Điều 20, Luật thể dục, thể thao đãnêu: “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cungcấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập vàtrò c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
**************
VŨ THỊ QUỲNH ANH
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CHU VĂN AN - CHÍ LINH – HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Giáo dục Thể chất
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Đông Đức
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Vũ Thị Quỳnh Anh
Trang 3Cao đẳngPhổ thôngĐối chứngGiáo dục thể chất Giáo dục và đào tạoThể dục thể thaoTiêu chuẩn rèn luyện thân thểThể thao
Thực nghiệmKhối 6
Khối 7Khối 8Khối 9 Học sinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC và hoạt động thể thao trường học 8
1.2 Một số chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Thể dục thể thao và Giáo dục thể chất 16 1.3 Cơ sở lý luận về lựa chọn các môn thể thao tự chọn trong chương trình tự chọn môn Thể dục 24
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý và giải phẫu của học sinh THCS 29
1.4.1 Đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở 29
1.4.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu của học sinh trung học cơ sở 32
1.5 Những nghiên cứu có liên quan 35
Kết luận chương 1 37
Chương 2 TÌM HIỂU THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA TRƯỜNG THCS CHU VĂN AN - CHÍ LINH - HẢI DƯƠNG 38
2.1 Giới thiệu về Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 38
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất ở Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 39
2.2.1 Đội ngũ giáo viên 39
2.2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất 40
2.3 Thực trạng dạy học môn Thể dục ở Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 41
2.3.1 Thực trạng về chương trình môn Thể dục tại Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 41
Trang 52.3.2 Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy môn Thể dục của Trường THCS Chu Văn
An - Chí Linh - Hải Dương 42
2.3.3 Thực trạng việc học tập môn học Thể dục của học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 44
2.3.3.1 Trình độ thể lực của học sinh 44
2.3.3.2 Kết quả học tập của môn Thể dục 45
Kết luận chương 2 47
Chương 3 LỰA CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CHU VĂN AN- CHÍ LINH – HẢI DƯƠNG 48
3.1 Lựa chọn môn thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 48
3.1.1 Cơ sở lí luận lựa chọn môn thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 48
3.1.2 Cơ sở thực tiễn lựa chọn môn thể thao tự chọn 53
3.2 Xây dựng và đánh giá chương trình môn thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 57
3.2.1 Xây dựng chương trình phần thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 57
3.2.2 Hình thức thực hiện chương trình 59
3.2.3 Hướng dẫn thực hiện chương trình 59
3.3 Đánh giá hiệu quả các môn thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 60
3.3.1 Đánh giá thông qua chuyên gia 60
3.3.2 Đánh giá thông qua thực nghiệm sư phạm 61
3.3.3 Đánh giá của giáo viên giảng dạy và học sinh về chương trình TTTC mới xây dựng 67 Kết luận chương 3 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên Thể dục của Trường THCS Chu Văn An- Chí Linh- Hải Dương 39 Bảng 2.2 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ học tập của Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 40 Bảng 2.3 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên về thực trạng chương trình GDTC (n = 20) 42 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá của HS về chương trình môn Thể dục của Trường
THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương(n= 200) 43 Bảng 2.5 Trình độ thể lực của học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương năm học 2015 – 2016 45 Bảng 2.6 Kết quả học tập môn Thể dục trong năm học 2015 – 2016 của HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 45 Bảng 2.7 Kết quả phỏng luyện ngoại khóa của học sinh Trường THCS Chu Văn
An - Chí Linh - Hải Dương 46 Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn GV, HS về sự cần thiết khi lựa chọn môn thể thao trong chương trình tự chọn của HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương 54 Bảng 3.2 Ý kiến của HS về việc lựa chọn các môn thể thao tự chọn (n=200) 55 Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn giáo viên Tổ Thể dục về việc lựa chọn môn thể thao
tự chọn (n=3) 56 Bảng 3.4 Kết quả đánh giá của chuyên gia về chương trình 60 Bảng 3.5 Kết quả học tập môn TTTC của học sinh 2 nhóm trước thực nghiệm 62 Bảng 3.6 Kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 2 nhóm trước thực nghiệm 63 Bảng 3.7 Trình độ thể lực của học sinh 2 nhóm trước thực nghiệm 63 Bảng 3.8 Kết quả học tập môn TTTC của học sinh 2 nhóm sau thực nghiệm 64 Bảng 3.9 Kết quả học tập môn Thể dục của học sinh 2 nhóm sau thực nghiệm 64
Trang 7Bảng 3.10 Trình độ thể lực của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 65 Bảng 3.11 So sánh mức độ tăng trưởng thể lực của học sinh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 66 Bảng 3.12 Đánh giá của giáo viên về chương trình TTTC mới (n = 3) 67 Bảng 3.13 Đánh giá của học sinh về chương trình TTTC mới (n= 68) 68
Trang 8GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và hoàn thiện về thể chất
và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của người tập.GDTC nhằm hình thành và phát triển các tố chất thể lực như sức nhanh, sứcmạnh sức bền vv… Trang bị cho người tập những kỹ năng kỹ sảo và hệ thốngtri thức chuyên môn Ngoài ra nó có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiệnnăng lực vận động của con người
Tuy nhiên trong những năm vừa qua lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫncòn nhiều hạn chế và yếu kém Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định cần phải cónhững đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng,đào tạo ra đội ngũ tri thức, lao động đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trongtình hình mới Nghị quyết Đại hội cũng đã nêu rõ, một trong 5 nhiệm vụ đểphát triển đất nước là “phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo,chất lượng nguồn nhân lực” Quan điểm đó đã được thể hiện cụ thể trongNghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về “Đổi mới cơ bản và toàn diệngiáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010” và hiện nay là Nghị quyết
số 29 NQ/TW ngày 4/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Điều đó chothấy, giáo dục đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triểncủa mỗi quốc gia, trong đó GDTC là một bộ phận không thể thiếu
Trang 9GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm vớiđầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm GDTC chiathành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) vàgiáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng củaGDTC được gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục laođộng nhằm phát triển toàn diện con người Điều 20, Luật thể dục, thể thao đãnêu: “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cungcấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập vàtrò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện; Hoạt độngthể thao trong Nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chứctheo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sứckhoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, pháttriển năng khiếu thể thao” cho HS những chủ nhân tương lai của đất nước.
GDTC là một môn học bắt buộc, trong đó chứa đựng rất nhiều yếu tố
về nội dung, hình thức, phương pháp và yêu cầu kiểm tra, đánh giá phụ thuộcvào năng lực, sở thích cũng như thực trạng cơ sở vật chất, đối tượng dạy vàhọc,… Xu thế quá trình dạy học hiện nay là phải tích cực hóa hoạt động họctập của HS Vì vậy nắm bắt nhu cầu của HS là một vấn đề vô cùng quantrọng, nó tạo điều kiện cho việc thiết kế nội dung chương trình, tổ chức vàđịnh hướng đổi mới phương pháp và phát triển năng lực vận động của HSthông qua nội dung các môn thể dục Do đó việc tìm hiểu nhu cầu về nộidung, hình thức, phương pháp, tổ chức tập luyện, và kiểm tra đánh giá,…trong dạy và học môn Thể dục là hết sức cần thiết
Công tác GDTC trong những năm qua tại các trường học đã và đanggiữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho thế hệtrẻ Môn Thể dục đã tạo ra được sức hút rất lớn trong phong trào rèn luyệnthân thể của HS Song, do đặc thù của môn học và mỗi trường lại có nhữngđiều kiện khác nhau, vì vậy việc áp dụng chung theo một khung chương trình
Trang 10cứng nhắc là chưa phù hợp Trên thực tế ở nhiều trường Phổ thông hiện naytrên cả nước vẫn còn có việc HS coi môn Thể dục như là một gánh nặng,nhiều HS thấy sợ học môn Thể dục Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân,trong đó có một nguyên nhân cơ bản mang tính chủ quan là chúng ta chưa lựachọn được các môn thể thao cho chương trình môn học đặc biệt là phầnchương trình tự chọn đáp ứng được nhu cầu của người học theo sở thích vànăng lực; phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và đặc thù của từng trường,nhằm phát huy tối đa hiệu quả môn học trong quá trình giảng dạy.
Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương đã quan tâm đếncông tác GDTC nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện cho HS Do đó,công tác GDTC cũng như hoạt động TDTT trong Nhà trường đã tới việc pháttriển thể chất cho HS sao cho phù hợp với sở thích, giới tính và năng lực cánhân
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về lựa chọn các mônthể thao cũng như đổi mới chương trình môn Thể dục cho HS các trường phổthông nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về lựa chọn các môn thể thao chochương trình phần tự chọn môn Thể dục cho học sinh Trường THCS Chu Văn
An - Chí Linh - Hải Dương
Trên cơ sở đó chúng tôi xác định nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu lựa chọn môn thể thao tự chọn cho học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương”, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả công
tác GDTC cũng như công tác đào tạo của Trường THCS Chu Văn An - ChíLinh - Hải Dương
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng công tác GDTC, đặc biệt việc thực hiệnchương trình phần tự chọn môn Thể dục của HS Nhà trường, đề tài tiến hànhlựa chọn các môn thể thao trong chương trình phần tự chọn môn Thể dục cho
Trang 11HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương, nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDTC cũng như công tác đào tạo của Nhà trường.
3 Đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Môn thể thao tự chọn trong chương trình môn thể dục phần tự chọn cho
HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương
4 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả thiết rằng các môn thể thao tự chọn trong chương trìnhphần tự chọn môn thể dục cho HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh -Hải Dương hiện tại còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với sở thích, năng lựccủa học sinh và điều kiện của Nhà trường
Nếu lựa chọn được những môn thể thao phù hợp với sở thích, năng lựccủa học sinh và điều kiện của Nhà trường, thì cao hiệu quả công tác GDTC sẽđược cải thiện hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, đề tài đề ra 2 nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu thực trạng công tác GDTC của Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương.
- Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả môn thể thao tự chọn cho Học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương.
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở lý luậncủa đề tài Các tài liệu tham khảo chủ yếu gồm có: Các chỉ thị, văn bản, nghịquyết của Đảng, Nhà nước về GDTC và TDTT Các sách liên quan tới giáodục thể chất và thể dục thể thao.Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực giáodục thể chất và thể thao trường học
7.2 Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương phápphỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi đối với các nhà chuyên gia, nhà quản lý giáodục, giáo viên GDTC và HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - HảiDương các vấn đề về nhận thức của HS, về chương trình môn thể dục đặc biệt
là phần tự chọn hiện hành, về điều kiện tập luyện…
7.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này nhằm đánh giá kết quả học tập và trình độ thể lực của
HS Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương Chúng tôi các tiêuchuẩn đánh giá kết quả học tập môn Thể dục của Nhà trường hiện hành và 4test đánh giá thể lực của HS, SV theo Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐTngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Cụ thể là các test sau:
* Lực bóp tay thuận(kg)
* Bật xa tại chỗ (cm)
* Chạy 30m xuất phát cao (s)
Trang 13Phương pháp giúp chúng tôi kiểm nghiệm hiệu quả môn thể thao tự chọn
mà đề tài mới lựa chọn Theo đó, chúng tôi tổ chức hai nhóm TN và ĐC, trongđó: Nhóm TN học môn Cầu lông và Đá cầu mà đề tài mới lựa chọn chochương trình phần tự chọn môn Thể dục Nhóm ĐC học các môn thể thao hiệntại đang giảng dạy trong chương trình phần tự chọn môn Thể dục
7.5 Phương pháp toán học thống kê.
Phương pháp này được sử dụng để thu thập và xử lý các thong tin đã thuthập được trong quá trình nghiên cứu Các tham số mà đề tài sử dụng là:
2
i
n
Trang 148 Cấu trúc luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Tìm hiểu thực trạng công tác GDTC của Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương
- Chương 3: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả môn thể thao tự chọn cho Học sinh Trường THCS Chu Văn An - Chí Linh - Hải Dương
- Kết luận và kiến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC và hoạt động thể thao trường học
Đảng ta luôn coi trọng công tác TDTT và công tác GDTC, thể hiệnngay từ khi còn hoạt động bí mật trong các chương trình cứu nước của Mặttrận Việt Minh tháng 3/1941 có đoạn: “ cần phải khuyến khích và giúp đỡnền TDTT quốc dân, làm cho nòi giống ngày thêm khoẻ mạnh ” Tại cáctrường học Khu học xá Trung ương và các vùng chiến khu du kích, TDTTcũng đã được đưa vào chương trình GDTC của nhà trường nhằm nâng cao thểchất và giáo dục toàn diện cho học sinh và sinh viên
Năm 1958 hoà bình lặp lại ở miền bắc Đảng ta đã ra Chỉ thị số 106 CT/
TW về công tác TDTT đã chỉ thị cho Ban TDTT Trung ương coi “Công tác thểdục thể thao và thể dục quốc phòng là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước,cần phải có kế hoạch tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ nhằmđẩy mạnh phong trào thể dục thể thao”, đồng thời phải có kế hoạch, hành độngnhằm phát triển phong trào TDTT trong đó vấn đề đào tạo cán bộ TDTT là rấtcấp bách: “Ban Thể dục thể thao trung ương phải có kế hoạch mở trường đàotạo cán bộ trung cấp thể dục thể thao, và phải chọn một số cán bộ và vận độngviên thể dục thể thao đi học dài hạn ở các nước anh em Các cấp uỷ Đảng vàcác đồng chí phụ trách các ngành trực thuộc trung ương (nhất là những ngành
có liên quan nhiều đến công tác thể dục thể thao) cần phải đặt nhiệm vụ lãnhđạo công tác thể dục thể thao thành nhiệm vụ thường xuyên của mình, đặtnhiệm vụ phát triển phong trào thể dục thể thao nằm trong kế hoạch công táccủa địa phương hoặc của đơn vị mình
Trang 16Chỉ thị số 181 CT/TW về công tác TDTT, Chỉ thị nêu rõ: “ Tích cựcđào tạo cán bộ TDTT, coi đó là một vấn đề cấp bách Ban TDTT Trung ươngcần mở trường trung cấp, có kế hoạch đào tạo cán bộ các loại, có kế hoạch gửicán bộ đi học nước ngoài, cần nghiên cứu ban hành một số chính sách chế độhoạt động TDTT ”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III một lần nữa khẳng định vai trò tolớn của TDTT: “ Con người là vốn quí nhất của chế độ XHCN Bảo vệ vàbồi dưỡng sức khoẻ của con người là nghĩa vụ và mục tiêu cao quí của cácngành Y tế và TDTT ” Trong báo cáo nhiệm vụ và phương hướng kế hoạchnăm năm lần thứ nhất trình bày trước Đại hội đã nêu rõ: “ Cần chú trọngđào tạo cán bộ TDTT ”
Chỉ thị số 38 CT/TW (1962) về tăng cường công tác thể thao quốcphòng, năm 1964 ra Chỉ thị số 79 CT/TW về bảo vệ sức khoẻ cán bộ
Hội nghị Trung ương 8 khoá III đã ra Nghị quyết nhấn mạnh phải đẩymạnh hoạt động Y tế và TDTT Trong Nghị quyết có đoạn: “Bắt đầu đưa việcgiảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tậpcủa các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học”
Chỉ thị số 140 CT/TW về việc bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ của cán
bộ nhân dân trước tình hình mới lại một lần nữa nhấn mạnh: “Chúng ta cầnphải phát huy những khả năng tiềm tàng của các cơ quan nhà nước, của cácđoàn thể quần chúng Kết hợp phòng ngừa, chữa bệnh và cải thiện ăn ở làmviệc, TDTT để bồi dưỡng nâng cao sức khoẻ cán bộ, nhân dân”
Chỉ thị số 180 CT/TW năm 1970về tăng cường công tác TDTT trongtình hình mới nhấn mạnh: “Cần tăng cường xây dựng và bồi dưỡng hướngdẫn viên, cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên thể thao và có chủ trương,biện pháp cải tiến công tác của các trường TDTT nhằm nâng cao chất lượngđào tạo phù hợp với nhu cầu và nhiệm vụ mới”
Trang 17Chỉ thị số 221 CT/TW năm 1975 về công tác giáo dục ở miền Nam saungày giải phóng Chỉ thị nêu rõ: “Nội dung giáo dục phổ thông phải toàn diện,bao gồm giáo dục chính trị và đạo đức cách mạng, giáo dục văn hoá khoa học,giáo dục kỹ thuật, giáo dục lao động và giáo dục thể chất” Xây dựng cáctrường sư phạm từ trung cấp đến đại học đào tạo đủ các cán bộ và giáo viênphổ thông và bổ túc văn hoá, giáo viên dạy các môn khoa học, giáo viên dạy
kỹ thuật, hướng dẫn lao động sản xuất, giáo viên thể dục
Chỉ thị số 227 CT/TW (11/1975) trong đó đặc biệt nhấn mạnh về côngtác TDTT trong tình hình mới “Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúngvới việc xây dựng lực lượng nòng cốt, bao gồm cán bộ, huấn luyện viên,trọng tài, giáo viên, hướng dẫn viên và vận động viên thể dục thể thao”, “ Ngành TDTT và các ngành khác có liên quan cần xây dựng quy hoạch bồidưỡng cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, giáo viên TDTT và xây dựng
hệ thống trường TDTT thích hợp với điều kiện nước ta”
Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) khẳng định công tác TDTT là mộtmặt cần thiết không thể thiếu trong giáo dục toàn diện hiện đại Báo cáonhấn mạnh: “Cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục,hiện đại hoá chương trình học tập khoa học và kỹ thuật, mở rộng kiến thứcquản lý kinh tế Coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và luyệntập quân sự”
Năm 1979, Trung ương Đảng ra Chỉ thị về cải cách giáo dục, một lầnnữa lại khẳng định vai trò của GDTC ở các trường học: “Ở trường phổthông trung học cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ nghệ thuật và giáo dục thểchất ”
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V tiếp tục khẳngđịnh: “ Cần tăng cường hệ thống tổ chức quản lý công tác TDTT ở cáccấp ngành, các đoàn thể Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo bồidưỡng cán bộ ”
Trang 18Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khoá VI nhấn mạnh: “Mở rộng
và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng Nâng cao chất lượngGDTC trong các trường học ”
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đại hội Đảng khoáVII năm 1991 tiếp tục khẳng định: “ Công tác TDTT cần coi trọng nâng caochất lượng GDTC trong các trường học ”
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992cũng đã ghi rõ: “ Quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trongtrường học ”
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/3/1994 Trong Chỉ thị này Ban Bí thư đãđưa ra các quan điểm chỉ đạo hết sức đúng đắn đối với công tác GDTC là: “ Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện TDTTtrở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết HSSV, thanh niên, chiến sỹ, các lựclượng vũ trang ” Ban Cán sự Đảng Bộ GD&ĐT và Ban Cán sự Đảng Tổngcục TDTT phối hợp chỉ đạo công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy,tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (RLTT); Đào tạo giáo viên cho các trường họctất cả các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế
độ GDTC bắt buộc ở các trường học
Chỉ thị số 133-TTg, ngày 07 tháng 3 năm 1995 về việc xây dựng quyhoạch phát triển ngành TDTT Trong đó nêu rõ: “Bộ GD & ĐT cần đặc biệtcoi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nộikhoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn RLTT cho học sinh ở các cấp học; cóquy chế bắt buộc các trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi,phòng tập TDTT; có định biên hợp lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũgiáo viên TDTT, đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học Bộ GD & ĐT cần cómột Thứ trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác TDTT trong trường học” [10]
Năm 2001 Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “ Cần tiếp tục đổi mới,
Trang 19tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng và hiệu quả GDTC nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”.
Bước vào thế kỷ XXI, đặc biệt là đất nước ta đã bước vào thời kỳ hòanhập quốc tế, gia nhập WTO, Nhà nước ta công bố luật Giáo dục ngày4/6/2005 Điều 22, 27, 33, 39 trong đó cũng xác định rõ mục tiêu phát triểntoàn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ Đồng thời Bộ GD&ĐT còn ra Chỉ thị số25/2004 CT/BGD&ĐT; Thông tư 25/2015, Quy định về chương trình mônhọc Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học vàQuyết định số 19 QĐ/ BGD&ĐT năm 2004 nhằm nâng cao chất lượng giáodục đào tạo nói chung và GDTC nói riêng
Năm 2011 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày01/12/2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ
về TDTT đến năm 2020 Trong Nghị quyết Bộ chính trị yêu cầu các cấp uỷđảng quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giảipháp sau:
Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phầnnâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượngnguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường vănhóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan
hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy đảng,chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân Các cấp ủy đảng
có trách nhiệm thường xuyên lãnh đạo công tác TDTT, bảo đảm cho sựnghiệp TDTT ngày càng phát triển
Đầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đấtnước Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất TDTT và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thời pháthuy các nguồn lực của xã hội để phát triển TDTT, phát huy mạnh mẽ vai tròcủa các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động TDTT
Trang 20Gìn giữ, tôn vinh những giá trị TDTT dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóacủa nhân loại, phát triển nền TDTT nước ta mang tính dân tộc, khoa học,nhân dân và văn minh.
Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnhnghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vữngchắc sự nghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinhviên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn,khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyệncủa nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngangtầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chứcthành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới
Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thaotrong trường học
Thể dục thể thao trường học là bộ phận quan trọng của phong trào thểdục, thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên,cần được quan tâm đầu tư đúng mức
Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất vàthể thao trường học” Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nộikhóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảmmục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của họcsinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao
Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dụcthể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe
và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lựcđội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố
Trang 21các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học.
Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục thể thao quần chúngNâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theogương Bác Hồ vĩ đại”,
Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu, ứng dụngkhoa học và công nghệ
Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở đào tạo cán
bộ và nghiên cứu khoa học thể dục, thể thao Tập trung xây dựng đội ngũchuyên gia đầu ngành, giáo viên thể dục, thể thao, huấn luyện viên, cán bộquản lý có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp thểdục, thể thao
Hội nghị trung ương 8 khoá XI, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghịquyết số 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đápứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế Trong đó đổi mới hình thức thi và phương pháp thi, kiểmtra đánh giá là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giải pháp:
Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giákết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bướctheo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy
và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánhgiá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của ngườihọc; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội
Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thôngtheo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy,trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinhgiáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học
Trang 22Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghềnghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đứcnghề nghiệp Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vàoviệc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo.
Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp
sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo Đánh giákết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tựcập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu vàứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức vàthích nghi với môi trường làm việc Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ
sở giáo dục đại học
Thực hiện đánh giá chất lượng GD, ĐT ở cấp độ quốc gia, địa phương,từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làmcăn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng GD, ĐT
Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Định kỳ kiểm địnhchất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khaikết quả kiểm định Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáodục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nướcngoài Xây dựng phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hìnhgiáo dục cộng đồng
Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướngchú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng vềbằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Coi sự chấpnhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánhgiá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ đểđịnh hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo
Như vậy, trong suốt chặng đường cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà
Trang 23nước ta hết sức coi trọng công tác TDTT nói chung và GDTC trong trường học các cấp nói riêng.
1.2 Một số chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Thể dục thể thao và Giáo dục thể chất.
Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 30 tháng 1năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14, thành lập Nha Thể dụcTrung ương trong Bộ Thanh niên Nha Thể dục Trung ương có nhiệm vụ là
"liên lạc mật thiết với Bộ Y tế và Bộ Giáo dục để nghiên cứu phương pháp vàthực hành thể dục trong toàn quốc" Để tăng cường và mở rộng các hoạt độngTDTT và trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký tiếp Sắc lệnh số 33 ngày 27/3/1946 thành lập Nha Thanhniên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục - đặc biệt ngay sau đó, Người đãviết Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục "Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục" củaNgười như ánh dương tỏa chiếu, định hướng cho sự hình thành và phát triểnnền TDTT mới của nước Việt Nam mới Lời kêu gọi do Bác tự tay viết vớivăn phong bình dị, rõ ràng, ai cũng có thể hiểu được Người viết: "Giữ gìndân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần có sức khỏemới làm thành công Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớtmột phần; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnhkhỏe Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi mộtngười dân yêu nước Việc đó không tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ aicũng nên làm và ai cũng làm được Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thểdục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ Như vậy làsức khỏe Dân cường thì nước thịnh Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tậpthể dục Tự tôi ngày nào cũng tập"
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1959) đến Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980) và (1992) đều có những
Trang 24điều khoản ghi về TDTT Điều 35 Hiến pháp (1959) ghi: “ Nhà nước chútrọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục” Hiếnpháp năm 1980 có 2 điều 48 và 66 đã xác nhận rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ củanền TDTT Việt Nam về phát triển con người toàn diện Trong điều kiệnchuyển đổi từ kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Hiến pháp sửa đổi năm 1992 có 2 điều 41 và 43khẳng định: “Nhà nước và xã hội phát triển nền TDTT dân tộc, khoa học vànhân dân Nhà nước thống nhất và quản lý sự nghiệp TDTT, quy định chế độgiáo dục thể chất bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ pháttriển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cầnthiết để không ngừng mở rộng hoạt động TDTT quần chúng ” và “Nhà nước
mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực thể dục thể thao”
Ngày 6/4/1960 của Hội đồng Chính phủ ra nghị quyết về công tácTDTT đã quy định những nhiệm vụ của ngành TDTT và cả xã hội đối với sựnghiệp phát triển TDTT “Thể dục thể thao là một biện pháp tích cực, khoahọc, nhằm góp phần tăng cường sức khoẻ của nhân dân do đó ảnh hưởng tốtđến mọi mặt sản xuất, công tác, học tập, quốc phòng” Trong nghị quyết đãkhẳng định TDTT là biện pháp giáo dục rất cần thiết vì nó giúp phòng ngừabệnh tật, đào tạo con người phát triển toàn diện Cũng từ nghị quyết này mà
hệ thống quản lý TDTT Việt Nam đã được hình thành
Ngày 11/01/1978 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số07/QĐ-TTg công nhận ngành TDTT là đơn vị kế hoạch của Nhà nước [80]
Từ đó vị thế của ngành được khẳng định trong nền kinh tế quốc dân
Ngày 9/5/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị số HĐBT về công tác TDTT trong những năm trước mắt: Nâng cao chất lượngGDTC cho học sinh, sinh viên, duy trì và phát triển phong rào TDTT tronglực lượng vũ trang, công nhân, viên chức và nhân dân Nhà trường ngoài việc
Trang 25112/CT-chấp hành nghiêm túc chương trình thể dục quy định, còn phải có biện pháp
tổ chức hướng dẫn tập luyện TDTT ngoại khoá cho học sinh sinh viên [44].Coi phong trào TDTT của học sinh sinh viên, lực lượng vũ trang là nòng cốtcủa phong trào TDTT quần chúng Đối với công nhân, viên chức và nhân dâncần hướng dẫn hình thức tập thể dục hàng ngày và đoạt động giữa giờ làmviệc phù hợp với đặc điểm ngành, nghề và điều kiện lao động, tạo điều kiệnthuận lợi để xây dựng các câu lạc bộ, nhà văn hoá TDTT ở các cơ sở sản xuất,trường học, khu công nghiệp và khu dân cư Các cấp các ngành, tổ chức kinh
tế cần tạo điều kiện để tăng cường thêm cơ sở vật chất cho TDTT Khuyếnkhích các tổ chức TDTT tiến hành hoạt động kinh tế
ngày 9/10/2000 UBTVQH ra Pháp lệnh TDTT số UBTVQH 10, tại điều 14 đã xác định: “TDTT trường học bao gồm GDTC vàhoạt động thể thao ngoại khoá cho người học, GDTC là chế độ giáo dục bắtbuộc nhằm tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất, góp phần bồi dưỡng vàphát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Nhànước khuyến khích thể thao ngoại khoá trong nhà trường”
28/2000/PL-Mục tiêu của GDTC trong nhà trường
Mục tiêu của GDTC trong nhà trường là: “Giúp HSSV phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triểnnăng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa ”
Trong đó GDTC là một thành phần quan trọng trong chương trình giáodục đào tạo Pháp lệnh TDTT được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 10 thôngqua ngày 29/11/2006 và Chủ tịch nước ban hành Pháp lệnh số 22/2006/CTNngày 12/12/ 2006 công bố trong luật tại điều 20 quy định GDTC là môn họcchính khoá thuộc chương trình giáo dục; cung cấp kiến thức, kỹ năng vậnđộng cơ bản cho người học góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện,
Trang 26hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người họcđược tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứatuổi và sức khoẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
Những qui định về chế độ đối với người làm công tác TDTT và GDTC.
Những qui định về chế độ đối với người làm công tác TDTT và GDTC
là một trong những yếu tố thể hiện sự quan tâm của Đảng tới công tác TDTTnói chung và GDTC nói riêng
Ngày 01/4/1980 của Bộ đại học- Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
ra Thông tư 07/TT- CB về hướng dẫn chế độ làm việc của cán bộ giảng dạyTDTT các trường đại học Thời gian làm công tác chuyên môn qui ra giờchuẩn là 400, giảng dạy trên lớp, phụ đạo, giảng dạy kỹ thuật ngoài sân bãi(cho một lớp học sinh dưới 40 người) cứ một tiết học (45-50 phút) tính bằng
1 giờ chuẩn; Giảng kỹ thuật cho một lớp học có từ 41 học sinh trở lên, bồidưỡng một nhóm cán sự TDTT từ 16 người trở lên - cứ một tiết học tính bằng1,2 giờ chuẩn
Ngày 10/01/1990 của Bộ giáo dục - Tổng cục TDTT- Tài chính- Laođộng và TBXH ra Thông tư liên bộ số 01- TT/LB về một số chế độ đối vớigiáo viên, vận động viên, huấn luyện viên TDTT Giáo viên chuyên tráchTDTT ở các trường: Phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Cán bộ phụ trách công tác TDTT ở Trungương, ở các Sở Giáo dục, Ban, Phòng TDTT quận, huyện, thị xã được hưởng
250 đồng/tiết thực hành (tương đương 0,5 kg gạo) Giáo viên các trườngchuyên nghiệp TDTT và các khoa đào tạo giáo viên TDTT được hưởng 300đồng/tiết thực hành (tương ứng 0,6 kg gạo); Huấn luyện viên, vận động viênkiện tướng, cấp 1 0,7 kg gạo Ngoài ra còn có các chế độ trang phục để lênlớp hoặc ra sân bãi hàng năm như: Giáo viên chuyên trách, huấn luyện viên,
Trang 27vận động viên thể dục thể thao Quần áo dệt kim dày, hàng nội: 2 bộ/năm; áomay ô ngắn tay, hàng nội: 2 cái/năm; Giầy ba-ta nội: 2 đôi/năm Giáo viênbán chuyên trách, cán bộ phụ trách công tác thể dục thể thao: Quần áo dệt kimdày, hàng nội: 1 bộ/năm; Giầy ba-ta nội: 1 đôi/năm.
Ngày 16 tháng 11 năm 2012 TTg ra Quyết định số 51/2012/QĐ-TTG,quy định về chế độ bồi dưỡng, chế độ trang phục đối với giáo viên, giảng viênTDTT như sau:
Điều 3 Chế độ bồi dưỡng Chế độ bồi dưỡng được chi trả bằng tiền vàđược tính bằng 01% mức lương tối thiểu chung cho 01 tiết giảng thực hành.Chế độ bồi dưỡng bằng tiền không áp dụng đối với giáo viên, giảng viên thểdục thể thao trong các cơ sở giáo dục thuộc quân đội nhân dân và công annhân dân
Điều 4 Chế độ trang phục: Đối với giáo viên, giảng viên thể dục thểthao dạy chuyên trách môn thể dục, thể thao được cấp 02 bộ quần áo thể thaodài tay/năm, 02 đôi giầy thể thao/năm, 04 đôi tất thể thao/năm, 04 áo thể thaongắn tay/năm Đối với giáo viên, giảng viên dạy kiêm nhiệm (giáo viên dạymôn học khác dạy kiêm nhiệm môn thể dục, thể thao) được cấp 01 bộ quần áothể thao dài tay/năm, 01 đôi giày thể thao/năm, 02 đôi tất thể thao/năm, 02 áothể thao ngắn tay/năm Trang phục thể thao do Việt Nam sản xuất, phù hợpvới khí hậu từng vùng, miền Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mẫu mã,chủng loại, chất lượng trang phục thể thao để thực hiện thống nhất ở các cơ sởgiáo dục
Bộ luật về TDTT số: 77/2006/QH 11, ngày 29 tháng 11 năm 2006 củaQuốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Mục 2 Điều 20 ghi: Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộcchương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản chongười học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện
Trang 28mục tiêu giáo dục toàn diện; Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạtđộng tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoáphù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện chongười học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao.
Điều 21 Trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục thể chất và thểthao trong nhà trường: Nhà nước có chính sách dành đất đai, đầu tư xâydựng cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, bảođảm đủ giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các bậc học Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thểdục thể thao xây dựng chương trình giáo dục thể chất, đào tạo, bồi dưỡnggiáo viên, giảng viên thể dục thể thao, hướng dẫn nội dung hoạt động thểthao ngoại khoá trong nhà trường Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xây dựng cơ sởvật chất, bố trí giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường thuộcphạm vi quản lý của mình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm sauđây: a) Quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, nhà tập đa năng, bảođảm trang thiết bị, dụng cụ thể thao, chỉ tiêu biên chế giáo viên, giảng viênthể dục thể thao cho các trường công lập thuộc địa phương; b) Thực hiệnchính sách ưu đãi về đất đai theo quy định của pháp luật đối với trường tưthục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ sở vậtchất phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Điều 22 Trách nhiệm của nhà trường: Tổ chức thực hiện chương trìnhmôn học giáo dục thể chất theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giáodục thể chất và thể thao trong nhà trường Tổ chức cho người học tham giacác hoạt động thể thao ngoại khoá Bảo đảm an toàn cho người dạy và người
Trang 29học trong các hoạt động thể dục, thể thao Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu thể thao.
Điều 23 Quyền và nghĩa vụ của giáo viên, giảng viên TDTT: Giảngdạy môn học GDTC theo đúng chương trình Tổ chức hoạt động thể thaongoại khoá, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao Tôn trọng, đối xửcông bằng và thực hiện các quy định bảo đảm an toàn cho người học Đượchưởng chế độ phụ cấp đặc thù theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Điều 24 Quyền và nghĩa vụ của người học: Thực hiện nhiệm vụ họctập môn học giáo dục thể chất Được tham gia hoạt động thể thao theo sởthích Được tuyển chọn vào các trường năng khiếu thể thao Được sử dụng
cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ GDTC và thể thao trongnhà trường
Quyết định số 2198/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiếnlược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 Trong chiến lượcxác định rõ: Mục tiêu cho TDTT quần chúng cụ thể là: Tiếp tục mở rộng và
đa dạng hóa các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể dục, thể thao giảitrí đáp ứng nhu cầu giải trí của xã hội và tạo thói quen hoạt động, vận độnghợp lý suốt đời Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học,bảo đảm yêu cầu phát triển con người toàn diện, làm nền tảng phát triển thểthao thành tích cao và góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớpthanh - thiếu niên Tích cực phát triển thể dục, thể thao trong lực lượng vũtrang, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng toàn dân Chi tiêu phát triểnTDTT quần chúng cụ thể là: Số người tham gia tập luyện TDTT thườngxuyên đến năm 2015 đạt tỷ lệ 28% dân số và năm 2020 đạt 33% Số gia đìnhthể thao đến năm 2015 đạt 22% số hộ gia đình và năm 2020 đạt 25% Mụctiêu cho TDTT trường học gồm: Số trường phổ thông thực hiện đầy đủchương trình giáo dục thể chất nội khóa đến năm 2015 đạt 100% Số trường
Trang 30học phổ thông có câu lạc bộ thể dục, thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủphục vụ cho hoạt động thể dục, thể thao, có đủ giáo viên và hướng dẫn viênthể dục, thể thao, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa đến năm 2015đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 - 60% tổng số trường Số học sinh đượcđánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đến năm 2015đạt 75% và đến năm 2020 đạt 85% - 90% tổng số học sinh phổ thông các cấp.
Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 - 2020, Nghịquyết số 06/NQ - CP ngày 7/3/2012, Mục 5 ghi: Tăng cường công tác giáodục toàn diện học sinh, sinh viên
Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết và các chính sách của Đảng, Nhànước về công tác GDTC, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã thực hiện chủ trương,đường lối về công tác giáo dục thể thao nói chung và GDTC học đường nóiriêng bằng rất nhiều các văn bản pháp quy, cụ thể như:
Thông tư liên tịch số 08/LB-DN-TDTT ngày 24/12/1986 về công tácTDTT trong các trường dạy nghề và sư phạm
Thông tư liên tịch số 04-93/GD-ĐT-TDTT ngày 17/ 04/1993 về việcxây dựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cảitiến công tác tổ chức quản lý TDTT và GDTC trong trường học các cấp đếnnăm 2000 – 2005
Thông tư số 11/TT-GDTC ngày 01/08/1994 về việc hướng dẫn thựchiện chỉ thị 36/CT-TW
Trang 31Thông tư số 2869/GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn thực hiệnchỉ thị 133/TTg.
Thông tư 25/2015, Quy định về chương trình môn học Giáo dục thểchất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học
Chương trình mục tiêu “cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ,phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao học sinh, sinh viên trong nhàtrường các cấp giai đoạn 1995 - 2000 và đến 2005”
Quy hoạch phát triển công tác GDTC ngành giáo dục - đào tạo giaiđoạn 1996 - 2000 và định hướng đến 2025 của Bộ Giáo dục - Đào tạo (1996)
Quyết định số: 53/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 18 tháng 09 năm 2008 banhành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới công tác GDTC vàTDTT
1.3 Cơ sở lý luận về lựa chọn các môn thể thao tự chọn trong chương trình tự chọn môn Thể dục
Chương trình đào tạo phản ánh bản chất, cấu trúc và tính quy luật củaquá trình dạy học, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ dạy học
Chương trình là phương tiện để thực hiện quá trình dạy học, cần phảnánh được quan hệ thống nhất biện chứng này
Chương trình phải nêu rõ kết quả học tập cần đạt, việc tổ chức, điềukhiển hoạt động học tập của HS như thế nào để đạt mục tiêu đề ra
Chương trình cần xây dựng tuân theo quy luật của hoạt động nhận thức,đảm bảo sự cân đối, thống nhất giữa yếu tố trực quan và trừu tượng, giữa lýluận và thực hành Trong xây dựng mục tiêu của môn học, cần đặc biệt quantâm đến mục tiêu hình thành kiến thức và kỹ năng cho người học
Về phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy cần tăng cường sử dụngphương pháp, hình thức tổ chức dạy học cung cấp những biểu tượng phongphú, sinh động của thực tiễn, rèn luyện các kỹ năng thực hành cho HS
Trang 32Chương trình GDTC bao gồm cả mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ(phát triển các năng lực nhận thức và giáo dục phẩm chất nhân cách).
Chương trình cần bao gồm đầy đủ các nhân tố, cấu trúc nên quá trìnhhọc (chủ đề, đối tượng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hệ thống tổ chứcdạy học, phương tiện, kết quả) và quan hệ thống nhất biện chứng của chúng.Xây dựng chương trình cần đặc biệt quan tâm đến quá trình đào tạo Khi môitrường thay đổi, đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình đào tạo thìchương trình cần được thay đổi đáp ứng với yêu cầu mới của thời đại, củathực tiễn Việc tính toán các điều kiện, khả năng thực tế của kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội giúp xây dựng những chương trình mang tính thực tiễn và khảthi cao
Trên cơ sở đó quy trình lựa chọn các môn thể thao tự chọn trongchương trình tự chọn môn Thể dục như sau:
Về mặt tâm lý bất kỳ hoạt động nào của con người, trong đó có hoạtđộng học tập, đều có động cơ thúc đẩy Động cơ được kết cấu bởi hai thànhtố: nhu cầu và tình cảm Nhu cầu học tập của HS là sự đòi hỏi được học tậpcủa các em Sự kết hợp giữa nhu cầu với tình cảm tạo thành động cơ ở nhiềumức độ khác nhau Từ đó cũng tạo ra cường độ yếu, mạnh khác nhau tronghoạt động Dạy học tự chọn chính là nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của HStrong học tập
Hoạt động học tập của HS trong các trường THCS đòi hỏi tính năngđộng và tính độc lập ở mức cao hơn nhiều so với HS ở tiểu học, đồng thờisang bậc học này, ý thức học tập của HS ngày càng phát triển Định hướng giátrị và tính tích cực là những đặc điểm nhân cách quan trọng nhất ở lứa tuổinày Các em ý thức được cần phải tích cực hơn, thái độ học tập đối với cácmôn học cũng thay đổi, có tính chất lựa chọn, HS có thể lựa chọn theo hứngthú
Trang 33Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện tạo điều kiện cho các năng lực
cá nhân của mỗi HS có điều kiện bộc lộ và phát triển Nhiều HS không thoảmãn với mức độ, phạm vi về nội dung học tập chính thức, bắt buộc, do đó nảysinh nhu cầu được học tập, bồi dưỡng để phát triển năng lực cá nhân ở mộtlĩnh vực chuyên môn cụ thể Những tiến bộ của khoa học công nghệ cùng với
sự phát triển của xã hội hiện đại cũng đặt ra nhu cầu tiếp cận với những nộidung học tự chọn ở bậc phổ thông Đây là những cơ sở rất quan trọng để đềxuất ý tưởng dạy học tự chọn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cấp thiết củaviệc phát triển năng lực cá nhân của HS trong các trường phổ thông
Một số nhà chuyên môn cho rằng: để xây dựng một nền giáo dục ta cóthể dựa trên các yếu tố như: ý đồ chủ quan, tức là hình mẫu con người chúng
ta muốn tạo nên; nhu cầu của xã hội; đặc điểm sinh lý của từng lứa tuổi Từ
đó ông cho rằng: Không thể ép buộc tất cả HS cùng học một chương trình độcnhất, cũng như không thể ép buộc mọi người đút chân vào một mẫu giầy độcnhất Việc giải quyết mối quan hệ giữa chương trình cơ bản với dạy học tựchọn cần được tiến hành trên cơ sở lấy trình độ phát triển chung của HS làmnền tảng Nhưng giữa những HS khác nhau lại có sự khác biệt về đặc điểmtâm lý cá nhân (em này có khả năng, sở trường, hứng thú nhiều hơn về mặtnày còn em kia lại có khả năng, sở trường, hứng thú nhiều hơn về mặt khác)
Vì vậy, một mặt cần chăm lo làm cho mọi HS đều đạt được yêu cầu củachương trình để phát triển toàn diện, mặt khác cần phát huy khả năng, sởtrường, hứng thú, năng khiếu của từng em Như vậy, cần xác định nội dung cơbản phổ thông dành cho mọi người, trên cơ sở đó xây dựng các nội dung tựchọn nhằm đáp ứng yêu cầu khác nhau của mỗi HS
Bên cạnh đó nếu xuất phát từ mục tiêu giáo dục "giúp HS phát triểntoàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, pháttriển năng lực cá nhân" được đề cập trong Luật giáo dục Việt Nam, đòi hỏi
Trang 34phải phát triển trình độ nguồn nhân lực có đủ khả năng hợp tác, cạnh tranhquốc tế Mục tiêu giáo dục – đào tạo cần phải đa dạng thể hiện qua mỗi cấphọc, bậc học phải có nhiều mục tiêu, mỗi mục tiêu cần có mức tối đa và tốithiểu để phù hợp với khả năng và mức phấn đấu tối đa của từng HS, từngvùng Vì vậy, văn bản hướng dẫn dạy học tự chọn của Bộ năm 2006 đã chỉ rõ:Nói lên mục tiêu của dạy học tự chọn là góp phần thực hiện dạy học phânhoá, trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng chuẩn kiến thức phổ thông thống nhất,thực hiện phân hoá nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển năng lực và hướngnghiệp cho người học Dạy học phân hoá ở cấp Trung học cơ sở thực hiệnbằng dạy học tự chọn, ở cấp Trung học phổ thông thực hiện bằng kết hợpphân ban với dạy học tự chọn.
Đồng thời chúng ta thấy, xu thế quốc tế hiện nay là tăng cường hơn nữatính phân hoá trong giáo dục Trên cơ sở trọng tâm là chương trình cốt lõi, bắtbuộc, HS được tổ chức học tập theo hình thức phân hóa khác nhau, phù hợp vớingười học về tâm lý, thể chất, năng lực, điều kiện kinh tế xã hội, tự nhiên củacác vùng dân cư khác nhau
Hình thức phân hoá bằng dạy học tự chọn ra đời vào khoảng thế kỷXIX Hình thức dạy học này ngày càng được phát triển và đặc biệt là ở Mỹ.Đặc điểm của hình thức tự chọn là HS ngoài việc phải học một số môn họccốt lõi (môn học bắt buộc) còn có thể lựa chọn học một số môn học kháctheo năng lực, nguyện vọng của cá nhân Cũng có một hình thức dạy học tựchọn khác là ở tất cả các môn học trong Nhà trường đều có hai loại chươngtrình: Chương trình chuẩn và chương trình nâng cao HS căn cứ vào nănglực và sở thích của mình để quyết định chọn học loại chương trình nào ở mỗimôn học Ưu điểm nổi bật của dạy học tự chọn là đáp ứng được yêu cầuphân hoá cao của HS
Trang 35Đồng thời chúng ta cũng biết nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của conngười, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinhthần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức về môi trườngsống, những đặc điểm tâm, sinh lý của mỗi người đều có những nhu cầukhác nhau Do năng lực và nguyện vọng của mỗi cá nhân là không giốngnhau, mỗi người đều mong muốn được hưởng một nền giáo dục phù hợp vớimình, mong muốn có những nội dung thích hợp nhất với bản thân để có thểphát huy được điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của bản thân Do đó, Nhàtrường phải có một chương trình giáo dục có những nội dung giáo dục vàđào tạo đa dạng, không cứng nhắc và phù hợp với năng lực và điều kiệnkhác nhau của người học Nội dung đào tạo phải có phần cứng, phần mềm
để mỗi HS có thể tự chọn tùy theo năng khiếu, điều kiện cụ thể của bản thâncũng như để phù hợp với tính khu vực của từng vùng miền Sử dụng hìnhthức dạy học tự chọn sẽ phần nào đáp ứng được yêu cầu này
Bên cạnh đó dạy học tự chọn còn đảm bảo tính công bằng và tính nhânvăn trong giáo dục, bởi trong giáo dục, công bằng có nghĩa là bảo đảm chomọi công dân có quyền bình đẳng về cơ hội học tập và cơ hội thành đạt tronghọc vấn Để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, cần tiếp tục hoànthiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, liênthông, do đó phải quán triệt định hướng phân hóa trong giáo dục, thực hiệndạy học tự chọn Dạy học tự chọn sẽ góp phần cá nhân hóa về nội dung,phương pháp và hình thức giáo dục làm cho chúng có cấu trúc phù hợp vớitrình độ và kinh nghiệm sẵn có của nhân cách cũng như cấu trúc hứng thú củatừng HS, nhằm phát triển ở HS năng lực sáng tạo, tư duy logic, thể lực pháttriển Dạy học tự chọn có mục tiêu đào tạo phải toàn diện, nội dung đào tạophải đa dạng, thiết thực và vừa sức từng loại đối tượng, cấu trúc của nó phảimềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và điều kiện của người học Nhữngyếu tố đó đảm bảo tính nhân văn trong giáo dục
Trang 361.4 Đặc điểm tâm, sinh lý và giải phẫu của học sinh THCS
1.4.1 Đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở
Học sinh THCS, Lứa tuổi11 - 15 tuổi, lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt
và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyểntiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọikhác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổibất trị “ Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các emđang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn(người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặtphát triển: Thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
Học sinh THCS có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tínhngười lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phátdục, điều kiện sống, hoạt động… của các em
Ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển cáckhía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạtđộng khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
Đặc điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: Trẻ chỉbận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xuthế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình,của xã hội
Đồng thời hoàn cảnh cũng thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: Sự giatăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khókhăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đóđưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
1.4.1.1 Hoạt động giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh THCS Sự pháttriển trong giao tiếp của thiếu niên nói lên bước quá độ từ giao tiếp của trẻ
Trang 37con sang giao tiếp của người trường thành Trong đó diễn ra sự thay đổi quan
hệ qua lại giữa thiếu niên với người lớn, đặc biệt với cha mẹ Trong giao tiếpvới người lớn có thể nảy sinh những khó khăn, xung đột do thiếu niên chưaxác định đầy đủ giữa mong muốn về vị trí và khả năng của mình Trong giaotiếp, thiếu niên định hình theo bạn bè rất mạnh mẽ Giao tiếp với bạn chiếm vịtrí quan trọng trong đời sống và có ý nghĩa thiết thực đổi với sự phát triểnnhân cách của thiếu niên, trong đó đặc trưng là hệ thống độc lập và bình đẳng.Thiếu niên coi quan hệ với bạn là quan hệ thiêng liêng của cá nhân và các emmuốn được độc lập, không muốn sự can thiệp của người lớn
1.4.1.2 Hoạt động nhận thức
Ở lứa tuổi học sinh THCS hoạt động nhận thức có sự phát triển mạnh
mẽ cả về tri giác, tư duy và trí nhớ
Về tri giác: Các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiêntượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tănglên, tri giác trở nên có kế hoạch, cơ trình tự và hoàn thiện hơn
Về trí nhớ: Trí nhớ của thiếu niên cũng được thay đổi về chất Đặcđiểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định,năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cảitiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tàiliệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghinhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn Các emthường phản đối các yêu cầu của GV bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ
có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình Vì thế trong quá trìnhhướng dẫn tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học sinh THCS, HLV vàcác hướng dẫn viên cần chú ý dạy cho học sinh phương pháp ghi nhớ lôgic;giải thích cho các em rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những định nghĩa,những qui luật Ở đây phải chỉ rõ cho các em thấy, nếu ghi nhớ thiếu một từ
Trang 38nào đó thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa; Rèn luyện cho các em có
kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình;Chỉ cho các em, khi kiểm tra sự ghi nhớ, phải bằng sự tái hiện mới biết được
sự hiệu quả của sự ghi nhớ; hướng dẫn các em vận dụng cả hai cách ghi nhớmáy móc và ghi nhớ ý nghĩa một cách hợp lý, đồng thời cần chỉ cho các emthiết lập các mối liên tưởng ngày càng phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tàiliệu cũ, giúp cho việc lĩnh hội tri thức có hệ thống hơn
Về tư duy: Hoạt động tư duy của học sinh trung học cơ sở có nhữngbiến đổi cơ bản: Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triểnmạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Nhưng thànhphần của tư duy hình tượng - cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữvai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy Các em hiểu các dấu hiệu bảnchất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấuhiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc
mở rộng khái niệm không đúng mức Ở tuổi học sinh THCS, tính phê pháncủa tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề mộtcách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các
em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được,những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức
Trong tình bạn: Học sinh lứa tuổi này có nhu cầu kết bạn tâm tình cao,chủ động tìm hiểu và chọn bạn Tình bạn ở lứa tuổi này mang tính cảm xúccao
Trang 39Trong tình yêu: Ở lứa tuổi này học sinh đã bắt đầu xuất hiện nhu cầuyêu thương một cách hồn nhiên, thầm kín, dễ vỡ Đây là đặc điểm gia đình vànhà trường cần đặc biệt chú ý.
1.4.1.4 Đặc điểm về nhân cách
Học sinh THCS là lứa tuổi có sự phát triển đáng kể về nhân cách
Trong sự phát triển tự ý thức: Học sinh có nhu cầu tìm hiểu và tự đánhgiá, xây dựng hình ảnh bản thân Thông qua so sánh bản thân mình và nhữngngười xung quanh, các em đã biết đánh giá mình trong toàn bộ những thuộctính nhân cách, tuy nhiên, nhiều lúc các em còn đánh giá chưa đúng do thiếukinh nghiệm, kỹ năng phân tích Chính vì vậy, trong quá trình giáo dục, giađình và nhà trường cần chú ý định hướng và trang bị thêm các kiến thức, kinhnghiệm cho các em trong quá trình đánh giá này
Trong xu hướng nhân cách: Học sinh có nhu cầu được tôn trọng, bìnhđẳng và được chứng tỏ bản thân Trong việc hình hành thế giới quan, các em
đã có quan điểm sống cụ thể, đi vào bản chất và mang tính chất hệ thống Đây
là lứa tuổi các em bắt đầu quan tâm, tìm kiếm lý tưởng sống và lựa chọn lýtưởng sống riêng cho bản thân mình
1.4.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu của học sinh trung học cơ sở
Sinh lý, giải phẫu của học sinh THCS chủ đạo là diễn ra mạnh mẽnhưng không cân đối cả về hình thái và chức năng cơ thể Sự trưởng thành vềmặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của thể thiếuniên Tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động mạnh và cơ thể các em xuất hiệnnhững dấu hiệu thứ cấp khiến chúng ta nhận ra các em đang ở độ tuổi dậy thì
1.4.2.1 Đặc điểm giải phẫu
Các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyếnthượng thận) có sự hoạt động tổng hợp tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ,trong đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục trong cơ thể học sinh THCS
Trang 40Cụ thể: Chiều cao của các em tăng lên một cách đột ngột, hằng năm có thểtăng từ 5 - 6 cm; Trọng lượng cơ thể hằng năm tăng từ 2,4 - 6 kg; tăng vòngngực… là những yếu tố đặc biệt trong sự phát triển thể chất của trẻ.
Việc tăng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhấtvào cuối thời kì dậy thì khiến các em khỏe ra rõ rệt Tuy nhiên, sự phát triển
cơ của các em trai khác biệt nhất định báo hiệu sự hình thành ở các em nhữngnét khác biệt về cơ thể: Con trai cao lên, vai rộng ra, con gái tròn trặn dần,xương chậu rộng ra… Sự phát triển cơ thể diễn ra không cân đối làm cho các
em lúng túng, vụng về, “lóng ngóng” Xương chân và tay chóng dài nhưng cơphát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm, nên đầu tuổi thiếu niênthường có thân hình dài, hơi gầy và ít nhiều không cân đối Ở giai đoạn dưới
14 tuổi vẫn còn có các đốt sụn hoàn toàn giữa các đốt xương sống, nên cộtsống dễ bị cong vẹo khi đứng ngồi không đúng tư thế
1.4.2.2 Đặc điểm sinh lý
Quá trình hưng phấn thần kinh vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên, cần chú ýhưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động,
dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh… Trong quá trình tập luyện môn TDTT, HLV, hướng dẫn viên cần rèn luyện cho các em sự bình tĩnh, tính kiên trì phản xạ có điều kiện đối với những tín hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn những phản xạ có điều kiện đối với những tín hiệu từ ngữ Do vậy, ngôn ngữ của trẻ cũng thay đổi Các em nói chậm hơn, hay “nhát gừng”, “cộc lốc”… Nhưng hiện tượng này chỉ tạm thời, khoảng 15 tuổi trở lên hiện tượng này cân đối hơn
Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi học sinh THCS, kích thước tuyệt đối và tươngđối của tim tăng dần theo lứa tuổi và chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tậpluyện Tần số co bóp của tim giảm dần theo lứa tuổi (ở lứa tuổi 14-16 còn từ 70-
80 lần/phút), nhưng biến đổi mạnh dưới tác động của các yếu tố kích thích