Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận bằng phương pháp thực tiễn, tiếp cận trên cơ sở lý thuyết – lý thuyết đánh giá hiệu quả và những quy định hiện
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc, học viên tự thu thập và chịu trách nhiệm Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Nguy ễn Xuân Đức
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ Tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự động viên sâu sắc của nhiều cá nhân, cơ quan và nhà trường Xin chân thành cảm ơn các cá nhân, cơ quan và Nhà trường đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này
Trước hết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo hướng dẫn khoa học Giáo
sư Vũ Thanh Te, người đã giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Thủy lợi, Phòng Đào tạo đại
học và Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Công Trình cùng các thầy cô giáo trong Khoa, Lãnh đạo và các đồng nghiệp trong cơ quan đã động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, kinh nghiệm và tài liệu tham khảo nên luận văn thiếu xót là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp
ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và đồng nghiệp Đó chính là sự giúp đỡ quý báu giúp tác giả hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nam, ngày tháng năm 2017
Người viết luận văn
Nguy ễn Xuân Đức
Trang 3M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3
1.1 Khái quát dự án đầu tư xây dựng 3
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng 3
1.2 Một số kinh nghiệm quản lý đầu tư ở một số nước trên thế giới 8
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý đầu tư tại Trung Quốc: 8
1.2.2: Kinh nghiệm quản lý đầu tư tại một số nước khác 9
1.3.Tình hình đầu tư các dự án thủy lợi phục vụ nông nghiệp và hiệu quả đầu tư ở nước ta 11
1.3.1 Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ 12
1.3.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng 12
1.3.3 Vùng Bắc Trung bộ 13
1.3.4 Vùng Duyên hải Nam Trung bộ 13
1.3.5 Vùng Tây Nguyên 14
1.3.6 Miền Đông Nam bộ 14
1.3.7 Vùng Đồng bằng sông Cửu long 15
1.4 Tầm quan trọng của các công trình thủy lợi với sự phát triển ngành nông nghiệp nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam nói riêng 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17
Chương II: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ 18
2.1 Các nhân tố cơ bản để đánh giá hiệu quả đầu tư 18
2.1.1 Đánh giá hiệu quả theo phương pháp định tính: 18
2.1.2 Đánh giá hiệu quả theo phương pháp định lượng 18
2.1.3 Những phương pháp đánh giá khác 21
2.2 Phương pháp chọn, đánh giá hiệu quả đầu tư của một dự án 22
2.2.1.Các bước đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế - tài chính của dự án đầu tư 23
2.2.2 Phân tích đánh giá dự án theo giá trị tương đương bằng phương pháp hiệu số thu chi (NPV) 26
2.2.3 Phân tích đánh giá dự án theo suất thu lợi nội tại (IRR) 28
Trang 42.3 Các nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả dự án 31
2.3.1 Các nhân tố khách quan 31
2.3.2.Các nhân tố chủ quan 32
2.4 Những tồn tại trong công tác đầu tư những dự án nông nghiệp có liên quan đến hiệu quả đầu tư 33
2.4.1 Trong huy động vốn đầu tư 33
2.4.2 Quy hoạch và chuẩn bị đầu tư 34
2.4.3 Công tác đấu thầu và quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 37
2.4.4 Công tác quản lý khai thác và bảo vệ công trình 38
hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp 38
2.4.5 Hệ thống công trình thủy lợi được đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu đa dạng 38
Kết luận chương II 40
Chương III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TẠI TỈNH HÀ NAM 41
3.1 Điều kiện và nguồn lực phát triển của tỉnh Hà Nam 41
3.2 Tình hình công tác đầu tư trong những năm vừa qua của tỉnh Hà Nam 42
3.2.1.Vốn đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi theo vùng 43
3.3 Phương hướng đầu tư những năm tới 45
3.3.1 Phương hướng, mục tiêu chung 45
3.3.2 Tầm nhìn đến năm 2030 48
3.3.3 Về giải pháp thực hiện quy hoạch 48
3.3.4 Phân kỳ đầu tư và trình tự thực hiện quy hoạch 49
3.4 Đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án công trình thủy lợi trong những năm qua tại tỉnh Hà Nam 50
3.4.1 Dự án trạm bơm Kinh Thanh II: 51
3.4.2 Công trình thủy lợi Tắc Giang: 57
3.5 Phân tích nguyên nhân những tồn tại liên quan hiệu quả đầu tư 62
3.5.1 Công tác đền bù giải phóng mặt bằng 62
3.5.2 Khảo sát, lập dự toán 63
Trang 53.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho những dự án đã xây dựng và những dự án chuẩn bị đầu tư 66 3.6.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện công tác quy hoạch trong tỉnh với phương hướng cho tương lai 66 3.6.2 Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng, đẩy nhanh công tác tư vấn khảo sát, thiết kế
và lập dự toán: 68 3.6.3 Giải pháp 3: Hoàn thiện công tác đấu thầu 69 3.6.4 Giải pháp 4: Chủ động lập kế hoạch và tìm các nguồn vốn cho dự án 70 3.6.5 Giải pháp 5: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện cơ chế chính sách đối với các cán bộ quản lý, thực hiện dự án 72 3.6.6 Giải pháp 6: Tăng quyền và trách nhiệm trong quản lý chi phí trong đầu tư xây dựng cơ bản và trong công tác quản lý vận hành 74 3.7.1 Giải pháp 7: Đẩy nhanh công tác đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng thi công xây dựng 77 Kết luận chương III 79 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Vốn đầu tư cho các công trình thủy lợi trong tổng vốn đầu tư xdcb của tỉnh
hà nam giai đoạn 2011-2015 42
Bảng 3.2: Vốn đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi thực hiện phân theo vùng 43
Bảng 3.3: Phân vùng thủy lợi tỉnh Hà Nam 46
Bảng 3.4 Công trình cấp II với số vốn đầu tư ban đầu 53
Bảng 3.5 Giá trị sản lương lương thực quy thóc tăng thêm trong vùng trực tiếp hưởng lợi 84
Bảng 3.6 Giá trị sản phẩm thu nhập thuần túy của 1 ha các loại cây trồng trong vùng hiện tại chưa có dự án 85
Bảng 3.7 Giá trị sản phẩm thu nhập thuần túy của 1 ha các loại cây trồng trong vùng sau 3 năm có dự án 86
Bảng 3.8 Tính thu nhập thuần túy hiện tại chưa có dự án 87
Bảng 3.9 Giá trị thu nhập thuần túy của cả vùng khi có dự án và thu nhập tăng thêm khi chưa có dự án 88
Bảng 3.10 Bảng tính nội hoàn kinh tế (EIRR) của dự án 89
Bảng 3.11 Giá tị thu nhập thực (NPV) và tỷ số thu nhập/Chi phí (B/C) 90
Bảng 3.12 Phân tích biến động của dự án – tính với i=10% (bảng 3.12) 91
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Một số hình ảnh của công trình khi đã đi vào hoạt động 59 Hình 3.2 Hình ảnh về vụ sụt lún công trình 61
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 NSNN: Ngân sách nhà nước
2 XDCB: Xây dựng cơ bản
3 TKBVTC-DT: Thiết kế bản vẽ thi công dự toán
4 CTTL : Công trình thủy lợi
5 HTX : Hợp tác xã
6 KT – XH : Kinh tế - Xã Hội
7 UBND: Ủy ban nhân dân
8 KTCTTL : Khai thác công trình thủy lợi
9 NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 9MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn hiện nay tình hình thiên tai hạn hán, lũ lụt diễn biến vô cùng phức tạp Chính vì điều đó nên việc xây dựng các công trình thủy lợi càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Bên cạnh đó nợ công của nước ta đang ngày càng tăng nên vấn đề về hiệu quả đầu tư xây dựng đang là một bài toán khó cần được giải quyết một cách kịp thời Với đặc thù của mình, các công trình thủy lợi không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sự phát triển của vùng miền, khu vực mà còn ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế trong bối cảnh nước ta còn là một nước nông nghiệp Do đó, việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi luôn được các lãnh đạo quan tâm sát sao Nhiều công trình hoàn thành đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, tuy nhiên vẫn còn không ít các công trình được đầu tư với số vốn tương đối lớn nhưng hiệu quả mang lại không nhiều thậm chí
có những công trình bị bỏ hoang gây lãng phí rất lớn về mặt tiền của
Hà Nam là một vùng chiêm chũng có độ cao so với mực nước biển là thấp hơn những tỉnh lân cận Hàng năm tỉnh vẫn phê duyệt và đầu tư nhiều hạng mục công trình thủy lợi như nạo vét kênh mương, kiên cố hóa,…nhất là trong giai đoạn 2010-2015 Nhưng
do tỉnh Hà Nam còn là một tỉnh nhỏ và nguồn thu ngân sách còn nhiều hạn chế nên vấn đề về hiệu quả đầu tư, tác động của dự án lên bà con nông dân cần được đánh giá một cách nghiêm túc
Từ các vấn đề cấp thiết nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: Đánh giá hiệu quả đầu tư các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010-2015
2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a)Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về những dự án công trình thủy lợi đã và đang được đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong mười năm trở lại đây
Trang 10bàn tỉnh Hà Nam
3 Mục đích của đề tài
Đánh giá lại hiệu quả đầu tư của công trình thủy lợi trong thời gian vừa qua, từ đó kiến nghị giải pháp để đảm bảo các công trình thủy lợi được đầu tư trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Hà Nam có hiệu quả tốt nhất
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận bằng phương pháp thực tiễn, tiếp cận trên cơ sở lý thuyết – lý thuyết đánh giá hiệu quả và những quy định hiện hành của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này Đồng thời luận văn cũng sử dụng phép phân tích duy vật biện chứng để phân tích, đề xuất các giải pháp mục tiêu
Trang 11C hương I: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Khái quát dự án đầu tư xây dựng
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là việc bỏ vốn nhằm đạt được một hoặc một số mục đích cự thể của người nào
đó sở hữu vốn( hoặc người được cấp có thẩm quyền giao quản lý vốn) với những yêu cầu nhất định
Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời gian nhất định [1]
1.1.1.2 Vị trí và vai trò của đầu tư
Đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của bất ký hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật, những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội
Đầu tư hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những cơ
sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị- xã hội, an ninh- quốc phòng Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay , quản lý hiệu quả các dự án là cực ký quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí, thất thoát những nguồn lực vốn đã rất hạn hẹp
1.1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng
Khi đầu tư xây dựng công trình, Chủ đầu tư (CĐT) xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư (hoặc lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật) để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án
Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng
Trang 12cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ
Theo Luật xây dựng thì dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có lên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình nhằm mục đích phát triển duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng gồm 2 phần: phần tuyết minh và phần thiết kế cơ sở.[1]
1.1.1.4 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công được giải quyết Các dự án đầu tư xây dựng có các đặc điểm sau:
- Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một các ổn định cứng, hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực hiện do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính các hoạt động sản xuất và bên ngoài như môi trường chính trị , kinh tế công nghệ, kỹ thuật thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội
- Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có tính đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi
- Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn liên quan Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tùy ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó quá trình triển khai thực hiện nó là cơ sở để phân bố các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất Sự thành công của dự án thường được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã quy định trước hay không?
Trang 13ánvì điều đó quyết định đến việc phân loại dự án và xác định chi phí của dự án.
-Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là một quá trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định, chính vì vậy để thực hiện được nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau, việc kết hợp hài hòa các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của dự án
1.1.1.5.Các giai đoạn thực hiện của dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bất ký dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, Thực hiện đầu tư, Kết thúc xây dựng và đưa dự án vào khai thác sử dụng Quá trình thực hiện dự án đầu tư được nêu bằng sơ đồ 1 1 dưới đây:
Chuẩn bị đầu tư
Lập thiết kế
Đấu thầu
Thi công
Nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụngLập báo cáo đầu tư
Trang 14- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Đối với các dự án quan trong quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 của Quốc hội thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản
lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án đầu tư xây dựng Vị trí, quy mô xây dựng dự án phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận
- Giai đoạn thực hiện đầu tư
Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt DAĐT được chuyển sang giai đoạn tiếp theo - giai đoạn thực hiện đầu tư
Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đơn vị tư vấn, phải lựa chọn được những chuyên gia tư vấn, thiết kế giỏi trong các tổ chức tư vấn, thiết kế giàu kinh nghiệm, có năng lực thực thi việc nghiên cứu từ giai đoạn đầu, giai đoạn thiết kế đến giai đoạn quản lý giám sát xây dựng - đây là nhiệm vụ quan trọng và phức tạp Trong khi lựa chọn đơn vị tư vấn, nhân tố quyết định là cơ quan tư vấn này phải có kinh nghiệm qua những dự án đã được họ thực hiện trước đó Một phương pháp thông thường dùng để chọn là đòi hỏi các cơ quan tư vấn cung cấp các thông tin về kinh nghiệm, tổ chức sau đó xem xét lựa chọn rồi tiến tới đấu thầu Việc lựa chọn nhà thầu tư vấn xây dựng công trình được thực hiện theo Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước
Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập báo
Trang 15Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công
áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I
và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Sau khi sản phẩm thiết kế được hình thành, CĐT tổ chức thẩm định hồ sơ TKKT-TDT
và trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư) phê duyệt Trường hợp CĐT không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra dự toán thiết kế công trình làm cơ sở cho việc phê duyệt Trên cơ sở kết quả thẩm định TKKT-DT người có thẩm quyền quyết định đầu tư sẽ ra quyết định phê duyệt TKKT-DT Khi đã có quyết định phê duyệt TKKT- TDT, CĐT tổ chức đấu thầu xây dựng nhằm lựa chọn nhà thầu có
đủ điều kiện năng lực để cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của CĐT và các mục tiêu của dự án
Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, CĐT tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi công xây dựng với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng dự án Nội dung quản lý thi công xây dựng bao gồm quản lý chất lượng xây dựng; quản lý tiến độ xây dựng; quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng; quản lý môi trường xây dựng
- Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng:
Sau khi dự án được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, CĐT thực hiện công tác bàn giao dự án cho
cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành với hiệu quả cao nhất
Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau Trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng CĐT luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến
Trang 16Tóm lại, trong giai đoạn này CĐT chịu trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng; trình duyệt
hồ sơ TKKT-DT; tổ chức đấu thầu; đàm phán ký kết hợp đồng, quản lý chất lượng kỹ thuật công trình trong suốt quá trình thi công và chịu trách nhiệm toàn bộ các công việc đã thực hiện trong quá trình triển khai dự án [1]
1.2 Một số kinh nghiệm quản lý đầu tư ở một số nước trên thế giới
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý đầu tư tại Trung Quốc
Ở Trung Quốc, quản lý đầu tư công được phân quyền theo 04 cấp ngân sách: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố và cấp huyện, trấn Cấp có thẩm quyền của từng cấp ngân sách có toàn quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn từ ngân sách của cấp mình Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên phải lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan liên quan của ngân sách cấp trên trước khi phê
duyệt chủ trương đầu tư dự án Việc thẩm định các dự án đầu tư ở tất cả các bước (chủ
trương đầu tư, báo cáo khả thi, thiết kế kỹ thuật và tổng khái toán, thiết kế thi công và tổng dự toán, đấu thầu…) đều thông qua Hội đồng thẩm định của từng cấp và lấy ý
kiến thẩm định của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cùng cấp và cấp trên nếu có sử dụng vốn hỗ trợ của ngân sách cấp trên
Hội đồng thẩm định của từng cấp do cơ quan được giao kế hoạch vốn đầu tư thành lập
(Cơ quan quản lý chuyên ngành) Thành viên Hội đồng thẩm định bao gồm các
chuyên gia có chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực dự án yêu cầu, được lựa chọn theo hình thức rút thăm từ danh sách các chuyên gia được lập, quản lý ở từng cấp theo từng phân ngành Các chuyên gia này được xác định là có trình độ chuyên môn thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định của từng dự án cụ thể
Trung Quốc có phân loại dự án quan trọng quốc gia trên cơ sở các tiêu chí về quy mô tổng mức đầu tư, quy mô tác động kinh tế - xã hội, môi trường của dự án và quy mô sử dụng các nguồn tài nguyên, khoáng sản của quốc gia Ví dụ, Quốc vụ viện Trung Quốc phê duyệt các dự án đầu tư có sử dụng vốn ngân sách nhà nước và có tổng mức đầu tư
từ 5 tỷ nhân dân tệ trở lên (tương đương khoảng 10.000 tỷ đồng)
Trang 17Trung Quốc là một quốc gia lớn, có một số đặc điểm tương đồng với Việt Nam Chính phủ Trung Quốc cũng đang tích cực thực hiện các giải pháp phòng, chống thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB tại các dự án sử dụng vốn NSNN và các nguồn vốn khác của Nhà nước
Để khống chế chất lượng thời gian và giá thành công trình xây dựng xuyên suốt từ giai đoạn hình thành ý tưởng đầu tư, chủ trương đầu tư đến chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu
tư, kết thúc xây dựng bàn giao công trình đi vào sử dụng, Trung Quốc thông qua quan
hệ hợp đồng kinh tế hình thành cơ chế giám sát phối hợp 4 bên: bên A (chủ đầu tư)- bên B (người thiết kế)- bên C (đơn vị thi công)- bên D (người giám sát)
Chính phủ Trung Quốc chỉ quán lý việc thẩm định, phê duyệt tổng mức đầu tư đối với
dự án đầu tư xây dựng từ NSNN; giá xây dựng được hình thành theo cơ chế thị trường, Nhà nước công bố định mức xây dựng chỉ để tham khảo; Nhà nước khuyến khích sử dụng hợp đồng trong đầu tư xây dựng theo thông lệ quốc tế Trung Quốc đã đang xây dựng và phát triển mạnh việc sử dụng các kỹ sư định giá trong việc kiểm soát và khống chế chi phí xây dựng Trung Quốc rất chú trọng tới việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về chi phí xây dựng, cung cấp các thông tin về giá xây dựng đảm bảo tính minh bạch và tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Chính phủ Trung Quốc không can thiệp trực tiếp vào việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại các dự án sử dụng NSNN, mà chỉ ban hành các quy định có tính chất định hướng thị trường, đảm bảo tính công bằng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thế tham gia hoạt động xây dựng, xã hội hóa công tác định mức xây dựng, đơn giá xây dựng và sử dụng cơ chế thị trường để thỏa thuận, xác định giá xây dựng công trình Xu thế này không những đã và đang thực hiện ở Trung Quốc, mà còn được các nước như Anh, Mỹ,… áp dụng rộng rãi
1.2.2: Kinh nghiệm quản lý đầu tư tại một số nước khác
Tại Nhật Bản, các cơ quan quản lý và điều hành đầu tư công ngoài Chính phủ và các tập đoàn công cộng, cơ quan chính quyền quận, thành phố còn có sự tham gia của các
tổ chức hợp tác đầu tư giữa nhà nước và tư nhân
Trang 18Tại Hàn Quốc, Trung tâm quản lý đầu tư hạ tầng công - tư thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành lập Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi đối với các dự án đầu tư công có quy mô lớn Bộ Chiến lược và Tài chính chịu trách nhiệm thẩm định, thông qua và quyết định việc loại bỏ hoặc chuyển sang giai đoạn nghiên cứu khả thi các dự án này, bao gồm:
(1) Dự án dùng vốn ngân sách trung ương có tổng mức đầu tư từ 50 tỷ won (tương đương 50 triệu USD) trở lên, bao gồm cả dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và không xây dựng cơ sở hạ tầng như các chương trình đầu tư nghiên cứu phát triển và phúc lợi xã hội;
(2) Dự án dùng vốn ngân sách của địa phương và các dự án hợp tác công tư có nguồn vốn hỗ trợ của ngân sách trung ương trên 30 tỷ won (khoảng 30 triệu USD)
Sau khi Bộ Chiến lược và Tài chính thẩm định, Báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án nêu trên sẽ được trình ra Quốc hội Hàn Quốc xem xét, quyết định
Ở Vương quốc Anh, các dự án đường bộ trị giá trên 500 triệu Bảng Anh (tương đương 16.500 tỷ đồng) cần được Bộ Tài chính phê duyệt công khai, trong khi mức độ tham gia của Bộ Tài chính vào quá trình rà soát thẩm định các dự án giao thông khác còn phụ thuộc vào quy mô và sự phức tạp của dự án Ở Ailen và Vương quốc Anh, các dự
án cơ sở hạ tầng lớn là đối tượng điều trần công khai trước khi kết thúc giai đoạn thẩm định Ở Chi-lê, việc thẩm định dự án được thực hiện bởi Bộ lập kế hoạch dự án chứ không phải Bộ cấp tiền cho dự án
Tại Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Chi-lê, Ai-len…, việc kiểm tra, đánh giá hoàn thành
dự án được thực hiện thông qua chính sách hậu kiểm Ở Chi-lê và Hàn Quốc, quan chức thường giữ vai trò lớn trong việc kiểm tra tài sản hoàn thành so với kế hoạch dự
án Tại Ai-len và Vương quốc Anh, đánh giá hoàn thành dự án là đánh giá tác động của dự án đầu tư dựa trên kết quả đầu ra Tại bốn quốc gia này, các dự án đầu tư đều phải được kiểm toán Riêng Ai-len và Vương quốc Anh, cơ chế rà soát đặc biệt được thực hiện nhằm phát hiện những nhân tố mang tính hệ thống ảnh hưởng tới chi phí và
Trang 191.3 Tình hình đầu tư các dự án thủy lợi phục vụ nông nghiệp và hiệu quả đầu tư
ở nước ta
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh
Hệ thống các công trình thủy lợi của Việt Nam
Với vai trò quan trọng của công tác thủy lợi trong việc cấp thoát nước phục vụ dân sinh kinh tế
Theo số liệu thống kê đánh giá chưa đầy đủ, các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm: 5.656 hồ chứa; 8.512 đập dâng; 5.194 trạm bơm điện, cống tưới tiêu các loại; 10.698 các công trình khác và trên 23.000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở ĐBSCL, cùng với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh
Tuy các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
- Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống
- Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng
bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý,cơ chế tài chính
- Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặc biệt quản lý các hệ thống thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn chưa rõ ràng
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thuỷ lợi đã nhằm mục tiêu bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất và
Trang 20triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Về Tưới tiêu, cấp thoát nước : Đến nay cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn, 800 hồ đập loại lớn và vừa, hơn 3.500 hố có dung tích trên 1 triệu m3 nước và đập cao trên
10 m, hơn 5.000 cống tưới- tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các hệ thống có tổng năng lực tưới trực tiếp cho 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha, tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì
Cụ thể theo 7 vùng kinh tế như sau :
1.3.1 Vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ
Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 40.190 đập đâng, hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, 379 trạm bơm điện, hàng vạn công trình tiểu thuỷ nông Trong vùng có những công trình lớn lợi dụng tổng hợp điều tiết cấp nước, phát điện, chống lũ cho cả vùng trung và hạ du là Hoà Bình, Thác Bà, Núi Cốc, Cấm Sơn Diện tích tưới thiết kế 263.067 ha, thực tưới được 206.037 ha và cấp nước sinh hoạt cho hơn
30 vạn dân nông thôn, cấp nước cho các khu đô thị và công nghiệp ở các tỉnh
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các sông nhánh chính của hệ thống sông Hồng-Thái Bình đều đã có đê khép với các tuyến đê ở hạ du, tạo thành hệ thống đê hoàn chỉnh bảo vệ cho cả vùng trung du và đồng bằng sông Hồng, trong đó có 399 km đê sông,
194 cống dưới đê Trung ương quản lý và 120 km đê biển + cửa sông
1.3.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
- Tưới tiêu, cấp nước: Hiện có 55 hệ thống thủy nông lớn và vừa gồm 500 cống, 1.700 trạm bơm điện chính và 35.000 trạm bơm nhỏ nội đồng, hơn 5 vạn kênh trục chính (cấp
I, II, III), 35 hồ chứa (dung tích từ 0,5-230 triệu m3
) và nhiều hồ chứa nhỏ có tổng diện
Trang 21- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Đã hình thành một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm: 2.700 km đê sông, 1.118 cống dưới đê trung ương quản lý, 310 km đê biển + cửa sông
Đê sông được thiết kế chống lũ có mực nước tương ứng +13,1m ở Hà Nội và +7,20 m tại Phả Lại Riêng đoạn đê hữu sông Hồng bảo vệ Hà Nội có mức nước thiết kế +13,4m
1.3.3 Vùng Bắc Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Trong vùng đã xây dựng được 2 hệ thống thủy lợi lớn là Đô Lương và Bái Thượng, 20 hồ chứa có dung tích trên 10 triệu m3 và hàng nghìn công trình hồ, đập, trạm bơm vừa và nhỏ Tổng diện tích tưới thiết kế là 424.240 ha canh tác, thực tưới 235.600 ha lúa đông-xuân, 159.700 ha lúa hè-thu và 219.700 ha lúa mùa, cung cấp và tạo nguồn cấp cho dân sinh và các khu đô thị trong vùng
Các hệ thống tiêu được thiết kế với hệ số tiêu 4,2-5,6 l/s.ha, có diện tích tiêu thiết kế 163.200 ha (tiêu động lực 48.330 ha), thực tiêu được 132.880 ha (tiêu động lực được 35.210 ha)
- Phòng chống thiên tai lũ lụt: Dọc các hệ thống sông Mã, sông Cả và ven biển đã có
đê chống lũ và ngăn sóng, triều Riêng 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh có 512
km đê sông, 259 cống dưới đê trung ương quản lý và 784 km đê biển + cửa sông Đê sông Mã, sông Cả có thể chống lũ chính vụ lớn như lũ lịch sử (P » 2-2,5%) không bị tràn, đê các sông khác chỉ chống được lũ sớm, lũ tiểu mãn và lũ muộn (P » 10-20%) bảo vệ sản xuất vụ đông-xuân và hè-thu
1.3.4 Vùng Duyên hải Nam Trung bộ
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 891 công trình thuỷ lợi cấp nước, gồm 16 đập dâng, 32 hồ chứa 154 trạm bơm, 683 công trình nhỏ Tổng năng lực tưới thiết kế 181.930 ha, thực tưới được 106.440 ha
- Phòng tránh bão lũ: Các giải pháp phòng chống lũ chủ yếu là bố trí sản xuất tránh lũ chính vụ, mới có một số hệ thống bờ bao bảo vệ sản xuất vụ hè-thu Riêng đê biển ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố Đà Nẵng có chiều dài 214 km
Trang 221.3.5 Vùng Tây Nguyên
- Tưới tiêu, cấp nước: Có 972 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ tưới cho 34.224 ha lúa Đông xuân và 87.148 ha cây cà phê Trong đó, ở tỉnh Kon Tum có 150 công trình, tưới cho 4.900 ha lúa đông-xuân, 5.000ha cà phê; tỉnh Gia Lai có 165 công trình, tưới cho 11.650 ha lúa đông xuân, 9.600 ha cà phê; tỉnh Đắc Lắc có 476 công trình, tưới cho 9.864 ha lúa đông-xuân, 46.878 ha cà phê; Lâm Đồng có 180 công trình, tưới 7.830 ha lúa đông xuân, 31.870 ha cà phê
- Công trình chống lũ chưa được đầu tư nhiều, mới có một vài tuyến đê nhỏ, bờ bao chống lũ sớm và lũ tiểu mãn ở một số vùng nhỏ
1.3.6 Miền Đông Nam bộ
- Tưới tiêu, cấp nước, thuỷ điện: Đã xây dựng được nhiều công trình lớn lợi dụng tổng hợp như: Trị An trên sông Đồng Nai, Thác Mơ trên Sông Bé, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, Hàm Thuận - Đa Mi (công suất 475 MW, điện lượng 1550 Gwh/năm); đập Nha Trinh, Hồ Sông Quao, hồ Đá Bàn, Đa Tôn, Sông Mây…cùng các công trình có quy mô vừa khác có tổng công suất 1.188 MW, điện lượng trung bình 4,498 tỷ Kwh/năm Công trình Dầu tiếng có diện tích tưới thiết kế khoảng 93.000 ha và chuyển sang sông Vàm
Cỏ khoảng 10 m3/s Ngoài ra còn nhiều công trình vừa và nhỏ khác tưới cho hàng chục ngàn hecta Các hồ chứa đã điều tiết tăng lưu lượng kiệt ở hạ lưu, ranh giới mặn được đẩy lùi về hạ lưu: sông Đồng Nai khoảng 18-20 km; sông Vàm Cỏ Đông 8-10 km Nước ngầm được khai thác chủ yếu cấp cho sinh hoạt, một số nơi được khai thác để tưới cho cây công nghiệp, chủ yếu là cà phê Tổng lượng nước ngầm khai thác ước tính khoảng 750.000 m3/ngày, trong đó cấp cho sinh hoạt 700.000 m3/ngày (gồm các trạm bơm Hoóc Môn ở TP Hồ Chí Minh 20.600 m3
/ngày và Hòa An, Suối Vàng, Sông Dinh)
- Phòng chống lũ:
Hiện nay, công trình phòng chống lũ chủ yếu là các hồ chứa ở thượng lưu tham gia chống lũ cho bản thân công trình và một phần giảm lũ cho hạ du Ở hạ du chỉ có một
Trang 231.3.7 Vùng Đồng bằng sông Cửu long
- Tưới tiêu, cấp nước: Đã cải tạo và đào mới trên 4.430 km kênh trục và kênh cấp I tạo nguồn cách nhau khoảng 5 km/kênh (có chiều rộng từ 8-40 m, cao trình đáy từ -2,0 ¸ -4,0 m); trên 6.000 km kênh cấp II (khoảng 1-2 km có 1 kênh), đưa nước ngọt tưới sâu vào nội đồng và tăng cường khả năng tiêu úng, xổ phèn cho đồng ruộng và
105 trạm bơm điện quy mô lớn và vừa, hàng vạn máy bơm nhỏ để tưới tiêu với năng lực tưới thiết kế 81.620 ha (thực tưới được 23.380 ha)
- Xây dựng khoảng 80 cống rộng từ 5 m trở lên trong đó có nhiều cống rộng từ 10-30 m, hàng trăm cống có bề rộng 2-4 m và hàng vạn cống nhỏ để ngăn mặn, ngăn lũ, lợi dụng thuỷ triều tưới tiêu Lớn nhất là cống đập Ba Lai có chiều rộng 84m
- Kiểm soát lũ:
- Xây dựng khoảng 23.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 bảo vệ lúa hè-thu
- Đã xây dựng 450 km đê biển, 1.290 km đê sông để ngăn mặn cho vùng ven biển
- Xây dựng hơn 200 km đê bao cho các khu rừng chàm tập trung để giữ nước mưa chống cháy rừng trong mùa khô
1.4 Tầm quan trọng của các công trình thủy lợi với sự phát triển ngành nông nghiệp nói chung và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam nói riêng
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành : trồng trọt, chăn nuôi,
sơ chế nông sản; theo định nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm ngiệp, thủy sản
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm Nông – Lâm – Ngư – Nghiệp Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu,
Trang 24thể thay thế được Trên 40% số lao động trên thế giới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế
Đối với tỉnh Hà Nam để phát triển ngành nông nghiệp phải kể đến vai trò quan trọng của hệ thống các công trình thủy lợi Quả là không sai nếu nói “ Hệ thống công trình thủy lợi chính là xương sống của nền kinh tế nông nghiệp” Người dân Hà Nam nhiều năm qua sinh sống, trồng trọt canh tác và phát triển dựa vào hệ thống sông ngòi, kênh, rạch Nhờ có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch, các trạm bơm dẫn nước cũng như hệ thống các hồ đập, đê kè lớn nhỏ mà người nông dân có thể trữ nước, dẫn nước vào đồng bất chấp đặc điểm địa hình phức tạp của tỉnh Dần dần làm chủ được thiên nhiên, tăng năng suất lao động, giảm thiểu đáng kể những thiệt hại do thiên tai lũ lụt gây ra
Coi trọng phát triển hệ thống công trình thuỷ lợi trong tỉnh , phục vụ cho chuyển đổi
cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực trước sức ép gia tăng dân số, biến động bất lợi của thời tiết và bất ổn định của thế giới, đồng thời phải giải quyết nguồn nước cho sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản, dịch vụ du lịch, duy trì và cải thiện môi trường sinh thái, khai thác thủy năng là việc làm hết sức cần thiết để phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế của tỉnh Hà Nam nói chung
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 tác giả dã khái quát một cách hệ thống tình hình hoạt động đầu tư xây dựng cũng như phân tích đánh giá tổng quan về hiệu quả đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi của tỉnh Hà Nam trong thời gian vừa qua Nhìn nhận được tầm quan trọng của các công trình thủy lợi đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung Đây chính là tiền đề để tác giả lựa chọn phương pháp tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư ,đánh giá và tìm hiểu về các nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đầu tư xây dựng công trình thủy lợi của tỉnh một cách sâu sắc và cụ thể hơn trong chương 2
Trang 26C hương II: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU
TƯ
2.1 Các nhân tố cơ bản để đánh giá hiệu quả đầu tư
Hiệu quả do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của
xã hội, của cộng đồng
Việc đánh giá hiệu quả dự án đầu tư thường theo 02 phương pháp:
2.1.1 Đánh giá hiệu quả theo phương pháp định tính
Là phương pháp mang tính chất ước lượng, được sử dụng để đánh giá các chỉ tiêu có tính chất xã hội Phân tích định tính chủ yếu dựa trên các cơ sở lý luận khoa họa đã được đúc kết qua kinh nghiệm thực tiễn và được bổ sung bằng các dự báo trong tương lai để giải quyết vấn đề Phương pháp định tính đóng vai trò quan trọng, giúp xác định khuôn khổ tổng thể của một dự án, góp phần lựa chọn phương án có hiệu quả mà chưa cần đi vào phân tích định lượng tốn kém Tuy nhiên, phân tích định tính có nhược điểm là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn phương án vẫn chưa được đảm bảo, nên trong thực tế vấn chưa thể tiến hành thực hiện dự án được Cần hoàn thiện và bổ sung bằng phương pháp phân tích định lượng
2.1.2 Đánh giá hiệu quả theo phương pháp định lượng
Là phương pháp khoa học dựa trên các phép tính toán để nghiên cứu việc tạo ra các quyết định trong quản lý Phương pháp định lượng bao gồm các ứng dụng của thống
kê, toán học, mô hình tối ưu, mô hình mô phỏng,… để giải quyết các bài toán ra quyết định Phương pháp định lượng hiện nay gồm các phương pháp chính sau: phương pháp dùng một số vài chỉ tiêu tài chính, kinh tế tổng hợp kết hợp với một hệ chỉ tiêu bổ sung; phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo để xếp hạng phương án; phương pháp giá trị - giá trị sử dụng; phương pháp toán quy hoạch tối ưu
Trang 27Trên thực tế, luôn luôn phải kết hợp hai phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng để đánh giá hiệu quả và lựa chọn dự án Ta có một số chỉ tiêu để đánh gái hiệu quả đầu tư bằng phương pháp định lượng như sau:
2.1.2.1 Chỉ tiêu thu nhập thuần của dự án (NPV)
NPV (Net present value) được dịch là Giá trị hiện tại ròng, có nghĩa là giá trị tại thời điểm hiện nay của toàn bộ dòng tiền dự án trong tương lai được chiết khấu về hiện tại: NPV = giá trị hiện tại của dòng tiền vào (thu) - giá trị hiện tại của dòng tiền ra (chi) Nếu NPV dương thì dự án đáng giá Tại sao lại đáng giá, bởi suất chiết khấu đã là chi phí cơ hội của dự án, vì vậy, nếu đã khấu trừ chi phí cơ hội mà vẫn có lời thì dự án có lợi tức kinh tế Cho nên, khi đánh giá dự án bằng NPV cần quan tâm đến giá trị của suất chiết khấu (thường bằng với lãi suất của cơ hội đầu tư tốt nhất nhà đầu tư đặt được nếu không đầu tư vào dự án đang được đánh giá Các yếu tố ảnh hưởng tới suất chiết khấu này được phân tích kỹ trong phần sau của bài viết này) và xem NPV có dương hay không Nếu như NPV dương có nghĩa là khoản đầu tư có lời bởi giá trị của dòng tiền mặt sau khi khấu hao đã cao hơn mức đầu tư ban đầu
Thông thường NPV không chỉ được coi là chỉ số mà còn được xem là phương pháp tốt nhất để đánh giá khả năng sinh lời của phương án hay dự án vì ý nghĩa nôm na của nó cho biết mức lãi ròng của dự án sau khi đã thu hồi vốn đầu tư ban đầu và trang trải tất
cả chi phí (bao gồm cả lạm phát)
Tuy nhiên phương pháp NPV này có nhược điểm là đòi hỏi tính toán chính xác chi phí
mà điều này thường khó thực hiện đối với các dự án có đời sống dài Vì thế trong thực tiễn người ta phát triển chi phí vốn thành tỉ suất chiết khấu hay còn gọi là tỉ suất sinh lợi tối thiểu chấp nhận được - tỷ suất rào (thường do nhà đầu tư kỳ vọng trên cơ sở cân nhắc tính toán đến các yếu tố tác động vào dự án đầu tư) Một nhược điểm khác nữa của NPV đó là không cho biết khả năng sinh lợi tính theo tỉ lệ % do đó ảnh hưởng đến việc khó chọn lựa cơ hội đầu tư
Trang 282.1.2.2 Hệ số hoàn vốn nội hoàn (IRR)
IRR (internal rate of return) suất thu lợi nội tại Có nghĩa là suất sinh lợi của chính bản thân dự án, IRR là nghiệm của phương trình NPV=0 Nói cách khác muốn tìm IRR chỉ cần giải phương trình NPV(IRR) =0 Đây là phương trình bậc cao, nếu có sự đổi dấu
sẽ có nhiều nghiệm Còn nếu không thì chỉ có 1 nghiệm
IRR có thể tính bằng cách nội suy chặn trên chặn dưới, tuy nhiên, nhờ ứng dụng của Excel, việc tính IRR trở nên dễ dàng Điều quan trọng là hiểu ý nghĩa của IRR Nếu giá trị này lớn hơn giá trị suất chiết khấu (chi phí cơ hội) thì dự án đáng giá
Hiểu một cách chung nhất, tỉ lệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì khả năng thực thi dự án
là càng cao IRR còn được sử dụng để đo lường, sắp xếp các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó có thể dễ dàng hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án nào Nói cách khác, IRR là tốc độ tăng trưởng mà một dự án có thể tạo ra được Nếu giả định rằng tất cả các yếu tố khác của các dự án là như nhau thì dự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiên thực hiện đầu tiên
Phương pháp IRR có ưu điểm là dễ tính toán vì không phụ thuộc chi phí vốn, rất thuận tiện cho việc so sánh cơ hội đầu tư vì cho biết khả năng sinh lời dưới dạng % Ý nghĩa cốt lõi của IRR là cho nhà đầu tư biết được chi phí sử dụng vốn cao nhất có thể chấp nhận được Nếu vượt quá thì kém hiệu quả sử dụng vốn Nhược điểm của IRR là không được tính toán trên cơ sở chi phí sử dụng vốn do đó sẽ có thể dẫn tới nhận định sai về khả năng sinh lời của dự án Nhà đầu tư sẽ không biết được mình có bao nhiêu tiền trong tay
Tỷ suất thu nhập nội bộ (IRR) là một công cụ nữa mà các nhà đầu tư có thể sử dụng để quyết định có nên tập trung toàn lực cho một dự án cụ thể, hay phân loại tính hấp dẫn của nhiều dự án khác nhau
IRR cũng có thể được so sánh với tỉ suất hoàn vốn trên thị trường chứng khoán Nếu một công ty không thấy dự án nào có IRR tốt hơn mức lợi nhuận có khả năng tạo ra trên thị trường tài chính, công ty đó có thể đơn giản là đầu tư tiền của mình vào thị
Trang 29n t t t
n t t t
B/C có ưu điểm nổi bật là cho biết hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra Nhưng nó cũng
có hạn chế là phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu lựa chọn để tính toán Hơn nữa đây là chỉ tiêu đánh giá tương đối nên dễ dẫn đến sai lầm khi lựa chọn các dự án loại bỏ nhau, có thể bỏ qua dự án có NPV lớn (vì thông thường phương án có NPV lớn thì có B/C nhỏ) Chính vì vậy khi sử dụng chỉ tiêu B/C phải kết hợp với chỉ tiêu NPV và các chỉ tiêu
khác nữa Mặt khác B/C lớn hay nhỏ còn tuỳ thuộc vào quan niệm về lợi ích và chi phí của người đánh giá Cho nên khi sử dụng chỉ tiêu B/C để lựa chọn dự án phải biết rõ quan niệm của người đánh giá về lợi ích và chi phí tài chính
2.1.3 Những phương pháp đánh giá khác
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: điều tra bổ sung các thông tin về đầu tư các
dự án thủy lợi vừa và nhỏ trên cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Hà Nam nói riêng
- Phương pháp thống kê: thống kê các công trình thủy lợi vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh
Hà Nam: các thông số thiết kế công trình, nguồn vốn đầu tư, hiệu quả khai thác công trình; (các số liệu được lấy từ Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Nam)
- Phương pháp hệ thống hóa: Hệ thống hóa các công trình thủy lợi vừa và nhỏ một cách khoa học và logic, nhằm xác định các tồn tại từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trên cơ sở có sự phân tích, tính toán
Trang 30- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh: So sánh phân tích tổng hợp dể lựa chọn đề xuất giải pháp tối ưu trong đầu tư các dự án thủy lợi Qua đó đối chiếu vớ hệ thống văn bản pháp quy và một số phương pháp kết hợp khác
- Phương pháp chuyên gia: là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia
về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng
cố các luận cứ… Phương pháp chuyên gia là phương pháp có ý nghĩa kinh tế, nó tiết kiệm về thời gian, sức lực, tài chính để triển khai nghiên cứu Tuy nhiên nó chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm hay kinh nghiệm của chuyên gia, vì vậy chỉ nên sử dụng khi các phương pháp không có điều kiện thực hiện, không thể thực hiện được hoặc có thể
sử dụng đối với phương pháp khác
Để sử dụng có hiệu quả phương pháp chuyên gia, người nghiên cứu cần chú ý:
+ Lựa chọn đúng chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu, trung thực, khách quan trong nhận định, đánh giá
+ Lựa chọn những vấn đề cần tham vấn với những mục đích cụ thể để sử dụng chuyên gia phù hợp
- Phương pháp thu thập và kế thừa nghiên cứu đã có [8]
2.2 Phương pháp chọn, đánh giá hiệu quả đầu tư của một dự án
Mục đích của việc đánh giá kinh tế là để đảm bảo vốn đầu tư của nhà nước vào dự án phải có hiệu quả cao Phân tích kinh tế dự án là một công cụ để so sánh chi phí và lợi ích của dự án được lựa chọn với các phương án khác Điều đó rất quan trọng trong việc khẳng định những chi phí và lợi ích của dự án mang lại Sự tồn tại kinh tế của các
dự án có thể được thiết lập thông qua tính toán hệ số nội hoàn EIRR Theo ADB, thì giá trị của hệ số EIRR khoảng 15% cho các tiểu dự án
Trang 31Khi đánh giá kinh tế các dự án thủy lợi thường gặp các trường hợp sau: Đánh giá kinh
tế các dự án tưới tiêu; Đánh giá kinh tế các dự án thủy điện; Đánh giá kinh tế các dự án
phòng lũ; Đánh giá kinh tế các dự án cấp nước công cộng
Để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế - tài chính của một dự án đầu tư xây dựng nói chung có rất nhiều phương pháp như: Phương pháp dùng một vài chỉ tiêu tài chính kinh tế tổng hợp; Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo; Phương pháp phân tích giá trị và giá trị sử dụng; Phương pháp sử dụng công cụ toán học để tính toán
so sánh kinh tế các phương án; Phương pháp phân tích chi phí lợi ích
Trong khuôn khổ bài luận này đối với các dự án công trình thủy lợi tác giả tập trung
tìm hiểu phương pháp ‘‘ Phân tích chi phí - lợi ích“ đi sâu vào các nhóm cơ bản
như:
+ Nhóm ‘‘ Giá trị tương đương‘‘ bằng phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi: quy đổi tương đương toàn bộ chuỗi dòng tiền tệ của dự án (chi phí và lợi ích) trong suốt thời kỳ phân tích thành giá trị hiện tại của hệ số thu chi hay còn gọi là thu nhập ròng hiện tại (NPV)
+ Nhóm ‘‘ Suất thu lợi nội tại“ : Người ta gọi mức lãi suất làm cho giá trị tương đương của phương án bằng không là suất thu lợi nội tại (IRR) của phương án Đây là một độ đo hiệu quả hay được dùng nhất hiện nay
+ Nhóm ‘‘tỷ số lợi ích – chi phí (B/C)‘‘: Đó là tỷ số giữa giá trị tương đương lợi ích và giá trị tương đương của chi phí
2.2.1.Các bước đánh giá phân tích hiệu quả kinh tế - tài chính của dự án đầu tư
Việc đánh giá phân tích đánh giá dự án thường được tiến hành trong bước báo cáo đầu
tư và lập dự án đầu tư
Đối với các dự án nhóm A và đặc biệt quan trọng thì phải lập báo cáo đầu tư đánh giá kinh tế - tài chính Ở bước này cũng đơn giản vì các thông số còn thiếu nhiều và chưa
có độ tin cậy cao
Trang 32Hầu hết các dự án nhóm B đều phải thông qua việc đánh giá phân tích tài chính, kinh
tế dự án trong bước lập dự án đầu tư Đây là việc làm quan trọng và hết sức cần thiết
vì thông qua việc này sẽ biết được dự án có hiệu quả hay không, làm cơ sở vững chắc cho việc quyết định đầu tư
Khi đánh giá phân tích kinh tế tài chính các dự án đầu tư phải thông qua các bước sau đây:
a) Đề xuất phương án:
Để đánh giá tài chính, kinh tế dự án đầu tư các nhà thiết kế cần đưa ra từ 3 đến 4 phương án khác nhau để so sánh và lựa chọn Tùy từng trường hợp cụ thể, các phương
án có thể có nhiều dạng khác nhau như: tuyến xây dựng; Cao độ đặt công trình; Quy
mô vốn đầu tư; Nguồn vốn đầu tư; Phương thức trả nợ vốn vay; Dây chuyền công nghệ sản xuất, công suất trình độ hiện đại Các dự án tưới có thể khác nhau về hình thức đầu tư (tưới tự chảy, tưới bằng động lực) Các dự án tưới tiêu có thể giống nhau
về hình thức đầu tư nhưng lại khác nhau về phương án canh tác (có thể canh tác trồng lúa, hay cây công nghiệp hoặc màu ) vv
b) Xác định thời kỳ tính toán ( thời kỳ phân tích) của dự án :
Thời kỳ tính toán (thời kỳ phân tích) của dự án là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá, phân tích kinh tế dự án Việc chọn thời kỳ phân tích các phương án phải đảm bảo tính so sánh được của các dự án Nếu các phương án có các thời kỳ tính toán khác nhau phải tìm cách đưa chúng về giống nhau
c) Ước lượng dòng tiền tệ cho từng phương án:
Để đánh giá kinh tế tài chính một dự án xây dựng nói chung và dự án xây dựng công trình thủy lợi nói riêng cần xác định được dòng tiền tệ bao gồm hai phần chính: thu nhập và chi phí
Phần thu nhập chủ yếu hàng năm bao gồm doanh thu hàng năm, giá trị thu hồi khi đào thải tài sản cố định trung gian và cuối cùng, khoản thu hồi vốn lưu động ở cuối đời dự
Trang 33Các khoản chi phí dự án bao gồm vốn đầu tư (kể cả vốn lưu động), giá thành sản phẩm, chi phí vận hành, chi phí khấu hao, các khoản tiền phải trả nợ theo các năm, các khoản thuế
d) Xác định giá trị theo thời gian của dòng tiền tệ:
Tùy trường hợp cụ thể chúng ta sẽ xác định giá trị của dòng tiền tệ ở thời điểm hiện tại hay ở tương lai Trong bước này phải chú ý chọn lãi suất chiết khấu chính xác vì nếu không sẽ cho ta kết quả ngược lại
e) Lựa chọn chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá tài chính, kinh tế của dự án:
Trước hết cần phải xác định giá trị tối thiểu cần thiết để đạt được mục tiêu của dự án
để làm cơ sở lựa chọn các dự án Trị số này là mốc chuẩn để so sánh lựa chọn các phương án
Việc chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phụ thuộc vào từng dự án đầu tư, phụ thuộc vào người sử dụng Có thể dùng hệ chỉ tiêu tĩnh, hoặc chỉ tiêu động (ví dụ như IRR hay NPV)
f) Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả, lựa chọn phương án chấp nhận được và phương án hợp lý nhất:
Sau khi tính toán các chỉ tiêu này, so sánh với mốc chuẩn đã chọn ở trên sẽ xác định được phương án nào không chấp nhận được (là phương án đạt mức dưới mốc đó) Những phương án đó bị loại ra khỏi quá trình so sánh phương án
Trong các phương án chấp nhận được sẽ chọn phương án hợp lý nhất Đó là phương
án đạt tiêu chuẩn cực đại (cực tiểu) của mốc tiêu chuẩn ở trên
g) Phân tích độ nhạy, rủi ro và độ an toàn của dự án
Trong bước này cần phải xác định sự biến động của các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến dự án như tăng chi phí đầu vào, giảm sản lượng, giảm giá đầu ra của dự án tức là phân tích độ nhạy của dự án Sau đó cần xét các yếu tố gây ra rủi ro cho dự
Trang 34của nguồn vốn để thực hiện dự án bao gồm xuất xứ nguồn vốn, lãi vay, thời gian và khả năng của dự án có thể trả nợ
* Trường hợp dòng tiền không đều theo thời gian tính toán
B C r
=
−+
∑ (2.1a) Trong đó:
Bt: khoản thu của dự án ở năm t, thường bao gồm: doanh thu bán hàng, giá trị thu hồi khi thanh lý tài sản và thu hồi vốn lưu động
Ct: Các khoản chi phí của dự án ở năm t, bao gồm: Các khoản chi phí đầu tư, chi phí sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm trong các năm vận hành (không có chi phí khấu hao, tiền trả lãi vay vốn) và khoản thuế phải nộp trong năm vận hành khai thác
r: Lãi suất tối thiểu chấp nhận được
n: tuổi thọ của dự án
Theo công thức , khi NPV=0 thì sau n năm tuổi thọ dự án chỉ thu hồi vốn đầu tư (thông qua lợi nhuận và khấu hao), ngoài ra, có thể dự án còn đem lại hiệu quả xã hội
Trang 35như tạo việc làm cho người lao động, đóng góp cho nhà nước thông qua các loại thuế phải nộp
Trường hợp vốn đầu tư bỏ ra một lần vào năm t=0 và có kể đến giá trị thu hồi vốn lưu động, thu hồi thanh lý tài sản cố định ở cuối đời dự án thì công thức NPV trên có thể thay bằng:
Vận dụng để phân tích đánh giá dự án:
+ Đánh gía dự án độc lập
- Nếu NPV < 0: dự án không đáng giá, khôn nên đầu tư vào dự án đang xét;
- Nếu NPV ≥ 0: dự án đáng giá, nên đầu tư vào dự án đang xét;
+ Trường hợp so sánh lựa chọn phương án tốt nhất (so sánh phương án loại trừ nhau)
- Nếu đó là phương án thuộc loại xung khắc thì phương án được lựa chọn phải có NPVchọn≥ 0; NPVchọn = max; E→ Min; (E: giá trị rủi ro)
Để đảm bảo tính toán trị số NPV và việc so sánh chính xác phải chú ý:
Trang 36- Tuổi thọ của dự án phải như nhau:
Trong trường hợp khi tuổi thọ của các phương án là khác nhau, ta phải sử dụng thêm chỉ tiêu hiệu số thu chi san đều hàng năm (NAV)
* Ưu nhược điểm của phương pháp:
- Ưu điểm: Tính đến các trạng thái thay đổi bất kỳ của dòng tiền trong dự án theo thời gian; tính toán cho cả vòng đời dự án; có tính đến giá trị của tiền theo thời gian; có xét đến các yếu tố trượt giá, lạm phát, thay đổi tỷ giá hối đoái
- Nhược điểm: Chỉ phù hợp với điều kiện của thị trường vốn hoàn hỏa, một thị trường rất khó xảy ra trong thực tế; rất khó xác định được chính xác các số liệu xuất phát dùng trong tính toán cho các năm tương lai, nhất là khi tuổi thọ của dự án là dài; kết quả tính toán phụ thuộc vào trị số r [9]
2.2.3 Phân tích đánh giá dự án theo suất thu lợi nội tại (IRR)
Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR là một loại suất thu lợi tối thiểu đặc biệt r ở trong các công thức tính toán chỉ tiêu NPV sao cho NPV = 0, tức là được tìm ra từ việc giải các phương trình:
NPV =
0(1 ) (1 ) (1 )
Trang 37Tính đáng giá của phương án:
Một phương án được gọi là đáng giá khi IRR thoả mãn điều kiện:
+ Khi so sánh các phương án theo chỉ tiêu IRR thì xảy ra các trường hợp sau:
- Trường hợp 1: Khi hai phương án có vốn đầu tư như nhau thì phương án nào có chỉ tiêu IRR lớn nhất là tốt nhất
- Trường hợp 2: Khi hai phương án có vốn đầu tư khác nhau thì phải lựa chọn phương
án theo hiệu quả gia số đầu tư
Ở đây có hai trường hợp xảy ra
Nếu hiệu quả của gia số đầu tư thông qua chỉ tiêu IR ( )R ∆ ≥r thì ta chọn phương án có vốn đầu tư lớn hơn
Nếu IR ( )R ∆ ≤r thì chọn phương án có vốn đầu tư bé
Trang 38dòng tiền tệ là hiệu số giữa phương án có vốn đầu tư lớn hơn và dòng tiền tệ có vốn đầu tư bé hơn [9]
2.2.4 Phân tích dự án theo tỷ số lợi ích – chi phí (B/C)
Điều kiện đáng giá của phương án:
0
0
(1 )
1(1 )
n t t t
n t t t
Để lựa chọn phương án theo chỉ tiêu B/C cần có các điều kiện sau:
- Các phương án so sánh phải có cùng một thời gian tính toán hoặc qui về cùng một
thời gian tính toán
- Khi hai phương án máy có vốn đầu tư bằng nhau thì phương án nào có chỉ tiêu B/C lớn nhất là tốt nhất
- Khi hai phương án có vốn đầu tư khác nhau thì phải so sánh theo chỉ tiêu hiệu quả của gia số đầu tư B/C (∆): Chỉ so sánh phương án có vốn đầu tư lớn hơn so với phương án có vốn đầu tư bé hơn khi phương án có vốn đầu tư bé hơn là đáng giá (B/C
Trang 39Chỉ tiêu tỷ số B/C có các ưu điểm tương tự như chỉ tiêu NPV, nhưng ít được sử dụng hơn, vì đây không phải là chỉ tiêu xuất phát để tính các chỉ tiêu khác, chỉ là chỉ tiêu cho điều kiện cần và không phải là chỉ tiêu để chọn phương án [9]
2.3 Các nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả dự án
2.3.1 Các nhân tố khách quan
2.3.1.1.Điều kiện tự nhiên
Xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà cho phép khai thác các kiến trúc phù hợp với điều kiện thực tế Trong quá trình xây dựng
và triển khai các dự án đầu tư không thể không chú trọng đến các điều kiện tự nhiên nơi mà các dự án đi vào hoạt động vì trên thực tế các dự án đầu tư tại đây đều chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Nếu các điều kiện tự nhiên ở tại dự án không thuận lợi thì sẽ ảnh hưởng tới tiến độ thị công của dự án, điều đó có thể gây ra rủi ro cho khả năng thu hồi vốn Ngược lại, nếu các điều kiện thuận lợi thì khả năng thu hồi vốn đầu
tư là rất lớn
2.3.1.2.Tiến bộ khoa học kỹ thuật
Các hoạt động đầu tư phải đi theo trào lưu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
Do đó sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có thể tạo ra nhiều thuận lợi cho quá trình thực hiện và vận hành dự án nhưng cũng có thể gây ra những rủi ro cho dự án chẳng hạn như: nếu đối thủ của doanh nghiệp tiếp cận với tiến bộ khoa học trước thì họ có khả năng cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm từ đó đưa đến những rủi ro cho dự
án về mặt giá cả hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm
2.3.1.3.Kinh tế xã hội
Nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng tới dự án bao gồm: khả năng tăng trưởng GDP-GNP trong khu vực thực hiện dự án, tình trạng lạm phát, tiền lương bình quân, tỷ giá hối đoái, những lợi thế so sánh của khu vực so với những nơi khác Sự thay đổi của một trong những nhân tố này dù ít hay nhiều cũng tác động đến dự án Do đó trước lúc đầu
Trang 40Qua việc xem xét, đánh giá các yếu tố trên ta mới sơ bộ nhận định được hiệu quả kinh
tế cũng như các yếu tố xảy ra các rủi ro để đưa ra giải pháp phòng ngừa
2.3.1.4.Chính sách của Nhà nước
Chiến lược đầu tư có sự chi phối từ các yếu tố về chính trị và chính sách của Nhà nước Bởi vậy, trong suốt quá trình hoạt động đầu tư phải bám sát theo những chủ trương và sự hướng dẫn của Nhà nước: Cần chú trọng đến các mối quan hệ quốc tế đặc biệt là các nhân tố sự hội nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ, các chủ trương chính sách của Nhà nước về thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa Xem đó
là những nhân tố quyết định tới chiến lược đầu tư dài hạn của chủ đầu tư
2.3.1.5.Văn hóa xã hội
Khía cạnh văn hóa xã hội từ lâu có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công cuộc đầu tư: chẳng hạn như khi dự án được triển khai và đi vào hoạt động thì nó phải được xem xét là có phù hợp với phong tục tập quán văn hóa nơi đó hay không, các điều lệ
và quy định xã hội có chấp nhận nó hay không Đây là một yếu tố khá quan trọng, ảnh hưởng đến nhiều và lâu dài đối với dự án Do đó cần phân tích một cách kỹ lưỡng trước khi đầu tư để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư
2.3.2.Các nhân tố chủ quan
2.3.2.1.Khả năng huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
Vốn là yếu tố vật chất quan trọng trong các yếu tố tác động đén tăng trưởng Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất, muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP theo dự kiến thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn và các yếu tố khác Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một hàng hóa đặc biệt, mà đã là hàng hóa thì tất yếu phải vận động theo một quy luật chung là lượng cầu vốn thường lớn hơn lượng cung vốn Do đó muốn khai thác tốt các nhân tố cung về vốn để thỏa mãn về vốn trong nền kinh tế Huy động được nhưng cần xây dựng các phương án sử dụng vốn đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí