Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trên trên là hoạt động tham vấn, phản biện xã hội PBXH đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách của các cấp chính quyền chưa đ
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
CAO TIẾN SỸ
PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH
MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
CAO TIẾN SỸ
PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH
MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN
Chuyên ngành : Quản lý hành chính công
Mã số : 62 34 82 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Hữu Hải
2 TS Trần Trọng Đức
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận
án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Cao Tiến Sỹ
Trang 4Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHẢN BIỆN
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 39
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả
Chương 3: THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TẠI CÁC
TỈNH THUỘC KHU VỰC MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN 82 3.1 Khái quát chung về kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc khu vực miền
3.3 Hoạt động phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN CHÍNH
Trang 5DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MTTQVN : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
châu Âu
62
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
Tên hình Trang
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Chính sách công là công cụ định hướng quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước; hệ thống chính sách của một quốc gia có hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của cả nền kinh tế hoặc của từng vùng, từng địa phương Để có được những chính sách tốt, bên cạnh chủ trương, đường lối đúng thì việc huy động sự tham gia, đóng góp của cộng đồng vào quá trình chính sách được xem là giải pháp tích cực giúp hạn chế ý chí chủ quan, lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách Đồng thời, tạo nên sự đồng thuận xã hội về mục tiêu, biện pháp thực thi và chuẩn bị về tư tưởng, dư luận xã hội ủng hộ cho việc triển khai chính sách Giúp phát hiện những điểm mù chính sách và là căn cứ thực tiễn để đo lường, đánh giá chính sách; phát huy dân chủ, tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực hơn vào hoạt động quản lý nhà nước
Trên thực tế, công tác xây dựng và thực thi chính sách công ở nước ta những năm qua còn những hạn chế như: xác định mục tiêu, biện pháp chính sách chưa sâu sát với tình hình thực tiễn; việc huy động trí tuệ, nguồn lực xã hội vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách chưa cao, nhất là việc thu hút trí tuệ, nguồn lực của nhân dân vào hoạch định, thực thi chính sách còn chưa được coi trọng Những bất cập này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của các chính sách công cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trên trên là hoạt động tham vấn, phản biện xã hội (PBXH) đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách của các cấp chính quyền chưa được đặt đúng tầm mức; thiếu cơ chế, biện pháp thích hợp để tạo nên sự thống nhất cao trong xã hội Hoạt động phản biện chính sách còn bó hẹp trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, thiếu sự tham gia tích cực của người dân Thực tế cho thấy những chính sách nào có sự tham vấn, PBXH rộng rãi, công khai, dân chủ đều tạo được sự đồng thuận và mang tính khả thi cao
Phản biện chính sách công (PBCSC) là hoạt động PBXH của công dân và
tổ chức xã hội dân sự (XHDS) đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước, từ bước khởi sự đến quy phạm hóa chính sách thành
Trang 10văn bản pháp lý, tổ chức thực hiện, đánh giá và kết thúc chu trình chính sách Năng lực phản biện của xã hội và hiệu quả PBCSC tỷ lệ thuận với chất lượng chính sách Không thể có chính sách tốt nếu thiếu sự tham gia phản biện tích cực và hiệu quả của người dân trong toàn bộ quá trình chính sách Tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng trong sạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả tất yếu dẫn đến việc mở rộng sự tham gia của người dân vào công việc của chính quyền Thực hiện phản biện đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách công sẽ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của nền hành chính, xây dựng nền hành chính công thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Nghiên cứu về PBCSC đã tồn tại và phát triển từ lâu trên thế giới Có nhiều hướng tiếp cận vấn đề này: từ phía khoa học chính trị, khoa học pháp lý, khoa học chính sách, khoa học hành chính, xã hội học Với nhiều kinh nghiệm, thành tựu có thể vận dụng vào thực tiễn nước ta Song do tính đặc thù của chính sách công ở mỗi quốc gia nên không thể máy móc, áp đặt mô hình, phương thức tổ chức hoạt động phản biện chính sách một cách khiên cưỡng, mà phải xuất phát từ những giá trị chung, phổ quát nhất của hoạt động phản biện chính sách và tổng kết thực tiễn để xây dựng mô hình, cơ chế phù hợp với điều kiện của đất nước
Hoạt động nghiên cứu về PBCSC ở nước ta cũng còn khá mới mẻ, kết quả nghiên cứu còn hết sức khiêm tốn và cũng chỉ tập trung trên một vài khía cạnh, phương diện nhất định Thực tiễn xây dựng, thực thi chính sách công ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi và quản lý, đổi mới
chính sách Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu "Phản
biện chính sách công từ thực tiễn các tỉnh Miền trung, Tây nguyên" cho luận án
khoa học của mình với mong muốn đóng góp thêm về lý luận và thực tiễn cho hoạt động PBCSC ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích của đề tài luận án là luận giải một cách khoa học về PBCSC; đánh giá thực trạng PBCSC ở nước ta; đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phương thức PBCSC hiện nay nhằm nâng cao chất lượng PBCSC ở Việt Nam Qua đó nâng
Trang 11cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách trong hoạt động quản lý hành chính công ở nước ta
Đề xuất đổi mới quy trình PBCSC và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phản biện chính sách ở nước ta trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được xác định là hoạt động PBCSC của các chủ thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên; hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động PBCSC, cụ thể:
Nghiên cứu các lý thuyết, tư tưởng, mô hình PBCSC trên thế giới, hoạt động PBCSC tại một số quốc gia tiêu biểu
Nghiên cứu nội dung hoạt động PBCSC ở Việt Nam, bao gồm: Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách công và PBCSC Quy định pháp luật Việt Nam về PBXH, PBCSC Nghiên cứu về chủ thể, quy trình, phương thức tổ chức PBCSC hiện nay
- Phạm vi không gian
Ngoài nước: Nghiên cứu hoạt động PBCSC của các quốc gia Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Xing-ga-po
Trang 12Trong nước: Nghiên cứu hoạt động PBCSC của MTTQVN, Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam và người dân tại 06 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên (trong đó: 2 tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum và Gia Lai; 4 tỉnh, thành phố miền trung là Quảng trị, Đà Nẵng, Phú Yên và Bình Định) Nghiên cứu xã hội học hoạt động tham vấn, phản biện chính sách của người dân tại 6 địa phương trên
- Phạm vi thời gian
Các hoạt động PBCSC trong nước từ năm 2010 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Đề tài dựa trên phương phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; căn cứ vào nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Theo đó, môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội; dân trí, nguồn nhân lực, đội ngũ trí thức; thể chế chính trị, pháp lý, hành chính; công nghệ và phương thức giao tiếp xã hội; quy mô, chất lượng, năng lực tham gia của công dân, các tổ chức xã hội; phương thức xây dựng và thực thi chính sách công sẽ quyết định nội dung, quy mô, hình thức, phương pháp, chất lượng và mức
độ tham gia PBCSC của công dân và tổ chức xã hội Việc nghiên cứu, làm rõ các yếu tố này trên bình diện lý luận sẽ định hình cơ sở khoa học, khung lý thuyết cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn của đề tài Nghiên cứu thực tiễn sẽ chỉ ra khoảng trống lý luận, những tồn tại, bất cập của hệ thống tổ chức thực hiện PBCSC, những rào cản, hạn chế đối với hoạt động này Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung lý luận, các giải pháp đổi mới về thể chế quản lý; nội dung, mô hình, hình thức, phương pháp PBCSC, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Nghiên cứu lý thuyết, sử dụng phương pháp thống kê để tập hợp, phân loại thông tin, tư liệu về hoạt động PBCSC ở nước ngoài và trong nước để hình thành các tài liệu sơ cấp của luận án Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích định tính và định lượng để nghiên cứu bản chất vấn đề, hình thành các tài liệu thứ cấp Sử dụng công cụ phân tích SWOT để đánh giá thực trạng, mặt mạnh, mặt yếu
Trang 13trong hoạt động PBCSC ở Việt Nam, tổng hợp hóa và rút ra các kết luận, kiểm định lý thuyết
Nghiên cứu thực địa, sử dụng 600 phiếu điều tra xã hội học để thu thập thông tin tại 06 địa bàn nghiên cứu, bao gồm các nhóm đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; độ tuổi từ 30-60, trình độ học vấn từ cấp III trở lên Sau đó sử dụng: Lược đồ thông tin thu thập để phân loại, hệ thống hóa thông tin, sử dụng phần mềm SPSS để thống kê, xử lý số liệu thu thập được
Dựa trên các kết quả này, sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, mô hình hóa để nhận diện, xác lập chủ thể, mô hình, cơ chế PBCSC tại Việt Nam và phát hiện lý luận
5 Giả thuyết khoa học của luận án
Phản biện chính sách công là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội và là thành tố của quá trình xây dựng, thực thi chính sách công Đồng
thời là một hình thức tham gia công phổ biến trong mọi nền hành chính công trên thế
giới Thực hiện tốt phản biện chính sách sẽ giúp minh bạch hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách và thúc đẩy sự tham gia tích cực của nhân dân vào hoạt động quản
lý nhà nước, quản trị xã hội Đảm bảo sự cân bằng giữa xã hội, nền kinh tế thị trường
và nhà nước, cũng như sự cân bằng nội tại của hệ thống chính sách công PBCSC ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như: Khung pháp lý chưa đầy đủ và kém hiệu quả Năng lực phản biện của các chủ thể, cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập; cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản biện chính sách chưa được pháp lý hóa một cách rõ ràng, đồng bộ Thiếu quy trình PBCSC hợp lý, rõ ràng, có tính xã hội cao làm
cơ sở huy động có hiệu quả sự tham gia của người dân vào hoạt động chính sách Các điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả cho PBCSC chưa đáp ứng được yêu cầu
Từ thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu thực trạng các vấn đề cơ bản của PBCSC: Cơ sở lý luận, khung pháp lý, năng lực chủ thể, hệ thống tổ chức
và hoạt động; nội dung, hình thức, quy trình, phương pháp phản biện; các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo của PBCSC ở nước ta nhằm trả lời các câu hỏi: Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì? Vai trò của nó trong xây dựng, thực thi chính sách công; trong việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục
vụ, trong sạch và hiện đại? Phản biện chính sách ở nước ta nên tổ chức như thế nào?
Trang 14Mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp phản biện chính sách nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam? Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo? Làm rõ các vấn đề trên sẽ cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng quy trình PBCSC phù hợp, đổi mới cơ chế hoạt động phản biện chính sách, nâng cao năng lực phản biện của các chủ thể Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động chính sách nói riêng và quản lý hành chính công nói chung
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC, luận án có những điểm mới sau:
Hoàn thiện cơ sở lý luận về PBCSC: Luận chứng vai trò, ý nghĩa, tác dụng của PBCSC trong kiểm soát quyền lực nhà nước; thực hành quyền dân chủ của nhân dân trong xây dựng và thực thi chính sách công với tư cách là một hình thức tham gia PBCSC
Làm rõ đặc điểm, nội dung, hình thức, mô hình quy trình PBCSC ở Việt Nam
Đề xuất đổi mới quy trình phản biện chính sách, các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC trong điều kiện hiện nay
Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung cho hệ thống lý thuyết về PBCSC Cung cấp những luận cứ thiết thực cho công tác tổ chức, quản lý hoạt động phản biện chính sách; công tác xây dựng và thực thi chính sách ở Việt Nam Đây cũng là tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên của các cơ sở đào tạo về khoa học chính sách công và các chủ thể PBCSC trong xã hội
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công
Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực
miền Trung, Tây Nguyên
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở Việt Nam
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
1.1 Các công trình nghiên cứu về phản biện xã hội
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Thể chế quản lý trong các nền hành chính công hiện đại luôn hướng đến đảm bảo sự hài hòa giữa vai trò của nhà nước và xã hội Sự tham gia của người dân vào hoạt động của nhà nước được khuyến khích nhằm gia tăng sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài và tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của xã hội đối với hoạt động của chính quyền Công dân được xem là một chủ thể bình đẳng trong hoạt động tham gia công, có quyền bày tỏ quan điểm, lợi ích, chính kiến và tham gia quyết định các vấn đề quản lý nhà nước theo nguyên tắc đa số và hợp hiến Trên quan điểm cho rằng người bị ảnh hưởng bởi quyết định có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định Sự tham gia của người dân được coi như một cách để trao quyền
và là một phần quan trọng của quản trị dân chủ, dựa trên nguyên tắc xem con người
là trung tâm của quá trình phát triển Trước bối cảnh của sự bùng nổ xã hội tri thức trong hơn nửa thế kỷ qua, việc mở rộng hoạt động tham gia, phản biện của nhân dân đối với nhà nước cũng chính là phương pháp để quản lý các dòng tri thức xã hội, sự dụng hiệu quả trí tuệ tập thể của cộng đồng vào phát triển kinh tế - xã hội PBXH - thuộc tính của xã hội dân chủ, được xem là một nguyên tắc chính trị thực hành và được thực hiện rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bản chất của nó là việc áp dụng tư duy phê phán được tổ chức khoa học vào việc đánh giá các hoạt động của nhà nước Đồng thời cũng là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và là một nội dung quan trọng của hoạt động tham gia công dân (public citizens participation) Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về bản chất, vai trò, giá trị và thực hành PBXH đã có từ rất sớm
Một trong những công trình nghiên cứu đặt nền móng cho việc nhận thức
giá trị của phản biện và vận dụng nó vào thực tiễn xã hội là tác phẩm "Chúng ta suy
nghĩ như thế nào" (How We Think) của John Dewey (xem Phụ lục 38), xuất bản
năm 1910 tại Boston, Hoa Kỳ Nghiên cứu này trình bày về quan hệ giữa tư duy
Trang 16phản biện với quá trình giáo dục con người và phát triển xã hội, được trình bày thành
3 chương: Chương 1: Những vấn đề của rèn luyện tư duy (The problem of training thought), Chương 2: Xem xét sự hợp lý (Logical considerations), Chương 3: Rèn
luyện tư duy (The training of thought) Tác giả dành phần lớn chương 1 để giải thích
về tư duy phản biện, luận chứng giá trị và ý nghĩa của nó Trên cơ sở đó, các chương sau bàn về việc áp dụng tư duy phản biện vào giáo dục và hoạt động thực tiễn xã hội nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, phát triển và vận động hợp quy luật Tại chương 1 của cuốn sách này, John Dewey đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm "tư
duy phản biện " (Reflective thought) là: "là sự suy xét chủ động, kiên trì và cẩn thận
về một niềm tin hay một giả định khoa học dưới ánh sáng của những căn cứ bảo vệ
nó và những kết luận xa hơn mà nó hướng tới, tạo thành tư duy phản biện…là một
nỗ lực có ý thức và tự nguyện để thiết lập niềm tin vào một cơ sở có lý do vững
chắc" (…Active, persistent, and careful consideration of any belief or supposed
form of knowledge in the light of the grounds that support it, and the further conclusions to which it tends, constitutes reflective thought…it is a conscious and voluntary effort to establish belief upon a firm basis of reasons) [89, tr 6] Theo tác
giả, tư duy phản biện chính là khởi đầu của nhận thức chân chính, đó chính là quá trình suy xét cẩn trọng, bằng sự đối chiếu, so sánh, có bằng chứng xác thực để khẳng định một vấn đề là đúng hay sai Sự dội lại (Reflection) của tư duy không phải là quá trình phản ánh hiện thực đơn thuần vào nhận thức mà là quá trình tự nghi vấn, phê phán, đánh giá một cách khoa học từ nhiều góc độ khác nhau đối với hiện thực nhằm thẩm định và chứng minh niềm tin, chân lý là đúng đắn Mục đích
của phản biện không phải là kiến thức mà là niềm tin vào thực tế hoặc sự thật (…do
not aim at knowledge, at belief about facts or in truths) [89, tr 4] Quá trình này sẽ
diễn ra theo hai hướng, chấp nhận hay từ chối vấn đề nào đó vì những lý do để nó
có thể hoặc không thể xảy ra (It is marked by acceptance or rejection of something
as reasonably probable or improbable) [89, tr 4] Việc phản biện để xây dựng niềm
tin không phải dựa trên những thứ mà chủ thể có, nó phải dựa trên nền tảng là những
bằng chứng xác thực như: chứng cớ, vật chứng, sự xác nhận và chứng minh (Reflection
thus implies that something is believed in (or disbelieved in), not on its own direct account, but through something else which stands as witness, evidence, proof, voucher,
Trang 17warrant; that is, as ground of belief) [89, tr 9] Mục tiêu mà sự phản biện hướng đến là
khám phá thực trạng để phục vụ cho mục đích của chủ thể (reflection is aimed at
the discovery of facts that will serve this purpose) [89, tr 11] Tư duy phản biện vì
thế, là phương pháp nhận thức tự nguyện, có giá trị dân chủ cao nhất trong việc tìm kiếm sự thật, khẳng định chân lý và xây dựng niềm tin Quan điểm về tư duy phản biện của John Dewey từ khi ra đời đã được ủng hộ mạnh mẽ và áp dụng rộng rãi trong toàn bộ nền giáo dục quốc dân Hoa Kỳ, đóng góp lớn vào việc xây dựng nền dân trị của đất nước này, rồi nhanh chóng được truyền bá trên toàn thế giới Có thể nói tư tưởng của John Dewey về tư duy phản biện nhằm xây dựng một nền giáo dục nhân bản, dân chủ và khoa học đã vượt ra ngoài lãnh địa của triết học giáo dục và trở thành nền tảng phương pháp của nhận thức đối với các vấn đề trong xã hội hiện đại
Tư tưởng về tư duy phản biện (Reflective thinking) của John Dewey được nghiên cứu, phát triển và áp dụng rộng rãi không chỉ trong lĩnh vực giáo dục và khoa học, công nghệ mà cả trong lĩnh vực quản trị xã hội, quản lý nhà nước và xây dựng, thực thi chính sách công trong suốt hơn một thế kỷ qua ở nhiều nước trên thế giới Nó thường được định danh bằng khái niệm tư duy phê phán (Critical thinking),
có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Lý thuyết phê phán và đời
sống công cộng" (Critical theory and Public Life), John Forester (1987) Publichsed
by MIT Press, USA; "Tư duy phê phán: Định nghĩa và đánh giá" (Critical
Thinking: Its Definition and Assessment), Fisher, Alec and Scriven, Michael
(1997), Center for Research in Critical Thinking (UK) / Edgepress (USA); "Phê
bình lý luận: Hiểu và phê phán lập luận và lý thuyết" (Critical Reasoning:
Understanding and criticizing arguments and theories), Cederblom, J & Paulsen,
D.W (2006), 6th edn (Belmont, CA, Thomson Wadsworth); "Tư duy phê phán:
Giới thiệu về lý luận" (Critical Thinking: An Introduction to Reasoning), Dauer,
Francis Watanabe (1989); "Tư duy phê phán như phép biện chứng: Cách tiếp cận
của Hegelian-Marxist" (Critical Thinking as Dialectics: A Hegelian-Marxist
Approach), Pavlidis, Periklis (2010), Journal for Critical Education Policy Studies.Vol.8(2); "Tư duy phê phán" (Critical Thinking), Moore, Brooke Noel and
Parker, Richard (2012), 10th ed Published by McGraw-Hill… Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đánh giá rất cao giá trị thực tiễn của tư duy phản biện trong
Trang 18các lĩnh vực đời sống xã hội, như là con đường phát triển biện chứng để phát huy năng lực bản chất người; thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng bình đẳng, cởi mở, năng động, dân chủ và tự do
Tại châu Âu, hai nhà tư tưởng được cho là có ảnh hưởng lớn nhất đến sự
ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa Marx, hai ông đã phát triển nguyên lý biện chứng của chủ nghĩa Marx trong lý thuyết phê phán các thể chế xã hội Lý thuyết của Michel Foucault giải quyết các mối quan hệ giữa quyền lực và kiến thức và cách chúng được sử dụng như một hình thức kiểm soát xã hội thông qua các tổ chức xã hội Tư tưởng, các bài viết của ông về quyền lực, tri thức và diễn ngôn có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội hiện đại Nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong các tác phẩm của Foucault là sự hình thành, phát triển, tha hóa của quyền lực và con đường
sử dụng tri thức để chống lại sự tha hóa của quyền lực, giải cấu trúc quyền lực nhằm đạt đến bình đẳng và tự do chân chính cho con người Tư tưởng này thể hiện chủ
yếu trong những công trình tiêu biểu của ông như: "Chủ thể và quyền lực" (The Subjct and Power), "Kỷ luật và trừng phạt" (Discipline and Punish)
Trong tác phẩm "Chủ thể và quyền lực", Foucault khẳng định quyền lực
không phải là một thực thể cố định mà là mối quan hệ tương tác giữa quyền lực thống trị (dominant power) và quyền lực phản kháng (resistant power) "Quyền lực không phải là một thể chế, hay một cấu trúc; cũng không phải là sức mạnh thiên bẩm; nó là cái tên được gắn cho một hoàn cảnh chiến lược phức tạp trong một xã
hội cụ thể" (Power is not an institution, and not a structure; neither is it a certain
strength we are endowed with; it is the name that one attributes to a complex strategical situation in a particular society) [84, tr 208] Trong đó, quyền lực phản
kháng như là một bản năng sinh tồn nguyên thủy, nó phái sinh ra quyền lực thống trị với tư cách là một sản phẩm xã hội, quyền lực thống trị sinh ra để kìm nén mọi
sự phản kháng Trên thực tế, con người luôn chống lại những hạn chế để được tự
do, nhưng khi đoạt được tự do, nó lại tạo ra các luật lệ mang tính chuyên chế để hạn chế tự do của kẻ khác Tức là tự nó kiến tạo nên quyền lực thống trị, đây là nghịch lí được tạo ra bởi sự tha hóa của quyền lực trong sự vận động của lịch sử
Trang 19Khi đã giữ vai trò trung tâm, quyền lực thống trị sẽ tìm cách triệt tiêu mọi
sự phản pháng để giữ vị trí độc tôn của mình Nó áp đặt một trật tự chặt chẽ được mệnh danh là tri thức Công cụ để vận hành guồng máy tri thức - trật tự ấy không gì hơn là hệ thống nhà tù, các loại kỷ luật và hình phạt nghiêm khắc Con người bị coi
là các sinh vật trừu tượng hơn là con người đúng nghĩa ở thể xác lẫn tinh thần và được định hướng trở thành bầy đàn răm rắp tuân theo trật tự đã được kiến tạo
Trật tự ấy được xây dựng thành đạo đức, văn hóa, pháp luật và thể hiện bằng ngôn ngữ Do đó, trò chơi quyền lực gắn liền với trò chơi ngôn ngữ và con người khi đã rơi vào cái bẫy ngôn ngữ, những chuẩn mực xã hội của nó sẽ trở thành nơi giam hãm nhân tính, khát vọng tự do, bình đẳng của chính con người Đạo đức, văn hóa và luật lệ trở thành cái thay thế, cái đại diện (present) của quyền lực mà các thể chế độc quyền đã kiến tạo nên để thống trị con người
Khi đạt được trạng thái chuẩn mực của thứ trật tự như thế, quyền lực thống trị không cần hiện hữu bằng bạo lực như roi vọt, dùi cui hay súng đạn mà nó hoàn toàn vắng mặt (absent) Vì nó đã hiện hữu ở mỗi cá thể người thông qua sự sợ hãi
để tuân theo trật tự như một thói quen, một phản xạ vô điều kiện M.Foucault ví sự tuân phục ấy giống như một sự cài đặt, một lập trình được cài đặt sẵn vào trong não
bộ của từng cá nhân, như một thứ máy truyền tin được điều khiển bằng một hệ điều hành siêu quyền lực Ở cấp độ này, con người tự kiểm duyệt hành động và ngôn ngữ của mình mà không cần bị kiểm duyệt Từ đó, con người với tư cách là chủ thể của hành động và ngôn ngữ của mình nhưng lại trở thành công cụ của ngôn ngữ và trật tự được áp đặt Những thứ ấy biến con người thành đối tượng của chúng, sai khiến chúng ta hành động mà chúng ta lại nhầm tưởng rằng đang điều khiển nó Con người trở thành con người nô dịch, con người không tiếng nói, hoàn toàn bị cầm tù và bị điều khiển trong luật lệ, nhưng cái quán tính tự động tuân phục làm cho chúng ta cảm thấy tự do Tư duy của chúng ta thay vì chứa đựng sự năng động, những giá trị tự do, bình đẳng đích thực của bản chất người lại chứa đầy những hình ảnh của roi vọt, xiềng xích và các loại hình phạt đại điện cho quyền lực nói chung
và mọi hoạt động của chúng ta đều bị chúng điều khiển cho đến chết Cái chết của con người bắt đầu bằng cái chết của chủ thể, nó mất tiếng nói để trở thành cái loa phát ngôn và chiếc máy hành động cho kẻ nắm quyền thống trị
Trang 20Trong tác phẩm: "Tội ác và trừng phạt" (Discipline and Punish), M.Foucault
lý giải rằng những hành động trấn áp bằng bạo lực, nhà tù, bệnh viện tâm thần là những điển hình của điều khiển học ứng dụng trên con người thông qua kỉ luật và hình phạt, là mô hình thu nhỏ của xã hội mạo danh văn hóa, văn minh Trong xã hội
ấy, một trung tâm của quyền lực được hình thành như một kiến tạo, điều hành mọi thứ tuân thủ theo trật tự đã được hợp thức và thừa nhận, còn những cái khác biệt,
trái chiều bị xem là sự nổi loạn và trở thành "Cái Khác" (The Other), bị cho là bên
lề, vô phép tắc, hạ đẳng và bị loại trừ Lịch sử như một cỗ máy được tự động hình thành như vậy và nó chỉ thay thế trung tâm quyền lực này bằng trung tâm quyền lực khác mà thôi Trong đó, kỷ luật và hình phạt là hình thức để duy trì quyền lực
Tuy nhiên, không có quyền lực nào là tuyệt đối đến mức buộc tất cả đều hội
tụ quanh nó Có những lực lượng đông đảo khác, hoặc có thể bị hút vào trung tâm thành một thứ cố định, phục tùng; hoặc sẽ li tâm, di chuyển ra ngoại biên để phục sinh quyền lực nguyên thủy - quyền lực của sự phản kháng Trong bối cảnh xã hội chưa thoát khỏi sự cám dỗ của quyền lực, thì phản kháng là tất yếu của tồn - tại -người, một cách thức tồn tại của chủ thể sáng tạo, phát minh Sự phản kháng là một phần tất yếu của sự quân bình "Bạn thấy đấy, nếu không có sự phản kháng, sẽ không có những quan hệ quyền lực, bởi vì nó đơn giản chỉ là vấn đề của sự tuân phục Vì thế, sự phản kháng có trước, và sự phản kháng duy trì thế thượng phong đối với những lực lượng của một tiến trình: những mối quan hệ quyền lực bị bắt buộc phải thay đổi theo sự phản kháng" [83, tr 234] Quyền lực đẻ ra quyền lực như một tất yếu, quyền lực duy nhất hay tuyệt đối chỉ là ảo tưởng, giống như người ta từng tự tạo ra Thượng đế cho mình để đe dọa kẻ khác Không có quyền lực vĩnh viễn, nó là nhất thời bởi nguyên lí biện chứng của quá trình hủy - tạo và cũng không
có thiết chế cấm kị nào đặc hiệu cho mọi thời đại Sự nô dịch chỉ tồn tại nhất thời,
dù có kéo dài hàng ngàn năm, cho đến khi các cấm kị bị mang ra chất vấn, phản biện như một nhu cầu tự do, giải phóng thì thói quen công cụ của con người sẽ dần biến mất và từ đó mỗi cá nhân tự đứng lên làm chủ đời mình Vì thế, "giải thiêng",
"giải huyền", "giải cấu trúc quyền lực" trong nghĩa tích cực của nó, chính là sự phản tỉnh để thoát khỏi trạng thái cam chịu, tuân phục mù quáng, đột phá vào hệ thống quyền lực thống trị đã được tuyệt đối hóa thành tri thức, ngôn ngữ, luật pháp, đạo
Trang 21đức, văn hóa, kỷ luật, hình phạt, bạo lực trấn áp… như bóng ma đè nặng lên thân phận con người
Một thể chế được cho là khôn ngoan trong việc duy trì quyền lực thống trị khi nó biết sử dụng thứ quyền lực vừa làm cho người dân sợ hãi vừa biết vuốt ve, ru ngủ để họ bớt sợ hãi mà lo an thân Đó là một cách triệt tiêu và phát huy hữu hiệu
sự phản pháng, nó dập tắt sự phản kháng đồng thời chuyển quyền lực phản kháng thành sức mạnh của chính quyền lực thống trị để phục vụ cho kẻ thống trị Ngược lại, một thể chế chỉ biết dùng dùng quyền lực cai trị đẩy người dân vào sự sợ hãi sẽ làm gia tăng sức mạnh cho thứ quyền lực thứ hai: quyền lực của sự phản kháng Bởi
vì, một khi vượt quá ngưỡng của sự sợ hãi, khi không còn gì để mất, người ta sẽ đứng lên phản kháng một cách mạnh mẽ, một mất một còn bằng chính thứ bạo lực
đã chà đạp họ và đấy là lúc lịch sử lại bắt đầu
Theo M.Foucault, một trung tâm quyền lực chỉ biết cố thủ là một lô cốt bị
mù lòa bởi hào quang của quyền lực bao phủ, nó không biết tạo ra thế quân bình bằng cách vươn ra ngoại biên, đón nhận sự tác động của những nhân tố khác để tự điều chỉnh và dung hòa những phản kháng nhằm duy trì sự vận động và phát triển, cho dù
đó là một hệ thống toàn trị Phát triển quan điểm của Marx: Có áp bức có đấu tranh! Mâu thuẫn là động lực của phát triển! M Foucault cho rằng nếu trong một điều kiện nào đó, tất cả bị hút vào trung tâm, thì toàn bộ thể chế xã hội sẽ bị đông cứng lại thành điểm chết (death point) Tức là mẫu thuẫn đã lên đến đỉnh điểm thì quyền lực của trung tâm cũng không còn lí do tồn tại nữa, nó phải tự hủy để chuẩn bị cho một cuộc tái sinh đầy đau đớn Nhưng khác với quan điểm của K.Marx giải quyết điểm chết xã hội ấy (giải quyền lực) bằng một cuộc cách mạng xã hội để xây dựng xã hội cộng sản - một xã hội phi nhà nước, ở đó mọi người đều được tự do, bình đẳng Foucault cho rằng xã hội cộng sản vẫn còn là một viễn cảnh mà nhân loại tiến bộ không thể không đấu tranh để vươn đến nhưng chưa thể hiện thực hóa nó trong điều kiện hiện tại Trong bối cảnh thế giới tư bản đang có những điều chỉnh mạnh mẽ để duy trì sự tồn tại của nó thì những người cộng sản cũng không thể không thay đổi như một sự tương tác biện chứng để duy trì sức mạnh của mình Vì quyền lực tư bản chỉ
có thể duy trì sức mạnh của nó trong sự bảo hộ của hệ thống toàn trị chứ không thể trong sự tương tác cạnh tranh lành mạnh Nên giải quyền lực bằng biện pháp hòa bình
Trang 22thông qua đối thoại và phản biện mạnh mẽ toàn bộ thể chế xã hội đương thời chính
là con đường hiện thực nhất đi đến xã hội công bằng, nhân văn và tự do hơn
Cũng trên quan điểm giải cấu trúc, J.Derrida cho rằng, trung tâm thực chất chỉ là một ước lệ giả tạo của quy trình kiến tạo, cái gọi là trung tâm chỉ là cái nhất thời trong một hệ thống tự trị, khép kín Trong một hệ thống mở, cái trung tâm lại là cái bên lề và ngược lại, nó liên tục bị thay thế bởi sự dịch chuyển nên nó không ổn định mà bất định Lịch sử luôn diễn ra sự thay thế liên tục vai trò thống trị của các nhân tố tự cho là trung tâm Do đó, "trung tâm" "không phải là trung tâm" (The center", therefore, "is not the center) [85, tr 351-370] Bạo lực, khủng bố luôn là mối hiểm họa thường trực khi quyền lực thống trị và quyền lực phản kháng bị tha hóa cùng cực Điều đó phải trả giá bằng chính bạo lực, khủng bố và con người sẽ tự hủy hoại chính mình hơn là tạo dựng nên một nền văn minh đúng nghĩa Cách duy nhất chống bạo lực, khủng bố là chuyển đối đầu thành đối thoại Ví như người cha hay người thầy hiện đại, thay vì dùng roi vọt hay kỷ luật hà khắc là sử dụng phương pháp giáo dục cởi mở, thay vì trói buộc vào sự tuân phục là định hướng cho sự tự
do sáng tạo Đây chính là sự khác biệt tất yếu khi con người thoát khỏi bầy đàn để trưởng thành bằng cách khẳng định tư cách cá nhân của mình
Theo M Foucault và J.Derrida, để duy trì một thế giới trong trạng thái cân bằng, chỉ có thể giải quyền lực của trung tâm toàn trị để hình thành một thế giới đa phương Nhằm chia sẻ và kiểm soát quyền lực lẫn nhau, xây dựng sự tôn trọng để đi đến hòa hợp những khác biệt, chứ không thể duy trì mãi thứ trật tự giả tạo trong một trung tâm thống trị đơn nhất
Giải cấu trúc quyền lực không phải là sự chống phá mà là quá trình hủy - tạo (deconstruction), là sự thay thế các hệ thống già cỗi bằng những cái mới, năng động, phù hợp hơn với bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng Nó đòi hỏi tự
do, dân chủ nhưng không phải bằng con đường bạo lực mà muốn vươn đến đa phương hóa và toàn cầu hóa, tôn trọng mọi khác biệt trong tính đa dạng của thế giới Trong đời sống xã hội, không có tôn trọng thì sẽ không có đối thoại, mọi sự áp bức, thù địch hay xuyên tạc, chống phá đều chỉ có thể dẫn đến bạo lực Việc giải cấu trúc bắt đầu bằng việc phá bỏ tính chất nhị nguyên bất bình đẳng giữa trung tâm
và ngoại biên, để hướng tới kiến tạo một hệ thống mới với sự tương tác bình đẳng
Trang 23đa chiều giữa những khác biệt Vì trong một thế giới tự do, dân chủ, hiểu biết và văn minh không còn có thể duy trì một tiếng nói thay cho mọi tiếng nói, trật tự thế giới phải luôn được xem xét và kiến tạo lại
Bên cạnh đó, M Foucault và J Derrida cũng lưu ý rằng, giải cấu trúc rất dễ
bị lợi dụng bởi những mưu toan phá hoại, sự đòi hỏi đảo lộn trật tự cần thiết để đi đến sự hỗn loạn vô chính phủ Bằng việc chỉ tiếp thu phần hủy mà phớt lờ phần tạo, trong điều kiện đó, nó không dập tắt bạo lực mà lại sinh ra bạo lực bằng sự khuếch trương chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa bè phái, địa phương lẫn chủ nghĩa dân tộc cực đoan Ngay cả nguyên lý đa trung tâm đôi khi cũng chỉ là sự ngụy tạo cho mưu đồ tranh chấp hay chia sẻ quyền lực chứ không phải là giải quyền lực đúng nghĩa Sự
tự do hỗn loạn đó sẽ không mang lại lợi ích cho mọi người mà chỉ có lợi cho các phe nhóm lợi ích chính trị mà thôi
Có thể nói, tư tưởng về giải cấu trúc quyền lực bằng phương pháp chuyển đối đầu bạo lực sang đối thoại và PBXH của M Foucautl và J Derrida chính là sự phát triển quan điểm tiến lên xã hội cộng sản bằng phương pháp hòa bình trong điều kiện của thế giới đương đại Cùng với tác động của phong trào cộng sản thế giới, tư tưởng của hai ông đã có tác động to lớn đến xu thế dân chủ hóa xã hội trên phạm vi toàn cầu Bắt buộc các nhà nước phải điều chỉnh thể chế, chính sách, mở rộng các quyền tự do dân chủ, phạm vi tham gia công cho nhân dân Từ đó, đối thoại dân chủ
và PBXH từng bước trở thành nhân tố chủ chốt thúc đẩy tiến bộ xã hội trong thế giới đa cực ngày nay PBXH được xem là phương pháp chủ yếu để chuyển hóa hòa bình các mâu thuẫn, kiến tạo đồng thuận xã hội; trở thành yếu tố cấu thành quan trọng của xây dựng chính sách công và vận hành thể chế quản lý nhà nước
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Phản biện xã hội là vấn đề mới được đề cập đến từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), tuy nhiên đã tạo được sự quan tâm rộng rãi của xã hội, giới trí thức, báo chí, các nhà khoa học và đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý Vì vậy, đã có nhiều bài báo, chương trình truyền hình, bài nghiên cứu khoa học về PBXH được công bố
Các bài viết, công trình nghiên cứu về nội dung, vai trò, giá trị và ý nghĩa của PBXH chiếm số lượng lớn nhất Một trong những công trình đầu tiên viết về
Trang 24PBXH ở Việt Nam là cuốn sách "Phản biện xã hội" của tác giả Trần Đăng Tuấn do
Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2006, PBXH chỉ là một bài trong tập sách mà tác giả lấy làm tên cuốn sách Trong bài viết, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về nguồn gốc, bản chất, vai trò, giá trị và ý nghĩa của PBXH Theo tác giả, PBXH được xem như là thuộc tính tự nhiên, là cơ chế tự cân bằng của xã hội Thực hành PBXH một cách dân chủ sẽ làm giảm căng thẳng, xung đột xã hội, chuyển hóa mâu thuẫn, phát huy dân chủ và hạn chế sự chủ quan của các cơ quan nhà nước PBXH có tổ chức
sẽ giúp ích lớn cho ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né PBXH sẽ dẫn đến kết quả
là PBXH tự phát, đây là mảnh đất thuận lợi để hình thành tâm thế phản kháng xã hội Nguyễn Trần Bạt cho rằng: "phản biện xã hội trong một xã hội dân chủ là một phản hành động (chứ không phải phản động) xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở
đó mỗi con người đều được tự do bày tỏ nguyện vọng của mình Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho các khuynh hướng
đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn" [4] Theo tác giả, PBXH là sự công nhận địa vị bình đẳng giữa công dân với nhà nước,
là giải pháp để đạt được sự đồng thuận xã hội có chất lượng khoa học Phản biện là phương thức để hóa giải mâu thuẫn xã hội bằng phương pháp hòa bình Bài nghiên cứu cũng nêu ra các điều kiện để có hoạt động phản biện là: tự do ngôn luận, đội ngũ trí thức và báo giới, thái độ chân thành, đúng mực của cả xã hội Thiết chế phản biện cũng được tác giả phác thảo khái quát trong bài viết này, bao gồm hai thiết chế
là xã hội và nhà nước Trong đó xã hội đóng vai trò phản biện và trọng tài, nhà nước
là người quản lý phản biện Để đảm bảo sự hoạt động của thiết chế này thì điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo các quyền tự do của con người Đây là một nghiên cứu
về PBXH có chất lượng và tâm huyết của tác giả Tuy nhiên, cũng mới dừng lại ở mức độ nêu ra các quan điểm, kiến giải ban đầu về bản chất, giá trị, vai trò của PBXH chứ chưa phải là kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn
Đáng chú ý là đề tài khoa học: "Các hình thức và giải pháp thực hiện giám
sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị",
thuộc chương trình khoa học cấp nhà nước (KX 10-06/06-10) năm 2009, của tác giả Trần Hậu (chủ nhiệm đề tài) Nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều nội dung về PBXH như: quan niệm về PBXH, bản chất và vai trò của PBXH, các đặc trưng, nội dung
Trang 25và phương thức PBXH, xây dựng các phương án tổ chức PBXH đối với hoạt động của
hệ thống chính trị nước ta Đề tài cũng dành một phần của chương 6 để trình bày về các giải pháp thực hiện PBXH đối với hệ thống chính trị Đóng góp của đề tài trong lĩnh vực này là đã trình bày một cách có hệ thống các quan điểm về PBXH (tại thời điểm 2009), về bản chất, nội dung, giá trị của PBXH theo quan điểm của Đảng Tuy nhiên, đề tài chưa chỉ ra các xu hướng quan niệm về PBXH đang hình thành và phát triển ở Việt Nam, nhiệm vụ của đề tài lại không gắn trực tiếp với hoạt động xây dựng và thực thi chính sách Đối tượng PBXH trong đề tài là hệ thống chính trị chứ không phải hệ thống chính sách công, nên các kết quả nghiên cứu của đề tài về bản chất, giá trị, đặc trưng, nội dung, phương thức PBXH là những nội dung có giá trị tham khảo nhất Các công trình khác chủ yếu là các ấn phẩm đăng trên các tạp chí,
bị giới hạn trong khuôn khổ bài báo nên chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ nêu vấn đề
ở từng khía cạnh, phương diện nhất định của hoạt động PBXH như trình bày quan niệm, vị trí, vai trò của PBXH hoặc phản ánh trách nhiệm, những điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động phản biện Một nghiên cứu khá sâu sắc là bài viết của tác giả
Hoàng Thị Ngân "Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã hội" đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9(269)/2010, cũng trình bày khái quát và có hệ thống
về khái niệm, vai trò, ý nghĩa, nội dung, đặc trưng và hậu quả của PBXH Triển
khai theo một hưóng khác nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thuỳ Dương "Tư tưởng
Hồ Chí Minh về phản biện xã hội", Tạp chí Phát triển nhân lực, số 29 (3/2012) lại
dẫn chứng và phân tích khá công phu quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tác dụng, vai trò của PBXH trong việc xây dựng nền dân chủ nhân dân, phát huy quyền làm chủ, sự sáng tạo và sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng
Các công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; của truyền thông đại chúng và công dân trong hoạt động PBXH cũng chiếm số lượng lớn trong các bài viết về PBXH cho đến hiện nay Trong
số đó, ngoài đề tài thuộc chương trình khoa học cấp nhà nước (KX 10-06/06-10), của tác giả Trần Hậu như đã nêu trên, nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Thọ Ánh "Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt
trận tổ quốc Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Công trình này đã bước đầu hệ thống hoá một
Trang 26số vấn đề lý luận cơ bản về PBXH ở Việt Nam như trình bày các quan niệm về PBXH, luận giải bản chất, vai trò của PBXH, mối quan hệ giữa PBXH với phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Công trình này cũng
đề cập đến hệ thống PBXH chủ các chủ thể ngoài nhà nước như: cử tri, các đảng chính trị, các nhóm lợi ích, báo chí Theo tác giả các quốc gia theo thể chế chính trị
đa đảng có tính cạnh tranh chính trị cao hơn, nên có không gian rộng hơn cho PBXH so với các nước theo thể chế chính trị một đảng cầm quyền Để hạn chế sự tha hóa quyền lực ở các quốc gia này thì cần phải có thiết chế giám sát, PBXH mà nòng cốt là các tổ chức chính trị, xã hội để tạo ra cơ chế cân bằng quyền lực Công trình cũng lý giải về chức năng, nhiệm vụ PBXH của MTTQVN và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực, hiệu quả hoạt động PBXH của Mặt trận hiện nay Qua đó tác giả đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng PBXH của MTTQVN Tuy nhiên, công trình này chưa làm rõ PBXH là chức năng tự nhiên, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của MTTQVN hay chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Mặt khác, công trình cũng chưa đề cập đến mô hình, quy trình, đặc điểm, phương thức phản biện chính công ở Việt Nam, nên giá trị tham khảo cũng giới hạn ở bình diện nhận thức cơ bản về PBXH
Bài viết của tác giả Đặng Thị Thu Hương "Về vai trò giám sát xã hội và
phản biện xã hội của báo chí Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, số 846, (4/2013), và
Luận văn thạc sĩ ngành Truyền thông đại chúng của tác giả Hoàng Thuỷ Chung
"Tính phản biện của báo chí Việt Nam", Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn (2010) lại tiếp cận phạm trù PBXH từ góc nhìn của truyền thông đại chúng, xem PBXH là một chức năng cơ bản, là nhiệm vụ xã hội quan trọng và cấp thiết của báo chí Việt Nam hiện nay
Một số tác giả khác lại tập trung nghiên cứu về phương thức, cơ chế pháp lý cho hoạt động PBXH trong điều kiện nước ta hiện nay Tác giả Tương Lai trong bài
viết "Xã hội dân sự và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội", Tạp chí Khoa học pháp
lý (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh), số 41, (4/2007) đã đặt vấn đề về mối quan hệ giữa XHDS và quyền phản biện của xã hội đối với nhà nước thông qua
các tổ chức của mình Trong một nghiên cứu công phu hơn, cuốn sách "Phản biện
xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền", do Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn Thị Tường
Trang 27Vân đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010), đã chỉ ra mối tương quan giữa nền kinh tế thị trường, XHDS, nhà nước pháp quyền XHCN và quyền, phương thức PBXH của XHDS Cũng tiếp cận theo hướng này, tác giả Trần Ngọc
Đường với công trình "Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2011), Nguyễn
Văn Mạnh và Tào Thị Quyên trong cuốn sách đồng chủ biên "Dân chủ trực tiếp ở
Việt Nam" Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội, (2010) xem quyền phản biện của
XHDS là quyền cơ bản của công dân, là một hình thức dân chủ trực tiếp, có vai trò
to lớn trong thực hành dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Tác giả Nguyễn
Đăng Dung trong cuốn sách "Hạn chế sự tuỳ tiện của cơ quan nhà nước" do Nhà
xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2010 lại đề cập đến thực trạng "Thông tin bất đối xứng" và sự hạn chế tự do ngôn luận là một trong những căn nguyên dẫn đến sự tùy tiện của các cơ quan nhà nước Xây dựng nhà nước pháp quyền và đặt xã hội dưới sự cai trị của pháp luật là tất yếu khách quan để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về PBXH đều nhấn mạnh ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của PBXH đối với việc phát huy tự do, dân chủ; xây dựng đồng thuận xã hội, tăng cường pháp chế XHCN Là công cụ quan trọng để huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân vào công tác xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước
1.2 Các công trình nghiên cứu về phản biện chính sách công
1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Những giá trị cốt lõi trong lý thuyết của John Dewey về tư duy phản biện, của Michel Foucault và Jacques Derrida về giải cấu trúc quyền lực bằng biện pháp hòa bình thông qua đối thoại và PBXH đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các thể chế quản
lý trong xã hội hiện đại Đặc biệt là trong hoạt động xây dựng, thực thi chính sách công; lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; cải cách, đổi mới thể chế quản lý nhà nước PBCSC được xem là một phần quan trọng của hoạt động tham gia công dân
Trong công trình nghiên cứu: "Thang bậc của tham gia công dân" (A Ladder
of Citizen Participation), Sherry R Arnstein cho rằng sự tham gia công là quyền của công dân, gồm 03 cấp độ, được phân chia thành 08 mức độ khác nhau từ thấp đến cao [93, tr 217], lần lượt là: Cấp độ không tham gia (Nonparticipation), Cấp độ thứ
Trang 28hai (Tokenism) bắt đầu có sự tham và Cấp độ cao nhất của quyền tham gia (Citizen Power) Nghiên cứu của Sherry R Arnstein cung cấp cái nhìn toàn cảnh về quá trình tham gia công như một tiến trình thực thi quyền dân chủ của nhân dân trong hoạch định
và thực thi chính sách công từ thấp đến cao Nội dung cốt lõi của nó chính là việc huy động trí tuệ xã hội để hỗ trợ nhà nước trong quá trình xây dựng, triển khai chính sách và kiểm soát quyền lực Hoạt động phản biện chính sách của mỗi công dân và các tổ chức xã hội từ cấp độ thứ ba trở đi được xem là trọng tâm của tiến trình này
Hoạt động PBCSC tuy mang tính phổ quát với mọi thể chế hành chính nhà nước dân chủ hiện đại, nhưng phương thức tổ chức là khác nhau giữa các quốc gia, do lịch sử phát triển khác nhau về thể chế xã hội, thể chế nhà nước và thể chế hành chính
quốc gia quy định Tác giả Jerri Cockrel với công trình: "Hoạch định chính sách công
ở Hoa Kỳ" (Public Policymaking in America), do University of Kentucky College of
Agriculture, Lexington, USA, xuất bản năm 1997 Trình bày hoạt động phản biện trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách công tại quốc gia này: Điểm nổi bật của hoạch định và thực thi chính sách công tại Hoa Kỳ là sự tham gia rộng rãi của công dân
và các tổ chức xã hội vào tất cả các khâu của quá trình chính sách nhằm đảm bảo tính minh bạch và đồng thuận xã hội Quy trình làm chính sách cũng gồm các bước cơ bản:
Dự thảo chính sách, quyết định chính sách, thực thi, và đánh giá chính sách Quá trình xây dựng chính sách bắt đầu bằng việc các nhóm ủng hộ tiến hành xác định vấn đề chính sách, sau đó nhất trí về lợi ích và trình bày đề xuất chính sách trước chính quyền
và bên phản biện, các ý kiến đề xuất và phản đối đó được chính quyền xác nhận Tiếp theo cả hai bên cố gắng mở rộng sự ủng hộ và giảm thiểu sự phản đối để có thể chính thức trình bày dự thảo chính sách cho chính quyền xem xét Các hoạt động phản biện, tham vấn của cộng đồng diễn ra đồng thời với quá trình xây dựng chính sách của các
cơ quan chủ trì Nói cách khác, quá trình xây dựng chính sách là quá trình mà hai phe, ủng hộ và phản đối (văn bản dự thảo chính sách) đối chất, phản biện lẫn nhau dưới sự trọng tài của chính quyền, cho đến khi có quyết định cuối cùng của nhà nước
Nghiên cứu của Jerri Cockrel cũng cho thấy tại Hoa Kỳ, bên cạnh việc thực hiện phản biện song song với tiến trình xây dựng chính sách, xem phản biện như là một nội dung, thành tố cấu trúc của chính sách, chính quyền luôn tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội tham gia thực hiện tư vấn chính sách công một cách rộng rãi
Trang 29Thông qua đối thoại và thông tin hai chiều nhằm làm tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của quá trình ban hành và thực thi chính sách Thông tin về chính sách luôn công khai để người dân tham vấn, phản biện Hoạt động PBCSC tại Hoa Kỳ diễn
ra song song với quá trình xây dựng, thực thi trong suốt chu trình chính sách [88, tr 2] Trên quan điểm cho rằng tư vấn công là quá trình công chúng và các tổ chức XHDS tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách của nhà nước, thông qua trao đổi đối thoại và thông tin hai chiều nhằm làm tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của quá trình ban hành và thực thi chính sách Các hình thức tư vấn phản biện chính sách thường được sử dụng là: Tham vấn phi chính thức, đưa bản thảo đề xuất chính sách để phản biện công khai trước công chúng, phản biện có trọng tâm, lắng nghe công chúng và sử dụng các tổ chức tư vấn bao gồm tư vấn chuyên nghiệp (Technical advice) và tư vấn lợi ích (Consultation)
Các thể chế ngoài nhà nước đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và thực hiện chính sách công ở Hoa Kỳ Các thể chế này rất đa dạng về nguồn gốc, hình thức, quy mô và hoạt động; trong đó nổi bật là vai trò của các hiệp hội dân sự, truyền thông đại chúng và các tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách độc lập (Think tank) Trong hoạch định chính sách tại Hoa Kỳ, chính sách công là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm, cá nhân có rất ít ảnh hưởng đến chính sách Các tổ chức XHDS ở Hoa Kỳ rất đa dạng, bao gồm: các hiệp hội thương mại, các nghiệp đoàn, các hiệp hội Chính phủ của Bang và địa phương, các đảng phái chính trị, các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân… hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Vai trò của các hiệp hội lên quá trình xây dựng chính sách được mô tả qua mô hình tam giác sắt (The Iron Triangle) trong hoạch định chính sách (xem Hình 1.1)
Hình 1.1 Tam giác sắt (Iron Triangle)
Nguồn: [88, tr 3]
Congress (các nhà lập pháp chính trị gia)
Excutive Branch (các quan chức
cao cấp trong cơ quan thực thi)
Lobbytists (các nhóm lợi ích, các hiệp hội vận động hành lang, nhóm gây áp lực)
Trang 30Trong tiến trình chính sách, những người lãnh đạo hoặc thương thuyết của các nhóm lợi ích (Lobby groups) sẽ tiếp cận các nhà lập pháp và các quan chức chính quyền để vận động chính sách hoặc phản biện các đề xuất của nhóm đối lập lợi ích Thông thường, đối với mỗi chính sách sẽ có một vài nhóm trung tâm (Peak Groups)
và nhiều nhóm ủng hộ cho cả hai phe dự thảo và phản biện chính sách Sự phân công trong tam giác cũng rõ ràng: các nhóm lợi ích (hiệp hội) phản biện nhau (policy debate) qua đó thỏa thuận về lợi ích; lập pháp quyết định; hành pháp ra văn bản quy phạm, thông báo và thực thi Mô hình hoạch định chính sách công theo tam giác
quyền lực này, được gọi là mạng quyền lực (Web of power) và phát triển thành cụm
quyền lực (Power Clusters) Vòng tròn cường độ giao tiếp (Intense Communicaton Circle) thể hiện ảnh hưởng đa dạng của các nhóm lợi ích xã hội lên quá trình xây dựng, đánh giá và kiểm soát chính sách Các nhóm này bao gồm: các nhóm đặc quyền (Special Interests Groups), các nhóm chuyên gia (Professionals), ủy ban lập pháp (Legislative Committees), các lực lượng vận động ngầm (Latent Public), sự quan tâm của công chúng (Attentive Public), các cơ quan chính quyền (Public Administration Agencies) và các nhóm tự nguyện (Volunteers), (xem Hình 1.2)
Hình 1.2 Cụm quyền lực (Power Clusters)
Nguồn: [88, tr 3]
Special Interests Public Groups
Administration
Intense Communicaton Circle Legislative
Committees Professional s
Volunteer s
Latent Public Attentive
Public
Trang 31Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của truyền thông đại chúng trong phản biện chính sách Truyền thông đại chúng gây ảnh hưởng đến chính sách công qua các phương thức sau: Giám sát các nhà hoạch định chính sách; Tường thuật các vụ việc liên quan đến chính sách, thực hiện phân tích, đánh giá chính sách trên công luận; Cung cấp diễn đàn cho bên tham gia phản biện Truyền thông cũng thể hiện quan điểm ủng hộ hay phản đối chính sách bằng việc đăng tải thông tin phản đối hay ủng hộ hoặc không đăng tải, qua
đó có tác động lớn đến định hướng dư luận xã hội đối với các vấn đề chính sách công
Có thể nói, Hoa Kỳ là quốc gia có hệ thống tổ chức PBCSC khoa học và hiệu quả, với những đặc điểm nổi bật như: tính xã hội hóa cao trong hoạt động chính sách, vai trò trọng tài của nhà nước trong tổ chức phản biện, tính minh bạch
và trách nhiệm giải trình của chính quyền
Công trình nghiên cứu của Giáo sư Ann Macintosh, Trung tâm International
Teledemocracy, trường đại học Napier, Scotland, Vương quốc Anh: "Đặc điểm của tham
gia điện tử trong xây dựng chính sách công" (Characterizing E-Participation in
Policy-Making), công bố trong "Kỷ yếu của Hội nghị quốc tế Hawaii lần thứ 37 về khoa học
hệ thống năm 2004", cho thấy: hoạt động tham vấn, phản biện chính sách ở Anh là một
yếu tố cấu thành nội tại của hoạt động xây dựng, thực thi chính sách, được sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin nên có sức lan tỏa, tầm ảnh hưởng lớn và hiệu quả cao Theo Ann Macintosh, sự tham gia này tại Anh có một số đặc điểm sau: Công dân và các tổ chức xã hội hỗ trợ đắc lực cho nhà nước trong việc xây dựng và thực thi chính sách Chính phủ Anh đã có nhiều nỗ lực để tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình này Năm 2000, Quốc hội đã ban hành luật về thực hiện lấy ý kiến bằng văn bản của Chính phủ nhằm tăng cường sự tham vấn rộng rãi của công chúng, bao gồm những người hưởng lợi từ chính sách, nhóm chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp Đạo luật nhằm mục đích nâng cao chất lượng, chuẩn mực của tham vấn chính thức bằng văn bản và buộc các nhà hoạch định chính sách phải lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội
Trong xu hướng bùng nổ công nghệ thông tin, sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ (NGO), chính phủ điện tử (E-Government), sự hình thành
và lan tỏa nhanh chóng của lưới phân tích chính sách trong các quốc gia châu Âu Chính phủ Anh đã xúc tiến chương trình tham gia điện tử (E-Participation) cho công dân của mình nhằm mục đích tạo sự thuận lợi hơn cho công dân trong tham gia góp ý, phản biện chính sách Giảm thời gian, chi phí, và tạo liên kết mạng lưới
Trang 32rộng khắp cho sự tham gia đa chiều của tất cả các lực lượng xã hội trong việc xây dựng, thực hiện chính sách để đạt đến mục tiêu xây dựng một nền dân chủ điện tử (E-Democracy) Tháng 8 năm 2002, Chính phủ Anh đã tổ chức lấy ý kiến công chúng để xây dựng chính sách về nền dân chủ điện tử, gồm hai bộ phận là bỏ phiếu điện tử (E-Votting), triển khai từ 2006 [78] và tham gia điện tử (E-Participation)
Hoạt động tham vấn, PBCSC được thực hiện trong tất cả các khâu của chu trình chính sách, có ba cấp độ tham gia là cho phép, tham vấn và trao quyền [78, tr 21] Việc thực hiện PBCSC dưới hình thức tham gia điện tử giúp cho chính phủ bớt chịu
áp lực từ phía các tổ chức đảng phái, nghiệp đoàn vốn rất nhiều và có thế lực tại Anh Đồng thời cũng giảm được tác động từ phía các nhóm lợi ích, do trong nền dân chủ điện tử, mỗi công dân đều trực tiếp thể hiện quan điểm, chính kiến với nhà nước Đồng thời khi quan điểm, chính kiến, các lập luận bao gồm cả ủng hộ và phản đối với tất cả các chứng cứ, thuyết minh khoa học của tất cả các bên sẽ được đem ra xem xét công khai, dân chủ Chính phủ không thể thiên vị bên nào và các nhóm lợi ích cũng không thể đòi hỏi chính phủ ưu ái mình vì sẽ vấp phải sự phản đối từ những bên khác, chính sách do đó sẽ khách quan hơn
Ở Anh cũng như hầu hết các quốc gia Tây Âu, sự tham vấn chính sách của công chúng diễn ra trong suốt quá trình hoạch định và thực thi; có nhiều hình thức
để người dân tham gia như: tham vấn bằng văn bản, gặp gỡ công khai giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhóm chuyên gia làm chính sách và các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng và hưởng lợi để chất vấn trực tiếp, thông qua hoạt động của các nhóm nòng cốt, các diễn đàn, hội thảo công dân, ban đại diện công dân, các nhóm làm việc, thực hiện tầm nhìn, thông qua việc tổ chức các chương trình nghị sự như thảo luận, hội nghị đồng thuận, diễn đàn theo chủ đề, hòm thư điện tử, trao đổi, khảo sát trực tuyến trên mạng Hoạt động phản biện chính sách trong quá trình tham gia công đã phát triển ở trình độ cao, được tin học hóa và tự động hóa để giảm bớt
sự can thiệp chủ quan của các nhóm lợi ích, đảm bảo tính khách quan của quá trình làm chính sách Tác dụng nhiều mặt của tham vấn, phản biện chính sách thông qua
mô hình dân chủ điện tử tại Vương quốc Anh là rất đáng để các quốc gia khác học tập
Một trong những quốc gia có nền hành chính công rất phát triển là Canada, hoạt động tham vấn, PBCSC được thực hiện rất hiệu quả Tác giả luận án đã tiếp
cận một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Canada như: "Hướng dẫn tham
Trang 33gia công dân" (Handbook on Citizen Engagement: Beyond Consultation) của Chính
phủ Canada, do Bộ Tư pháp phát hành tháng 5 năm 2008 và: "Tham gia công dân
trong tiến trình chính sách công" (Citizen Involvement in Policy Processes), của
nhóm tác giả Phillips, Susan D, và Michael Orsini, do nhà xuất bản Canadian Policy Research Networks, ấn hành năm 2002
Khái niệm tham gia công dân (Citizen Engagement) được sử dụng rộng rãi ở Canada để chỉ tất cả các hoạt động tham gia của người dân vào công việc nhà nước, bao gồm cả tham vấn, phản biện chính sách Đây cũng là quốc gia có tuyên bố về chính sách và hướng dẫn tham gia công được công bố trên Website của Bộ Tư pháp Lời mở
đầu của "Hướng dẫn tham gia công dân" (Policy Statement and Guidelines for Public Participation) nêu: "Chính phủ Canada thấy rằng tính hợp pháp của các tổ chức công cộng,
chất lượng của chính sách công, và việc đáp ứng các dịch vụ công sẽ đòi hỏi cơ chế mới và tốt hơn cho sự tham gia người dân và xã hội dân sự trong quản trị Một thách thức của tất cả các chính phủ là tìm cách làm sáng tạo để đặt công dân vào trung tâm của quá trình quản lý, đưa thanh niên tham gia vào doanh nghiệp, và để cung cấp cho
tiếng nói cho những người tự thấy mình bên lề" (xem Phụ lục 41)[82, tr 1] Quan điểm
về giá trị, lợi ích của PBCSC được nêu trong: "Tuyên bố chính sách và hướng dẫn
tham gia của công dân" (Policy Statement and Guidelines on Public Participation) như
sau: "Như một công cụ chiến lược phát triển chính sách, quá trình tham gia công phù hợp nhất khi áp dụng cho toàn bộ chu trình chính sách từ xác định, lựa chọn vấn đề cho đến tổ chức thực hiện Tham gia công liên quan đến một quá trình giao tiếp hai chiều, trong đó tất cả các bên lắng nghe và đóng góp quan điểm, thông tin và ý tưởng, trong tiến trình phản ánh và đối thoại Cả hai cung cấp cơ hội để nghe thành thật, tôn trọng tất
cả các quan điểm và ý kiến Như được nêu trong kế hoạch chiến lược của Bộ, cam kết quá trình tham gia dựa trên sự cởi mở, tin cậy, tính toàn vẹn, tôn trọng lẫn nhau, tính minh bạch, tính toàn diện và hợp tác"(xem Phụ lục 42) [82, tr 4] Với mục đích tăng cường dân chủ trực tiếp, khắc phục tình trạng thờ ơ chính trị của người dân do bị ngắt kết nối với nền dân chủ (disconnected from their democratic), và sự thâm hụt dân chủ (democratic deficit) do hậu quả của nền dân chủ đại diện Mặt khác, giảm bớt ảnh hưởng của các NGOs lớn, có xu hướng bị chính trị hóa lên tiến trình chính sách, chuyển quá trình quản trị xã hội từ mô hình Top-Down sang quản trị theo chiều ngang Chính phủ Canada đã có nhiều chương trình xã hội để thúc đẩy sự tham gia của người
Trang 34dân Theo "Hướng dẫn tham gia công dân", người dân có nhiều kênh thông tin để bày
tỏ, quan điểm, chính kiến của mình như: Thông qua các buổi tiếp xúc công chúng, các cuộc thảo luận mở, hội thảo, gặp gỡ song phương, phỏng vấn, điều tra, khảo sát, hoạt động của các nhóm tư vấn, xuất bản, báo chí, lắng nghe công chúng, chỉ dẫn mục tiêu, đường dây điện thoại miễn phí Ngoài ra, một số hình thức mới được khuyến khích áp dụng như: Hội nghị tìm kiếm tương lai, tham gia trên mạng, đối thoại chính sách, hội nghị không gian mở, các nhóm nghiên cứu Nhờ sự minh bạch, rõ ràng về tôn chỉ, mục đích, hệ thống quy phạm, chỉ dẫn như vậy, hoạt động tham gia công dân ở Canada rất rộng rãi, minh bạch và có chất lượng Theo giải thích tại cuốn sách này, tham gia công dân (citizen engagement) khác với truyền thông đại chúng (public communication) và
tư vấn công (public consultation) ở chỗ tham gia công dân mang tính tương tác, trao đổi hai chiều giữa nhà nước và công dân, trong khi truyền thông và tư vấn công chỉ có một chiều Tham gia công dân có một số đặc trưng sau (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Đặc trưng của tham gia công dân
representatives) in policy or program
development, from agenda setting and
planning to decision making, implementation
and review
Liên quan đến việc người dân (cá nhân, không đại diện) trong chính sách hoặc chương trình phát triển, bao gồm thiết lập chương trình nghị sự, lập kế hoạch để ra quyết định, thực thi và đánh giá
Requires two way communication regarding
policy or program change (interactive and
iterative): between government and citizens;
among citizens; and among citizens and
civil society groups
Trao đổi hai chiều trong việc thay đổi chính sách hoặc chương trình (tương tác và lặp đi lặp lại): giữa chính phủ và công dân; giữa các công dân;và giữa các công dân và các nhóm XHDS
Aims to share decision-making power and
responsibility for those decisions
Nhằm mục đích chia sẻ quyền lực ra quyết định và trách nhiệm đối với những quyết định Includes forums and processes through
which citizens come to an opinion which is
informed and responsible
Bao gồm các diễn đàn và các tiến trình thông qua đó công dân phát biểu ý kiến, và chịu trách nhiệm về ý kiến đó
Generates innovative ideas and active
Participation
Tạo ra những ý tưởng sáng tạo và tham gia tích cực
Contributes to collective problem solving
and prioritization (deliberation)
Đóng góp cho tập thể và giải quyết vấn đề
ưu tiên (thảo luận) Requires that information and process be
Phụ thuộc vào sự tôn trọng lẫn nhau giữa tất
cả các thành viên tham gia
Nguồn: [91, tr 5]
Trang 35Người dân dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin và tham gia các hoạt động
tư vấn, PBCSC đối với các vấn đề chính sách mà mình quan tâm Quá trình tham gia công dân gồm 5 cấp độ từ thấp đến cao lần lượt là: Thông tin (Information), Tư vấn (Consultant), Tham dự (Involve), Hợp tác (Collaborate) và Trao quyền (Empower) Tiến trình này cho thấy, hoạt động PBCSC tại Canada chủ yếu diễn ra tại 03 cấp độ tham gia cuối là tham dự, hợp tác và trao quyền [82, tr 8] Tuyên bố chính sách và hướng dẫn tham gia công của chính phủ Canada đồng thời cũng quy định trách nhiệm của công dân, các cơ quan công quyền trong quá trình tham gia chính sách của hai bên Đặc biệt, Chính phủ còn có chính sách riêng cho các hoạt động tham gia công dân của các cộng đồng thiểu số người da đỏ [91, tr 18] Có thể nói hoạt động phản biện chính sách là một nội dung quan trọng trong hoạt động tham gia công dân tại Canada Do cơ cấu xã hội đa dạng, tính năng động và dân chủ
xã hội cao, nên sự tham gia các tầng lớp nhân dân vào xây dựng thực thi chính sách công tại Canada là rất có hiệu quả
Tác giả Abdillah Noh trong công trình: "Tái thực hiện tham gia công ở
Singapore: Hình thức và bản chất" (Remaking Public Participation in Singapore:
The Form and Substance) [77], đã phân tích toàn diện hoạt động tham gia công dân trong hoạt động hoạch định, thực thi chính sách công tại Singapore Điểm nổi bật trong hoạt động tham gia, PBCSC ở quốc gia này là tính tổ chức cao, hầu hết các tổ chức quần chúng đều là thành viên của Hiệp hội nhân dân Singapore (People’s Association - PA), thuộc Bộ Phát triển Cộng đồng, Thanh niên và Thể thao của Chính phủ Singapore Trong đó, nổi bật là vai trò Ủy ban tư vấn của công dân (Citizen’t Consultative Committees - CCCs) Các CCCs được thành lập vào năm
1965, có chức năng truyền đạt thông tin hai chiều giữa chính phủ và nhân dân, duy trì sự hòa hợp chủng tộc, tôn giáo và phát huy tính tích cực chính trị của công dân CCCs phản ánh các nguyện vọng và đề đạt từ nhân dân đến chính quyền; tập hợp, phản hồi thông tin và đưa ra các khuyến nghị về nhu cầu của người dân với chính phủ Đồng thời phổ biến các chính sách từ chính quyền đến dân chúng, thông báo
về hành động của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề chính sách nhằm giải quyết các mối quan hệ xã hội Hiện nay, vai trò chính CCCs là tổ chức các chương trình để hỗ trợ Đảng hành động nhân dân (People’s Action Party - PAP) và Chính
Trang 36phủ Sigapore trong các chiến dịch quốc gia, tổ chức các diễn đàn cộng đồng và thực hiện phúc lợi xã hội
Hệ thống chính trị đa nguyên nhưng với vai trò lãnh đạo hầu như tuyệt đối của Đảng cầm quyền PAP, hoạch định chính sách phát triển đất nước trên nguyên tắc đồng thuận xã hội và phát huy tối đa nhân tố con người, huy động rộng rãi sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân vào xây dựng và thực thi chính sách công Hệ thống tham gia công của nhân dân được tổ chức tốt, dân chủ và minh bạch là những
lý do nội tại cơ bản giúp Sigapore có được hệ thống chính sách tốt để thúc đẩy kinh
tế, xã hội phát triển mạnh mẽ, đạt được những kỳ tích về phát triển đất nước
Nhóm tác giả Byong Seob Kim, Chairman và Jin Hyung Kim trong công
trình nghiên cứu: "Gia tăng niềm tin vào chính phủ thông qua chính phủ có sự tham
gia và minh bạch hơn" (Increasing Trust in Government through more Participatory
and Transparent Government) [79], cho thấy sự đổi quan trọng trong cơ chế quản lý các lĩnh vực của Hàn Quốc hiện nay là xu hướng phi tập trung hóa, chuyển từ phương thức: "chính phủ ra quyết định và quản lý" sang phương thức: "hợp tác giữa chính phủ và các khu vực tư nhân", bằng chiến lược: "chính phủ tham dự" Việc tham gia của nhiều bộ phận xã hội, từ chính quyền trung ương, chính quyền địa phương cho đến các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động xã hội, và các cộng đồng dân cư trong quá trình hoạch định chính sách đang được khuyến khích Xu thế này đảm bảo cho việc chính sách công không bị áp đặt từ trên xuống mà nó phản ánh được nhu cầu của mọi tầng lớp xã hội, của từng người dân Hướng đi này là chuyển biến tích cực, mang tính dân chủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách công
ở Hàn Quốc Đây cũng là xu hướng quản lý xã hội hiện đại của nhiều nước như Pháp, Thụy Điển, Phần Lan… đã áp dụng Chính sự tham gia ngày càng sâu rộng của người dân vào toàn bộ qua trình hoạch định và thực thi chính sách công ở Hàn Quốc là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự thành công vượt bậc của quốc gia này trong những thập kỷ qua
Một nhân tố khác là vai trò ngày càng gia tăng của các tổ chức nghiên cứu,
tư vấn chính sách công độc lập (Think tank) Tác giả James G McGann với công
trình nghiên cứu: "Toàn cầu: Think tank, các tổ chức nghiên cứu chính sách công
hàng đầu thế giới" (The global: Go to Think tank, The Leading Public Policy
Trang 37Research Organizations In The World) Đã trình bày các số liệu thống kê của báo cáo được thu thập tại 182 quốc gia trên toàn cầu, với 1.947 chuyên gia phân tích từ
120 nước tham gia Theo số liệu do công trình này công bố, trên toàn thế giới có hơn 6.826 think tank được dự án này theo dõi, đánh giá và xếp hạng, trong đó Hoa
Kỳ chiếm nhiều nhất với 1.828 think tank Lực lượng think tanks của Hoa Kỳ đứng đầu thế giới cả về số lượng và chất lượng, đồng thời cũng chiếm đa số trong tốp 10
và 100 think tanks lớn, có ảnh hưởng nhất nhất thế giới Một số Think tanks nổi tiếng của Mỹ như: Viện Brookings, Quỹ Heritage, Viện Cato, Viện Doanh nghiệp
Mỹ, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế và Viện Doanh nghiệp Cạnh tranh Các think tank đóng vai trò là bộ não chiến lược cho chính phủ, tham gia tư vấn, phản biện trọng mọi quyết định chính sách của chính quyền Hoạt động tư vấn phản biện chính sách của think tank ở Hoa Kỳ có quy mô rộng rãi và hiệu quả cao Trung Quốc đứng thứ hai với hơn 426, vương quốc Anh xếp thứ 3 với 287 tổ chức, các nước sau lần lượt là: Pháp có 177 think tank, đứng thứ 6, Nhật với 108 think tank xếp thứ 9 Những nước sở hữu nhiều think tank đều là các quốc gia phát triển mạnh Cũng theo thống kê của công trình này thì tại khu vực châu Á, Trung Quốc dẫn đầu với 426 think tank, Hàn Quốc có 35 think tank, Thái Lan 8, Malaixia có 18 và Việt Nam có 10 think tank Các số liệu phân tích cho thấy sự tỷ lệ thuận giữa số lượng, quy mô của think tank rồi trình độ phát triển của các khu vực, cụ thể, Bắc
Mỹ chiếm 29,07% tỷ trọng think tank toàn cầu, châu Âu (bao gồm cả Nga) chiếm 26,63%, trong khi châu Âu chỉ có 17,59% Bắc phi và Trung cận đông là 7,49%; Trung và Nam Phi là 8,97%, [87] Với tư cách là "vựa tư tưởng" của xã hội, các tổ chức think tank là các tổ chức nghiên cứu tư vấn chính sách độc lập với Chính phủ, bao gồm các nhà khoa học, chuyên gia phân tích chính sách Các tổ chức này liên kết với nhau thành mạng lưới phân tích chính sách của một quốc gia, và kết nối với các hệ thống think tank ở các quốc gia khác, tạo thành mạng lưới phân tích chính sách khu vực và quốc tế rộng lớn Đây là hệ thống tư vấn, phản biện chính sách chuyên nghiệp, có chất lượng khoa học cao của xã hội Các quốc gia phát triển, có
hệ thống chính sách tốt, đều rất coi trọng lực lượng này và tạo điều kiện để phát triển Sự phát triển mạnh mẽ và tham dự ngày càng sâu của think tank vào việc hoạch định chính sách đã thúc đẩy xu thế chuyên nghiệp hóa hoạt động tư vấn,
Trang 38PBCSC trên thế giới hiện nay, góp phần nâng cao tính khoa học, hợp lý hệ thống của hoạch định chính sách trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
Qua các nghiên cứu trên có thể thấy, việc mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tham vấn, PBCSC của người dân là xu hướng chung ở tất cả các quốc gia Các hoạt động tham gia phản biện chính sách của các chủ thể xã hội có thể thực hiện qua nhiều hình thức như tham gia trực tiếp, tham gia điện tử (E -Participation), thông qua các đảng phái chính trị, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức nghiên cứu, tư vấn chính sách độc lập (Think tank) Người dân có thể tham gia PBCSC với tư cách
cá nhân công dân hay với tư cách là thành viên của tổ chức xã hội Nhà nước có cơ chế, chính sách để tạo sự cân bằng giữa sự tham gia trực tiếp của công dân và gián tiếp qua các tổ chức xã hội để đảm bảo chính sách được khách quan và hiệu quả
1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Tiếp cận PBXH đối với chính sách công ở Việt Nam với tư cách một nội dung nghiên cứu của khoa học chính sách, một công đoạn của chu trình chính sách công còn khá mới mẻ Các nghiên cứu được công bố về vấn đề này còn ít ỏi, phần lớn trong số đó là các bài viết trên các báo, tạp chí hoặc blog, website của cá nhân,
tổ chức trên Internet Nội dung của các nghiên cứu này cơ bản tập trung vào việc khẳng định vai trò, giá trị, ý nghĩa và tầm quan trọng của PBCSC trong điều kiện đất nước hiện nay, một số nghiên cứu theo hướng này như:
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội trong hoạt động PBCSC ở nước ta có thể kể ra: Đề tài khoa học cấp bộ, năm
2009: "Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng xã hội
trong phản biện chính sách công" của tác giả Nguyễn Hữu Hải (chủ nhiệm đề tài)
Công trình đã trình bày một cách có hệ thống những nhận thức cơ bản về PBCSC, Giới thiệu kinh nghiệm PBCSC của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng tham gia PBCSC của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đánh giá năng lực, thuận lợi và khó khăn của các tổ chức nói riêng, xã hội nói chung trong hoạt động phản biện chính sách ở nước ta Từ đó đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp tham gia PBCSC ở Việt Nam giữa các chủ thể trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở nước ta về PBCSC
Trang 39Xem xét PBCSC từ bình diện hoạt động tham gia công của công dân, tác
giả Vũ Thanh Sơn trong bài nghiên cứu: "Tham gia của người dân vào quy trình
chính sách công", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 348 (5/2007) tiếp cận vấn đề phản
biện từ thực trạng tham gia của người dân vào quy trình chính sách công ở Việt Nam Phân tích các cấp độ tham gia của công dân vào các bước của quy trình chính sách Đánh giá lợi ích và dự báo những trở ngại đối với hoạt động tham gia xây dựng và thực thi chính sách công ở nước ta, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm tạo thuận lợi cho việc mở rộng quyền tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị của đất nước
Tiếp cận theo hướng xem PBCSC là thuộc tính tự nhiên của XHDS trong mối tương quan với nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền, là sự phản ánh trạng thái chuyên nghiệp của ngôn luận và PBXH Tác giả Đặng Phong trong cuốn
"Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975-1989", Nhà
xuất bản Tri thức, Hà Nội, (2008), đề cập đến hai nhân tố quan trọng nhất cấu thành chất lượng của PBCSC là think tank và đội ngũ trí thức Think tank là mô hình PBCSC rất hiệu quả hiện nay trên thế giới (Think tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia) Đội ngũ trí thức, đóng vai trò là lực lượng PBCSC chủ chốt của xã hội, là tai mắt, cỗ máy phát ngôn chuyên nghiệp của nhân dân
Đề tài khoa học cấp Bộ, năm 2016: "Bảo đảm sự tham gia của công dân
trong hoạch định và thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay", của tác giả
Đặng Khắc Ánh (chủ nhiệm đề tài) Nghiên cứu đã tập trung làm rõ vai trò quan trọng của sự tham gia công dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách công, cũng như các điều kiện về quyền và cơ chế, chính sách để đảm bảo sự tham gia công dân trong thực tiễn nước ta hiện nay Đề tài đã chỉ ra thực trạng hiện nay là việc lấy ý kiến công dân để đo lường trước tác động của chính sách trước khi ban hành tuy đã được quy định trong pháp luật nhưng triển khai trên thực tế còn hạn chế Đặc biệt, hoạt động PBCSC là khâu rất quan trọng trong công tác làm chính sách ở các nước trên thế giới thì ở Việt Nam đang bị coi nhẹ
Trang 40Tác giả Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) với công trình nghiên cứu "Xã hội
dân sự ở Malaysia và Thái Lan", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội (2009), đã
so sánh mô hình XHDS của các nước phương Tây và mô hình XHDS của các nước Đông Á, chỉ ra sự khác biệt trong mô hình tổ chức, phương thức vận hành của hai
mô hình này Lý giải tính tương thích trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức của xã hội vào thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý ở mỗi quốc gia Điều đó dẫn đến sự khác nhau trong mô hình, cơ chế, phương thức PBCSC trong các nền dân chủ phương Đông và phương Tây Theo phân tích của công trình này, ở các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Xingpo, Malaixia, Thái Lan, hoạt động PBCSC của được kiểm soát chặt chẽ hơn, chủ yếu tiến hành thông qua hệ thống các
tổ chức chính trị xã hội được nhà nước giám sát chặt chẽ
trọng phát triển hệ thống Thinktank" [28] cho thấy: Các hoạt động tham vấn, PBCSC tại Trung Quốc chủ yếu thực hiện qua hai hệ thống là hệ thống Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Hoa (Chineese People’s Political Consultative Conference-CPPCC) các cấp và hệ thống thinh tank Do có sự tham gia của đại diện các đảng phái chính trị có xu hướng khác nhau, các tổ chức xã hội, tôn giáo, các nhóm xã hội khác nhau trong CPPCC nên việc xem xét, đánh giá, cân nhắc của chính sách của nhà nước trong hoạt động của CPPCC khá sôi nổi Tính đa dạng của CPPCC đảm bảo cho việc tham vấn chính sách rộng rãi của mọi thành phần xã hội nhưng vẫn đảm bảo được sự định hướng chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc Hiện tại Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Hoa khóa XII với hơn 3.000 ủy ban các cấp và hơn 500.000 ủy viên Tổ chức chính trị - xã hội này là cơ
sở quan trọng để các tầng lớp nhân dân Trung Hoa thực hiện quyền tham gia hoạt động quản lý nhà nước của mình Lực lượng think tank của Trung Quốc hiện có hơn 2.500 cơ quan nghiên cứu chính sách, với 35 nghìn cán bộ chuyên trách, 270 nghìn
nhân viên làm việc Trong đó có 2.000 cơ quan "kiểu think tank" [28], chủ yếu
nghiên cứu chính sách, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ chính phủ Hầu hết các think tank đều do nhà nước thành lập và cấp kinh phí: 95% do nhà nước trả lương, cán bộ do nhà nước bổ nhiệm; chỉ có 5% thuộc diện dân lập, quy mô rất nhỏ [28] Gần đây, Think tank độc lập tầm cỡ quốc tế được thành lập là Trung tâm Giao lưu