1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam

168 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài " Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam" tác giả phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến RRTD, đồng t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN QUỐC ANH

TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

TP HCM, Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- NGUYỄN QUỐC ANH

TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH –NGÂN HÀNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tác giả Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong đề tài là trung thực, chính xác và đáng tin cậy Các nội dung trích dẫn đều được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau

có ghi rõ nguồn gốc trong phần tài liệu tham khảo

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 09 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Quốc Anh

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 5

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.1 RỦI RO TÍN DỤNG 8

2.1.1 Khái niệm 8

2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 9

2.2 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10

2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 10

2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh 15

2.3 TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 17

2.3.1 Rủi ro tín dụng tác động đến lợi nhuận và rủi ro của NHTM 17

2.3.2 Rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến HQKD 18

2.3.3 Rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến các yếu tố kinh tế vĩ mô 18

Trang 5

2.4 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG

ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 19

2.4.1 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của NHTM 20

2.4.2 Tác động của RRTD đến hiệu quả kinh doanh của NHTM 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RRTD 39

3.2 MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM 48

3.3 DỮ LIỆU 50

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

4.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ 52

4.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 57

4.2.1 Rủi ro tín dụng 57

4.2.2 Hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam 62

4.3 TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 63

4.3.1 Rủi ro tín dụng làm suy giảm lợi nhuận 63

4.3.2 Dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng làm suy giảm lợi nhuận 64

4.3.3 Tái cơ cấu ngân hàng nhằm hạn chế RRTD và cải thiện hiệu quả kinh doanh 65

4.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68

4.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 68

4.4.1.1 Thống kê mô tả 68

4.4.1.2 Phân tích hệ số tương quan 69

4.4.1.3 Kiểm định đa cộng tuyến 70

4.4.1.4 Phân tích kết quả hồi quy 74

4.4.2 Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM 77

4.4.2.1 Thống kê mô tả 77

Trang 6

4.4.2.2 Phân tích hệ số tương quan 79

4.4.2.3 Kiểm định đa cộng tuyến 79

4.4.2.4 Phân tích quả hồi quy 83

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP 89

5.1 KẾT LUẬN 89

5.2 GIẢI PHÁP TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA MÔ HÌNH 93

5.3 GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 95

5.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 96

5.4.1 Tăng cường quản trị rủi ro tín dụng 96

5.4.2 Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel 97

5.4.3 Kiểm soát quy trình tín dụng và nâng cao công tác thẩm định tín dụng 99

5.4.4 Giám sát, kiểm tra và khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng 100

5.5 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM 101

5.5.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động cấp tín dụng của NHTM 101

5.5.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hoạt động ngân hàng 101

5.5.3 Tăng quy mô ngân hàng 102

5.6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 103

5.7 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 104

5.7.1 Hạn chế 104

5.7.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 104

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Squares

Bình phương tối thiểu tổng quát

khả thi

13 IMF International Monetary Fund Tổ chức Tiền tệ Thế giới

nhất

Trang 8

22 REM Random Effects Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 2.1: Tổng kết các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD 26

Bảng 2.2: Tổng kết các nghiên cứu về tác động của RRTD đến hiệu quả HĐKD của NHTM 33

Bảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 1 47

Bảng 3.2: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 2 49

Bảng 4.1 Lợi nhuận trước thuế của NHTMCP Việt Nam 62

Bảng 4.2: Khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam 63

Bảng 4.3 Thống kê mô tả dữ liệu mô hình 1 68

Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 1 70

Bảng 4.5 Hệ số VIF 71

Bảng 4.6 Bảng tổng kết kết quả hồi quy mô hình 1 72

Bảng 4.7 Thống kê mô tả dữ liệu mô hình 2 77

Bảng 4.8 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 2 79

Bảng 4.9 Hệ số VIF mô hình 2 80

Bảng 4.10 Bảng tổng kết kết quả hồi quy mô hình 2 với ROE 81

Bảng 4.11 Bảng tổng kết kết quả hồi quy mô hình 2 với ROA 86

Bảng 5.1 Bảng tổng kết dấu kết quả hồi quy mô hình 1 90

Bảng 5.2 Bảng tổng kết dấu kết quả hồi quy mô hình 2 với ROE 92

Hình 5.1 Tổng hợp kết quả hồi quy từ hai mô hình 93

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng GDP Việt Nam 52

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam 53

Biểu đồ 4.3: Lãi suất danh nghĩa Việt Nam 54

Biểu đồ 4.4: Tỷ giá VND/USD 55

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam 56

Biểu đồ 4.6: Dư nợ tín dụng trong tổng tài sản của các NHTMCP 57

Biểu đồ 4.7: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam 58

Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ của NHTM Việt Nam 60

Biểu đồ 4.9: RRTD và HQKD tại các NHTM Việt Nam 63

Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ nợ xấu của SCB, SHB và HDB 66

Biểu đồ 4.11: Lợi nhuận sau thuế của SCB, SHB và HDB 67

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính và kinh tế của các quốc gia Theo Njanike (2009) vai trò truyền thống của ngân hàng là cho vay và các khoản cho vay đó chiếm phần lớn tài sản của ngân hàng Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng tạo nên nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, vì thế RRTD tác động đến hiệu quả của NHTM và sự ổn định của ngân hàng (Mark Swinburne, 2007)

Bên cạnh đó khủng hoảng ngân hàng có thể xảy ra do biến động của môi trường kinh tế vĩ mô (Festic et al.,2011; Louzis et al, 2012 Nkusu, 2011) như sụt giảm trong tăng trưởng, tăng tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất và lạm phát từ đó có thể ảnh hưởng đến RRTD Hầu hết đối với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi cần phải tập trung kiểm soát RRTD là yêu cầu không thể thiếu được, ngoài các yếu tố vĩ mô thì các yếu tố thuộc về ngân hàng như: tổng tài sản, quy mô, nợ xấu, thanh khoản… cũng ảnh hưởng đến RRTD

RRTD là mối quan tâm lớn không chỉ riêng ngân hàng mà của nền kinh tế RRTD xuất hiện không chỉ tác động trực tiếp đến nguồn vốn của các ngân hàng như mất vốn, có thể gây nguy cơ phá sản ngân hàng

Tại Việt Nam các NHTM đang đối mặt với RRTD, nợ xấu có chiều hướng tăng trong những năm gần đây, hệ thống quản trị yếu kém cùng với biến động của các yếu

tố vĩ mô trước ảnh hưởng tài chính toàn cầu Từ năm 2012 trở lại đây quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM diễn ra nhằm hạn chế RRTD, giảm nợ xấu, tái cấu trúc vốn và tài sản, nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế nhằm từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh các NHTM cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam

Có nhiều nghiên cứu có liên quan đến đến RRTD, qua nghiên cứu tác giả tìm thấy xu hướng chủ yếu liên quan đến rủi ro tín dụng của NHTM cụ thể:

Trang 12

 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD

Sức khỏe của hệ thống tài chính là vấn đề quan tâm hàng đầu của hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt là trong sự phát triển của các quốc gia Sự thất bại các định chế tài chính trong vai trò trung gian của có thể làm gián đoạn quá trình phát triển này Nghiên cứu thực nghiệm đã phát hiện nhiều bằng chứng cho rằng sự phát triển tài chính góp phần vào tăng trưởng kinh tế

Có ý kiến cho rằng những biến động kinh tế chủ yếu có nguồn gốc từ khủng hoảng ngân hàng, những năm 1990 ở Châu Á cho thấy sự kết hợp của chính sách tài chính yếu kém và chính sách kinh tế vĩ mô lỏng lẽo là nguyên nhân trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng Hệ thống ngân hàng của Châu Á đối mặt với những khoản nợ xấu

do tăng trưởng tín dụng nhanh chóng và chấp nhận rủi ro quá mức (Lindgren et al

1997, Caprio và Klingebiel, 2003) Khủng hoảng ngân hàng có thể xảy ra do biến động của môi trường kinh tế vĩ mô (Festic et al.,2011; Louzis et al, 2012 Nkusu, 2011) như: sụt giảm trong tăng trưởng, tăng tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất và lạm phát Theo Llewellyn (2002), hệ thống ngân hàng thông thường bắt đầu bằng sự tích tụ những yếu kém về cơ cấu trong nền kinh tế và hệ thống tài chính, rủi ro trong trong hoạt động ngân hàng, và rủi ro đạo đức là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng ngân hàng Mặt khác, khủng hoảng ngân hàng chủ yếu xuất phát từ việc các ngân hàng không đủ năng lực để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán và các khoản nợ có vấn đề đã được che dấu trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng Đó là lý do mà Castro (2013) nhấn mạnh cần phải xem xét các vấn đề RRTD của ngân hàng, đặc biệt là các khoản nợ xấu trước khi tìm hiểu những nguyên nhân khủng hoảng hệ thống ngân hàng Tương tự như vậy, Reinhart và Rogoff (2010) cho rằng tỷ lệ nợ xấu có thể được

sử dụng để đánh dấu sự khởi đầu của RRTD, sự khủng hoảng ngân hàng

Trong nước, theo nghiên cứu của hai tác giả Đào Thị Thanh Bình và Đỗ Vân Anh (2013), chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô không có tác động đến các khoản nợ xấu Các yếu tố như lãi suất cho vay có thể khác nhau giữa các ngân hàng và các kỳ hạn cho vay Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Đỗ Quỳnh Anh, Nguyễn Đức Hùng (2013), cho thấy các yếu tố vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng GDP tác động đáng kể đến nợ xấu Yếu tố đặc thù của các ngân hàng cũng được kiểm định trong mô hình,

Trang 13

trong đó tỷ lệ nợ xấu của năm trước và mức độ tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng mạnh nhất lên tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Nghiên cứu này cũng cho rằng một ngân hàng có mức nợ xấu cao hiện tại sẽ có tỷ lệ nợ xấu cao trong năm tiếp theo, tăng trưởng tín dụng cao chưa làm tăng nợ xấu ngay lập tức mà thường là sau một năm sẽ

để lại những tác động, ảnh hưởng đáng kể

 Nghiên cứu rủi ro tín dụng và hiệu quả kinh doanh của NHTM

Không chỉ dừng lại tìm kiếm các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD, có khá nhiều nghiên cứu có sự liên hệ giữa RRTD với HQKD của NHTM Việc khám phá các yếu

tố ảnh hưởng đến RRTD là một vấn đề quan trọng đối với cơ quan quản lý nhằm duy trì sự ổn định tài chính, và cho phép các ngân hàng theo đuổi chính sách quản lý có trách nhiệm hơn

Tuy nhiên có khá nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên hệ giữa RRTD đến HQKD của NHTM thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận, Nicolae Petria (2013), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng của 27 nước EU từ năm 2004 -

2011 Trong đó sử dụng tỷ ROE (Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu) làm biến phụ thuộc và nghiên cứu tác động của RRTD đến hiệu quả ngân hàng Kết quả cho thấy RRTD có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng được đo lường thông qua chỉ số ROE Hasan Ayaydin (2014), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến vốn và lợi nhuận của các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2003-2011 Sử dụng tỷ số ROE là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biến dự phòng RRTD có tác động ngược chiều đến HQKD ngân hàng

Nguyễn Việt Hùng (2008), phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 32 NHTM Việt Nam trong những năm 2001 – 2005 Kết quả cho thấy các nhân tố như tỷ lệ nợ xấu, dư nợ cho vay trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động Trịnh Quốc Trung (2013), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của 39 NHTM Việt Nam trong những năm 2005 – 2013 Kết quả cho thấy tỷ lệ nợ xấu càng cao thì HQKD của các ngân hàng càng giảm Tỷ lệ cho vay

so với tổng tài sản càng cao thì HQKD của ngân hàng càng cao

Trang 14

Như vậy, RRTD xuất hiện một cách khách quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong xu hướng hội nhập quốc tế và khủng hoảng tài chính Đây là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với các NHTM Hậu quả RRTD để lại có thể dẫn đến lợi nhuận ngân hàng sụt giảm, gây bất ổn cho hệ thống NHTM và nền kinh tế, trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu hậu quả của việc cho vay dưới chuẩn tại Mỹ

đã dẫn đến phá sản hàng loạt NHTM Xuất phát từ những lý do nêu trên việc nghiên cứu RRTD và HQKD của các NHTM tại Việt Nam là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn được thể hiện trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng theo đề án 254 1

của Thủ tướng Chính Phủ ban hành ngày 01 tháng 03 năm 2012

Với đề tài " Tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả kinh doanh của các

Ngân hàng thương mại Việt Nam" tác giả phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng

của các yếu tố đến RRTD, đồng thời làm sáng tỏ sự tác động RRTD đến HQKD của các NHTM Việt Nam là yêu cầu cần thiết

Khe hở nghiên cứu

Qua nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến RRTD và các yếu tố RRTD Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa là bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam Hầu hết cho thấy

có nhóm yếu tố vĩ mô: GDP, lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thất nghiệp và nhóm các yếu

tố vi mô xuất phát từ phía các NHTM như: quy mô, vốn chủ sở hữu, thanh khoản … đều có ảnh hưởng đến RRTD

Có một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM tại Việt Nam, tuy nhiên chưa có nghiên cứu tiếp cận sự ảnh hưởng của RRTD đến HQKD và khả năng sinh lời của NHTM, xác định RRTD có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến HQKD của các NHTM tại Việt Nam Tác giả tiếp cận cả hai xu hướng nghiên cứu, đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD tìm kiếm các yếu tố vĩ mô và yếu tố đặc thù của NHTM ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM Việt Nam trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2015

1 (số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011 - 2015”

Trang 15

Nghiên cứu những nguyên nhân từ yếu tố vĩ mô thay đổi từ sự biến động của kinh tế thế giới, NHNN điều chỉnh chính sách tiền tệ, từ đó các NHTM cũng có thay đổi thích nghi với điều kiện môi trường, các yếu tố từ phía các NHTM có ảnh hưởng đến RRTD và HQKD của NHTM

Bên cạnh đó với dữ liệu bảng, tác giả sử dụng mô hình hồi quy kiểm định các giả thuyết, kết quả nghiên cứu của tác giả RRTD tác động đến HQKD của các NHTM Việt Nam Dựa vào kết quả nghiên cứu tác giả gợi ý các giải pháp nhằm hạn chế RRTD và nâng cao HQKD của NHTM Việt Nam

Tính đến thời điểm hiện tại tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu về tác động của RRTD đến HQKD của các ngân hàng một cách bài bản như ở một số quốc gia trên thế giới Ưu điểm của các nghiên cứu này xây dựng mô hình chỉ ra được tác động của RRTD đến HQKD của các NHTM

Kết quả nghiên cứu phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD, chỉ rõ yếu tố nợ xấu và dự phòng RRTD có tác động đến HQKD của các NHTM Việt Nam

So với các nghiên cứu thực nghiệm còn hạn chế trong việc đưa ra các giải pháp hạn chế tác động của RRTD để nâng cao HQKD của các NHTM các nước Do đó, điểm mới trong nghiên cứu này làm rõ vấn đề này, đây là ưu điểm của đề tài, là sẽ bổ sung thêm nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam

Các giải pháp gợi ý có tính thiết thực và hữu ích đối với chính phủ, NHNN và NHTM Giải pháp có căn cứ khoa học xuất phát từ các kết quả nghiên cứu từ thực trạng RRTD và HQKD của các NHTM Việt Nam cũng như kết quả của mô hình hồi quy nhằm hạn chế RRTD và nâng cao HQKD tại các NHTM Việt Nam

Giải quyết đuợc bài toán hạn chế RRTD góp phần nâng cao HQKD của các NHTM

là yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện tái cơ cấu hệ thống NHTM, là một trong các điều kiện quan trọng và cần thiết góp phần ổn định hệ thống NHTM tại Việt Nam

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD, RRTD tác động đến HQKD của các NHTM Việt Nam và gợi ý các giải pháp hạn chế hạn chế RRTD nhằm nâng cao HQKD của các NHTM Việt Nam Cụ thể:

Trang 16

- Xác định các yếu tố ảnh huởng đến RRTD của NHTM

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu này, đề tài đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Yếu tố nào ảnh hưởng đến RRTD của NHTM?

- RRTD tác động đến HQKD như thế nào?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến RRTD của các NHTM Việt Nam như thế nào?

- RRTD tác động đến HQKD của các NHTM Việt Nam như thế nào ?

- Giải pháp nào hạn chế RRTD và nâng cao HQKD của các NHTM Việt Nam?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tác động đến RRTD và tác động của RRTD

đến HQKD của các NHTM Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào các yếu tố tác động đến RRTD và HQKD

của các NHTM Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 26 NHTM Việt Nam, số liệu kinh tế vĩ mô của ADB Indicators trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng mô hình hồi quy đa biến bằng cách hồi quy theo mô hình Pooled, Fixed Effect, Random Effect và sử dụng phương pháp GMM để giải quyết nội sinh trên dữ liệu bảng nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến RRTD và sử dụng mô hình Feasible

Trang 17

Generalized Least Squares (FGLS) để thực hiện mục tiêu nghiên cứu tác động của RRTD đến HQKD NHTM của các NHTM Việt Nam

Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu diễn dịch quy nạp và thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh, phân tích để thực hiện mục tiêu nghiên cứu tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM và thực trạng RRTD của các NHTM Việt Nam

1.5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Nội dung của đề tài bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và Gợi ý các chính sách

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 RỦI RO TÍN DỤNG

2.1.1 Khái niệm

Có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD: Theo Timothy W Koch (1995): RRTD là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn

Theo Thomas P Fitch (1997): “RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay

không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”

Theo Ủy ban giám sát Basel (BCBS), RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng

RRTD có thể đo lường bằng 2 cách: khả năng vỡ nợ của đối tác trong quan hệ tín dụng với ngân hàng và số tiền mà ngân hàng mất đi khi vỡ nợ xảy ra Vỡ nợ thường xuyên xảy ra bởi vì sự mất mát trong thu nhập và kinh doanh thất bại của khách hàng Nhưng nhiều khi đối tác cũng cố ý không trả nợ khi họ vẫn có có thu nhập đầy đủ RRTD cũng có thể bắt nguồn từ sự suy giảm giá trị tài sản, sự suy thoái trong danh mục đầu tư hoặc chất lượng tín dụng cá nhân bị suy giảm

Tại Việt Nam theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín

dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng: “RRTD trong hoạt động ngân hàng

(sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Trang 19

Từ các quan điểm tác giả cho rằng: RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá

trình cấp tín dụng của ngân hàng, khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Đây là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nên mọi hoạt động tín dụng và RRTD đều ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như hiệu quả ngân hàng đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu thì RRTD xuất hiện có thể dẫn đến các rủi ro khác gây nên hậu quả nghiêm trọng và phá

vỡ tính cân đối và ổn định của NHTM

2.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Theo Ghosh (2012), có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD, bao gồm nguyên nhân bên ngoài và bên trong ngân hàng Các nguyên nhân phổ biến từ phía NHTM có thể kể đến như: quyết định tín dụng quá dễ dàng, quản trị tín dụng kém hiệu quả, những sự kiện bất ngờ không lường trước được, và sự ngoan cố không trả nợ xuất phát từ phía khách hàng Các yếu tố bên ngoài bắt nguồn từ sự suy yếu của kinh tế vĩ

mô, tình trạng xấu đi của các điều kiện kinh tế và sự phát triển kém của thị trường bên ngoài Mối quan hệ nghịch chiều từ điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến người đi vay, khi nó làm suy giảm nguồn thu nhập tăng khả năng không trả được nợ của họ Các yếu tố bên ngoài như sự thay đổi của chính sách tài khóa, cung tiền, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách hạn chế thương mại, hoặc sự biến đổi của thị trường tài chính cũng sẽ ảnh hưởng đến danh mục tín dụng của ngân hàng

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng có thể dẫn tới suy thoái kinh tế, trong suốt thời

kỳ khủng hoảng, hoạt động nền kinh tế bị chậm lại, khối lượng sản phẩm và doanh thu của doanh nghiệp suy giảm, cầu về hàng hóa dịch vụ thấp hơn Sự biến động của thị trường cũng làm ảnh hưởng đến suy giảm giá trị danh mục tín dụng của ngân hàng Ngược lại trong thời kỳ bùng nổ của nền kinh tế, số lượng sản phẩm được tạo ra nhiều hơn, nhu cầu hàng hóa dịch vụ cao hơn, doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn Như vậy, người đi vay sẽ dễ dàng trả nợ cho ngân hàng và rủi ro vỡ nợ giảm xuống Trong thời kỳ suy thoái, RRTD tăng lên và trong thời kỳ bùng nổ RRTD giảm đi

Những yếu tố nội bộ từ phía người đi vay và việc kinh doanh của họ là những yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của ngân hàng Các yếu tố như rủi ro kinh doanh, quản

Trang 20

trị tài chính, hạn chế về quy trình kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, quản lý hàng tồn kho kém là một trong những yếu tố phổ biến là suy giảm hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, làm suy giảm trong thu nhập của người đi vay, tăng xác xuất vỡ nợ

Bên cạnh đó sự thiếu trung thực, thái độ phi đạo đức của người đi vay cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra RRTD

Như vậy, nguyên nhân từ các yếu tố bên ngoài hoặc bên trong, từ phía người đi vay tác động đến RRTD Ngoài ra các nguyên nhân như hiệu quả của hệ thống pháp luật, môi trường kinh tế, chính trị ảnh hưởng đến việc cấp tín dụng

Các chỉ tiêu để đo lường RRTD là:

 Tỷ lệ nợ xấu:

Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Dư nợ tín dụng Đây là chỉ tiêu quan trọng để đo lường RRTD của NHTM Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn Nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng rất lớn, ngân hàng có thể mất vốn, suy giảm doanh thu và lợi nhuận

 Dự phòng RRTD

Là khoản chi phí dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng theo cam kết Dự phòng RRTD được hoạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng Trích lập dự phòng là phương thức kiểm soát tổn thất tín dụng, phát hiện và bù đắp RRTD RRTD cao sẽ dẫn đến dự phòng RRTD cao

2.2 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Có nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh (HQKD) của NHTM Theo Farrell (1957), hiệu quả là một phạm trù được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra trong điều kiện chi phí đầu vào cho trước, hay nói cách khác hiệu quả chính là những lợi ích mang lại từ hoạt động cụ thể

Trang 21

Hiệu quả đó là khả năng kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào để tạo ra một đơn vị đầu ra Khi đánh giá HQKD của một doanh nghiệp, có thể dựa vào hai chỉ tiêu đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối

- Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: được đo lường bằng kết quả kinh doanh trừ đi chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Cách đánh giá này phản ánh quy mô, khối lượng, lợi nhuận đạt được trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêu này khó có thể so sánh được với các doanh nghiệp

có thể cùng quy mô nhưng chiến lược kinh doanh hay đầu tư theo hướng dài hạn, chưa thể hiện chính xác tuyệt đối trình độ sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ

so sánh hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức

- Hiệu quả kinh doanh tương đối: được đánh giá dựa trên tỷ lệ so sánh giữa kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào Một cách đơn giản, đối với trường hợp doanh nghiệp

so sánh các yếu tố đầu vào và đầu ra, hiệu quả kinh doanh tương đối được xác định như sau: Efficiency = output/ input hoặc Efficiency = input/ output Cách đánh giá này thuận tiện hơn khi so sánh giữa các tổ chức có quy mô khác nhau, các không gian khác nhau, cũng như qua những thời kỳ khác nhau

Đối với NHTM, đây là một định chế tài chính trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Perter S.Rose, 2014), nhưng xét về bản chất là một doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong mức độ rủi ro cho phép Vì vậy, việc đánh giá HQKD của NHTM cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết như đánh giá HQKD của một doanh nghiệp, đồng thời cần xem xét đến tính chất đặc thù của NHTM

Xét theo nghĩa hẹp, quan điểm về hiệu quả kinh doanh của NHTM chính là khả năng tạo ra lợi nhuận, đồng thời vẫn đảm bảo an toàn cho các hoạt động của Ngân hàng theo quỹ đạo nhất định, hạn chế rủi ro

Xét theo nghĩa rộng hiệu quả kinh doanh không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà lợi nhuận đạt được từ cấu trúc tài sản nợ và tài sản có hợp lý, xu hướng tăng trưởng lợi nhuận ổn định, và hiệu quả hoạt động của các NHTM Đài Loan, Chang và cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiệu quả thể hiện khả năng quản lý để kiểm soát chi phí và sử dụng nguồn lực để tạo ra đầu ra

Trang 22

NHTM sử dụng các nguồn lực như: lao động, cơ sở vật chất , nguồn tài chính cho các hoạt động chính: nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư Đây là căn cứ để xác định mức độ hiệu quả và yếu tố tác động đến hiệu quả của NHTM

Tương tự như vậy, trong nghiên cứu về hoạt động ngân hàng, một số tác giả theo cách tiếp cận sản xuất với quan điểm ngân hàng như là đơn vị sản xuất (Benston, 1965; Ferrier et al, 1990; sShaffnit et al, 1997; Zenios et al, 1999), một số tác giả theo cách tiếp cận trung gian, ngân hàng như các trung gian tài chính (Sealey và Lindley, 1977; Maudos và Pastor, 2003; Casu et al, 2003), và một số khác theo cách tiếp cận hiện đại cho rằng ngân hàng đóng cả hai vai trò (Frexias và Rochet, 1997; Denizer et

al, 2000; Athanassopoulos và Giokas, 2000) Theo các cách tiếp cận này, hiệu quả của ngân hàng bao gồm hiệu quả hoạt động và hiệu quả trung gian tài chính

Cách tiếp cận sản xuất (Benston, 1965): Các NHTM cũng được xem như là các nhà cung cấp các dịch vụ cho khách hàng Các đầu vào thiết lập theo cách tiếp cận này bao gồm các yếu tố có trạng thái vật lý (ví dụ: lao động, vật liệu, không gian hoặc các thông tin hệ thống, ) hoặc các chi phí liên quan Theo cách tiếp cận này, chỉ có đầu vào có trạng thái vật lý là cần thiết để thực hiện giao dịch, dữ liệu về quá trình tài chính hoặc cung cấp các dịch vụ tư vấn và tư vấn cho khách hàng Chi phí lãi vay được loại trừ khỏi cách tiếp cận này với lý do chỉ có quá trình hoạt động vật lý là có liên quan Các đầu ra theo cách tiếp cận này thể hiện cho các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng và được đo lường tốt nhất bởi số lượng và loại giao dịch, số lượng văn bản xử lý được hoặc các dịch vụ chuyên cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định Trong trường hợp không có số liệu lưu lượng giao dịch chi tiết, chúng được thay thế bằng các dữ liệu về số lượng các tài khoản tiền gửi và cho vay như là một thay thế cho các mức độ dịch vụ được cung cấp Cách tiếp cận này

đã chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu hiệu quả của các ngân hàng cụ thể

Cách tiếp cận trung gian (Sealey và Lindley, 1977): Các lý thuyết kinh tế vĩ mô truyền thống cho rằng ngân hàng và công ty chỉ khác nhau ở đặc điểm hoạt động Các NHTM được xem như trung gian chuyển vốn giữa người tiết kiệm và đầu tư Các NHTM sản xuất dịch vụ trung gian tài chính thông qua việc huy động vốn từ nền kinh

tế và các khoản huy động để đầu tư vào các tài sản sinh lãi như các khoản vay, chứng

Trang 23

khoán và các khoản đầu tư khác Cách tiếp cận này bao gồm cả chi phí hoạt động và lãi suất là yếu tố đầu vào, trong khi các khoản vay và tài sản lớn khác được tính là kết quả đầu ra Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về phương pháp này trong việc xác định tiền gửi phải được coi là đầu vào hay đầu ra

Theo Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) và Mester (1987), đầu ra trong hoạt động trung gian tài chính của ngân hàng là tài sản của các ngân hàng, trong khi các khoản tiền gửi, vốn, lao động và được xem như là yếu tố đầu vào Khoản mục quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng là thu nhập lãi, nó phụ thuộc vào lượng cho vay Do đó, khả năng phát triển tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng Nếu vốn cho vay của ngân hàng được xem như là một sản phẩm thì giá sản phẩm là lãi suất cho vay Ngoài ra, nguồn vốn đi vay của ngân hàng là các khoản tiền gửi của các chủ sở hữu vốn Do đó, tiền gửi có thể được xem như là đầu vào để tạo ra các khoản vay như một sản phẩm trong giai đoạn sản xuất

Cách tiếp cận hiện đại (Frexias và Rochet, 1997) cải tiến hơn hai phương pháp trên khi kết hợp một số hoạt động cụ thể của ngân hàng vào các lý thuyết cổ điển Nghiên cứu về việc xác định các đầu ra trong hoạt động của NHTM đã hình thành nên một số phương pháp tiếp cận hiện đại như: tiếp cận theo tài sản, tiếp cận theo chi phí

sử dụng, tiếp cận theo giá trị gia tăng, tiếp cận theo phương diện hoạt động

(i) Tiếp cận theo tài sản (Sealy & Lindley, 1977) tập trung hoàn toàn vào vai

trò trung gian tài chính của NHTM giữa người gửi tiền và người sử dụng tài sản cuối cùng của ngân hàng Tiền gửi và các khoản nợ khác, cùng với nguồn lực thực tế (lao động, vốn ) được xác định là yếu tố đầu vào, trong khi các thiết lập đầu ra chỉ bao gồm các tài sản của ngân hàng như cho vay,

cụ thể là các khoản cho vay

(ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng (Hancock, 1985) xác định sản phẩm tài chính

là đầu vào hay đầu ra dựa trên cơ sở mức độ đóng góp của vào doanh thu ròng của ngân hàng Nếu lợi nhuận tài chính trên một tài sản lớn hơn chi phí cơ hội của vốn, hoặc nếu các chi phí tài chính của các khoản nợ phải trả

ít hơn chi phí cơ hội thì được coi là kết quả đầu ra; ngược lại là yếu tố đầu vào

Trang 24

(iii) Tiếp cận giá trị gia tăng (Berger, Hanweck & Humphrey, 1987) cho rằng

các số liệu trên bảng cân đối kế toán (tài sản hoặc nợ phải trả) như là đầu

ra, đóng góp vào giá trị gia tăng của ngân hàng Theo cách tiếp cận này, các hạng mục chính của các khoản tiền gửi (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không

kỳ hạn) và cho vay (cho vay khách hàng, cho vay các TCTD khác, tiền gửi tại các TCTD khác) là kết quả đầu ra vì chúng thể hiện giá trị gia tăng của ngân hàng

(iv) Tiếp cận hoạt động (hoặc tiếp cận dựa trên thu nhập) (Leightner và Lovell, 1998): Ngân hàng là đơn vị kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo thu

nhập từ tổng chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh Nêu định nghĩa đầu ra của ngân hàng là tổng doanh thu (từ lãi vay hoặc từ các hình thức cung cấp dịch vụ phi lãi suất khác) và các đầu vào như tổng chi phí (lãi suất

và chi phí hoạt động)

Từ các cách tiếp cận trên, có thể khái quát khái niệm hiệu quả kinh doanh của NHTM là khả năng kết hợp tối ưu để tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực và các yếu tố khác trong các hoạt động trung gian tài chính và sản xuất kinh doanh của bản thân NHTM như huy động vốn, cho vay, đầu

tư và dịch vụ khác nhằm đạt được kết quả đầu ra tối đa Hiệu quả kinh doanh của NHTM được đo lường bằng cách so sánh với đường biên sản xuất của nó

Nguyễn Việt Hùng (2008), cho rằng trong hoạt động của NHTM, hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau:

- Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác

- Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng

Trương Quang Thông (2011), cho rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được xem là kết quả lợi nhuận do hoạt động ngân hàng mang lại trong một thời gian nhất định

Tóm lại, theo quan điểm của tác giả về hiệu quả kinh doanh của các NHTM rất

đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu mà hiệu quả có thể được xét theo những khía cạnh khác nhau Với mục đích nghiên cứu của đề tài này, hiệu quả kinh doanh của các NHTM sẽ được nghiên cứu dưới khía cạnh kết quả lợi nhuận hay khả năng sinh lời

Trang 25

của các ngân hàng trong điều kiện đảm bảo hoạt động NHTM được ổn định và hạn chế rủi ro, mà chủ yếu xem xét trong mối quan hệ tác động của RRTD đến hiệu quả kinh doanh của NHTM

Quan điểm về hiệu quả nêu trên đã được tác giả sử dụng để nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, thể hiện mối quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả

đó Nói cách khác là khả năng biến các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM

2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh

Kết quả nghiên cứu của Naser A.Y Tabari và các cộng sự (2013) chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được đo lường bởi: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Theo Fredrick Mwaura Mwangi (2014), để đo lường hiệu quả của NHTM, có một

số chỉ số thường được sử dụng như: ROA, ROE và NIM Theo Murthy and Sree (2003), ROE là chỉ số tài chính chỉ ra được mức lợi nhuận thu về được so với tổng vốn chủ sở hữu thể hiện trên bảng cân đối kế toán ROA là chỉ số thu nhập trên tổng tài sản (Khrawish, 2011)

Các tỷ số đo lường khả năng sinh lợi hay tỷ số lợi nhuận được dùng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM, hai tỷ số cơ bản thường được sử dụng là ROA và ROE (Nguyễn Minh Kiều, 2009)

 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE)

ROE được tính theo công thức: ROE

ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu Nói cách khác, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ số đo lường hiệu quả đầu tư của vốn chủ sở hữu Bản chất chỉ số này phản ánh được khả năng tạo ra lợi nhuận từ một đồng vốn mà nhà đầu tư đầu tư vào ngân hàng cho nên luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà đầu tư

Trang 26

 Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA)

ROA là chỉ số đo lường khả năng các NHTM quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính

để tạo ra lợi nhuận Tương tự ROE, ROA được tính theo công thức:

ROA Trong đó, số liệu lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Tổng tài sản hay tổng vốn chủ sở hữu được lấy từ bảng cân đối kế toán

Theo Trần Huy Hoàng (2011), khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, người

ta thường dùng các chỉ tiêu liên quan đến lợi nhuận ngoài ROE, ROA như đã đề cập bên trên còn có:

- Tỷ lệ thu nhập cận biên dùng để đo lường khả năng sinh lời và hiệu quả của ngân hàng, bao gồm các chỉ tiêu như:

 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin): là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí lãi chia cho tài sản sinh lãi Tỷ lệ này được các ngân hàng quan tâm vì có thể giúp ngân hàng dự báo khả năng sinh lãi thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản có khả năng sinh lời và tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp

 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM – Non Interest Margin): là tỷ lệ đo lường mức chênh lệch giữa thu dịch vụ (thu ngoài lãi) với các chi phí ngoài lãi (lương, chi phí tổn thất tín dụng, chi phí bảo hành thiết bị,…)

 Tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM - Net Profit Margin): phản ảnh hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách định giá dịch vụ Tỷ lệ này được xác định bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia cho tổng thu từ hoạt động

- Thu nhập trên cổ phiếu (EPS – Earning per Share): được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuế chia cho tổng số cổ phiếu thường phát hành

- Tỷ lệ tài sản sinh lời: cho thấy tỷ lệ phần trăm của tài sản sinh lời trong tổng tài sản của ngân hàng Trong đó, tổng tài sản sinh lời bao gồm các khoản cho vay, cho thuê, đầu tư chứng khoán

Trang 27

2.3 TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

RRTD dẫn đến phát sinh nợ xấu là không tránh khỏi, nợ xấu luôn song hành cùng hoạt động tín dụng mà xuất phát từ mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, vì vậy lợi nhuận thu được từ các hoạt động tín dụng càng cao thì ngân hàng đã chấp nhận đối mặt với RRTD càng lớn và nguy cơ phát sinh nợ xấu càng cao RRTD phát sinh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống NHTM và môi trường kinh tế, từ đó sẽ gây nên những tác động nghịch chiều đối với nền kinh tế và cũng là nguyên nhân suy giảm hệ thống tài chính quốc gia từ đó ảnh hưởng đáng kể đến môi trường hoạt động của các mặt hoạt động kinh doanh nói chung và HQKD nói riêng của NHTM

Như đã phân tích ở mục 2.2, HQKD của NHTM được hiểu như là một tiêu chí quan trọng đánh giá sự ổn định và xu hướng phát triển của NHTM Một NHTM kinh doanh có hiệu quả không chỉ đơn thuần gia tăng lợi nhuận mà còn phải xem xét NHTM xu hướng phát triển và phải đảm bảo an toàn cho các hoạt động chấp nhận rủi

ro ở mức thấp nhất, sự phát triển NHTM ổn định, không tạo nên bất kỳ bất ổn hay rủi

ro cho sự phát triển của hệ thống tài chính và môi trường kinh tế vĩ mô Vì vậy khi bàn về tác động của RRTD đối với hiệu quả kinh doanh của NHTM chúng ta cần phải xem xét ở nhiều khía cạnh, tác động RRTD đối với kinh doanh ngân hàng, hệ thống ngân hàng, và môi trường kinh tế vĩ mô, cụ thể như sau:

2.3.1 Rủi ro tín dụng tác động đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng thương mại:

RRTD là vấn đề được các NHTM quan tâm hàng đầu trong hoạt động kinh doanh, vì tín dụng là nghiệp vụ tạo nên thu nhập chủ yếu cho các NHTM Khi RRTD xảy ra, tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Ngân hàng không thu được vốn và lãi đúng hạn dẫn đến tình hình kinh doanh sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, không thu hồi được và việc sử dụng vốn không hiệu quả

Khi phát sinh RRTD, nợ xấu tăng dẫn đến doanh thu thấp dẫn đến tình trạng thua lỗ Hơn nữa kể cả trường hợp không thua lỗ thì do nợ xấu phát sinh, các khoản chi phí cũng tăng lên đáng kể: bao gồm chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí trích lập dự phòng rủi ro và các chi phí khác liên quan Việc gia tăng các

Trang 28

khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu Nicolae Petria (2013), RRTD sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến HQKD của ngân hàng (được đo lường thông qua chỉ số ROE, ROA) Việc trích lập các khoản dự phòng RRTD sẽ làm chi phí của ngân hàng gia tăng, từ đó lợi nhuận của ngân hàng suy giảm, điều này có tác động trực tiếp và làm suy giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (Hasan Ayaydin, 2014)

2.3.2 Rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến HQKD

Đây là tác động nghiêm trọng nhất của RRTD Do không thu hồi được các khoản cho vay, nợ xấu làm kéo dài quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng, trong khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán cho các khoản tiền gửi, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán Với tỷ lệ nợ xấu ở mức cao còn có thể dẫn đến thiếu hụt thanh khoản và dẫn đến nguy cơ phá sản của các NHTM Nợ xấu gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng, nếu nợ xấu ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn tới hàng loạt các ảnh hưởng xấu Những tổn thất thường gặp là mất mát khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản… làm giảm

uy tín ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể dẫn đến mất uy tín của ngân hàng Một ngân hàng thua lỗ liên tục, thường xuyên không đủ khả năng thanh khoản

có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của khách hàng, và phá sản là khó tránh khỏi (Mark Swinburne và cộng sự, 2007)

Như vậy, khi RRTD xảy ra sẽ dẫn đến các rủi ro khác từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của các NHTM, cũng như HQKD

2.3.3 Rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến các yếu tố kinh tế vĩ mô

RRTD không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM mà còn tác động xấu đến nền kinh tế, điều này thể hiện qua việc nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền Hiệu ứng rút tiền ồ ạt có thể sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản Hoạt động ngân hàng mang lại tính hệ thống, một ngân hàng đổ vỡ, sẽ kéo theo sự đổ vỡ hàng loạt các ngân hàng khác, từ đó gây ra sự mất ổn định cho toàn hệ thống ngân hàng và làm suy yếu

Trang 29

hệ thống tài chính quốc gia Mức độ rủi ro tín dụng cao có thể áp đặt các rủi ro hệ thống trên hệ thống ngân hàng mà sau đó dẫn vào làm tổn hại đến các điều kiện kinh

tế chung của một quốc gia (Vania Andriani1, Sudarso Kaderi Wiryono, 2015)

RRTD có thể dẫn đến nợ xấu tăng cao làm hạn chế khả năng cho vay của ngân hàng trong khi nhu cầu của các chủ thể nền kinh tế là rất lớn dẫn đến sự trì trệ trong sản xuất, lãng phí cơ sở vật chất, thất nghiệp gia tăng…ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Nợ xấu gia tăng dẫn đến ngân hàng có thể bị phá sản,

từ đó sẽ tạo hiệu ứng lan truyền, suy giảm hệ thống tài chính và to lớn hơn là khủng hoảng tài chính

Tỷ lệ nợ xấu tăng cao thể hiện sự yếu kém trong hiệu quả kinh doanh của NHTM, gây ra thiếu tin tưởng của công chúng vào NHTM, tỷ lệ huy động vốn từ dân

cư thấp, dẫn đến tỷ lệ tích lũy nội bộ thấp, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư dài hạn, đồng thời làm cho tăng trưởng có xu hướng lệ thuộc vào nước ngoài, làm cho nợ nước ngoài tăng

Như vậy RRTD xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế bởi vì hệ thống ngân hàng là kênh thu hút và cung cấp vốn cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Hơn nữa, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng nghịch chiều đến đời sống xã hội và sự phát triển của quốc gia Như vậy, khi RRTD xảy ra, nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế mà còn gây tác động to lớn về mặt xã hội Ngân hàng Trung ương tại thời điểm này cần có những động thái điều tiết chính sách tiền tệ thông qua các công cụ vĩ mô, tín dụng qua hệ thống NHTM và lãi suất là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ của quốc gia sẽ có tác động đến thay đổi cũng như điều chỉnh chính sách tín dụng, chính sách quản trị để giúp NHTM vượt qua giai đoạn khó khăn

2.4 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Để có đạt được mục tiêu nghiên cứu đo lường tác động của RRTD đến HQKD của NHTM thì trước hết tác giả cần phải đánh giá được các yếu tố nào ảnh hưởng đến

Trang 30

rủi ro tín dụng và tiếp theo nghiên cứu tác động của RRTD đến hiệu quả kinh doanh của NHTM

2.4.1 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của NHTM

Đã có rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của NHTM Các yếu tố vĩ mô được xem xét trong các nghiên cứu:

Rajan & Dhal (2003), phân tích nợ xấu của NHTM ở Ấn Độ với kết quả nghiên cứu quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê và tác động ngược chiều đến nợ xấu, tăng trưởng GDP cao phản ánh điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi và môi trường kinh doanh tốt thì nợ xấu có xu hướng giảm

Fofack (2005), nghiên cứu RRTD, tỷ lệ nợ xấu vùng tiểu bang châu phi Sahara trong năm 1990 Kết quả cho thấy yếu tố vĩ mô GDP tác động ngược chiều lên nợ xấu, một cuộc suy thoái kinh tế kéo dài làm tăng nợ xấu Những thay đổi lãi suất có dấu hiệu tích cực với nợ xấu, và tỷ lệ lạm phát làm tăng tỷ lệ nợ xấu

Berge và Boye (2007), nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Bắc Âu trong giai đoạn 1993-2005, kết luận rằng các khoản cho vay có vấn đề có liên quan đáng kể đến mức lãi suất thực và tỷ lệ thất nghiệp

Ali và Daly (2010), sử dụng phương pháp phân tích so sánh để điều tra các biến kinh tế vĩ mô quan trọng đối với hai nước Úc và Mỹ Họ cũng nghiên cứu các tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô đến tỷ lệ vỡ nợ ở cả hai nước Kết quả cho thấy rằng với cùng một yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ tác động khác nhau đến tỷ lệ vỡ nợ của 2 nước, mặc dù nền kinh tế Mỹ có nhiều nhạy cảm hơn với tác dụng phụ của những cú sốc kinh tế vĩ mô

Festic et al (2011), nghiên cứu một dữ liệu bảng cho 5 nước thành viên mới của EU (Bulgaria, Romania, Estonia, Latvia và Lithuania) Họ phân tích các mối quan

hệ giữa tỷ lệ của các khoản nợ xấu và các biến kinh tế vĩ mô Họ nhận ra rằng sự suy giảm trong hoạt động kinh tế, tăng trưởng tín dụng và tài chính, và thiếu sự giám sát gây ra một sự suy giảm trong việc xử lý nợ xấu

Trang 31

Kester Guy và Shane Lowe (2011), nghiên cứu về nợ xấu và sự bền vững ngân hàng tại Barbados từ 1996 – 2010 Tăng trưởng GDP với việc mở rộng kinh tế sẽ giảm nợ xấu Khi lạm phát tăng dẫn đến giảm tỷ lệ nợ xấu; phát hiện thấy lãi suất có tác động nghịch chiều liên quan đến nợ xấu, giải thích cho điều này là khi nền kinh tế tăng trưởng và mở rộng tín dụng, lãi suất trong hệ thống ngân hàng có xu hướng di chuyển lên cùng lúc

Bofondi, Marcello và Tiziano Ropele (2011), nghiên cứu các yếu tố vĩ mô tác động đến chất lượng các khoản vay đối với hộ gia đình và doanh nghiệp tại ngân hàng

ở Italy từ 1990-2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ xấu tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng GDP và cùng chiều tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất

Castro (2013), xem xét mối liên hệ giữa phát triển kinh tế vĩ mô và RRTD với mẫu nghiên cứu là 5 ngân hàng châu Âu (Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,

và Ý) Kết quả chỉ ra rằng RRTD ngân hàng bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự tăng trưởng GDP, chỉ số giá nhà ở, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, tỷ giá hối đoái thực, và cuộc khủng hoảng tài chính gần đây

Andriani, Wiryono (2015) tìm các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng từ năm

2002 đến năm 2013 của các ngân hàng Indonesia Sử dụng biến nợ xấu để đại diện cho rủi ro tín dụng, bài nghiên cứu xem xét mức độ ảnh hưởng của các biến trong nội tại ngân hàng đến đến rủi ro tín dụng Phương pháp ước lượng GLS được cho là hợp lý hơn phương pháp OLS với những thay đổi trong phương sai phần dư

Mặt khác, cũng có rất nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra một số đặc điểm trong ngân hàng cũng có liên quan đến các khoản cho vay có vấn đề Tại Ấn Độ, Rajaraman

et al (1999) đã kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến các khoản cho vay có vấn đề Tuy nhiên nghiên cứu giới hạn trong một năm (1996- 1997) và sử dụng các biến vĩ mô để giải thích các khoản vay có vấn đề, đây là một hạn chế của mô hình Bởi vì, các nhà nghiên cứu cho rằng các khoản vay có vấn đề là kết quả của cả kinh tế vĩ mô cũng như các yếu tố kinh tế vi mô Trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, thu nhập của người đi vay sẽ giảm, kết quả là họ sẽ khó trả nợ hơn, qua đó có thể phát sinh nhiều khoản vay

có vấn đề Đồng thời, các yếu tố trong nội bộ ngân hàng, chẳng hạn như hiệu quả hoạt

Trang 32

động thấp và việc mở rộng quá nhiều chi nhánh cũng có thể dẫn đến sự gia tăng của các khoản vay có vấn đề

Khemraj & Pasha (2009), nghiên cứu các yếu tố quyết định đến nợ xấu ở Guyana 1994-2004, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến nợ xấu, tăng trưởng GDP tỷ lệ nghịch với các nợ xấu, sự cải thiện trong nền kinh tế sẽ làm nợ xấu thấp hơn Các ngân hàng tính lãi suất tương đối cao hơn và cho vay quá mức có thể sẽ phải chịu nợ xấu cao hơn, một ngân hàng tăng lãi suất điều này có thể tăng nợ xấu

Sau khi lược khảo một số các nghiên cứu trước, có thể nhận thấy rằng để tìm hiểu các yếu tố tác động đến RRTD, hầu hết các nghiên cứu các yếu tố quyết định tỷ

lệ nợ xấu Salas và Saurina (2002), đã kết hợp các biến kinh tế vĩ mô và vi mô để nghiên cứu sự tác động đến nợ xấu của ngân hàng Tây Ban Nha trong giai đoạn 1985-

1997 Kết luận yếu tố nội tại của ngân hàng có thể sử dụng như là chỉ số cảnh báo sớm cho những thay đổi trong tỷ lệ nợ xấu trong tương lai Kết quả cho thấy ngân hàng có quy mô lớn hơn sẽ có nợ xấu ít hơn, tăng trưởng tín dụng nhiều sẽ dẫn tới nợ xấu nhiều hơn Ngoài ra, còn phát hiện mối quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng GDP và

tỷ lệ nợ xấu

Boudriga et al (2009), nghiên cứu các yếu tố từ phía ngân hàng, môi trường

kinh doanh và môi trường thể chế của 46 ngân hàng tại 12 Quốc gia của vùng Trung Đông và Bắc Phi: trong giai đoạn 2002-2006 Kết quả cho thấy sự tham gia của nước ngoài đến từ các nước phát triển sẽ làm giảm nợ xấu Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy các ngân hàng quốc doanh gặp nợ xấu cao hơn Quy mô vốn lớn thì nợ xấu lớn, tăng trưởng tín dụng cao thì giảm nợ xấu Trong môi trường kinh doanh chất lượng thông tin được chia sẻ giữa ngân hàng và khách hàng tỷ lệ nghịch với nợ xấu, tăng cường chất lượng của môi trường thể chế sẽ làm giảm nợ xấu

Zribi và Boujelbène (2011), xem xét cả hai biến kinh tế vĩ mô và vi mô có khả năng kiểm soát RRTD Sử dụng dữ liệu bảng cho 10 NHTM Tunisia trong giai đoạn 1995-2008 Kết luận rằng các yếu tố quyết định chính đến RRTD của các ngân hàng ở Tunisia là cơ cấu sở hữu, các quy định bảo đảm an toàn vốn, lợi nhuận và các chỉ số

Trang 33

kinh tế vĩ mô (tăng trưởng nhanh chóng của GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất)

Louzis et al (2012) sử dụng phương pháp Dynamic Panel Data trong giai đoạn 2003-2009 để nghiên cứu các yếu tố kinh tế vĩ mô và các biến trong ngân hàng ảnh hưởng đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng của Hy Lạp với các khoản vay (cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh, và thế chấp) Tác giả nhận thấy rằng các khoản vay có vấn đề trong hệ thống ngân hàng Hy Lạp được giải thích chủ yếu là do các biến kinh

tế vĩ mô (tăng trưởng GDP thực tế, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, và nợ công) Ngoài ra, những vấn đề này được giải thích bởi một số yếu tố trong ngân hàng cụ thể như các chỉ số hiệu suất và hiệu quả Chỉ số ROE và ROA được tìm thấy tác động nghịch chiều đến nợ xấu Chỉ số thiếu hiệu quả tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê với

nợ xấu

Ahlem Selma Messai (2013), nghiên cứu yếu tố tác động đến nợ xấu của 85 ngân hàng trong ba nước (Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha) trong giai đoạn 2004-2008, những quốc gia đã phải đối mặt với vấn đề tài chính sau cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn vào năm 2008 Sử dụng dữ liệu bảng, nghiên cứu nhận thấy tốc độ tăng trưởng của GDP, ROA tác động nghịch chiều với nợ xấu, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất tác động tích cực với nợ xấu

Marijana Curak, Sandra Pepur và Klime Poposki (2013), nghiên cứu các yếu tố

quyết định nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Đông Nam Châu Âu với mẫu là 69 ngân hàng tại 10 quốc gia trong giai đoạn 2003-2010 Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát cao và lãi suất cao làm tăng nợ xấu Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô ngân hàng và nợ xấu, các ngân hàng lớn có thể giải quyết tốt vấn đề thông tin bất cân xứng Với nhân viên có kinh nghiệm và trình độ cao

và thông tin có chất lượng tốt, các ngân hàng lớn sẽ hiệu quả hơn trong phân tích tín dụng và giám sát các khoản cho vay tới khách hàng

Tehulu và cộng sự (2014), nghiên cứu được thực hiện để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Ethiopia Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng cho nghiên cứu này với dữ liệu bảng được thu thập từ 10 NHTM Nhà nước và tư nhân từ năm 2007 đến năm 2011 Phân tích sử

Trang 34

dụng hiệu ứng ngẫu nhiên GLS hồi quy với kết quả hồi quy cho thấy tăng trưởng tín dụng và quy mô của ngân hàng có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến rủi ro tín dụng Trong khi đó, hoạt động kém hiệu quả và tỷ lệ sở hữu có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến rủi ro tín dụng Cuối cùng, kết quả cho thấy lợi nhuận,

an toàn vốn và thanh khoản ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều nhưng không đáng kể về mặt thống kê đối với RRTD

Hasna Chaibi và Zied Ftiti (2015), nghiên cứu tiếp cận phương pháp Dynamic Panel Data để kiểm tra yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM trong nền kinh tế thị trường (đại diện là Pháp), so với một nền kinh tế dựa trên ngân hàng (đại diện là Đức), trong 2005-2011 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng tín dụng cho rằng có những hiệu ứng khác nhau giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau Các câu hỏi chính được thảo luận là các yếu tố tác động đến RRTD của hai nước Kết quả chỉ ra rằng ngoại trừ các tỷ lệ lạm phát, tập hợp các biến kinh tế vĩ mô được sử dụng đều ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của cả nền kinh tế Kết quả này được giải thích bởi thực tế là cả hai nền kinh tế thuộc khu vực đồng tiền chung Euro Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng so với Đức, nền kinh tế Pháp là nhạy cảm hơn với yếu tố trong nội tại ngân hàng

Đào Thị Thanh Bình và Đỗ Vân Anh (2013), sử dụng dữ liệu bảng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu với mẫu 14 NHTM Việt Nam từ 2008-2012, kết quả cho thấy các biến kinh tế vĩ mô là không có ý nghĩa đáng kể về mặt thống kê khi tác động đến các khoản nợ xấu Quy mô ngân hàng có ý nghĩa thống kê, thể hiện mối quan hệ đồng biến với nợ xấu, điều đó chỉ ra rằng giả thuyết “quá lớn để sụp đổ” là đúng trong bối cảnh của Việt Nam Tỷ số ROE có tác động nghịch chiều đến tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu của các năm trước cao có thể làm cho vấn đề hiện tại trở nên nghiêm trọng hơn

Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) cũng sử dụng dữ liệu bảng được

để nghiên cứu 10 ngân hàng từ năm 2005 đến 2011 về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu Kết quả cho thấy các yếu tố vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng GDP tác động đáng

kể đến nợ xấu trong giai đoạn nghiên cứu Tỷ lệ nợ xấu của năm trước và mức độ tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng mạnh lên tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Nghiên cứu còn

Trang 35

chỉ rằng một ngân hàng có mức nợ xấu cao hiện tại sẽ có tỷ lệ nợ xấu cao trong năm tiếp theo, tăng trưởng tín dụng cao chưa làm tăng nợ xấu ngay lập tức mà sẽ có một độ trễ sau một năm Ngân hàng dành ít nỗ lực để đảm bảo chất lượng khoản vay sẽ có chi phí hoạt động thấp, đồng thời cũng dẫn đến nợ xấu cao hơn Quy mô có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu, ngân hàng lớn thường mạo hiểm hơn trong việc cho vay, nợ xấu sẽ cao hơn Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tác động tích cực lên nợ xấu, ngân hàng chấp nhận rủi ro cao khả năng dẫn đến nợ xấu cao

Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD trên 26 NHTM giai đoạn 2009 – 2012 Dữ liệu bảng với phương pháp GMM được sử dụng để khắc phục hiện tượng tự tương quan bậc nhất giữa các sai số và hiện tượng biến nội sinh để đảm bảo các ước lượng thu được vững và hiệu quả Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTD ngân hàng trong quá khứ với độ trễ một năm (LLRi,t-1), tỷ

lệ tăng trưởng tín dụng trong quá khứ với độ trễ một năm (LGi,t-1) và tỷ lệ tăng trưởng GDP trong quá khứ với độ trễ một năm (∆GDPi,t-1) tác động có ý nghĩa đến RRTD NHTM Việt Nam

Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015), nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định nhóm yếu tố đặc điểm ngân hàng ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng với phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) Từ đó, đưa ra một số gợi ý đối với nhà đầu tư cá nhân và góp phần giúp các nhà quản lý ngân hàng nhận diện tác động ngược chiều của các yếu tố đặc điểm ngân hàng đến RRTD, giúp kiểm soát tốt các tác động từ việc đẩy mạnh cho vay Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ số liệu trong báo cáo tài chính của 32 NHTM Việt Nam từ năm 2010 đến 2013 Nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố tác động đến RRTD là: tăng trưởng tín dụng, quy mô dư nợ, và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động cho vay

Trang 36

Bảng 2.1: Tổng kết các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ

nợ xấu

-Biến độc lập: tăng trưởng dư nợ, dự phòng RRTD, tăng trưởng GDP, thất nghiệp, lãi suất

bảng với

FEM, REM

Quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến nợ xấu, tăng trưởng GDP tác động cùng chiều với nợ xấu Môi trường kinh doanh tốt thì nợ xấu có xu hướng giảm

Âu (1993 – 2005)

-Biến phụ thuộc: nợ

có vấn đề -Biến độc lập: tăng trưởng GDP, thất nghiệp, lãi suất thực, lạm phát

có vấn đề có ảnh hưởng đến mức lãi suất thực và tỷ lệ thất nghiệp

(1985-1997)

-Biến phụ thuộc: nợ

có vấn đề -Biến độc lập: tăng trưởng GDP, hiệu quả

NH, quy mô, tỷ lệ thu nhập cận biên, tỷ lệ đòn bẩy, chỉ số sức mạnh thị trường

bảng với FEM,REM

Tỷ lệ nợ xấu

Quy mô tác động ngược chiều với RRTD, tăng trưởng tín dụng tác động cùng chiều với RRTD, tăng trưởng

ngược chiều đến tỷ

lệ nợ có vấn đề Zribi và Xem xét biến -Biến phụ thuộc: Dữ liệu Cơ cấu sở hữu, quy

Trang 37

Boujelbène

(2011)

kinh tế vĩ mô và

vi mô có khả năng kiểm soát RRTD của 10 NHTM Tunisia (1995-2008)

RRTD -Biến độc lập: cơ cấu

sở hữu, các quy định bảo đảm an toàn vốn, lợi nhuận, GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái,

và lãi suất

bảng REM, FEM

định bảo đảm an toàn vốn, lợi nhuận

và các chỉ số kinh tế

vĩ mô (tăng trưởng nhanh chóng của GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Louzis et

al (2012)

Các yếu tố kinh

tế vĩ mô và các biến trong NH ảnh hưởng đến

nợ xấu trong hệ thống NH Hy Lạp

(2003-2009)

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ

nợ xấu -Biến độc lập: tăng trưởng GDP thực tế,

tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, và nợ công, ROE, tỷ lệ thanh khoản, tỷ số phi hiệu quả, quy mô ngân hàng

Dynamic Panel Data, GMM

Các khoản vay có vấn đề trong hệ thống NH Hy Lạp được giải thích chủ yếu là do các biến kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP thực

tế, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, và nợ công)

ba nước (Italia,

Hy Lạp và Tây Ban Nha)

(2004-2008)

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ

nợ xấu -Biến độc lập: GDP,

tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tăng trưởng dư

nợ TD, dự phòng RRTD

bảng, FEM,REM

Tốc độ tăng trưởng của GDP, ROA tác động nghịch chiều với nợ xấu, thất nghiệp và lãi suất tác động tích cực với nợ xấu

Marijana

Curak,

Nghiên cứu các yếu tố quyết

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ Dữ liệu

Có mối quan hệ nghịch chiều giữa

Trang 38

NH Đông Nam Châu Âu

(2003-2010)

nợ xấu -Biến độc lập: GDP,

tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tăng trưởng dư

nợ tín dụng, ROA, lạm phát

NH tại 10 quốc gia, GMM

quy mô ngân hàng

tỷ lệ thất nghiệp

Hồi quy đa biến, SPSS

tốc độ tăng trưởng cung tiền và tỷ giá hối đoái trên thị trường có mối quan

hệ nghịch với rủi ro tín dụng và tỷ lệ thất nghiệp có quan

-Biến phụ thuộc: dự phòng RRTD,

-Biến độc lập: tăng trưởng tín dụng, quy

mô ngân hàng, tỷ lệ

sở hữu, kém hiệu quả, thanh khoản, lợi nhuận

bảng, GLS

tăng trưởng tín dụng và quy mô của ngân hàng có tác động ngược chiều đến RRTD Hoạt động kém hiệu quả

và tỷ lệ sở hữu có tác động tích cực đến RRTD

-Biến phụ thuộc: dự phòng RRTD,

-Biến độc lập: tỷ lệ lạm phát, GDP, lãi

Dynamic Panel Data

Ngoại trừ các tỷ lệ lạm phát, tập hợp các biến kinh tế vĩ

mô được sử dụng đều ảnh hưởng đến

Trang 39

NHTM (2005-2011)

suất, thất nghiệp, tỷ giá, hiệu quả, đòn bẩy, quy mô, lợi nhuận, dự phòng RRTD

(2008-2012)

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ

nợ xấu -Biến độc lập: quy

mô NH, ROE, GDP, lạm phát

NHTM Việt Nam, FEM, REM

Quy mô ngân hàng tác động tích cực đến nợ xấu Tỷ số ROE có tác động nghịch chiều đến tỷ

Nam (2005 -2011)

-Biến phụ thuộc: tỷ lệ

nợ xấu -Biến độc lập: GDP, lạm phát, tăng trưởng tín dụng, quy mô NH

bảng, REM,FEM, GMM

Lạm phát, tăng trưởng GDP tác động đến nợ xấu

Nợ xấu có ảnh hưởng năm tiếp theo Quy mô có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu

(2009 – 2012)

-Biến phụ thuộc: dự phòng RRTD

-Biến độc lập: tăng trưởng tín dụng, quy

mô NH ,tăng trưởng GDP

có ý nghĩa đến RRTD

Nguyễn

Thị Ngọc

Xác định nhóm yếu tố đặc điểm

NH ảnh hưởng

-Biến phụ thuộc: dự phòng RRTD

Trang 40

Nguyễn

Minh Kiều

(2015),

đến RRTD tại các NHTM Việt Nam

(2010- 2013)

trưởng tín dụng, quy

mô dư nợ, và tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập cho vay

Việt Nam với phương pháp hồi quy bình phương bé

nhất(OLS)

dụng, quy mô dư

nợ, và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động cho vay

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu có liên quan

2.4.2 Tác động của RRTD đến hiệu quả kinh doanh của NHTM

Khi rủi ro xảy ra và đặc biệt là RRTD sẽ tác động đến HQKD và khả năng sinh lời của NHTM, đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm:

Nicolae Petria (2013), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng của 27 nước EU từ năm 2004-2011 Trong đó sử dụng tỷ ROE (Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sỡ hữu) làm biến phụ thuộc và nghiên cứu tác động của RRTD, rủi ro thanh khoản và hiệu quả quản lý chi phí đến hiệu quả ngân hàng Kết quả cho thấy RRTD có ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng được đo lường thông qua chỉ số ROE

Hasan Ayaydin (2014), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến vốn và lợi nhuận của các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2003-2011 Sử dụng tỷ số ROE là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Dự phòng RRTD, tỷ lệ an toàn vốn, tài sản thanh khoản là một trong số các biến độc lập được đưa vào nghiên cứu nhằm tìm sự tác động của các biến này đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng biến dự phòng RRTD có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Athanasolou et al (2006), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng Hy Lạp trong những năm 1985 – 2001 Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố nội tại trong ngân hàng như: trích lập dự phòng RRTD, tỷ lệ vốn chủ sở

Ngày đăng: 02/06/2019, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng, 2013. Phân tích thực tiễn về những yếu tố quyết định nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách. http://dl.ueb.edu.vn/handle/1247/10499 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
3. Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Minh Kiều, 2015. Ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm đến rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế 2015. Số 3. Tr. 49 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển kinh tế
4. Nguyễn Thanh Dương, 2013. Phân tích rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Tạp chí phát triển và hội nhập, số 9 (19), trang 29-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển và hội nhập
5. Nguyễn Việt Hùng, 2008. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt dộng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt dộng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
6. Nguyễn Minh Kiều, 2009. Nghiệp Vụ Ngân Hàng Thương Mại. Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản: Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp Vụ Ngân Hàng Thương Mại
Nhà XB: Nhà xuất bản: Nxb Thống kê
8. Trần Huy Hoàng, 2011. Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại. Hà Nội: Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
9. Võ Thị Quý, Bùi Ngọc Toản, 2014. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí khoa học Trường Đại học Mở TP.HCM - số 3 (36) 2014.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học Trường Đại học Mở TP.HCM
1. Ahmad, N., Ariff, M., 2007. Multi-country study of bank credit risk determinants. Int. J. Bank. Finance 5 (1), 135–152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int. J. Bank. Finance
3. Ali, A., Daly, K., 2010. Macroeconomic determinants of credit risk: recent evidence from a cross-country study. Int. Rev. Financ. Anal. 19, 165–171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int. Rev. Financ. Anal
4. Alshatti, A. S. (2015). The effect of credit risk management on financial performance of the Jordanian commercial banks. Investment Management and Financial Innovations, 12(1), 338-345 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment Management and Financial Innovations, 12
Tác giả: Alshatti, A. S
Năm: 2015
5. Aremu, Mukaila Ayanda, Imoh Christopher, MUSTAPHA Adeniyi Mudashiru, 2013. Determinants of banks’ profitability in a developing economy: evidence from nigerian banking industry. Interdisciplinary journal of contemporary research in business. Vol 4, no 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interdisciplinary journal of contemporary research in business
10. Athanassopoulos AD and D Giokas (2000). “The Use of Data Envelopment Analysis in Banking Institutions: Evidence from the Commercial Bank of Greece.” Interfaces 30(2): 81-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Use of Data Envelopment Analysis in Banking Institutions: Evidence from the Commercial Bank of Greece
Tác giả: Athanassopoulos AD and D Giokas
Năm: 2000
11. Beck, Thorsten, Asli Demirgỹỗ-Kunt, and Ross Levine. 2007. "Finance, Inequality and the Poor," Journal of Economic Growth 12(1): 27–49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Finance, Inequality and the Poor
12. Beck, T. and Levin R., 2004. Stock Markets, Banks, and Growth: Panel Evidence. Journal of Banking and Finance 28 (3), 423 – 442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking and Finance
14. Berger, A., DeYoung, R., 1997. Problem loans and cost efficiency in commercial banks. J. Bank. Finance 21, 849–870 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Bank. Finance
15. Berger, A.N. and G.Udell (2004). The institutional memory hypothesis and the procyclicality of bank lending behavior, Journal of Financial Intermediation, 13 (Special Issue), 458-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Intermediation
Tác giả: Berger, A.N. and G.Udell
Năm: 2004
2. Đào Thị Thanh Bình và Đỗ Vân Anh, 2013. Bad Debts in Vietnamese Banks - Quantitative Analysis and Recommendations. (November 26, 2013). Availableat SSRN:http://ssrn.com/abstract=2524223 orhttp://dx.doi.org/10.2139/ssrn.2524223 Link
8. Athanasoglou, P., Brissimis, S., & Delis, M. (2005). Bank-specific, industry- specific and acroeconomic determinants of bank profitability. Retrieved 8 February 2012, from http://www.hfaa.gr/Docs/8/ATHANASOGLOU-BRISSIMIS-DELIS.pdf Link
35. Ferrier, G., C. Lovell, & A.K. Mehdian. (1990). Measuring cost efficiency in banking: Econometric and linear programming evidence. Journal of Econometrics, 46(1-2), 229–245. http://dx.doi.org/10.1016/0304-4076(90)90057-Z Link
79. Zenios, C.V., S.A. Zenios, K. Agathocleous, & A. Soteriou. (1999). Benchmarks of the efficiency of bank branches. Interfaces, 29(3), 37-51.http://dx.doi.org/10.1287/inte.29.3.37 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm