1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG ở VIỆT NAM từ THỰC TIỄN các TỈNH MIỀN TRUNG, tây NGUYÊN tt

27 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 389,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động xây dựng và thực thi chính sách công ở nước ta những năm qua còn những hạn chế như: xác định mục tiêu, biện pháp chính sách chưa sâu sát với tình hình thực tiễn; việc huy động

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

CAO TIẾN SỸ

PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG

Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC TỈNH

MIỀN TRUNG, TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành : Quản lý hành chính công

Mã số : 62 34 82 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Học viện Hành chính Quốc gia

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Hữu Hải

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia

và Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Chính sách công là công cụ định hướng quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước; hệ thống chính sách của một quốc gia có hợp lý hay không

sẽ quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của cả nền kinh tế hoặc của từng vùng, từng địa phương Hoạt động xây dựng và thực thi chính sách công ở nước ta những năm qua còn những hạn chế như: xác định mục tiêu, biện pháp chính sách chưa sâu sát với tình hình thực tiễn; việc huy động trí tuệ, nguồn lực xã hội vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách chưa cao, nhất là việc thu hút trí tuệ, nguồn lực của nhân dân vào hoạch định, thực thi chính sách còn chưa được coi trọng Những bất cập này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của các chính sách công cũng như các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trên trên là hoạt động phản biện xã hội (PBXH) đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách của các cấp chính quyền chưa được đặt đúng tầm mức; thiếu cơ chế, biện pháp thích hợp để tạo nên sự thống nhất cao trong xã hội Hoạt động phản biện chính sách còn bó hẹp trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, thiếu sự tham gia tích cực của người dân Thực tế cho thấy những chính sách nào có sự tham vấn, PBXH rộng rãi, công khai, dân chủ đều tạo được sự đồng thuận và mang tính khả thi cao

Phản biện chính sách công (PBCSC) là hoạt động PBXH của công dân

và tổ chức xã hội dân sự (XHDS) đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của nhà nước, từ bước khởi sự đến quy phạm hóa chính sách thành văn bản pháp lý, tổ chức thực hiện, đánh giá và kết thúc chu trình chính sách Thực hiện phản biện đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách công sẽ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của nền hành chính, hạn chế ý chí chủ quan, lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách Đồng thời, tạo nên sự đồng thuận xã hội về mục tiêu, biện pháp thực thi

và chuẩn bị về tư tưởng, dư luận xã hội ủng hộ cho việc triển khai chính sách Giúp phát hiện những điểm mù chính sách và là căn cứ thực tiễn để đo lường, đánh giá chính sách Không thể có chính sách tốt nếu thiếu sự tham gia phản biện tích cực và hiệu quả của người dân trong toàn bộ quá trình chính sách Tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng trong sạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả nhằm mục tiêu xây dựng nền hành chính công thực sự của dân, do dân và vì dân, tất yếu dẫn đến việc mở rộng

sự tham gia PBCSC của nhân dân

Trang 4

Nghiên cứu về PBCSC ở nước ta còn khá mới mẻ, kết quả nghiên cứu còn hết sức khiêm tốn và cũng chỉ tập trung trên một vài khía cạnh, phương diện nhất định Thực tiễn xây dựng, thực thi chính sách công ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC nhằm cung cấp

cơ sở khoa học cho yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi và quản

lý, đổi mới chính sách công Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề

tài nghiên cứu "Phản biện chính sách công từ thực tiễn các tỉnh Miền

trung, Tây nguyên" cho luận án khoa học của mình với mong muốn đóng

góp thêm về lý luận và thực tiễn cho hoạt động PBCSC ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Mục đích của đề tài luận án là luận giải một cách khoa học về PBCSC; đánh giá thực trạng PBCSC ở nước ta; đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phương thức PBCSC hiện nay nhằm nâng cao chất lượng PBCSC ở Việt Nam Qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách trong hoạt động quản lý hành chính công ở nước ta

Đề xuất đổi mới quy trình PBCSC và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phản biện chính sách ở nước ta trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được xác định là hoạt động PBCSC của các chủ thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam (VUSTA) tại một số tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên; Hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về nội dung, hình thức, phương pháp và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động PBCSC, cụ thể:

Nghiên cứu các lý thuyết, tư tưởng, mô hình PBCSC trên thế giới, hoạt động PBCSC tại một số quốc gia tiêu biểu

Trang 5

Nghiên cứu nội dung hoạt động PBCSC ở Việt Nam, bao gồm: Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách công và PBCSC Quy định pháp luật Việt Nam về PBXH, PBCSC Nghiên cứu về chủ thể, quy trình, phương thức tổ chức PBCSC hiện nay

- Phạm vi thời gian

Các hoạt động PBCSC trong nước từ năm 2010 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Đề tài dựa trên phương phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử; căn cứ vào nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân

4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Sử dụng phương pháp thống kê để tập hợp, phân loại thông tin, tư liệu

về hoạt động PBCSC ở nước ngoài và trong nước để hình thành các tài liệu

sơ cấp của luận án Sử dụng 600 phiếu điều tra xã hội học để thu thập số liệu, thông tin tại 06 địa bàn nghiên cứu Dùng phần mềm SPSS để thống kê, phân loại, hệ thống hóa, xử lý số liệu thu thập được Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích định tính và định lượng để nghiên cứu bản chất vấn đề, hình thành các tài liệu thứ cấp Dựa trên các kết quả này, dùng công cụ phân tích PEST đánh giá thực trạng, công cụ phân tích SWOT để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu trong hoạt động PBCSC ở Việt Nam, tổng hợp hóa và rút ra các kết luận, kiểm định lý thuyết Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa, mô hình hóa để nhận diện, xác lập chủ thể, mô hình, cơ chế PBCSC tại Việt Nam và phát hiện lý luận

5 Giả thuyết khoa học của luận án

Phản biện chính sách công ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như: Khung pháp lý chưa đầy đủ và kém hiệu quả Năng lực phản biện của các chủ thể, cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập; cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin phản biện chính sách chưa được pháp lý hóa cụ thể, đồng bộ Thiếu quy

Trang 6

trình PBCSC hợp lý, rõ ràng, có tính xã hội cao làm cơ sở huy động có hiệu quả sự tham gia của người dân vào hoạt động chính sách Các điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả cho PBCSC chưa đáp ứng được yêu cầu

Từ thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu thực trạng các vấn

đề cơ bản của PBCSC: Cơ sở lý luận, khung pháp lý, năng lực chủ thể, hệ thống tổ chức và hoạt động; nội dung, hình thức, quy trình, phương pháp phản biện; các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo của PBCSC ở nước ta nhằm trả lời các câu hỏi: Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì? Vai trò của nó trong xây dựng, thực thi chính sách công; trong việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, trong sạch và hiện đại? Phản biện chính sách ở nước ta nên tổ chức như thế nào? Mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp phản biện chính sách nào phù hợp với thực tiễn Việt Nam? Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo?

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình nghiên cứu chuyên sâu về PBCSC, luận án có những điểm mới sau:

Hoàn thiện cơ sở lý luận về PBCSC: Luận chứng vai trò, ý nghĩa, tác dụng của PBCSC trong kiểm soát quyền lực nhà nước; thực hành quyền dân chủ của nhân dân trong xây dựng và thực thi chính sách công với tư cách là một hình thức tham gia công dân

Làm rõ đặc điểm, nội dung, hình thức, mô hình quy trình PBCSC ở Việt Nam

Đề xuất đổi mới quy trình phản biện chính sách, các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC trong điều kiện hiện nay

Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung cho hệ thống lý thuyết về PBCSC Cung cấp những luận cứ thiết thực cho công tác tổ chức, quản lý hoạt động phản biện chính sách; công tác xây dựng và thực thi chính sách ở Việt Nam Đây cũng là tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên của các cơ sở đào tạo về khoa học chính sách công và các chủ thể PBCSC trong xã hội

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công

Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu

vực miền Trung, Tây Nguyên

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở

Việt Nam

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 1.1 Các công trình nghiên cứu về phản biện xã hội

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu sinh đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu về tư duy

phản biện, PBXH tiêu biểu như: "How We Think" (Chúng ta suy nghĩ như thế nào), John Dewey (1910); Các công trình: "The Subject and Power" (Chủ thể và quyền lực), "Discipline and Punish" (Kỷ luật và trừng phạt), "The

Other" (Cái khác), Michel Foucault (1983); "Structure, Sign, and Play in The Discourse of the Human Sciences", Jacques Derrida (1978); "Critical theory and Public Life", John Forester (1987); "Critical Thinking: Its Definition and Assessment", Fisher, Alec and Scriven, Michael (1997); "Critical Reasoning: Understanding and criticizing arguments and theories", Cederblom, J & Paulsen,

D.W (2006), 6th edn (Belmont, CA, Thomson Wadsworth); "Critical Thinking

as Dialectics: A Hegelian-Marxist Approach", Pavlidis, Periklis (2010), Journal

for Critical Education Policy Studies.Vol.8(2); "Critical Thinking", Moore,

Brooke Noel and Parker, Richard (2012), 10th ed

Điểm chung của các công trình nghiên cứu trên là đều xem tư duy phản biện (Reflective Thinking) là phương pháp nhận thức tự nguyện, có giá trị dân chủ cao nhất trong việc tìm kiếm sự thật, khẳng định chân lý và xây dựng niềm tin Xem PBXH là thuộc tính của xã hội dân chủ, là một nguyên tắc chính trị thực hành được thực hiện rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bản chất của nó là việc áp dụng tư duy phê phán khoa học vào việc đánh giá các hoạt động của nhà nước và thể chế xã hội PBXH cũng là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời là một nội dung quan trọng của hoạt động tham gia công dân và là phương pháp để quản lý các dòng tri thức xã hội, sử dụng hiệu quả trí tuệ tập thể của nhân dân vào phát triển xã hội Là phương pháp chủ yếu để chuyển hóa hòa bình các mâu thuẫn, kiến tạo đồng thuận xã hội và là yếu tố cấu thành quan trọng của xây dựng, thực thi chính sách công, vận hành thể chế quản lý nhà nước

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu về PBXH đã được khảo sát như: "Phản biện xã

hội", Trần Đăng Tuấn, Nxb Đà Nẵng (2006); Đề tài khoa học cấp nhà nước

(2009): "Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã

hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị", Trần Hậu (chủ nhiệm

đề tài); "Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam hiện nay", Nguyễn Thọ Ánh (2010); "Phản biện xã hội", Nguyễn

Trần Bạt, https://luatminhkhue.vn (22/2/2011); "Một số vấn đề về giám sát xã

hội và phản biện xã hội", Hoàng Thị Ngân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số

9(269)/2010; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về phản biện xã hội", Hà Thị Thùy

Trang 8

Dương, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 29 (3/2012); "Về vai trò giám sát xã hội

và phản biện xã hội của báo chí Việt Nam", Đặng Thị Thu Hương, Tạp chí Cộng

sản, số (846) (4/2013);"Tính phản biện của báo chí Việt Nam" Hoàng Thủy Chung, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2010); "Xã hội dân sự

và mấy vấn đề của các tổ chức xã hội", Tương Lai, Tạp chí Khoa học pháp lý

(Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh), số 41, (4/2007); "Phản biện xã

hội và phát huy dân chủ pháp quyền", Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn Thị Tường

Vân đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2010); "Quyền con người,

quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Trần

Ngọc Đường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2011); "Dân chủ trực tiếp ở Việt

Nam", Nguyễn Văn Mạnh - Tào Thị Quyên, Nxb Chính trị - hành chính,

(2010); "Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước", Nguyễn Đăng Dung, Nxb Tư Pháp (2010); "Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam",

Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, (2017) Trần Đăng Tuấn cho rằng, PBXH là thuộc tính tự nhiên, là cơ chế tự cân bằng của xã hội Thực hành PBXH một cách dân chủ sẽ làm giảm căng thẳng, xung đột xã hội, chuyển hóa mâu thuẫn, phát huy dân chủ và hạn chế sự chủ quan của các cơ quan nhà nước PBXH có tổ chức sẽ giúp ích lớn cho ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né PBXH sẽ dẫn đến kết quả là PBXH tự phát, đây là mảnh đất thuận lợi để hình thành tâm thế phản kháng xã hội Nghiên cứu của Trần Hậu đề cập đến nhiều nội dung về PBXH như: quan niệm về PBXH, bản chất và vai trò của PBXH, các đặc trưng, nội dung và phương thức PBXH, xây dựng các phương án tổ chức PBXH đối với hoạt động của hệ thống chính trị nước ta Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thọ Ánh cập đến hệ thống PBXH của các chủ thể ngoài nhà nước như: cử tri, các đảng chính trị, các nhóm lợi ích, báo chí Lý giải về chức năng, nhiệm vụ PBXH của của MTTQVN và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực, hiệu quả hoạt động PBXH của MTTQVN Qua đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng PBXH của MTTQVN Nhìn chung các công trình nghiên cứu về PBXH đều nhấn mạnh

ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của PBXH đối với việc phát huy tự do, dân chủ; xây dựng đồng thuận xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Là công cụ quan trọng để huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân vào xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước

1.2 Các công trình nghiên cứu về phản biện chính sách công

1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Tác giả luận án đã tiếp cận các công trình nghiên cứu: "A Ladder of

Citizen Participation" (Thang bậc của tham gia công dân), Sherry R Arnstein

(1969); "Public Policymaking in America" (Hoạch định chính sách công ở Hoa Kỳ), Jerri Cockrel (1997); "Characterizing E-Participation in Policy-Making"

(Đặc điểm của tham gia điện tử trong xây dựng chính sách công), Ann

Macintosh (2004); "The global: Go to Think tank, The Leading Public Policy

Research Organizations In The World " (Toàn cầu: Think tank, các tổ chức

Trang 9

nghiên cứu chính sách công hàng đầu thế giới); James G McGann (2013);

"Handbook on Citizen Engagement: Beyond Consultation" (Hướng dẫn tham gia

công dân), Bộ Tư Pháp Canada (2008); "Citizen Involvement in Policy Processes"

(Tham gia công dân trong tiến trình chính sách công), Phillips, Susan D, và

Michael Orsini (2002); "Remaking Public Participation in Singapore: The

Form and Substance" (Tái xây dựng sự tham gia công tại Singapore: Hình

thức và nội dung), Abdillah Noh; "Increasing Trust in Government through

more Participatory and Transparent Government" (Thúc đẩy niềm tin vào

chính phủ thông qua tăng cường sự tham gia công và ủy quyền của chính

phủ); Byong Seob Kim, Chairman và Jin Hyung Kim; "Public Policy Skills"

(Kỹ thuật chính sách công), Coplin, William D và Michael K.O’Leary (1998) Nghiên cứu của Sherry R Arnstein cung cấp cái nhìn toàn cảnh về quá trình tham gia công như một tiến trình thực thi quyền dân chủ của nhân dân trong hoạch định và thực thi chính sách công từ thấp đến cao Nội dung cốt lõi của nó chính

là việc huy động trí tuệ xã hội để hỗ trợ nhà nước trong quá trình xây dựng, triển khai chính sách và kiểm soát quyền lực Jerri Cockrel xem phản biện là nội dung, thành tố cấu trúc của chính sách công Sự tham gia rộng rãi của công dân và các

tổ chức xã hội vào tất cả các khâu của quá trình chính sách đảm bảo tính minh bạch và đồng thuận xã hội Các hoạt động phản biện, tham vấn của cộng đồng diễn

ra đồng thời với quá trình xây dựng chính sách của các cơ quan chủ trì Thông qua đối thoại và thông tin hai chiều nhằm làm tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của quá trình ban hành và thực thi chính sách công Nghiên cứu của Ann Macintosh cho thấy: hoạt động tham vấn, phản biện chính sách là yếu tố cấu thành nội tại của hoạt động xây dựng, thực thi chính sách; được thiết kế gắn chặt với chương trình chính sách, trong tất cả các khâu của hoạt động chính sách Được

sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin nên có sức lan tỏa, tầm ảnh hưởng lớn

và hiệu quả cao Công trình của James G McGann trình bày hoạt động của các

tổ chức think tank tại 182 quốc gia trên toàn cầu, chỉ ra: Các tổ chức think tank là

hệ thống tư vấn, phản biện chính sách độc lập, chuyên nghiệp, có chất lượng khoa học cao của xã hội Sự phát triển mạnh mẽ và tham dự ngày càng sâu của think tanks vào việc hoạch định chính sách đã thúc đẩy xu thế chuyên nghiệp hóa hoạt động tư vấn, PBCSC trên thế giới Góp phần nâng cao tính khoa học, hợp lý của hệ thống của hoạch định chính sách công trong thời đại toàn cầu hóa Các công trình nghiên cứu về PBCSC trên cho thấy: PBCSC đã được nhiều quốc gia tổ chức thành hệ thống hoàn chỉnh, chuyên nghiệp, có khung pháp lý rõ ràng, cơ chế, mô hình, quy trình vận hành chặt chẽ và phù hợp với đặc thù của nền hành chính công của đất nước Là nhân tố quan trọng để huy động trí tuệ xã hội vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách của nhà nước và đảm bảo quyền tham gia bình đẳng của các cộng đồng dân cư

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Một số công trình tác giả luận án đã khảo sát: Đề tài khoa học cấp bộ

(2009): "Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng

Trang 10

xã hội trong phản biện chính sách công", Nguyễn Hữu Hải (chủ nhiệm); Đề

tài khoa học cấp Bộ (2016): "Bảo đảm sự tham gia của công dân trong

hoạch định và thực thi chính sách công ở Việt Nam hiện nay", Đặng Khắc

Ánh (chủ nhiệm); "Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan", Lê Thị Thanh Hương (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2009); "Tham gia của

người dân vào quy trình chính sách công", Vũ Thanh Sơn, Tạp chí Nghiên

cứu kinh tế, số 348 (5/2007); "Tư duy kinh tế Việt Nam - Chặng đường gian

nan và ngoạn mục 1975-1989", Đặng Phong (2008), Nxb Tri thức, Hà Nội;

"Lợi ích của phản biện xã hội đối với chính sách Nhà nước", Phương Ngọc

Thạch (2007), Tạp chí Phát triển kinh tế; "Huy động sự tham gia của nhân

dân vào hoạt động quản lý nhà nước", Dương Quang Tùng (12/2007), Tạp

chí Quản lý nhà nước (143); "Trung Quốc coi trọng phát triển hệ thống Think

tank", Nguyễn Hải Hoành (2010), Tia Sáng, link: tiasang/ online/12/11/2010;

"Chính sách công và tư duy phản biện", Jonathan R Pincus (2012)

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hải (chủ nhiệm) đã làm rõ thực trạng tham gia PBCSC của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đánh giá năng lực, thuận lợi

và khó khăn của các tổ chức nói riêng, xã hội nói chung trong hoạt động phản biện chính sách ở nước ta Đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp tham gia PBCSC ở Việt Nam giữa các chủ thể trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách Công trình của Đặng Khắc Ánh (chủ nhiệm) Nêu ra thực trạng hiện nay là việc lấy ý kiến công dân để đo lường tác động của chính sách trước khi ban hành trên thực tế còn hạn chế Đặc biệt, hoạt động PBCSC là khâu rất quan trọng trong công tác làm chính sách ở các nước trên thế giới thì ở Việt Nam đang bị coi nhẹ Chỉ ra vai trò quan trọng của sự tham gia công dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách công, cũng như các điều kiện về quyền và cơ chế, chính sách để đảm bảo sự tham gia công dân trong thực tiễn nước ta hiện nay Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) trong nghiên cứu của mình đã so sánh mô hình XHDS của các nước phương Tây và mô hình XHDS của các nước Đông Á, chỉ ra sự khác biệt trong mô hình tổ chức, phương thức vận hành của hai mô hình này Lý giải tính tương thích trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức của xã hội vào thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý ở mỗi quốc gia Điều đó dẫn đến sự khác nhau trong mô hình, cơ chế, phương thức PBCSC trong các nền dân chủ phương Đông và phương Tây Các nghiên cứu được công bố về PBCSC ở Việt Nam còn khá khiêm tốn Nội dung nghiên cứu cơ bản tập trung vào việc khẳng định vai trò, giá trị, ý nghĩa và tầm quan trọng của PBCSC trong điều kiện nước ta hiện nay

1.3 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

1.3.1 Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Phản biện chính sách công được xem là thuộc tính của XHDS, là sự đối trọng và kiểm soát của XHDS đối với nhà nước Được thực hiện trong toàn

bộ chu trình chính sách, bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến xây dựng và thực thi chính sách công như: phản biện về việc lựa chọn vấn đề, mục tiêu và chương trình chính sách, về hệ thống giải pháp, lộ trình, phân bổ nguồn lực

Trang 11

và các đề án thực thi chính sách, về sự thống nhất, phù hợp của chính sách với điều kiện kinh tế - xã hội, về tính hợp lý và hợp pháp của hệ thống văn bản chính sách Chủ thể phản biện là công dân, các tổ chức XHDS, các think tank và tất các các chủ thể liên quan

1.3.2 Đối với các công trình nghiên cứu trong nước

1 Xác định vai trò của PBCSC là hỗ trợ, bổ sung cho phản biện, thẩm định của các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách Nhằm làm cho các chính sách trở nên hợp lý, khách quan và khả thi hơn; đảm bảo quyền lực của nhân dân trong quản lý nhà nước

2 Bước đầu luận chứng được vị trí, vai trò của một số chủ thể xã hội trong hoạt động phản biện chính sách ở nước ta như: vị trí, vai trò của MTTQVN, VUSTA và các tổ chức đoàn thể nhân dân,

3 Đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động PBCSC ở nước ta (về bản chất, khái niệm, nội hàm của PBXH, phản biện chính sách, chỉ ra vai trò, tính tất yếu của PBCSC )

4 Một số công trình đã đề xuất những giải pháp thực hiện PBCSC theo mục tiêu trực tiếp của đề tài (cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cộng đồng xã hội trong PBCSC; các hình thức và giải pháp thực hiện giám

sát xã hội và PBXH đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị )

1.4 Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu làm sáng tỏ trong luận án

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động PBCSC ở nước ta hiện nay: Chỉ ra tính tất yếu, đặc thù và phương thức thực hiện PBCSC trong thể chế chính trị một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền ở Việt Nam; bổ sung và

hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động PBCSC

Đánh giá khách quan năng lực, trình độ, quy mô và xu hướng phát triển của hoạt động PBCSC ở Việt Nam Qua đó, làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm của cơ chế, quy trình phản biện chính sách ở nước ta, những hạn chế, bất cập trong mô hình, cơ chế hiện tại

Đề xuất đổi mới quy trình phản biện, hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBCSC

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 2.1 Khái niệm phản biện xã hội và khái niệm phản biện chính sách công

2.1.1 Khái niệm phản biện xã hội

Trong đề tài luận án, khái niệm PBXH được quan niệm là: Phản biện xã

hội là hoạt động bày tỏ chính kiến, kiến nghị, đánh giá, thẩm định… của tổ chức xã hội, cá nhân và cộng đồng đối với quá trình xây dựng và thực thi các quyết sách kinh tế-chính trị của đảng cầm quyền và nhà nước nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và đồng thuận của xã hội, làm cho các quyết sách của đảng cầm quyền và nhà nước phản ảnh đúng quy luật khách quan,

Trang 12

phù hợp với thực tiễn và đáp ứng mong đợi của nhân dân, đảm bảo hài hòa lợi ích và phát triển bền vững

2.1.2 Phân biệt phản biện xã hội với một số dạng thức phản biện khác

Trong mục này, tác giả luận án trình bày sự khác biệt giữa phản biện xã hội với một số dạng thức phản biện khác, bao gồm:

2.1.2.1 Phản biện xã hội và phản biện khoa học

2.1.2.2 Phản biện xã hội và phản biện của các cơ quan, tổ chức của nhà nước

2.1.2.3 Phân biệt phản biện xã hội với dư luận xã hội và các hình thức góp ý khác

2.1.3 Khái niệm phản biện chính sách công (phản biện xã hội đối với chính sách công)

Phản biện chính sách công thực chất là PBXH đối với chính sách công, hoạt động này kéo dài suốt quá trình xây dựng, ban hành, triển khai và kiểm soát chính sách công trong thực tiễn Theo hướng tiếp cận này, tác giả luận

án quan niệm: Phản biện chính sách công là sự đánh giá, thẩm định, bày tỏ

chính kiến, kiến nghị của các cá nhân, cộng đồng, tổ chức xã hội đối với quá trình xây dựng và thực thi chính sách công của nhà nước nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạch định, thực thi và kiểm soát chính sách

2.2 Tính tất yếu khách quan của phản biện chính sách công

2.2.1 Phản biện chính sách công là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua PBCSC của XHDS và công dân

là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, có giá trị dân chủ và hiệu quả cao Là sự kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ, tri thức của cộng đồng - một hình thức kiểm soát quyền lực thể hiện trình độ văn minh của xã hội,

bổ sung cho các phương thức kiểm soát quyền lực truyền thống khác Tạo ra

sự cân bằng, tương thích giữa nền kinh tế thị trường, tổ chức xã hội và nhà nước pháp quyền cũng như sự cân bằng nội tại của hệ thống chính sách công

2.2.2 Phản biện chính sách công là một hình thức tham gia công dân

2.2.2.1 Phản biện chính sách công là một hình thức tham gia công dân

Hoạt động tham gia công dân được xây dựng thành thang bậc tham gia công dân, với nhiều cấp độ tham gia khác nhau Các mô hình thang bậc tham gia công dân của Sherry, R Arnstein, Wilcox và Ann Macintosh nghiên cứu đều cho thấy PBCSC là hình thức tham gia có chất lượng cao của hoạt động tham gia công dân Sự tham gia của người dân được thực hiện trong tất cả các khâu của quy trình chính sách, trên tinh thần đối thoại bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa nhà nước và nhân dân

2.2.2.2 Hoạt động phản biện trong chu trình chính sách công

Nội dung PBCSC bao trùm toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách, với nhiều chủ thể và mức độ khác nhau Nội dung phản biện là xem xét tính hợp pháp, hợp lý của chính sách; đánh giá tính khoa học, giá trị thực

Trang 13

tiễn, dự báo tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách; đồng thời kiến nghị các giải pháp đổi mới chính sách

2.3 Vai trò của phản biện chính sách công

Vai trò của phản biện chính sách công thể hiện trên các mặt:

2.3.1 Thúc đẩy dân chủ và tranh thủ sự đồng thuận, hợp tác của nhân dân trong xây dựng và thực thi chính sách công

2.3.2 Huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động chính sách và tiết kiệm nguồn lực nhà nước

2.3.3 Dự báo và xử lý các mâu thuẫn lợi ích

2.3.4 Nâng cao chất lượng quyết định chính sách

2.3.5 Phòng ngừa tham nhũng chính sách

2.4 Quy trình, hình thức, công cụ và nguyên tắc phản biện chính sách công

2.4.1 Quy trình phản biện chính sách công

Quy trình PBCSC được Jerry Cockerl diễn giải cho thấy, quá trình phản biện diễn ra song song với quá trình xây dựng và thực thi chính sách Hoạt động PBCSC bao trùm và gắn với mỗi khâu cụ thể trong chu trình chính sách công

2.4.2 Hình thức tham vấn, phản biện chính sách công

Các hình thức được khuyến nghị cho công dân là: Bồi thẩm đoàn công dân, hội nghị đồng thuận, hội đồng nhân dân, hội thảo kịch bản chính sách, đối thoại công dân và thăm dò ý kiến Hoạt động PBCSC của NGOs có bốn hình thức cơ bản là: tham vấn thông tin hạn chế, thông báo, tham vấn rộng rãi, điều trần công khai và thông qua các cơ quan tư vấn, nhóm chuyên gia

2.4.3 Công cụ phản biện chính sách công

Có ba nhóm công cụ chủ yếu: Nhóm các công cụ tổ chức gồm các hình thức: Các cá nhân, tổ chức liên kết với nhau thành liên minh hoặc liên kết với các cơ quan chính phủ, tổ chức chính trị, các tổ chức think tanks…để thực hiện hoạt động phản biện Nhóm công cụ giao tiếp gồm: văn bản, ngôn bản, mạng điện tử của chính phủ, của các NGOs, mạng xã hội, truyền thông đại chúng Nhóm công cụ phân tích chính sách: Phân tích SWOT, phân tích chi phí-lợi ích, phân tích rủi ro, đánh giá chi phí tuân thủ và dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (RIA), phân tích PEST

2.4.4 Nguyên tắc phản biện chính sách công

Đảm bảo tính khoa học, toàn diện, trung thực, khách quan; dân chủ, công khai và minh bạch Tôn trọng các ý kiến, quan điểm khác nhau, không

áp đặt ý kiến, quan điểm và đảm bảo lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả chính sách công

2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả chính sách công bao gồm:

Ngày đăng: 02/06/2019, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w