Hiện nay, việc tăng cường chức năng thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng; nâng cao trách nhiệm của Chủ đầu tư trong thực hiện
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong tất cả các công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả
Nông Văn Thắng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, học viên xin cảm ơn đến các cán bộ, giảng viên của trường Đại học Thủy
lợi đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho học viên trong suốt quá trình học tập tại
trường Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Trọng Tư
đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài
“Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định thiết kế công trình Thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn”, chuyên ngành Quản lý xây dựng
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn; Lãnh đạo phòng Kế hoạch tài chính đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để học viên hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn cuối khóa
Cuối cùng, học viên xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã ủng hộ, động viên chia sẻ hỗ trợ trong lúc khó khăn để học viên hoàn thành chương trình học và luận văn
cuối khoá của mình
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nông Văn Thắng
Trang 3MỤC LỤC
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ vi
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
M Ở ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THIẾT KẾ XÂY D ỰNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Chất lượng công trình xây dựng và chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng 4
1.1.1 Công trình xây dựng 4
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng 4
1.1.3 Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng 5
1.2 Quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình xây dựng 6
1.2.1 Chức năng, phương thức và nguyên tắc quản lý chất lượng 6
1.2.1.1 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng 6
1.2.1.2 Phương thức quản lý chất lượng 8
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý chất lượng công trình xây dựng 11
1.2.2 Nội dung của hoạt động quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình xây dựng 12
1.2.2.1 Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở và dự toán xây dựng 12
1.2.2.2 Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng đối với dự án chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng 13
1.2.3 Mô hình quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình xây dựng 14
Trang 41.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng thẩm định công trình xây
dựng 15
1.3 Vai trò của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng 16
1.4 Công tác thẩm định thiết kế xây dựng công trình thủy lợi hiện nay 17
K ết luận chương 1 18
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THIẾT KẾ 20
2.1 Các quy định về công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng 20
2.1.1 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng 21
2.1.2 Các quy đinh về công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng 23
2.1.2.1 Nguyên tắc thẩm định thiết kế xây dựng công trình 24
2.1.2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thẩm đỉnh thiết kế xây dựng công trình 24
2.1.2.3 Trình tự thẩm định thiết kế xây dựng công trình 26
2.1.2.4 Hồ sơ trình thẩm định thiết kế xây dựng công trình 28
2.1.2.5 Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ trình thẩm định thiết kế xây dựng công trình 28
2.1.2.6 Thẩm tra phục vụ công tác thẩm định thiết kế xây dựng công trình 29
2.1.2.7 Kết quả thẩm định và thông báo kết quả thẩm định 30
2.2 Nội dung của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng 31
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng 32
2.3.1 Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định 32
2.3.2 Quy trình thẩm định 33
2.3.3 Tổ chức thực hiện công tác thẩm định 34
2.3.4 Thời gian ảnh hưởng đến công tác thẩm định 35
2.3.5 Môi trường pháp lý 35
Kết luận chương 2 36
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THIẾT KẾ TẠI SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TỈNH BẮC KẠN 37
3.1 Giới thiệu chung về Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn 37
3.1.1 Vị trí 37
Trang 53.1.2 Chức năng 37
3.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn 37
3.1.4 Tình hình công tác đầu tư XDCB thuộc ngành Nông nghiệp và PTNT 47
3.2 Phân tích thực trạng công tác thẩm định thiết kế công trình thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn 48
3.2.1 Sơ lược về Phòng chuyên môn thực hiện công tác thẩm định các công trình xây dựng Nông nghiệp và PTNT 48
3.2.2 Quy trình tổ chức thực hiện công tác thẩm định thiết kế các công trình Nông nghiệp và PTNT 50
3.2.3 Những kết quả đạt được trong công tác thẩm định thiết kế 54
3.2.4 Phân tích những vấn đề còn tồn tại trong công tác thẩm định thiết kế 55
3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định thiết kế xây dựng công trình thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn 59
3.3.1 Kiện toàn tổ chức, hoàn thiện cơ chế, chính sách 59
3.3.2 Giải pháp phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất 62
3.3.3 Công khai, minh bạch, chống tiêu cực, tham nhũng và lãng phí 62
3.3.4 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định thiết kế 63
3.4 Đề xuất kế hoạch triển khai áp dụng các giải pháp cho dự án Kè chống sạt lở bờ tả sông Năng đoạn qua tiểu khu 8 và 9, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 69
3.4.1 Sơ lược về công trình Kè chống sạt lở bờ tả sông Năng đoạn qua tiểu khu 8 và 9, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 70
3.4.2 Triển khai áp dụng các giải pháp trong thẩm định thiết kế bản vẽ thi công công trình Kè chống sạt lở bờ tả sông Năng đoạn qua tiểu khu 8 và 9, thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 74
K ết luận chương 3 80
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
DANH M ỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ đảm bảo chất lượng 9
Hình 1.2 Mô hình đảm bảo chất lượng 10
Hình 1.3 Mô hình kiểm soát chất lượng toàn diện – TQC 11
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức phòng Kế hoạch tài chính 49
Hình 3.2 Các bước tiến hành thẩm định 50
Hình 3.3 Sơ đồ quy trình thẩm định tại phòng Kế hoạch tài chính 51
Hình 3.4 Cơ cấu tổ chức phòng Quản lý XDCT 61
Hình 3.5 Lưu đồ quy trình thẩm định đề xuất cải tiến 64
Hình 3.6 Hình vẽ mặt cắt ngang đại diện 71
Hình 3.7 Hình vẽ mặt bằng đại diện 72
Hình 3.8 Hình vẽ mặt cắt tấm lát mái Kè 73
Hình 3.9 Hình vẽ mặt cắt ống Buy 73
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thành phần hồ sơ trình thẩm định 52
Bảng 3.2 Tổng hợp các dự án được thẩm định tại Phòng Kế hoạch tài chính 55
Bảng 3.3 Thành phần hồ sơ trình thẩm định thiết kế cơ sở 65
Bảng 3.4 Thành phần hồ sơ trình thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công,
dự toán triển khai sau thiết kế cơ sở 67
Bảng 3.5 Phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả thẩm định thiết kế bản vẽ thi công,
dự toán 74
Bảng 3.6 Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ trình thẩm định thiết kế bản vẽ thi công,
dự toán 77
Trang 8UBND : Ủy ban nhân dân
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật XDCB : Xây dựng cơ bản
XDVN : Xây dựng Việt Nam
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Cùng với sự phát triển toàn cầu hóa, ngành xây dựng ở Việt Nam được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Do vậy, ngành xây dựng ngày càng được chú trọng đầu tư với mục tiêu hướng tới không chỉ là số lượng mà
cả chất lượng Trong trình tự đầu tư xây dựng, chất lượng công trình được quyết định chủ yếu trong giai đoạn thi công nhưng để phục vụ tốt được trong giai đoạn này thì khâu thiết kế đóng vai trò vô cùng quan trọng, đảm bảo chất lượng, an toàn trong thi công Công trình thủy lợi là ngành thuộc nhóm kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nó có vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và nâng cao đời sống của nhân dân Các công trình thủy lợi, hệ thống thủy lợi mỗi năm đều được xây mới, cải tạo để đáp ứng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau
Với đặc thù công trình thủy lợi có kết cấu lớn, phức tạp, cho nên ngay từ những khâu đầu tiên của dự án, chất lượng công tác khảo sát và lập hồ sơ dự án đầu tư có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình, chi phí, thời gian và an toàn trong thi công, khai thác Tuy nhiên, hiện nay, đa số các dự án được lập không phù hợp với thực tế, chất lượng phê duyệt thiếu chính xác, do quan niệm đây chỉ là khâu thủ tục Các phương án thiết kế chưa xem xét toàn diện các mặt kỹ thuật, kinh tế - tài chính, thẩm mỹ, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng; chưa chú ý đến khả năng cải tạo và mở rộng sau này
Hiện nay, việc tăng cường chức năng thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư xây dựng công trình cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng; nâng cao trách nhiệm của Chủ đầu tư trong thực hiện các công trình xây dựng, nhất là các dự án sử dụng nguồn vốn
từ ngân sách nhà nước đã được quy định chặt chẽ hơn Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành đã đưa ra nhiều quy định mới để tăng cường kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đối với chất lượng các công trình xây dựng nhằm đảm bảo cho việc đầu tư có hiệu quả, chất lượng các công trình ngày một nâng lên Thực tế qua thống kê các sự cố công trình cho thấy rằng nguyên nhân về thiết kế là yếu tố chính gây ra sự cố
hư hỏng, sập đổ công trình; đi kèm với nó có nguyên nhân liên quan đến việc kiểm
Trang 10soát thiếu chặt chẽ trong khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán từ các cơ quan quản lý Nhà nước Do vậy, đã gây ra lãng phí và thất thoát lớn trong chi phí đầu tư xây dựng Trong thời gian qua, công tác thẩm định các nội dung liên quan đến công tác đầu tư xây dựng công trình tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn còn tồn tại một số bất cập, đặc biệt là trong công tác thẩm định thiết kế Với mong muốn đóng góp những
kiến thức đã được học tập và nghiên cứu đối với đơn vị học viên công tác, tác giả đã
lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định thiết kế công trình Thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp khóa
học
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài
Nghiên cứu một số giải pháp về tổ chức thực hiện và giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao
chất lượng thẩm định thiết kế công trình thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý chất lượng công tác thẩm định thiết kế tại
Dự án xây dựng Kè chống sạt lở bờ tả sông Năng đoạn qua tiểu khu 8 và 9, trị trấn Chợ
Rã, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cách tổ chức thực hiện trong công tác thẩm định hồ sơ thiết kế đối với công trình Kè chống sạt lở bờ sông, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định thiết kế xây dựng công trình Thủy lợi tại Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Kạn
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận cơ sở lý thuyết chất lượng thẩm định thiết kế;
- Tiếp cận các thể chế, pháp quy trong xây dựng;
- Tiếp cận các thông tin dự án;
Trang 11- Phương pháp điều tra thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê số liệu;
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THIẾT KẾ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1 Chất lượng công trình xây dựng và chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng
1.1.1 Công trình xây dựng
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật
liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao
gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: Công trình dân dụng; công trình công nghiệp; giao thông; nông nghiệp và phát triển nông thôn; công trình hạ tầng
kỹ thuật và công trình khác
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng là tổng hợp các yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật
và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Để tạo ra sản phẩm là công trình xây dựng đạt chất lượng không chỉ là an toàn kết cấu, không chỉ là chất lượng vật liệu, chất lượng thi công mà bao gồm toàn bộ những hoạt động, những chế tài tạo thành sản phẩm công trình xây dựng Như chất lượng quản lý,
chất lượng bộ máy con người thực thi, chất lượng thiết bị, chất lượng hồ sơ thiết kế, chất lượng thẩm tra, thẩm định, tiêu chuẩn áp dụng v.v Có được chất lượng công trình xây
dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng [1]
Xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng,
chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: Chỉ tiêu công dụng,
độ tin cậy, công nghệ tiên tiến; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; đảm bảo về tính thời gian và đạt chỉ tiêu sinh thái Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ
từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác [2]
Trang 13Ở Việt Nam hiện nay, công trình Kè chống xói lở bờ Sông là loại hình công trình thuỷ lợi khá phổ biến, chất lượng công trình được quan tâm ngay từ khi hình thành
ý tưởng về xây dựng công trình; từ khâu quy hoạch, lập báo cáo nghiên cứu khả thi đến giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công và bàn giao đưa công trình vào sử dụng
Chất lượng công trình xây dựng được thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng,
chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, thiết kế và thẩm định
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguyên nhân gây ra sự cố công trình Kè chống xói lở
bờ Sông ảnh hưởng đến chất lượng công trình chủ yếu là do chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý chất lượng và công tác thẩm định
1.1.3 Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng
Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng là chất lượng của hồ sơ thiết kế đáp ứng theo đúng quy chuẩn xây dựng, tuân thủ đúng các quy định về kiến trúc, quy
hoạch xây dựng hiện hành Hồ sơ thiết kế bước sau phải phù hợp với nội dung của bước thiết kế trước; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp công trình đã được người có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt trong báo cáo nghiên cứu khả thi
hoặc báo cáo đầu tư [3]
Theo quy định của Luật xây dựng, việc đánh giá chất lượng hồ sơ thiết kế được
thực hiện thông qua công tác thẩm tra, thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước
Thực tế một số hồ sơ thiết kế trình thẩm định vẫn còn rất nhiều sai sót, chưa đảm
bảo chất lượng, thiếu các văn bản yêu cầu theo quy định như: Chủ trương đầu tư
hoặc Quyết định phê duyệt dự án; thiết kế đưa ra giải pháp công trình chưa hợp lý,
khối lượng trong thiết kế so với khối lượng tính trong dự toán không phù hợp; phần thuyết minh thiết kế kỹ thuật, báo cáo kinh tế kỹ thuật các tiêu chuẩn áp dụng đôi khi còn cập nhật chậm vẫn sử dụng tiêu chuẩn cũ; định mức chi phí, đơn giá chưa
cập nhật kịp thời khi cơ chế chính sách thay đổi Có thể thấy rằng, công tác thẩm định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, qua thẩm định sẽ giúp cho người quyết định đầu tư có quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn được phương án kỹ thuật, công nghệ tối ưu giúp tăng hiệu quả của công trình
Trang 141.2 Quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Chất lượng công tác thẩm định là tập hợp các yếu tố đã phù hợp (hoặc đã thỏa mãn)
một cách tốt nhất so với các yêu cầu và mục đích đề ra Nó được xác định thông qua việc xem xét, đánh giá các yếu tố đó đảm bảo tuân thủ theo các quy định của nhà nước, quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà nước ban hành, phù hợp với mục tiêu đề
ra và đạt hiệu quả tốt nhất
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật, có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình [4]
1.2.1 Chức năng, phương thức và nguyên tắc quản lý chất lượng
1.2.1.1 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng
- Chức năng hoạch định: Hoạch định là chất lượng quan trọng hàng đầu và đi trước
các chức năng khác của quản lý chất lượng
Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm Nhiệm vụ
của hoạch định chất lượng là:
+ Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hàng hoá
dịch vụ, từ đó xác định yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật của sản phẩm
dịch vụ, thiết kế sản phẩm dịch vụ
+ Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt được và chính sách chất lượng của doanh nghiệp
+ Chuyển giao kết quả hoạch định cho các bộ phận tác nghiệp
+ Hoạch định chất lượng có tác dụng: Định hướng phát triển chất lượng cho toàn công ty Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường Khai thác sử dụng có
hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần làm giảm chi phí cho chất lượng
Trang 15- Chức năng tổ chức: Theo nghĩa đầy đủ để làm tốt chức năng tổ chức cần thực hiện
các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Tổ chức hệ thống quản lý chất lượng: Hiện đang tồn tại nhiều hệ thống quản lý
chất lượng như TQM (Total Quanlity Mangement), ISO 9000 (International Standards Organization), HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point System), GMP (Good Manufacturing Practices), Q-Báe (tập hợp các kinh nghiệm
quản lý chất lượng đã được thực thi tại New Zealand), giải thưởng chất lợng Việt Nam,… Mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình hệ thống chất lượng phù hợp + Tổ chức thực hiện bao gồm việc tiến hành các biện pháp kinh tế, tổ chức, kỹ thuật, chính trị, tư tưởng, hành chính nhằm thực hiện kế hoạch đã xác định Nhiệm
vụ bao gồm: Làm cho mọi người thực hiện kế hoạch biết rõ mục tiêu, sự cần thiết
và nội dung mình phải làm; tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết đối
với những người thực hiện kế hoạch; cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi nơi và
mọi lúc
- Chức năng kiểm tra, kiểm soát: Kiểm tra kiểm soát chất lượng là quá trình điều
khiển, đánh giá các hoạt động tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu đặt ra
Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là:
+ Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng như yêu cầu;
+ Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp;
+ So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện những sai lệch;
+ Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch, đảm bảo thực
hiện đúng yêu cầu;
Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá một cách độc lập những vấn đề sau:
+ Liệu kế hoạch có được tuân theo một cách trung thành không?
+ Liệu bản thân kế hoạch đã đủ chưa
Trang 16Nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều kiện trên không được thoả mãn
- Chức năng kích thích: Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực
hiện thông qua áp dụng chế độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động
và áp dụng giải thưởng quốc gia về đảm bảo và nâng cao chất lượng
- Chức năng điều chỉnh, điều hoà, phối hợp: Là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo
ra sự phối hợp đồng bộ, khắc phục các tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn nhằm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và thực tế
chất lượng đạt được, thoả mãn khách hàng ở mức cao hơn
Hoạt động điều chỉnh, điều hoà, phối hợp đối với quản lý chất lượng được hiểu rõ ở nhiệm vụ cải tiến và hoàn thiện chất lượng Cải tiến và hoàn thiện chất lượng được
tiến hành theo các hướng:
+ Phát triển sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm;
+ Đổi mới công nghệ;
+ Thay đổi và hoàn thiện quá trình nhằm giảm khuyết tật
1.2.1.2 Phương thức quản lý chất lượng
- Phương thức kiểm tra chất lượng: Một phương thức đảm bảo chất lượng sản
phẩm phù hợp với qui định là kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận, nhằm sàng
lọc và loại bỏ các chi tiết, bộ phận không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật Theo ISO 8402 thì “kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét,
thử nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết
quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính”
- Phương thức kiểm soát chất lượng: Kiểm soát chất lượng là các hoạt động kỹ
thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng Để
kiểm soát chất lượng phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm
Trang 17khuyết tật Mỗi doanh nghiệp muốn có sản phẩm, dịch vụ của mình có chất lượng
cần phải kiểm soát được 5 điều kiện cơ bản sau:
+ Kiểm soát con người;
+ Kiểm soát phương pháp và quá trình;
+ Kiểm soát việc cung ứng các yếu tố đầu vào;
+ Kiểm soát trang thiết bị dùng trong sản xuất và thử nghiệm;
+ Kiểm soát thông tin
- Phương thức đảm bảo chất lượng: Đảm bảo chất lượng được thực hiện dựa trên
hai yếu tố: Phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng và đưa ra được những bằng chứng về việc kiểm soát ấy
Hình 1.1 Sơ đồ đảm bảo chất lượng
Tuỳ theo mức độ phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phức tạp của sản phẩm
dịch vụ mà việc đảm bảo chất lượng đòi hỏi phải có nhiều hay ít văn bản Mức độ
tối thiểu cần đạt được gồm những văn bản như sơ đồ trên
- Phiếu kiểm nghiệm
- Báo cáo kiểm tra thở nghiệm
- Qui định trình độ cán bộ
- Hồ sơ sản phẩm …
Trang 18Hình 1.2 Mô hình đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được kiểm định nếu
cần để đem lại lòng tin thoả đáng để sản phẩm thoả mãn các yêu cầu đã định đối
với chất lượng
- Phương thức kiểm soát chất lượng toàn diện: Quản lý chất lượng toàn diện là một
phương pháp quản lý trong một tổ chức định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đến sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên trong công ty và xã hội
Trang 19Hình 1.3 Mô hình kiểm soát chất lượng toàn diện – TQC
1.2.1.3 Nguyên tắc quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định tại Nghị định
số 46/2015/ND-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 và pháp luật có liên quan từ giai đoạn chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận
- Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây
dựng và quy định của pháp luật có liên quan
- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực
hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc
do nhà thầu phụ thực hiện
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình
thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn
Trang 20đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều
kiện năng lực theo quy định của pháp luật
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế,
kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định
chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng quy định tại Khoản 3, Khoản 4
và Khoản 5 Điều này chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực
quả cao cho chủ đầu tư và xã hội Quản lý chất lượng công tác thẩm định thiết kế xây
dựng công trình được thực hiện theo quy định Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về Quản lý dự
án đầu tư xây dựng;
1.2.2.1 Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở và dự toán xây dựng
- Sự phù hợp của thiết kế xây dựng bước sau so với thiết kế xây dựng bước trước: Thiết kế kỹ thuật so với thiết kế cơ sở; Thiết kế bản vẽ thi công so với thiết kế kỹ thuật trong trường hợp thiết kế ba bước, so với thiết kế cơ sở trong trường hợp thiết
kế hai bước hoặc so với nhiệm vụ thiết kế trong trường hợp thiết kế một bước
- Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế xây dựng công trình
- Sự tuân thủ các tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về
sử dụng vật liệu xây dựng cho công trình
Trang 21- Đánh giá sự phù hợp các giải pháp thiết kế công trình với công năng sử dụng của công trình, mức độ an toàn công trình và bảo đảm an toàn của công trình lân cận
- Sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ đối với thiết kế công trình có yêu cầu về công nghệ
- Sự tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ
- Sự phù hợp giữa khối lượng chủ yếu của dự toán với khối lượng thiết kế; tính đúng đắn, hợp lý của việc áp dụng, vận dụng định mức, đơn giá xây dựng công trình; xác định giá trị dự toán công trình
- Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng
1.2.2.2 Nội dung thẩm định thiết kế xây dựng đối với dự án chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng
- Đánh giá về sự cần thiết đầu tư, quy mô; thời gian thực hiện; tổng mức đầu tư,
hiệu quả về kinh tế - xã hội;
- Xem xét các yếu tố bảo đảm tính khả thi gồm nhu cầu sử dụng đất, khả năng giải phóng mặt bằng; các yếu tố ảnh hưởng đến công trình như quốc phòng, an ninh, môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế xây dựng công trình; sự tuân thủ tiêu chuẩn
áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng cho công trình; sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ đối
với thiết kế công trình có yêu cầu về công nghệ; sự tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy nổ;
- Đánh giá sự phù hợp các giải pháp thiết kế công trình với công năng sử dụng của công trình, mức độ an toàn công trình và bảo đảm an toàn của công trình lân cận;
- Đánh giá sự phù hợp giữa khối lượng chủ yếu của dự toán với khối lượng thiết kế; tính đúng đắn, hợp lý của việc áp dụng, vận dụng định mức, đơn giá xây dựng công trình; xác định giá trị dự toán công trình;
Trang 22- Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức, cá nhân thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng
1.2.3 Mô hình quản lý chất lượng thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Mô hình quản lý chất lượng sản phẩm toàn diện: Quản lý chất lượng toàn diện là
một phương pháp quản lý của một tổ chức định hướng vào chất lượng dựa trên sự tham gia của mọi thành viên nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và xã hội Quản lý
chất lượng toàn diện chính là quá trình triển khai và thực hiện các nội dung sau:
- Am hiểu chất lượng: Là cái nhìn và sự am hiểu về chất lượng, các thuật ngữ, các khái niệm, các quá trình, các lĩnh vực liên quan đến chất lượng
- Cam kết và chính sách: Là giai đoạn hoạch định và phổ biến các chính sách chất lượng cho tất cả mọi thành viên
- Tổ chức chất lượng: Là giai đoạn thiết lập và tổ chức bộ máy nhân sự trong đó xác định rõ trách nhiệm, chức năng của mỗi cá nhân, bộ phận các cấp lãnh đạo trung gian, các phòng ban
- Đo lường chất lượng: Là giai đoạn xác định và phân tích các chi phí chất lượng như chi phí sai hỏng bên trong, chi phí sai hỏng bên ngoài, chi phí thẩm định, chi phí phòng ngừa, trên cơ sở đó đề rác biện pháp để giảm thiểu các chi phí đó
- Lập kế hoạch chất lượng: Là một văn bản đền cập riêng đến từng sản phẩm, hoạt động dịch vụ và vạch ra những hoạt động cần thiết có liên quan đến chất lượng trên
cơ sở thiết lập các đồ thị lưu hình
- Thiết kế chất lượng: Là tổng hợp các hoạt động nhằm xác định nhu cầu, triển khai
những gì thoả mãn nhu cầu, kiểm tra sự phù hợp với nhu cầu và đảp bảo là các nhu
cầu được thoả mãn
- Xây dựng hệ thống chất lượng: Là một hệ thống cấp I liên quan đến thiết kế, sản xuất
hoặc thao tác và lắp đặt, được áp dụng khi khách hàng định rõ hàng hoá hoặc dịch vụ phải
hoạt động như thế nào chứ không phải nói theo những thuật ngữ kỹ thuật đã được xác lập
Trang 23- Kiểm tra chất lượng: Là việc sử dụng các công cụ SPC (Các công cụ thống kê) để
kiểm tra xem quy trình có được kiểm soát, có đáp ứng được các yêu cầu hay không
- Hợp tác về chất lượng: Là một nhóm ngưoiừ cùng làm một hoặc một số công việc
giống nhau, một cách tự nguyên đều đặn nhằm xác minh, phân tích và giải quyết
những vấn đề liên quan đến công việc và kiến nghị những giải pháp cho ban quản lý
- Đào tạo và huấn luyện về chất lượng: Quá trình lập kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung đào tạo và huấn luyện cho cấp lãnh đạo cao nhất cho đến nhân viên
mới nhất và thấp nhấp hiểu rõ trách nhiệm cá nhân của mỗi người về đáp ứng yêu
cầu của khách hàng
1.2.4 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng thẩm định công trình xây dựng
Công tác thẩm định thiết kế xây dựng là việc xem xét, đánh giá các phương án thiết
kế công trình về kết cấu, tuyến công trình, kiến trúc, kỹ thuật, dự toán chi phí xây
dựng phù hợp với yêu cầu thiết kế và lựa chọn được phương án thiết kế tối ưu nhất
nhằm đảm bảo chất lượng công trình và tiết kiệm được vốn đầu tư
Quản lý chất lượng thẩm định thiết kế là quản lý quy trình thẩm định thiết kế và dự toán xây dựng công trình, để đảm bảo giải pháp thiết kế hợp lý theo đúng các quy định của nhà nước, quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà nước ban hành, phù hợp với mục tiêu đề ra và đạt hiệu quả tốt nhất
Công tác quản lý và đảm bảo chất lượng công trình xây dựng cần phải được thực
hiện một cách đồng bộ, thống nhất trong tất cả các khâu từ công tác thiết kế xây
dựng cho đến thi công và quản lý, vận hành công trình xây dựng Vì vậy, quản lý
chất lượng trong các bước thiết kế (Thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công) giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống quản lý chất lượng công trình Đã
có nhiều công trình khi đưa vào sử dụng đã xảy ra các sự cố, mà nguyên nhân chính
là do chất lượng thiết kế không được quản lý tốt Công tác thẩm định thiết kế xây
dựng là một khâu quan trọng trong việc xây dựng một công trình đưa ra các phương
án xây dựng công trình phù hợp và đảm bảo chất lượng Công tác thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo an toàn cho bản thân công trình đó và các công trình lân
Trang 24cận xung quanh; đảm bảo an toàn và thuận lợi trong quá trình thi công xây dựng, không để xảy ra các sự cố về con người và an toàn công trình về sau và đồng thời
phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý chất lượng công trình của Nhà nước
Quản lý chất lượng thực chất là công tác giám sát Vì thế, để đảm bảo chất lượng công trình, việc đầu tiên là phải giám sát tốt công tác thiết kế công trình, đây là khâu rất quan trọng đảm bảo chất lượng công trình Công tác thẩm định thiết kế của
cơ quan nhà nước ngày càng được nâng cao từ khi Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 [5], các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật có hiệu lực thi hành
1.3 Vai trò của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Thẩm định thiết kế là một công đoạn quan trọng trong tiến trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình đã được nhà nước quy định rất cụ thể trong các Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản liên quan đến quy trình quản lý chất lượng xây
chọn phương án thiết kế, sai sót trong bản vẽ, áp dụng sai định mức, chế độ khi lập
dự toán công trình Vì vậy, việc cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt công tác
thẩm tra, thẩm định là rất cần thiết để đảm bảo công trình đầu tư có hiệu quả
- Hầu hết các công trình sau khi thẩm tra, thẩm định do phương án có sự thay đổi,
áp dụng chế độ chính sách không đúng nên kết quả sau thẩm định tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng công trình so với giá trị trình thẩm định;
Theo quy định của Luật xây dựng số 50/2014/QH13 [5] hồ sơ trình thẩm định đối
với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước được gửi đến cơ quan chuyên môn
về xây dựng theo phân cấp để thẩm định Ngoài ra, đối với dự án sử dụng nguồn
vốn khác, hồ sơ trình thẩm định bắt buộc phải trình cơ quan chuyên môn về xây
Trang 25dựng theo phân cấp để thẩm định thiết kế cơ sở (hoặc thiết kế bản vẽ thi công đối
với dự án có yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật); điều này làm tăng trách nhiệm
của cơ quan nhà nước và mức độ tin cậy của hồ sơ thiết kế Đảm bảo việc đầu tư công trình là hiệu quả
1.4 Công tác th ẩm định thiết kế xây dựng công trình thủy lợi hiện nay
Công tác thẩm định chưa đem lại hiệu quả, còn nhiều thiếu sót; có nhiều dự án phải điều chỉnh thiết kế dẫn đến tăng tổng mức đầu tư quá lớn làm giảm hiệu quả đầu tư
hoặc không còn hiệu quả Tình trạng đầu tư các dự án chậm tiến độ vẫn còn phổ
biến, chất lượng công tác thẩm định mặc dù được cải thiện song còn chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu là bộ lọc nhằm sàng lọc, loại bỏ những dự án không khả thi, không hiệu quả
Hiện nay, công tác thẩm định hồ sơ thiết kế chưa hình thành một hệ thống thống
nhất Nội dung thẩm định vẫn còn nặng nề về xem xét, đánh giá thủ tục có tính chất hành chính mà chưa coi trọng đúng mức tới việc phân tích, đánh giá tính khả thi và
hiệu quả của dự án được thẩm định Một hạn chế khác trong công tác thẩm định, đó
là Luật Xây dựng quy định giao cho cơ quan chuyên môn về xây dựng chủ trì thẩm định dự án đầu tư xây dựng, trong khi một số cơ quan chính là chủ đầu tư dự án do mình hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc mình tổ chức thẩm định,
phần nào đã ảnh hưởng đến tính độc lập, khách quan trong quá trình thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư
Thực tế hiện nay nguồn cán bộ thực hiện công tác thẩm định chưa đáp ứng đủ số lượng; một số cán bộ làm công tác thẩm định có năng lực, kinh nghiệm thực tế còn
hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, còn e dè, cả nể trong thực hiện nhiệm vụ Điều này là tồn tại hạn chế trong công tác thẩm định hiện nay của các địa phương, chỉ cần thiếu sự quản lý thống nhất của 1 đơn vị sẽ dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, hiệu quả sử dụng nguồn vốn không cao
Trong công tác thẩm tra, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công còn tồn tại các vấn đề sau:
Trang 26- Một số công trình, Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu tư vấn có năng lực chưa phù hợp
với chuyên ngành, công việc được giao thực hiện; Chủ đầu tư không kiểm tra
chứng chỉ hành nghề tại thời điểm thực hiện hợp đồng
- Hồ sơ nộp thẩm tra, thẩm định chưa cập nhật quy chuẩn, tiêu chuẩn có liên quan
để khảo sát, thiết kế công trình (sử dụng tiêu chuẩn,quy chuẩn đã hết hiệu lực)
- Nội dung, khối lượng công tác khảo sát địa hình không phù hợp với nhiệm vụ
khảo sát – thiết kế và dự toán chuẩn bị đầu tư được phê duyệt
- Việc tính toán kết cấu không phù hợp với thực tế quy mô công trình Mô hình hóa trong các phần mềm tính toán chuyên dụng chưa sát với công trình thực tế Một số công trình, đơn vị tư vấn có thực hiện tính toán kết cấu nhưng khi triển khai bản vẽ lại không căn cứ số liệu kết quả tính toán kết cấu để thể hiện Điều này dẫn đến các cấu tạo kết cấu sai lệch với kết quả tính toán, gây lãng phí hoặc không an toàn cho công trình
- Đối với công tác lập dự toán: Đa số các công trình việc lập dự toán không dựa vào
biện pháp thi công (nhất là công tác đất); các công việc tạm tính (là công việc không
có trong bộ đơn giá hiện hành của nhà nước) tính giá dự toán không có cơ sở hoặc không viện dẫn, diễn giải đầy đủ; công tác áp giá vật liệu chủ yếu dựa vào công bố của Liên Sở Tài chính – Xây dựng, những vật tư, vật liệu không có trong thông báo giá thì không nêu nguồn gốc để làm căn cứ thẩm tra, thẩm định, phê duyệt
thực hiện, đánh giá năng lực, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định, từ đó nhận thấy công tác quản lý chất lượng thẩm định thiết kế đóng vai trò quan trọng và là một
vấn đề cần được quan tâm trong việc đảm bảo chất lượng công trình trong quá trình thi công và nâng cao hiệu quả đầu tư công trình
Trang 27Từ những tồn tại về công tác thẩm định hiện nay, tác giả xin đề xuất hướng nghiên
cứu của luận văn là các giải pháp tăng cường chất lượng công tác thẩm định thiết
kế các công trình xây dựng để áp dụng đối với công tác thẩm định tại Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn
Trang 28CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH THIẾT KẾ
Để có cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định thiết kế
một cách hợp lý, luận văn tiến hành phân tích, nghiên cứu các cơ sở lý luận liên quan đến chất lượng trong công tác thẩm định thiết kế, đánh giá những điểm nổi
bật, phân tích các vấn đề còn tồn tại trong khâu thẩm định thiết kế tại đơn vị công tác Qua nghiên cứu nhận thấy cơ sở lý luận phục vụ cho công tác thẩm định thiết
kế gồm: Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng; phương pháp
thẩm định; thông tin phục vụ cho công tác thẩm định; quy trình thẩm định; đội ngũ chuyên viên, cán bộ làm công tác thẩm định; công tác tổ chức điều hành
2.1 Các quy định về công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày nay, việc hoàn thiện hệ
thống các văn bản pháp luật để tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, rõ ràng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng là hết sức cần thiết và cấp bách nếu như chúng ta muốn
tận dụng được nguồn vốn, công nghệ hiện đại cũng như các tiềm lực khác của các nước phát triển đồng thời tiết kiệm được nguồn vốn đang rất hạn hẹp của Nhà nước
Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế đều có những quy định cụ thể về công tác quản lý đầu tư xây dựng nói chung và công tác thẩm định nói riêng Việc cập nhật các văn
bản quy định trong quản lý đầu tư xây dựng và thẩm định rất quan trọng Vì sự ra đời của những văn bản sau là nhằm khắc phục những khiếm khuyết, những bất cập
của các văn bản trước đó, tạo ra sự hoàn thiện môi trường pháp lý phù hợp với quá trình thực hiện trong thực tiễn, tạo sự thuận lợi cho người thực hiện và người quản
lý, mang lại hiệu quả cao hơn, điều đó cũng phù hợp với quá trình phát triển
Môi trường pháp lý có tác dụng quan trọng trong việc định hướng và kiểm soát
chất lượng các công trình xây dựng Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác
thẩm định thiết kế các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước đã được quy định cụ
thể; gần đây đã được bổ sung, sửa đổi để ngày càng phù hợp và cập nhật hơn với
thực tế hiện nay Những tiến bộ hay những mặt còn hạn chế của các văn bản pháp
Trang 29luật chính là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác thẩm định cũng như việc đưa ra Quyết định đầu tư
2.1.1 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng
Hiện nay, công tác thẩm định thiết kế căn cứ vào các văn bản pháp luật liên quan sau:
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 [5] (thay thế Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003) Luật gồm 10 chương, 168 điều tăng 01 chương,
45 điều so với Luật Xây dựng 2003 Phạm vi điều chỉnh của Luật là điều chỉnh toàn
diện các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo tiền
khả thi, báo cáo khả thi; lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến
khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng, áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn Đây là Bộ Luật quan trọng trong lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng với những đổi
mới căn bản, có tính đột phá nhằm phân định quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử
dụng các nguồn vốn khác nhau thì có phương thức, nội dung và phạm vi quản lý khác nhau Luật đã khắc phục những hạn chế tồn tại và có nhiều điểm mới phù hợp hơn so với Luật số 16/2003/QH11; ngoài việc quy định về quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng thì Luật còn quy định thêm trách nhiệm của các đối tượng này
Về thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định đầu tư thì cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp (là các Sở Xây dựng, Giao thông Vận tải, Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Công thương) có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định nội dung dự án (Theo Luật số 16/2003/QH11 thì Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án)
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 [4] của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng (thay thế cho Nghị định số 114/2010/NĐ-CP
về Bảo trì công trình xây dựng và Nghị định số 15/2013/NĐ-CP về Quản lý chất lượng công trình xây dựng) Nghị định 46/2015/NĐ-CP [4] đã khắc phục được một
số tồn tại, hạn chế như: Việc phân loại, phân cấp công trình xây dựng chưa phù
Trang 30hợp; quy định về nghiệm thu công việc vẫn chưa tạo bước tiến đột phá nhằm giảm lượng hồ sơ không cần thiết; quy định bảo hành công trình xây dựng còn cứng
nhắc, gây khó khăn cho nhà thầu thi công xây dựng công trình, chưa rõ các quyết định, chế tài về xử lý công trình có dấu hiệu nguy hiểm, công trình hết niên hạn sử
dụng; thiếu các quy định về đánh giá an toàn đối với các công trình quan trọng
quốc gia
Nghị định làm rõ thêm một số nguyên tắc liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng như trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn về xây
dựng; phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa chủ đầu tư và các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng Cụ thể, cơ quan chuyên môn về xây dựng sẽ
có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình, thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình; kiến nghị và xử
lý các vi phạm về chất lượng xây dựng công trình theo quy định của pháp luật
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 [6] của Chính phủ (thay thế Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và Nghị định 83/2009/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số Điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình) Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng, bao gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý
dự án đầu tư xây dựng Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước;
tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam; Nghị định quy định rõ hơn trong nguyên tắc cơ bản của quản lý dự án đầu tư xây dựng, cụ
thể: Dự án đầu tư xây dựng được quản lý thực hiện theo kế hoạch, chủ trương đầu tư và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan; quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn
của cơ quan quản lý nhà nước, của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các tổ chức,
cá nhân có liên quan đến thực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án; quản lý
thực hiện dự án phù hợp với loại nguồn vốn sử dụng để đầu tư xây dựng, trong đó quản
Trang 31lý chặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước để bảo đảm mục tiêu đầu tư, chất lượng, tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án, dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn khác được Nhà nước quản lý về mục tiêu, quy mô đầu tư và các tác động của dự án đến cảnh quan, môi trường, an toàn cộng đồng và quốc phòng, an ninh
- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu
tư xây dựng công trình;
- Thông tư 05/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về Hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng;
- Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng;
- Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng về Quy định chi tiết hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
- Quyết định số 1187/QĐ-UBND ngày 01/8/2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc công
bố đơn giá nhân công trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;
- Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND ngày 13/12/2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành Quy định phân cấp về quản lý, tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn;
- Văn bản số 1177/HD-SXD ngày 23/9/2016 của Sở Xây dựng Bắc Kạn về việc hướng
dẫn chi tiết một số nội dung về quy trình, thủ tục thẩm định dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;
2.1.2 Các quy đinh về công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Ứng với mỗi công trình đầu tư xây dựng cụ thể, tùy từng lĩnh vực sẽ căn cứ vào các văn bản pháp luật, các tiêu chuẩn định mức cụ thể do Nhà nước ban hành; các văn
bản hướng dẫn của Bộ chủ quản; các quy hoạch phát triển ngành Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện cần tuân thủ theo các nội dung sau:
Trang 322.1.2.1 Nguyên tắc thẩm định thiết kế xây dựng công trình
- Trình, thẩm định dự án, thiết kế và dự toán xây dựng công trình đúng thẩm quyền,
bảo đảm quy trình và thời hạn thẩm định theo quy định
- Thẩm định thiết kế và dự toán xây dựng được thực hiện với toàn bộ công trình
hoặc từng công trình của dự án hoặc theo giai đoạn, gói thầu của dự án nhưng phải
bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về nội dung, cơ sở tính toán trong các kết quả thẩm định
- Công khai, minh bạch về trình tự, thủ tục, hồ sơ, kết quả thẩm định và tuân thủ các quy định về cải cách thủ tục hành chính trong quá trình thẩm định
- Phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình đúng thẩm quyền hoặc theo ủy quyền sau khi có Thông báo kết quả thẩm định và hồ sơ trình phê duyệt đã được bổ sung, hoàn thiện theo yêu cầu của cơ quan thẩm định
- Đối với dự án có số bước thiết kế nhiều hơn so với quy định, cơ quan chuyên môn
về xây dựng chỉ thẩm định hồ sơ thiết kế tại bước thiết kế theo quy định của pháp
luật, các bước thiết kế còn lại do người quyết định đầu tư quyết định việc tổ chức
thẩm định, phê duyệt Trường hợp tên gọi và nội dung của các bước thiết kế của dự
án thực hiện theo thông lệ quốc tế khác với bước thiết kế theo quy định, cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thẩm định hồ sơ thiết kế có nội dung tương ứng với bước thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công
2.1.2.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thẩm đỉnh thiết kế xây dựng công trình
- Trách nhiệm của người quyết định đầu tư:
+ Yêu cầu chủ đầu tư thực hiện đúng quy trình thẩm định phù hợp với quy mô, nguồn vốn sử dụng của dự án, loại và cấp công trình xây dựng Đối với dự án sử
dụng vốn hỗn hợp, người quyết định đầu tư xác định loại nguồn vốn sử dụng để làm cơ sở thực hiện trình, thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
Trang 33+ Phân công, kiểm tra việc thực hiện công tác thẩm định của cơ quan chuyên môn
trực thuộc;
- Trách nhiệm của chủ đầu tư:
+ Trình thẩm định thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của Thông tư này; tổ chức thẩm định làm cơ sở xem xét, phê duyệt thiết kế
bản vẽ thi công, dự toán xây dựng công trình đối với trường hợp thiết kế ba bước; + Kiểm tra, soát xét và chịu trách nhiệm trước cơ quan thẩm định và pháp luật về tính pháp lý, nội dung của hồ sơ trình thẩm định; giải trình, hoàn thiện hồ sơ trình
thẩm định theo yêu cầu của cơ quan thẩm định;
+ Lựa chọn trực tiếp tư vấn có đủ Điều kiện năng lực để thực hiện công tác thẩm tra phục vụ thẩm định và chịu trách nhiệm kiểm tra nội dung công tác thẩm tra của
tư vấn đáp ứng yêu cầu thẩm tra;
+ Lưu trữ hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của Nghị định số
59/2015/NĐ-CP
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thẩm định:
+ Tổ chức thẩm định thiết kế xây dựng công trình theo quy định của pháp luật; + Thông báo ý kiến, kết quả thẩm định bằng văn bản gửi cơ quan, tổ chức chủ trì
thẩm định để tổng hợp, báo cáo người quyết định đầu tư;
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về ý kiến, kết quả
thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng của mình
+ Báo cáo, giải trình về công tác thẩm định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền khi cần thiết;
+ Lưu trữ hồ sơ, tài liệu cần thiết có liên quan đến công tác thẩm định theo quy định
- Trách nhiệm của tổ chức tư vấn xây dựng:
Trang 34+ Tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của tư vấn xây dựng được quy định tại Điều 70
và Điều 86 của Luật Xây dựng khi lập, thẩm tra dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
+ Cung cấp đầy đủ hồ sơ và giải trình, chỉnh sửa nội dung hồ sơ trình thẩm định theo yêu cầu của chủ đầu tư và cơ quan thẩm định
2.1.2.3 Trình tự thẩm định thiết kế xây dựng công trình
- Sau khi nhận được hồ sơ, cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu
tư chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo các nội dung quy định
- Cơ quan chủ trì thẩm định có trách nhiệm tổ chức thẩm định các nội dung của thiết kế, dự toán xây dựng công trình Trong quá trình thẩm định, cơ quan chủ trì
thẩm định được mời tổ chức, cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm phù hợp tham gia thẩm định từng phần thiết kế xây dựng, thiết kế công nghệ, dự toán xây dựng công trình để phục vụ công tác thẩm định của mình
Trường hợp không đủ điều kiện thực hiện công tác thẩm định, cơ quan chuyên môn
về xây dựng, người quyết định đầu tư được yêu cầu chủ đầu tư lựa chọn trực tiếp tổ
chức, cá nhân có năng lực phù hợp đã đăng ký công khai thông tin năng lực hoạt động xây dựng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng để chủ đầu tư ký kết hợp đồng thẩm tra phục vụ công tác thẩm định Trường hợp tổ chức,
cá nhân tư vấn thẩm tra chưa đăng ký công khai thông tin năng lực hoạt động xây
dựng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng thì phải được cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng chấp thuận bằng văn bản Tổ
chức tư vấn thiết kế không được thực hiện thẩm tra công trình do mình thiết kế
- Trong quá trình thẩm định thiết kế xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng có trách nhiệm yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm định về môi trường, phòng, chống cháy, nổ và nội dung khác theo quy định của pháp luật
Thời hạn có văn bản thông báo kết quả thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền thẩm định về môi trường, phòng, chống cháy, nổ và nội dung khác theo
Trang 35quy định của pháp luật chuyên ngành nhưng không được vượt quá thời gian thẩm tra thiết kế, dự toán xây dựng theo quy định Nếu quá thời hạn, các cơ quan, tổ
chức liên quan không có văn bản trả lời thì được xem như đã chấp thuận về nội dung thẩm định và chịu trách nhiệm về lĩnh vực quản lý của mình
- Trường hợp cơ quan chuyên môn về xây dựng yêu cầu chủ đầu tư lựa chọn trực
tiếp đơn vị tư vấn thẩm tra thì trong thời gian 5 (năm) ngày làm việc kể từ ngày
nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về xây dựng có văn bản thông báo cho
chủ đầu tư các nội dung cần thẩm tra để chủ đầu tư lựa chọn, ký hợp đồng với tư
vấn thẩm tra; thời gian thực hiện thẩm tra không vượt quá 20 (hai mươi) ngày đối
với công trình cấp I, cấp đặc biệt; 15 (mười lăm) ngày đối với công trình cấp II và
cấp III; 10 (mười) ngày đối với các công trình còn lại Chủ đầu tư có trách nhiệm
gửi kết quả thẩm tra cho cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư
để làm cơ sở thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng
- Trong trường hợp dự án đầu tư xây dựng công trình gồm nhiều công trình có loại
và cấp khác nhau thì cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện thẩm định là cơ quan có trách nhiệm thực hiện thẩm định đối với công trình, hạng mục công trình chính của
dự án đầu tư xây dựng công trình
- Đối với các công trình bí mật nhà nước, công trình theo lệnh khẩn cấp và công trình tạm thì việc thẩm định, phê duyệt thiết kế được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân thẩm tra, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây
dựng chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm tra, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng do mình thực hiện
- Thời gian thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng của cơ quan chuyên môn về xây
dựng tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ như sau:
+ Không quá 40 (bốn mươi) ngày đối với công trình cấp I, cấp đặc biệt;
+ Không quá 30 (ba mươi) ngày đối với công trình cấp II và cấp III;
Trang 36+ Không quá 20 (hai mươi) ngày đối với các công trình còn lại
2.1.2.4 Hồ sơ trình thẩm định thiết kế xây dựng công trình
- Người đề nghị thẩm định trình một (01) bộ hồ sơ (hồ sơ gốc) đến cơ quan thẩm định để tổ chức thẩm định Trường hợp cần lấy ý kiến phối hợp của các cơ quan, tổ
chức có liên quan, cơ quan thẩm định yêu cầu người trình thẩm định bổ sung hồ sơ đối với những nội dung lấy ý kiến
- Hồ sơ trình thẩm định phải bảo đảm tính pháp lý, phù hợp với nội dung đề nghị
thẩm định Hồ sơ trình thẩm định được xem là hợp lệ khi bảo đảm các nội dung quy định, đúng quy cách, được trình bày bằng tiếng Việt hoặc song ngữ (ngôn ngữ chính là tiếng Việt) và được người đề nghị thẩm định kiểm tra, đóng dấu xác nhận
2.1.2.5 Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ trình thẩm định thiết kế xây dựng công trình
- Cơ quan thẩm định có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra sự đầy đủ, tính hợp lệ của
hồ sơ trình thẩm định được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện Hồ sơ trình
thẩm định được trả lại cho người đề nghị thẩm định khi bị từ chối tiếp nhận khi không đáp ứng các yêu cầu theo quy định
- Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, cơ quan thẩm định có trách nhiệm xem xét, gửi văn bản yêu cầu bổ sung hồ sơ trình thẩm định đến người đề nghị thẩm định (nếu cần, việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được yêu cầu một (01) lần trong quá trình thẩm định) hoặc trả lại hồ sơ thẩm định Trong thời hạn hai mươi (20) ngày kể
từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan thẩm định, nếu người đề nghị thẩm định không thực hiện việc bổ sung hồ sơ thì cơ quan thẩm định dừng việc thẩm định, người đề nghị thẩm định trình thẩm định lại khi có yêu cầu
- Người đề nghị thẩm định có trách nhiệm nộp phí thẩm định cho cơ quan thẩm định Mức phí thẩm định dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định của Bộ Tài chính
- Cơ quan thẩm định từ chối tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định trong các trường hợp: + Trình thẩm định không đúng với thẩm quyền của cơ quan thẩm định;
Trang 37+ Hồ sơ thiết kế xây dựng công trình không thuộc đối tượng phải thẩm định theo quy định của pháp luật về xây dựng;
+ Hồ sơ trình thẩm định không đảm bảo về tính pháp lý hoặc không hợp lệ theo quy định;
2.1.2.6 Thẩm tra phục vụ công tác thẩm định thiết kế xây dựng công trình
Trường hợp không đủ điều kiện thực hiện công tác thẩm định, cơ quan chuyên môn
về xây dựng, người quyết định đầu tư được yêu cầu chủ đầu tư lựa chọn trực tiếp tổ
chức, cá nhân có năng lực phù hợp đã đăng ký công khai thông tin năng lực hoạt động xây dựng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng để chủ đầu tư ký kết hợp đồng thẩm tra phục vụ công tác thẩm định Trình tự quá trình
thực hiện như sau:
- Căn cứ yêu cầu thẩm tra của cơ quan thẩm định, chủ đầu tư có trách nhiệm lựa
chọn trực tiếp tổ chức tư vấn có đủ Điều kiện năng lực để thực hiện thẩm tra phục
vụ công tác thẩm định
- Trường hợp Chủ đầu tư thực hiện việc thẩm tra trước khi trình thẩm định, cơ quan chuyên môn về xây dựng xem xét việc sử dụng kết quả thẩm tra để phục vụ công tác thẩm định
- Tổ chức tư vấn được lựa chọn thực hiện thẩm tra phục vụ công tác thẩm định của
cơ quan chuyên môn về xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Có đủ Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật;
+ Đã được đăng tải thông tin năng lực hoạt động xây dựng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng theo quy định Trường hợp tổ chức tư vấn
thẩm tra chưa đăng ký thông tin năng lực hoạt động xây dựng thì phải được cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng chấp thuận bằng văn bản;
+ Độc lập về pháp lý, tài chính với chủ đầu tư và với các nhà thầu tư vấn lập dự án, thiết kế, dự toán xây dựng công trình
Trang 38- Quy trình lựa chọn trực tiếp tư vấn thẩm tra phục vụ công tác thẩm định theo yêu
cầu của cơ quan chuyên môn về xây dựng được quy định cụ thể như sau:
+ Cơ quan thẩm định có đề xuất về yêu cầu, phạm vi công việc thẩm tra phục vụ công tác thẩm định
+ Căn cứ yêu cầu thẩm tra của cơ quan thẩm định, chủ đầu tư gửi đề nghị thẩm tra kèm theo yêu cầu, nội dung thẩm tra và dự thảo hợp đồng (gồm các nội dung như: phạm vi công việc, thời gian thực hiện, chất lượng công việc cần đạt được, giá trị hợp đồng, trách nhiệm giải trình ) đến tổ chức tư vấn được dự kiến lựa chọn thực hiện thẩm tra;
+ Trên cơ sở đề nghị thẩm tra của chủ đầu tư, tổ chức tư vấn gửi đề xuất thực hiện công tác thẩm tra để chủ đầu tư xem xét, đàm phán, ký kết hợp đồng
- Thời gian thực hiện thẩm tra dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán xây dựng công trình: Không vượt quá 20 (hai mươi) ngày đối với công trình cấp I, cấp đặc biệt; 15 (mười lăm) ngày đối với công trình cấp II và cấp III; 10 (mười) ngày đối với các công trình còn lại Trường hợp cần gia hạn thời gian thực hiện thẩm tra thì chủ đầu tư phải
có văn bản thông báo đến cơ quan thẩm định để giải trình lý do và đề xuất gia hạn thời gian thực hiện
- Chủ đầu tư có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá đối với Báo cáo kết quả thẩm tra do tư vấn thực hiện trước khi gửi đến cơ quan thẩm định
2.1.2.7 Kết quả thẩm định và thông báo kết quả thẩm định
- Kết quả thẩm định phải có đánh giá, kết luận về mức đáp ứng yêu cầu đối với từng nội dung thẩm định và toàn bộ nội dung trình thẩm định; các kiến nghị đối với người quyết định đầu tư, chủ đầu tư Nội dung xem xét, đánh giá của cơ quan thẩm định được hướng dẫn cụ thể như sau:
+ Đối với thẩm định thiết kế cơ sở: Đánh giá về sự phù hợp, mức độ đáp ứng đối với chủ trương đầu tư, yêu cầu, nội dung lập dự án, lập thiết kế cơ sở, các tiêu chí phản ánh sự cần thiết phải đầu tư xây dựng, tính khả thi và mức độ hiệu quả của dự án;
Trang 39+ Đối với thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng công trình: Đánh giá về sự phù hợp, mức độ đáp ứng đối với các yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung của thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
+ Xem xét, cập nhật kết quả thẩm tra phục vụ thẩm định, ý kiến thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường và các ý kiến của cơ quan, tổ chức liên quan (nếu có)
- Cơ quan thẩm định có trách nhiệm thông báo kết quả thẩm định đến người đề nghị thẩm định theo hình thức gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện
- Hồ sơ trình thẩm định sau khi chỉnh sửa, hoàn thiện được cơ quan thẩm định kiểm tra, đóng dấu thẩm định trên một (01) bộ hồ sơ dự án, bản vẽ thiết kế cơ sở, bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng công trình Người
đề nghị thẩm định có trách nhiệm nộp bản chụp (photocopy hoặc file PDF) tài liệu báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở, thiết kế và dự toán xây dựng công trình đã đóng dấu thẩm định cho cơ quan thẩm định
- Khi kết thúc công tác thẩm định, cơ quan thẩm định có trách nhiệm:
+ Lưu trữ, bảo quản một số tài liệu gồm: Tờ trình thẩm định; các kết luận của tổ chức,
cá nhân tham gia thẩm định; văn bản góp ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan; Thông báo kết quả thẩm định; các bản chụp tài liệu đã đóng dấu thẩm định theo quy định tại Khoản 3 Điều này;
+ Chuyển trả cho người đề nghị thẩm định các tài liệu trình thẩm định trừ các tài liệu lưu trữ quy định tại Điểm a Khoản này
2.2 Nội dung của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng
Việc thẩm định được thực hiện khi cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định và kết thúc khi có văn bản Thông báo kết quả thẩm định Nội dung thẩm định được quy định như sau:
- Sự phù hợp của thiết kế xây dựng bước sau so với thiết kế xây dựng bước trước: Thiết kế kỹ thuật so với thiết kế cơ sở; Thiết kế bản vẽ thi công so với thiết kế kỹ
Trang 40thuật trong trường hợp thiết kế ba bước, so với thiết kế cơ sở trong trường hợp thiết
kế hai bước hoặc so với nhiệm vụ thiết kế trong trường hợp thiết kế một bước
- Sự tuân thủ các tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về
sử dụng vật liệu xây dựng cho công trình
- Đánh giá sự phù hợp các giải pháp thiết kế công trình với công năng sử dụng của công trình, mức độ an toàn công trình và bảo đảm an toàn của công trình lân cận
- Sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ đối với thiết kế công trình có yêu cầu về công nghệ
- Sự tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ
- Sự phù hợp giữa khối lượng chủ yếu của dự toán với khối lượng thiết kế; tính đúng đắn, hợp lý của việc áp dụng, vận dụng định mức, đơn giá xây dựng công trình; xác định giá trị dự toán công trình
- Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của công tác thẩm định thiết kế công trình xây dựng
2.3.1 Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định
Cán bộ thẩm định đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định tới chất lượng
thẩm định các dự án đầu tư xây dựng Kết quả thẩm định là kết quả của quá trình đánh giá về nhiều mặt theo nhận định của con người bởi vì con người là chủ thể
trực tiếp tổ chức và thực hiện thẩm định theo phương pháp và kỹ thuật của mình
Mọi yếu tố khác sẽ không có ý nghĩa nếu như cán bộ thẩm định không đủ trình độ
và phương pháp làm việc khoa học nghiêm túc, sai lầm của con người trong công tác thẩm định dù vô tình hay cố ý đều dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới nhiều mặt của dự án Thẩm định dự án là một công việc hết sức phức tạp
nó không chỉ là việc tính toán theo những công thức cho sẵn đòi hỏi cán bộ thẩm định phải hội tụ được các yếu tố: Kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo đức