan để người đọc có cái nhìn tổng quát Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là “thu thuế xuất khẩu và thu thuế nhập khẩu”, do đó nội dung thu thuế xuất nhập khẩu chính là quy trình thu thuế xuất nhập khẩu do Cục Hải quan tỉnh Nghệ An thực hiện
Trang 36Kết luận chương 1
Thuế là khoản đóng góp của toàn dân để hình thành nên ngân khố của một quốc gia Thông qua khoản đóng góp đó, nhà nước thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại các nguồn thu từ thuế Trong cơ cấu thuế của Việt Nam thì thuế nhập khẩu chiếm tỉ trọng rất cao với vai trò quan trọng là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, thuế nhập khẩu còn có vai trò trong việc kiểm soát hàng nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất trong nước và thực hiện các chính sách đối ngoại của đất nước Tuy nhiên khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì Việt nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết trong hội nhập, vai trò của thuế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng theo chiều hướng hạn chế dần Do vậy, ngành Hải quan mà đặc biệt là Hải quan Lạng Sơn với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cách thức tổ chức quản lý của mình cần đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác quản lý thu thuế nhập khẩu để công tác này đạt hiệu quả cao, đảm bảo thu đúng và thu đủ thuế cho ngân sách nhà nước, đảm bảo tuân thủ luật pháp trong nước và cam kết quốc tế, ngăn chặn các hình thức gian lận mới do doanh nghiệp lợi dụng các chính sách ưu đãi về thuế trong hội nhập mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại của đất nước, đảm bảo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp làm
ăn chân chính
Nhìn chung, việc nghiên cứu lý luận về ngoại thương, thuế nhập khẩu trong giai đoạn hiện nay và ngành Hải quan đã giúp chúng ta có một góc nhìn toàn diện hơn về công tác quản lý thuế nhập khẩu của ngành Hải quan trong thời gian tới, để từ đó đánh giá một cách khách quan công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn nhằm xây dựng một chiến lược lâu dài cho ngành Hải quan cũng như Hải quan Lạng Sơn trong công tác quản lý thuế nhập khẩu
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn trực thuộc Tổng cục Hải quan, là cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Hải quan Lạng Sơn được thành lập năm 1953 theo Thông tư số 238-TTg của Thủ tướng Chính phủ Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và chống
đế quốc Mỹ, Hải quan Lạng Sơn đã thực hiện tốt nhiệm vụ thông quan, tiếp nhận sự giúp đỡ của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, đóng góp tích cực vào việc hỗ trợ kịp thời cho tiền tuyến Lạng Sơn trở thành “cảng nổi”, “điểm giải tỏa hàng hóa sôi động” của cả nước
Năm 1992, với chính sách mở cửa, hội nhập của đất nước, với việc bình thường hóa quan hệ hai nước Việt Nam – Trung Quốc, hoạt động xuất nhập khẩu ở biên giới Việt – Trung trở nên nhộn nhịp, sôi động hơn Nhiệm vụ của Hải quan Lạng Sơn lúc này trở nên thực sự nặng nề Thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ, Hải quan Lạng Sơn đã kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường cán bộ có trình độ đạo đức và tinh thông nghiệp vụ, không ngừng cải tiến quy trình, thực hiện hiện đại hóa hải quan để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ mà ngành đặt ra trong tình hình mới
Nhiều năm qua, được sự quan tâm của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và cấp ủy, chính quyền địa phương, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ, góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn Tổng số thu ngân sách của Cục đứng thứ 10 toàn ngành Hải quan Trong
đó, tổng thu năm sau luôn cao hơn năm trước, trong 5 năm gần đây mức tăng bình quân của kim ngạch xuất nhập khẩu là 44,4% mỗi năm (ước tính lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh Lạng Sơn chiếm 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua các tỉnh biên giới phía Bắc); tổng thu tăng bình quân 30% mỗi năm Cụ thể: Năm 2005 tổng thu ngân sách là 643 tỷ đồng thì đến năm 2016 thu đạt hơn 4000 tỷ đồng Năm 2016, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn Cục đạt 3,95 tỷ USD; Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,26 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 1,69 tỷ USD Thu ngân
Trang 38sách Nhà nước trên địa bàn đạt 4433,09 tỷ đồng, đạt 100,7% so với chỉ tiêu giao, giảm
31 ,6% so với cùng kỳ năm 2015
2.1.2 Cơ cấu tổ chức tổ chức bộ máy quản lý và chức năng nhiệm vụ
Hiện nay bộ máy tổ chức của Hải quan Lạng Sơn đứng thứ 6 toàn ngành với 16 đơn vị trực thuộc (trong đó có 05 Chi cục Hải quan cửa khẩu, 01 Chi cục Kiểm tra sau thông quan, 01 Đội Kiểm soát Hải quan; 01 Bộ phận hải quan công tác tại Trạm Kiểm soát liên ngành Dốc Quýt và 07 đơn vị thuộc Khối các đơn vị tham mưu thuộc Cục) Tổng biên chế cán bộ, công chức và hợp đồng lao động định biên toàn Cục là 462 người Bộ máy lãnh đạo Cục gồm 04 đồng chí (trong đó có 01 Cục trưởng và 03 Phó cục trưởng) Chức năng và nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn được quy định tại Quyết định
số 1919/QĐ/BTC, ngày 06/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Cụ thể như sau:
1 Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định của nhà nước về hải quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan, gồm:
a Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển cửa khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại các địa bàn hoạt động hải quan và các địa điểm khác theo quy định của pháp luật;
b Tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan;
c Áp dụng biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; phòng, chống ma túy và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và địa bàn hoạt động được giao theo quy định của pháp luật;
d Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
đ Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật;
e Tổ chức thực hiện chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
Trang 39g) Áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
h Thống kê nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh
và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật
2 Hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi cục Hải quan, Đội Kiểm soát hải quan và tương đương thuộc đơn vị trong việc tổ chức, triển khai nhiệm vụ được giao
3 Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan theo quy định của pháp luật
4 Xử lý vi phạm hành chính hoặc khởi tố đối với các vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính của các đơn vị trực thuộc và giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật
5 Kiến nghị những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; các quy định của Tổng cục Hải quan
về chuyên môn nghiệp vụ và quản lý nội bộ; báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan những vướng mắc phát sinh, các vấn đề vượt quá thẩm quyền giải quyết của Cục Hải quan
6 Tổ chức triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và phương pháp quản lý hải quan hiện đại vào hoạt động của Cục Hải quan
7 Phối hợp với các đơn vị trên địa bàn, cơ quan nhà nước và các tổ chức có liên quan
để thực hiện nhiệm vụ được giao
8 Tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về hải quan trên địa bàn
9 Hướng dẫn, giải thích các vấn đề thuộc phạm vi quản lý của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật
10 Hợp tác quốc tế về hải quan theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc
ủy quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
11 Tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của Cục Hải quan; thực hiện chế
độ báo cáo theo chế độ quy định
Trang 4012 Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng công chức, người lao động của Cục Hải quan
theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Tài chính
13 Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế; quản lý, sử dụng phương tiện, trang bị
kỹ thuật và kinh phí hoạt động của Cục Hải quan theo quy định của pháp luật
14 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giao và theo
quy định của pháp luật
CỤC HẢI QUAN TỈNH LẠNG SƠN
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn
- Chi Cục HQCK Hữu Nghị
- Chi cục HQ Ga Đường sắt quốc tế Đồng Đăng
- Chi cục HQ Tân Thanh
- Đội Kiểm soát Hải quan
- Hải quan Trạm Kiểm soát liên ngành Dốc Quýt