1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TRONG QUẢN lý đất, cơ sở THỜ tự tôn GIÁO TRÊN địa bàn TỈNH GIA LAI

105 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về tôn giáo, về tình hình quản lý tôn giáo tại địa bàn tỉnh Tây Nguyên, những khó khăn thuận lợi và các biện pháp khắc phục trong t5hời gian tới. up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up up

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***********************

NGUYỄN NGỌC ĐAN THANH

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ ĐẤT, CƠ SỞ THỜ TỰ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 8/2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

***********************

NGUYỄN NGỌC ĐAN THANH

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ ĐẤT, CƠ SỞ THỜ TỰ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA

Trang 3

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TRONG QUẢN LÝ ĐẤT, CƠ SỞ

THỜ TỰ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

NGUYỄN NGỌC ĐAN THANH

Hội đồng chấm luận văn:

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Tôi tên là Nguyễn Ngọc Đan Thanh

Sinh ngày: 25 tháng 12 năm 1982

Quê quán: Xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếThường trú tại: số nhà 281A Cách mạng tháng tám, phường Hoa Lư, thànhphố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Tốt nghiệp PTTH tại Trường phổ thông Chuyên Hùng Vương, tỉnh Gia Laitháng 6 năm 2000

Tốt nghiệp Đại học ngành Quản lý đất đai hệ Chính quy tại trường Đại họcNông Lâm Huế tháng 8 năm 2005

Địa chỉ liên lạc: số 281A đường Cách mạng tháng tám, phường Hoa Lư,thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Điện thoại di động: 0983.223.059

Email: danthanh.pleiku@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực vàchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Đan Thanh

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡtận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cánhân trong và ngoài trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi trân trọng và biết ơn đến:

- TS Nguyễn Hồng Hà – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai,

là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài vàviết luận văn

- Tập thể quý thầy cô giáo khoa Quản lý đất đai - Bất động sản và PhòngĐào tạo sau Đại học trường Đại học Nông - Lâm TP Hồ Chí Minh

- Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Gia Lai; Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai; SởNội vụ - Ban tôn giáo tỉnh Gia Lai

- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, tập thể lớp Cao học Quản lý đất đai 2011 vànhững người thân thiết đã ủng hộ, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để tôi hoànthành công việc, học tập và nghiên cứu./

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 7

Qua nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu gồm:phương pháp thu thập số liệu, phương pháp điều tra xã hội học, phương phápchuyên gia và phương pháp thống kê, xử lý số liệu Kết quả đạt được như sau:

1 Các yếu tố chi phối đến việc sử dụng và quản lý nhà, đất của các cơ sở tôngiáo tại Gia Lai

2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất, xây dựng cơ sở thờ tự của các tôn giáo ởGia Lai

3 Nghiên cứu việc áp dụng chính sách pháp luật trong quản lý Nhà nước vềnhà, đất tôn giáo ở Gia Lai

4 Đề tài đã đề xuất các giải pháp như sau: Về chính sách và các quy địnhpháp luật liên quan đến đất đai tôn giáo như: cấp giấy CNQSDĐ, hiến tặng quyền

sử dụng đất, giao đất, Về công tác quản lý sử dụng đất, xây dựng cơ sở thờ tự củacác tôn giáo Giải quyết một số vụ việc tồn đọng cụ thể về nhà, đát liên quan đếntôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Trang 8

Research project “The implementation of policies and laws on landmanagement, religious worship places in the province of Gia Lai” is conductedfrom 3/2012 to 9/2013 The purpose of this research is to assess the policies ofmanagement land use changes and using earth, built foundation of workship in GiaLai province This research also recommends the solutions to improve in land usegoverning management on earth, building foundation for religions

To do this research, the methods were used including: collect raw data andsecondary data, social invest methods, interviews experts and statistical methods,data processing

The following are results arising from conducting the research:

1 The factors that govern the use and management of the home, the land ofreligious institutions in Gia Lai

2 Assessment of the status of land use, building the basis of worship of thereligion in Gia Lai

3 Study of the application of the policy of the law in the State management

of the House, the religious lands in Gia Lai

4 The subject proposed the following solution: about the policy and the legalprovisions relating to land as religious: CNQSDĐ certificates, donated a right to useland, On the management of land use, building the basis of worship of thereligion Resolve a number of outstanding specific incident home, Trinidadconcerning religion in the province of Gia Lai

Trang 9

MỤC LỤC

Lý lịch cá nhân ii

Lời cam đoan iii

Lời cảm ơn iv

Tóm tắt v

Abstract vi

Mục lục vii

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách các bảng xi

Danh sách các hình xii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Khái niệm về tôn giáo 5

1.1.2 Khái niệm về cơ sở thờ tự 7

1.1.3 Chính sách tôn giáo và chính sách pháp luật về đất đai đối với tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay 7

1.1.3.1 Chính sách tôn giáo 7

1.1.3.2 Chính sách pháp luật đất đai đối với tôn giáo 12

1.1.4 Vai trò của chính sách pháp luật đất đai đối với tôn giáo ở Việt Nam 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.2.1 Thực trạng về sử dụng đất của các tôn giáo ở Việt Nam 22

1.2.2 Thực trạng về xây dựng cơ sở thờ tự của các tôn giáo ở Việt Nam 24

1.2.3 Những tồn tại, bất cập của việc áp dụng chính sách pháp luật liên quan trong quản lý đất, cơ sở thờ tự tôn giáo 25

1.2.4 Kinh nghiệm vấn đề sử dụng đất tôn giáo của một số nước trên thế giới .28

Trang 10

1.2.4.1 Cộng hòa Pháp 28

1.2.4.2 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 29

1.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài 31

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Nội dung nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, tư liệu 34

2.2.1.1 Phương pháp điều tra xã hội học 35

2.2.1.2 Phương pháp chuyên gia 36

2.2.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, tài liệu và xử lý số liệu 37

2.2.3 Phương pháp minh họa bản đồ, sơ đồ 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Các yếu tố chi phối đến việc sử dụng và quản lý nhà, đất của các cơ sở tôn giáo tại Gia Lai 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên-xã hội 38

3.1.2 Yếu tố phong tục, tập quán, dân số 43

3.1.3 Đánh giá chung 46

3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 48

3.2.1 Quá trình phát triển của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 48

3.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1975-1990 49

3.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1991-2013 50

3.2.2 Tình hình sử dụng đất tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 53

3.2.2.1 Thực trạng sử dụng đất tôn giáo 53

3.2.2.2 Diện tích đất do các tôn giáo sử dụng theo địa phương 55

3.2.2.3 Biến động đất tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 60

3.2.2.4 Tác động đến công tác quản lý, sử dụng đất tôn giáo 62

3.2.3 Thực trạng việc phát triển xây dựng cơ sở thờ tự trên địa bàn tỉnh 63

Trang 11

3.3 Đánh giá thực trạng chính sách pháp luật trong quản lí Nhà nước về đất,

cơ sở thờ tự tôn giáo và đề xuất các giải pháp 69

3.3.1 Kết quả điều tra theo phiếu 69

3.3.1.1 Tình hình tham gia cơ sở thờ tự 69

3.3.1.2 Kết quả điều tra về tính pháp lý về đai đất của các tôn giáo 71

3.3.2 Đánh giá chung việc áp dụng chính sách pháp luật đất đai và cơ sở thờ tự của tôn giáo trên địa bàn tỉnh 75

3.3.3 Những vấn đề đặt ra đối với thực tiễn quản lý đất, cơ sở thờ tự của các tôn giáo tại Gia Lai 76

3.4 Đề xuất các giải pháp 80

3.4.1 Đối với công tác quản lý Nhà nước 80

3.4.2 Đề xuất giải quyết một số vụ việc tồn đọng cụ thể về nhà, đất liên quan đến tôn giáo trên địa bàn tỉnh 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 90

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thống kê diện tích các loại đất của tỉnh Gia Lai 43

Bảng 3.2 Dân số, mật độ dân số của tỉnh Gia Lai năm 2013 44

Bảng 3.3 Thống kê diện tích đất tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 54

Bảng 3.4 Bảng diện tích đất tôn giáo theo từng địa phương 55

Bảng 3.5 Bảng diện tích đất tôn giáo theo từng loại tôn giáo 57

Bảng 3.6 Bảng nguồn gốc sử dụng đất theo từng loại tôn giáo 59

Bảng 3.7 Biến động đất tôn giáo của các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2005 – 2010 60

Bảng 3.8 Biến động đất tôn giáo của các đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2010 – 2013 61

Bảng 3.9 Cơ sở thờ tự theo từng loại tôn giáo của từng địa phương 64

Bảng 3.10 Cơ sở thờ tự theo từng loại tôn giáo 66

Bảng 3.11 Cơ sở thờ tự xây dựng kiên cố theo từng tôn giáo ở các địa phương 67

Bảng 3.12 Bảng tổng hợp các ý kiến về địa điểm tham gia các cơ sở thờ tự theo từng loại tôn giáo 69

Bảng 3.13 Bảng tổng hợp các ý kiến về tình hình tham gia các cơ sở thờ tự theo từng loại tôn giáo 70

Bảng 3.14 Bảng hiện trạng sử dụng đất của các loại tôn giáo 72

Bảng 3.15 Bảng mục đích sử dụng đất theo các loại tôn giáo 73

Bảng 3.16 Bảng tính pháp lý về giấy tờ đất đai theo quy định của từng loại tôn giáo 73

Bảng 3.17 Bảng nguồn gốc sử dụng đất theo từng loại tôn giáo 74

Trang 14

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ đơn vị hành chính tỉnh Gia Lai 39

Hình 3.2 Sơ đồ các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai 52

Hình 3.3 Cơ cấu diện tích đất đã được cấp giấy CNQSDĐ của từng loại tôn giáo 58 Hình 3.4 Cơ cấu nguồn gốc sử dụng đất của các loại tôn giáo 59

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện cơ sở thờ tự của từng loại tôn giáo 66

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện cơ sở thờ tự của các tôn giáo 70

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện ý kiến người dân về hiện trạng sử dụng đất 72

Trang 15

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là quốc gia đa dân tộc,

đa tôn giáo Cũng như nhiều nước trên thế giới, mỗi dân tộc trong cộng đồng 54 dântộc Việt Nam có những tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa

và xã hội

Nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo của người dân, ngay từ Hiếnpháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) đến Hiến pháp củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay đều luôn khẳng định quyền “tự

do tín ngưỡng, tôn giáo” là một trong các quyền cơ bản của con người Bên cạnh đóviệc khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được thể hiện trong cácHiến chương của các tôn giáo như: Hiến chương của Phật giáo, Hiến chương củaTin lành miền Nam Việt Nam, Hiến chương của Công giáo, Ở Việt Nam không

có sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo; các tín đồ theo tôn giáo khác nhau cùng chungsống hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nhìn chung tình hình hoạt động tôn giáo ở nước ta ổn định, các tôn giáo hoạtđộng đều có tôn chỉ, mục đích rõ ràng, đường hướng hành đạo cụ thể, nội dung gắn

bó với dân tộc, với tổ quốc, ví dụ “đạo pháp – dân tộc và chủ nghĩa xã hội” – Phậtgiáo; “sống phúc âm trong lòng dân tộc” – Công giáo; “sống phúc âm, phụng sựthiên chúa, phục vụ tổ quốc và dân tộc” – Tin lành; “nước vinh, đạo sáng” – Caođài; Về cơ bản, đường hướng của tôn giáo đều phù hợp với quan điểm và chủtrương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫncòn có những tồn tại, còn vi phạm các quy định về xây dựng, sửa chữa, tu bổ cơ sởthờ tự, còn nhiều vụ khiếu kiện có diễn biến phức tạp chủ yếu là xin lại các cơ sở cũ

để xây dựng lại, một số trường hợp xin xây dựng mới cơ sở thờ tự Các vụ tranh

Trang 16

chấp về quản lý nơi thờ tự giữa các nhóm, cá nhân trong nội bộ tôn giáo xuất phát

từ quyền lợi kinh tế Tình hình tuyên truyền đạo trái phép có biểu hiện gia tăng ởmột số vùng Các thế lực thù địch ở nước ngoài và bọn phản động lưu vong tăngcường lợi dụng vấn đề dân chủ - nhân quyền - tôn giáo để chống phá ta, nổi lên làviệc “Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế” của Mỹ tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền

vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền

Để hạn chế những tồn tại đó, một mặt chúng ta phải kết hợp tuyên truyền,giải thích, vận động đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế, đấu tranh chống lạinhững thế lực thù địch, mặt khác phải tăng cường hoàn thiện, củng cố chính sách,pháp luật của Nhà nước Để làm cơ sở chơ việc từng bước hoàn thiện chính sách,pháp luật nói chung và chính sách pháp luật về tôn giáo nói riêng, chúng ta cầnnghiên cứu những vấn đề kinh tế, xã hội liên quan đến các hoạt động tôn giáo, trong

đó vấn đề đất đai chiếm vị trí quan trọng trong mọi hoạt động của xã hội cũng nhưmọi hoạt động của các tôn giáo

Trong các chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước thìchính sách về đất đai là một nội dung quan trọng do đất đai là một yếu tố không thểthiếu trong hoạt động tôn giáo Do vậy tìm hiểu chính sách đất đai đối với các cơ sởtôn giáo là tuân thủ pháp luật của Nhà nước, tuân thủ phương châm sống tốt đời đẹpđạo Bên cạnh đó, do hoàn cảnh lịch sử, việc quản lý sử dụng nhà, đất nói chung vànhà, đất liên quan đến tôn giáo nói riêng, ở nước ta nói chung và tỉnh Gia Lai nóiriêng đang đặt ra một số vấn đề cần được điều chỉnh cho phù hợp Để việc quản lý,

sử dụng nhà, đất liên quan đến tôn giáo được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật

và phù hợp tình hình thực tế, góp phần xây dựng và phát triển đất nước, tăng cườngcủng cố khối đại đoàn kết dân tộc; rà soát quy hoạch tổng thể về quản lý, sử dụngđất và chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo, bảođảm hài hòa giữa lợi ích tôn giáo với lợi ích dân tộc

Tóm lại, các vấn đề đặt ra đối với đất đai của tôn giáo ở Gia Lai là xây dựng

cơ sở thờ tự trái phép, hợp thức hóa đất nông nghiệp để xây dựng cơ sở thờ tự, giảiquyết việc đòi lại đất đai của một số chức sắc, tín đồ các tôn giáo… trong khi đó các

Trang 17

chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa có quy định cụ thể nên chưa thể giải quyếtdứt điểm Cho nên để góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc này tôi chọn đề

tài: “Tình hình thực hiện chính sách pháp luật trong quản lý đất, cơ sở thờ tự tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai” để thực hiện

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát: Đề tài nhằm đánh giá chính sách quản lý và sử dụng

đất, xây dựng cơ sở thờ tự của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai Qua đó đềxuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai, xây dựng cơ sởthờ tự đối với tôn giáo, tạo điều kiện để đồng bào các tôn giáo góp phần xây dựngđất nước giàu mạnh và có cuộc sống ngày càng tốt đẹp và thực hiện tốt phươngchâm tốt đời đẹp đạo

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện đối với công tác quản lýNhà nước và vấn đề sử dụng đất đai, cơ sở thờ tự của các tôn giáo

Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: địa bàn tỉnh Gia Lai

- Thời gian: từ năm 1975 cho đến năm 2013

Trang 18

Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài có ý nghĩa thực tiễn, đóng góp cho công tác quản lý Nhà nước vềđất đai đối với các cơ sở tôn giáo trên địa bàn tỉnh Gia Lai đạt hiệu quả

- Kết quả của đề tài góp phần từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật

về đất đai với tôn giáo

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về tôn giáo

Tôn giáo là gì? Theo Mai Thanh Hải (1998), trong tác phẩm “Tôn giáo thế

giới và Việt Nam”: Tôn giáo, trước hết là hệ thống giáo lý về những lực lượng tự nhiên và xã hội chi phối con người, là sự tín ngưỡng và sung bái các lực lượng siêu nhiên chi phối thế giới Khá nhiều người nói đến cuộc sống tâm linh, với ý hướng đi tìm trong các lực lượng siêu nhiên một khả năng biết trước các biến cố nào đó sẽ xảy ra với mình, hoặc một khả năng nhận biết được những điều bí ẩn mà mọi người không biết Tôn giáo không chỉ là giáo lý, là tâm linh, là mấy câu kinh lễ Tôn giáo, theo sự hùn đắp của thời gian, dần dần có các tổ chức, có những cơ cấu, với giáo luật, với quy chế mỗi ngày mỗi đuổi theo cuộc sống diễn biến càng lúc càng không đơn giản Mặt khác những giáo lý cùng sự tín ngưỡng cần phải được thể hiện ra để

“mắt thấy, tai nghe”, cho nên cần phải dày công xây đắp các hệ thống lễ nghi, phẩm phục, trang trí, rước xách, kiến trúc, tượng đài, nhạc hát, … Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành tại Hà Nội năm 1977: “Tôn giáo là sự công nhận một sức mạnh coi là thiêng liêng quyết định một hệ thống ý nghĩ và tư tưởng con người về số phận của mình trong và sau cuộc đời hiện tại, do

đó quyết định phần nào hệ thống đạo đức, đồng thời thể hiện bằng những tập quán

lễ nghi tỏ thái độ tôn tưởng và tôn sung sức mạnh đó” Từ điển Tiếng Việt của

Trung tâm Từ điển và ngôn ngữ xuất bản ở Hà Nội năm 1992, đã lý giải bằng hai

định nghĩa: “1 Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu nhiên tự quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ; 2 Hệ thống

Trang 20

những quan niệm tín ngưỡng hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sung bái đó” Vì vậy có lẽ tất cả định nghĩa tôn giáo trên cái nào

đúng, cái nào đầy đủ, chính xác còn tùy thuộc vào hành động của mọi người, lời nói

và cuộc sống thực tế để lựa chọn cho mình những hiểu biết đúng đắn, đầy đủ và sâusắc về tôn giáo

Tôn giáo giữ vai trò như thế nào trong đời sống xã hội? Chức năng xã hộichủ yếu của tôn giáo là bù đắp Ra đời trong sự yếu đuối và bất lực của con người(sự yếu đuối có tính chất xã hội, khi mà con người chưa nắm được những lực lượng

xã hội và tự nhiên một cách thực tiễn), tôn giáo bù đắp cho con người những người

mà họ không tìm ra được, không thể có trong tay, thậm chí không có hy vọng đạtđược ở thế giới này Tôn giáo nhấn mạnh đến vai trò của siêu nhiên như là giá trị xãhội cao nhất, và xây dựng cả một hệ thống tiêu chí để đảm bảo giữ gìn, củng cốlòng tin vào lực lượng siêu nhiên; những tiêu chí ấy điều chỉnh hành động xã hộicủa con người, điều chỉnh quan hệ trong gia đình và trong đời sống hằng ngày.Những giáo lý về đạo đức và xã hội chứa đựng một hệ thống khá đầy đủ nhữngmệnh lệnh, giới răn, cấm đoán,… quy định hành vi con người, quan hệ với xã hội;

sự điều chỉnh này tất nhiên cũng hướng vào mục đích của tôn giáo Bên cạnh đó làchức năng liên kết, nghĩa là giữ gìn, củng cố hệ thống xã hội mà nó sinh ra, và hoạtđộng vì hệ thống đó Do chức năng này, người ta có thể thấy trong đa số trườnghợp, các tổ chức tôn giáo thường bù trừ cho hệ thống xã hội cũ về mặt chính trị, tưtưởng và pháp luật, đưa ra những nguồn gốc thần thánh của các mối quan hệ xã hội

cũ Nhìn chung dưới gốc độ xã hội thì tôn giáo không phải là cái gì “hư ảo”, mà làmột khách thể hoàn toàn hiện thực, với chức năng bao trùm là thỏa mãn nhu cầu củacon người theo đạo trong đức tin và tình cảm tôn giáo; tuy vậy, sự thỏa mãn này chỉđạt được mục tiêu hạn chế là tạm thời tách con người ra khỏi những vấn đề hiệnthời, chứ không giải quyết được những vấn đề đó một cách thực tiễn, không thểkhắc phục được những khó khăn cản ngại một cách có hiệu quả

Trang 21

1.1.2 Khái niệm về cơ sở thờ tự

Cơ sở thờ tự là công trình, địa điểm hay không gian, nơi một nhóm người

(một giáo đoàn hoặc nhóm tín đồ, giáo dân) đến để thực hiện các hoạt động, nghithức tôn giáo (cầu nguyện, tôn kính, ca tụng ) hoặc tín ngưỡng (cúng tế, thờphụng ) Các dạng và chức năng của các công trình thờ phụng, cúng tế đã đượcphát triển và biến chuyển trong một thời gian dài theo sự thay đổi trong tôn giáo vàkiểu kiến trúc

Cơ sở thờ tự của những tôn giáo khác nhau thường có những tên gọi riêng.Thí dụ chùa là tên dành cho nơi thờ của Phật giáo, đền thường chỉ nơi thờ thần hoặcdanh nhân đã quá cố, phủ là nơi thờ các vị chúa trong Đạo Mẫu, nhà thờ hay thánhđường chỉ nơi thờ phụng của một số tôn giáo như Kitô giáo, Hồi giáo; thánh thấtdùng cho đạo Cao Đài; miếu, đình cho tín ngưỡng dân gian Việt Nam…

1.1.3 Chính sách tôn giáo và chính sách pháp luật về đất đai đối với tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay

là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo,

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo,trong đó có khoảng 20 triệu tín đồ của 12 tôn giáo được Nhà nước công nhận vàđang hoạt động hợp pháp, bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số Cụ thể như:Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Tin lành, Hòa Hảo, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương,

Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam, Giáo hội Phật đường Nam

Trang 22

tông Minh sư đạo, Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu, Baha'i Trong 12 tôn giáo kểtrên có gần 40 tổ chức hệ phái khác nhau.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo như vậy, người ta thường víViệt Nam như bảo tàng tôn giáo thế giới Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các tôngiáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc Dân số ViệtNam tăng trung bình 01 triệu người/năm, do đó tín đồ các tôn giáo ngày càng đông

và nhu cầu hoạt động tôn giáo là những khó khăn đặt ra cho Đảng và Nhà nướchoàn thiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôngiáo cụ thể

Các quan điểm của Đảng đối với tôn giáo được thể hiện trong Báo cáo chínhtrị tại Đại hội IV của Đảng (1976), Đại hội lần thứ V của Đảng (1981), Nghị quyết

số 297-CP ngày 11-11-1977 về một số chính sách đối với tôn giáo; Nghị quyết số40-NQ/TW ngày 1-10-1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đối vớicác tôn giáo trong tình hình mới Nội dung cơ bản là “nhanh chóng ổn định tìnhhình sinh hoạt tôn giáo trong cả nước, kiên quyết đấu tranh chống phần tử và tổchức phản động trong các giáo hội, chống lợi dụng tôn giáo; đẩy mạnh tranh thủ,hướng dẫn giáo sỹ, giáo hội theo hướng đi với dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hoạtđộng tôn giáo tuân thủ luật pháp của Nhà nước”

Chính sách tôn giáo trước hết phải đáp ứng yêu cầu đoàn kết dân tộc, đoànkết người có đạo với nhau, đoàn kết người khác đạo với nhau và với người không

có đạo, động viên nhau từng bước đạt được lợi ích chung của mọi người, trong đó

có việc giành và giữ được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Chính sách nhất quántrước sau như một của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đối với các tôn giáo

là tôn trọng tự do tôn giáo, tín ngưỡng Điều này được Nhà nước ta khẳng địnhthông qua một số văn bản như: Quyết định số 56/CP ngày 18 tháng 3 năm 1975 củaHội đồng Chính phủ về việc ban hành Bản thể lệ về tổ chức việc cưới, việc tang,ngày giỗ, ngày hội đã phân biệt rõ giữa mê tín dị đoan với tín ngưỡng, tôn giáo: “…Cần phân biệt tự do tín ngưỡng với mê tín dị đoan Việc đi chùa, đi nhà thờ thuộc tự

do tín ngưỡng; các việc xem bói, xem số, xem tướng, gọi hồn, lên đồng, xóc thẻ,

Trang 23

yểm bùa, cúng ma, bắt tà trừ ma, đội bát nhang, đốt vàng mã, dung phù phép chữabệnh v.v… là mê tín dị đoan Tự do tín ngưỡng được pháp luật bảo đảm; còn mê tín

dị đoan thì Nhà nước nghiêm cấm Các địa phương cần có biện pháp giáo dụcnhững người làm nghề mê tín dị đoan, để họ hiểu ra lẽ phải và chuyển sang làmnghề lương thiện.” Quyết định số 83/BT ngày 29-12-1981 của Bộ trưởng Tổng thư

ký Hội đồng Bộ trưởng về việc cho phép thành lập Giáo Hội phật giáo Việt Nam:

“Điều 1 Cho phép thành lập Giáo Hội phật giáo Việt Nam

Giáo Hội phật giáo Việt Nam là một tổ chức đại diện cho Phật giáo ViệtNam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và ngoài nước

Điều 2 Phê chuẩn bản Hiến chương (tức là Điều lệ về tổ chức và hoạt độngcủa Hội Phật giáo Việt Nam) và danh sách ban lãnh đạo do hội nghị đại biểu thốngnhất các tổ chức phật giáo bầu ra trong cuộc họp từ ngày 04 đến ngày 10 tháng 7năm 1981.”

Đến thời kỳ đổi mới, sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986thành công, Đảng ta đã có sự nhìn nhận mới về tôn giáo Tại Nghị quyết số 24 ngày

16 - 10 - 1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới

đã nhận định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của bộ phận nhân dân.Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới” Hay

Bộ Luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Điều 4 Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trướcpháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị

xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật”

Ngày 02 tháng 07 năm 1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 37/CT-BCT về côngtác tôn giáo trong tình hình mới có khẳng định: “Những hoạt động tôn giáo íchnước lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồđược đảm bảo Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng

và khuyến khích phát huy”

Trang 24

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX năm 2002 đã khẳng định: “Tín ngưỡng,tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chínhsách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôngiáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồngbào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theotôn giáo Chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào.Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệmcông dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp vềvăn hóa, đạo đức của tôn giáo Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôngiáo”

Với quan điểm đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng là liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đườnglối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và lànhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã

ra Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 về công tác tôn giáo, đãnêu rõ:

“Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kếtđồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợpcủa toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh.”

Để thực hiện được phương hướng trên, Nghị quyết số 25 - NQ/TW đã thốngnhất nhận thức về các quan điểm và chính sách cụ thể:

“1 Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Đồng bào tôn giáo là một bộ phận của khói đại đoàn kết dân tộc

Trang 25

2 Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo vàđồng bào không theo tôn giáo.

3 Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng.”Chính sách tôn giáo trước hết phải đáp ứng yêu cầu đoàn kết dân tộc, đoànkết người có đạo với nhau, đoàn kết người khác đạo với nhau với người không cóđạo, đọng viên nhau thực hiện mục tiêu từng thời kỳ và về lâu dài, từng bước đạtđược lợi ích chung của mọi người, trong đó có việc giành và giữ được quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng, quan điểm nhất quán,xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là “tự do tín ngưỡng, tôn giáo, giáo lươngđoàn kết” Để đưa ra những quan điểm của Đảng vào đời sống, Nhà nước đã banhành rất nhiều quy định về vấn đề này Tại Điều 6 của Hiến pháp năm 1980 quyđịnh: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách Nhà nước”.Hay tại Điều 70 của Hiến pháp 1992 cũng quy định như sau: “Công dân có quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đềubình đẳng trước pháp luật

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, ton giáo hoặc lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”

Vì điều này không có gì là khó, chỉ cần khách quan và trung thực, ai cũng cóthể nhìn thấy kẻ thù của chúng ta luôn luôn dùng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc ta;đôi khi kẻ thù cũng giả vờ lôi kéo các tôn giáo đứng cạnh nhau để đánh lừa một sốngười nhẹ dạ, nhưng vì không có thật và vì không thật lòng với nhau, nên nhữngmưu toan cũng sớm bị bại lộ và bị tan vỡ

Đảng và Nhà nước ta trước sau như một, thực hiện chính sách “tín ngưỡng tự

do, lương giáo đoàn kết” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ngay từ phiên họp đầutiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 03 tháng 9năm 1945 Từ đó đến nay, trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, nhân

Trang 26

dân ta đã đoàn kết kiên cường, anh dũng đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giànhđộc lập, thống nhất tổ quốc và ngày nay cùng nhau xây dựng trong hòa bình một xãhội công bằng, dân chủ, văn minh Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta,trong đó có đồng bào tôn giáo, đã được nâng cao rõ rệt.

Vì vậy, chính sách tôn giáo cần phát huy nhân tố con người, vì con người,lòng tin ở con người trước sau gì cũng nhận ra được lẽ phải để cùng nhau góp sứcvào việc chung Đây là trí tuệ, là niềm tin, không phải chuyện “đối phó” nhất thời

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một

bộ phận nhân dân Đạo đức của tôn giáo có nhiều điêu phù hợp với đạo đức truyềnthống của dân tộc, với nội dung xây dựng xã hội mới, tăng cường đoàn kết toàn dân

1.1.3.2 Chính sách pháp luật đất đai đối với tôn giáo

Sau năm 1975, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản nhằm xóa bỏtriệt để tàn tích của chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, thực dân ở miền NamViệt Nam, xây dựng mô hình tập thể hóa các tỉnh phía Nam và giải quyết các tranhchấp đất đai trong nội bộ nhân dân

Đặc điểm lớn nhất trong quan hệ đất đai của giai đoạn này này là Nhà nướctiến hành công cuộc tập thể hóa đối với tư liệu sản xuất chính của người nông dântrong phong trào hợp tác hóa và tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong quan hệruộng đất ở miền Nam Việt Nam, thực hiện quyền thống nhất quản lý đất đai trongphạm vi cả nước Pháp luật đất đai đã bắt đầu hình thành với tính cách là một hệthống, phạm vi điều chỉnh đã được mở rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước năm

1945 đã góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước thông qua việc huyđộng nguồn lực từ hợp tác xã

Ngày 01 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính Phủ ban hành Quyết định số201/CP về tăng cường và thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước và sau

đó lập ra hệ thống cơ quan quản lý đất đai chuyên ngành giúp Chính phủ và Ủy bannhân dân các cấp trong việc quản lý nhà nước về đất đai Đặc biệt, Hiến pháp năm

1980 ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trrong quan hệ đất đai Đó là đấtđai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, xóa bỏ hình thức sở hữu

Trang 27

tự nhân về đất đai, Nhà nước thừa nhận người đang sử dụng đất được tiếp tục sửdụng.

Để thể chế các chủ trương đúng đắn của Đảng, Luật Đất đai đã được Quốchội thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 Đây là Đạo luật đất đai đầu tiên củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là văn bản pháp quy quan trọng nhằm

cụ thể hóa một bước chính sách đất đai đã được quy định tại Điều 19, Điều 20 củaHiến pháp năm 1980 Và theo Luật đất đai năm 1987, Nhà nước không giao đất trựctiếp cho hộ gia đình, cá nhân làm nông nghiệp, lâm nghiệp mà thông qua Hợp tác xãgiao lại cho người sử dụng (xã viên) trực tiếp Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vimua bán đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức Mọi hành vi chuyển dịch đấtđai đều thông qua Nhà nước dưới hình thức giao đất hoặc thu hồi đất Người đượcNhà nước giao đất vào mọi mục đích đều không phải trả tiền sử dụng đất

Có thể thấy rằng, Luật Đất đai năm 1987 với tính cách là nguồn luật trungtâm của hệ thống pháp luật đất đai của thời kỳ trước năm 1993, là một văn bản phápluật có hiệu lực cao đã giải quyết được những bức xúc trước mắt về quyền lợi củangười chủ sở hữu và người quản lý đất đai là Nhà nước nhưng chưa giải quyết trọnvẹn mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, giữa những người sử dụngđất với nhau Luật Đất đai năm 1987 ra đời trong bối cảnh công cuộc đổi mới toàndiện mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nước ta mới bắt đầu, những ảnh hưởngnặng nề của cơ chế quan liêu bao cấp vẫn còn được định chế trong từng điều luật.Các quy định nêu trên chưa thực sự tôn trọng các giao dịch dân sự về đất đai trongđời sống giữa những người sử dụng đất với nhau

Trang 28

pháp luật của Nhà nước về đất đai, tài sản tôn giáo phải nói đến các quy định của

Bộ Luật Dân sự và Luật Đất đai

Nói tóm lại, hệ thống pháp luật đất đai trước năm 1993 vẫn còn cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp, chỉ xác định chủ thể giao đất và chủ thể sử dụng đất, khôngphản ánh bước phát triển và vận động của quan hệ đất đai theo hướng phát triểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần Luật chủ yếu định chế quan hệ đất đai ở trạngthái tĩnh, do đó trong nội tại hệ thống pháp luật chứa đựng mâu thuẫn về mặt kinh tế

và pháp lý Luật cho phép chuyển nhượng, mua bán thành quả lao động, kết quả đầu

tư trên đất chứ không phải bản thân đất đai, nhưng trên thực tế là chuyển nhượngđất đai Luật thực hiện quản lý nhà nước về mặt pháp lý hành chính trong khi đódường như chưa thực hiện về mặt kinh tế trong quản lý nhà nước về đất đai Dokhông công nhận đất có giá nên đất đai được Nhà nước cấp phát không thu tiền,chính điều này đã tạo ra các sơ hở, tiêu cực trong mua bán, sang nhượng đất đai,nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, gây tổn thất cho ngân sách Nhà nước vàphức tạp trong quản lý đất đai Vì những lý do trên, Luật Đất đai năm 1987 cần phảiđược thay thế bằng một Luật Đất đai mới cho phù hợp với cơ chế thị trường để thúcđẩy quá trình vận động và phát triển của quan hệ đất đai

Sau khi Hiến pháp 1992 ra đời, với các quy định mang tính nền tảng đất đaithuộc sở hữu hoàn toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho

tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, được chuyển nhượngquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Với các định hướng cơ bản đó, cùngvới sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng trong quản lý, Quốc hội đãban hành Luật Đất đai năm 1993, thay thế Luật Đất đai năm 1987 Về vấn đề sửdụng đất của các cơ sở tôn giáo, Điều 51 Luật Đất đai năm 1993 khẳng định là Nhànước không giao đất mới mà chỉ “quyết định diện tích đất giao cho nhà chùa, nhàthờ, thánh thất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáođang sử dụng”

Về vấn đề đất đai, tài sản có nguồn gốc tôn giáo do lịch sử để lại, Khoản 3Điều 11 Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 1999 quy định: "Nhà,

Trang 29

đất và các tài sản khác đã được tổ chức, các nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơquan Nhà nước quản lý, sử dụng do thực hiện chính sách của Nhà nước Việt NamDân chủ Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam,Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tặng, hiến cho Nhà nước thìđều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Về vấn đề sở hữu đất đai, Hiếp pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và LuậtĐất đai năm 1993 quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhấtquản lý” Điều này có nghĩa là đất đai mà các tôn giáo đang sử dụng không thuộcquyền sở hữu của tôn giáo đó mà thuộc quyền sở hữu của toàn dân Nhà nước giaođất cho tôn giáo sử dụng, tôn giáo có quyền sử dụng vào mục đích xây dụng cơ sởthờ tự nhưng đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ theo luật định Nhà nước không thutiền đối với đất dùng làm cơ sở thờ tự của tôn giáo

Với hơn 170 văn bản luật pháp được ban hành từ sau khi có Luật Đất đainăm 1993 đến Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6năm 2001 do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành ở trung ương, từQuốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị, Quyếtđiịnh của Thủ tướng Chính phủ đến cá văn bản của các Bộ, ngành ở trung ương thểhiện đất đai và lĩnh vực được sự quan tâm xã hội, có hệ thống văn bản quy địnhpháp luật rất đồ sộ so với nhiều lĩnh vực pháp luật khác

Về nội dung chủ yếu, hệ thống pháp luật đất đai trong giai đoạn này giảiquyết các vấn đề lớn cơ bản như sau:

a Đổi mới cách nhìn và quan niệm về sở hữu đất đai cho phù hợp với cơchế thị trường, trong đó xác định vai trò của Nhà nước với tư cách người chủ sở hữutối cao với người chủ sở hữu tối cao với người chủ sử dụng đất cụ thể được bảo hộđầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp

b Thừa nhận đất đai là một hàng hóa đặc biệt, quyền sử dụng đất là mộtloại tài sản được quyền giao dịch trên thị trường Chính phủ quy định khung giá cácloại đất theo từng vùng và từng thời gian để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tàichính của người sử dụng đất

Trang 30

c Mở rộng tối đa các quyền cho người sử dụng đất Theo đó, hộ gia đình,

cá nhân với tính cách là chủ thể tham gia vào quan hệ sử dụng đất đai Với 2 lần sửađổi bổ sung Luật Đất đai vào năm 1998 vằnm 2001, hộ gia đình, cá nhân có themquyền cho thuê lại, được bảo lãnh bằng quyền sử dụng đát và có quyền góp vốn liêndoanh với các tổ chức, cá nhân trong nước

Đối với tổ chức trong nước các quyền của họ chính thức luật hóa tại cácLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001

d Lần đầu tiên nhà nước Việt Nam quy định về chính sách hạn mức sửdụng đát nông nghiệp đối với hộ gia đình, nhằm đảm bảo đất đai cho người sử dụngnông nghiệp

e Hệ thống pháp luật đất đai đã chi tiết hóa và cụ thể hóa nhu cầu về thuhút đàu tư nước ngoài vào Việt Nam thông qua việc cải cách thủ tục hành chính vèthuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nướcngoài, qua việc quy định giá cho thuê mặt đất, mặt nước biển đối với hình thức đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam, qua những ưu đãi và chính sách thuế của Nhà nước

Pháp luật đất đai trong giai đoạn này đã trở thành động lực chủ yếu đểchúng ta giải quyết đầy đủ mối quan hệ lợi ích, đặc biệt việc giải quyết đất đai chongười nông dân giúp họ vươn lên làm chủ đồng ruộng, gắn bó chặt chẽ với đất đai,đất đai trở thành nguồn vốn quan trọng để người sử dụng đất đầu tư phát triển kinhdoanh Tuy nhiên, hệ thống pháp luật đất đai dù được định hướng phát triển phùhợp với cơ chế thị trường song với sụ phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế,

xã hội, sự vận động không ngừng của quan hệ đất đai, hệ thống pháp luật này thựchiện còn nhiều khiếm khuyết và chưa tương thích với các quy luật của thị trường

Về quyền sở hữu tài sản, theo quy định của Điều 234 Bộ luật Dân sự thì tàisản của tôn giáo là tài sản thuộc sở hữu chung chứ không phải thuộc quyền sở hữucủa cá nhân tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo mà của cộng đồng tín đồ

Để từng bước hoàn thiện pháp luật đất đai, trong đó có chính sách pháp luậtđất đai đối với tôn giáo, cần phải nhìn nhận, đánh giá việc thực hiện chính sách đấtđai đối với tôn giáo trên cơ sở đổi mới nhận thức về tôn giáo nói chung và chính

Trang 31

sách pháp luật đất đai đối với tôn giáo nói riêng nhằm đề ra chính pháp luật đất đaiđối với tôn giáo phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới hiện nay.

1.1.4 Vai trò của chính sách pháp luật đất đai đối với tôn giáo ở Việt Nam

Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật đất đai liên quan đến tôn giáo hiện

là vấn đề được Nhà nước quan tâm, ngay từ Quyết định số 111/ CP ngày 14 tháng 4năm 1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hộichủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía Nam đã quy định

“ III Đối với nhà, đất của các đoàn, hội tôn giáo

Để bảo đảm thống nhất quản lý nhà cửa, bảo đảm tôn trọng tự do tín ngưỡng

và căn cứ vào các chế độ, chính sách khác của Nhà nước, việc quản lý của các đoàn,hội tôn giáo ở các tỉnh phía Nam được quy định như sau:

1 Nhà nước bảo hộ mọi nhà thờ, chùa chiền, miếu mạc, thánh thất được thực

sự và thuần tuý dùng vào việc thờ cúng hành đạo

2 Nhà nước tịch thu toàn bộ nhà đất của các Đoàn, hội các tổ chức khôngđược Nhà nước thừa nhận và cho phép hoạt động

3 Nhà, đất của các đoàn, hội, các tổ chức khác và của các tôn giáo hiện đangcho thuê được giải quyết theo chính sách chung về nhà, đất cho thuê Riêng đối vớicác nhà tập trung của các tổ chức, các tôn giáo đã cho hội viên, giáo dân của mìnhnhờ, hoặc ở thuê với giá rất rẻ mà không nằm trong phạm vi nơi thờ cúng, hành đạothì Nhà nước có thể xét cấp hẳn cho người đang sử dụng”

Đến Luật Đất đai năm 1987 cũng quy định rõ về đất đai liên quan đến tôngiáo và cơ sở thờ tự của tôn giáo:

“Điều 32 Chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo đang sử dụng đất hoặc chưađược giao đất sử dụng nếu có yêu cầu chính đáng và có khả năng sử dụng có hiệuquả thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chínhtương đương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước và khả năng đất đai củađịa phương để quyết định diện tích đất được giao cho chùa, nhà thờ, thánh thất đó.”

Hiến pháp 1992 và đã được sửa đổi một số điều năm 2001 (văn bản có giá trịpháp lý cao nhất) đã khẳng định một nguyên tắc nhất quán:

Trang 32

"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôngiáo nào, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ" (Điều 70)

Về vấn đề sở hữu đất đai, Hiến pháp, Luật Đất đai quy định "đất đai thuộc

sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý" có nghĩa là đất đai mà tôn giáođang sử dụng không thuộc quyền sở hữu của tôn giáo mà thuộc quyền sở hữu toàndân Nhà nước giao đất cho tôn giáo sử dụng, tôn giáo có quyền sử dụng đất đồngthời được thực hiện các quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ theo luật định vàNhà nước cũng có một số ưu đãi như: không phải nộp tiền sử dụng đất, không phảinộp thuế sử dụng đất, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài

Về quyền sở hữu tài sản, theo quy định của Bộ luật Dân sự, tài sản của tôngiáo là tài sản thuộc sở hữu chung chứ không phải thuộc quyền sở hữu của cá nhântôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo mà của cộng đồng tín đồ (Điều 234) Các thành viêncủa cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thoả thuận hoặctheo tập quán, vì lợi ích chung của cộng đồng Tài sản chung của cộng đồng là tàisản chung hợp nhất, không phân chia

Về vấn đề giao đất cho tôn giáo, Nhà nước không giao quyền sử dụng của cơ

sở thờ tự cho một cá nhân tôn giáo hay một tổ chức tôn giáo nào mà nhà nước giaoquyền sử dụng đất cho cộng đồng tín đồ (đại diện là ban quản lý cơ sở thờ tự, ban

hộ tự của Phật giáo, ban hành giáo của Công giáo, ) Điều đó phù hợp với quy địnhcủa Bộ luật Dân sự quy định về quyền sở hữu tài sản của tôn giáo đã nói ở trên Vềvấn đề giao đất mới, Điều 51 Luật Đất đai 2003 khẳng định là không giao đất mới

mà " Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chính sáchtôn giáo của Nhà nước, quỹ đất đai của địa phương, quyết định diện tích đất giaocho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhà thờ,thánh thất tôn giáo đang sử dụng" Nhưng trên thực tế do giải phóng mặt bằng phục

vụ công tác quy hoạch, hoặc ở khu dân cư mới được tạo lập, hoặc mặt bằng cơ sởthờ tự bị thiên tai, rủi ro huỷ hoại thì giải quyết như thế nào? Và những trường hợpkhông phải nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo như các trường học, tu viện, trụ sở

Trang 33

(các cơ sở khác) của tôn giáo hiện đang sử dụng đất tuy đã được các văn bản dướiluật có những quy định nhưng hiệu lực pháp lý chưa cao và chưa được áp dụngthống nhất.

Về vấn đề đất đai, tài sản có nguồn gốc tôn giáo do lịch sử để lại, Khoản 3Điều 11 Nghị định số 26/1999/NĐ-CP quy định "Nhà, đất và các tài sản khác đãđược tổ chức, các nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý, sửdụng do thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chínhphủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà Xãhội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tặng, hiến cho Nhà nước thì đều thuộc quyền sở hữucủa Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Tuy nhiên, việc phổ biến và quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách,pháp luật về tôn giáo và Nghị định số 69/HĐBT còn chưa sâu sắc trong các cấpchính quyền và các cơ quan có trách nhiệm nên có những thiếu sót, lệch lạc trongviệc thực hiện Một số chức sắc các tôn giáo chưa được hướng dẫn để hiểu rõ nhữngquy định trong Nghị định số 69/ HĐBT nên đã có những việc làm chưa phù hợp vớipháp luật Việc xử lý những tranh chấp nơi thờ tự thường chậm trễ, kéo dài khôngdứt điểm Một số nơi chính quyền chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáotrong việc đào tạo giáo sĩ, tăng ni và in ấn kinh bổn Có những nơi lại quản lý lỏnglẻo đối với việc in ấn sách báo tôn giáo, kể cả một số sách mê tín dị đoan, không tôntrọng pháp luật về xuất bản Việc xử lý theo pháp luật đối với một số người lợi dụngchính sách tự do tín ngưỡng cấu kết với một số phần tử phản động nước ngoài pháhoại đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc thiếu kịp thời

Để bảo đảm thực hiện tốt các chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước,ngày 23 tháng 7 năm 1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 739/TTg vềcác hoạt động tôn giáo, trong đó Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh:

“1 Các cấp chính quyền và Ban Tôn giáo các cấp cần xử lý đúng đắn cácvấn đề sau đây:

- Cho phép tu sửa nơi thờ tự của các tôn giáo bị hư hỏng, xuống cấp Nhữngnơi thờ tự của các tôn giáo mà trước đây cơ quan Nhà nước đã mượn sử dụng vào

Trang 34

việc khác, nay cần xem xét nếu sử dụng không đúng thì trả lại cho giáo hội hoặcngười chủ trì nơi thờ tự ấy Nơi thờ tự đã bị chiến tranh hoặc thiên tai tàn phá, naycác chức sắc tôn giáo yêu cầu thì có thể xem xét cho phép xây lại trên cơ sở các quyđịnh của luật đất đai Trong việc xây sửa các nơi thờ tự, hết sức tránh huy động dângóp tiền của, sức lực quá nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất Tạo điều kiệnthuận lợi cho các cơ sở tôn giáo trong quá trình hoạt động và sinh hoạt”.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CPngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì Nhà nước chỉ giao đất

và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo theo Điều 99 củaLuật Đất đai năm 2003:

“ Đất cơ sở tôn giáo đang sử dụng gồm nhà chùa, nhà thờ, thánh thất, thánhđường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ

sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động” và “ Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nướcquỹ đất của địa phương, quyết định diện tích giao cho cơ sở tôn giáo”

Khoản 2 Điều 117 của Luật Đất đai năm 2003 quy định: “ Cơ sở tôn giáo sửdụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sửdụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”

Theo Khoản 1 Điều 99 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì cơ sở tôn giáokhông thuộc đối tượng được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Cơ sở tôngiáo nhận quyền sử dụng đất là: “ thông qua việc nhà nước giao đất”; “thông quaviệc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng ổnđịnh”; và “ Cơ sở tôn giáo nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành vềtranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận”

Vì vậy, giải quyết vấn đề sử dụng đất làm cơ sở thờ tự của cơ sở tôn giáophải đảm bảo tuân thủ các căn cứ để giao đất theo quy định tại Điều 31 của LuậtĐất đai năm 2003 và Điều 30 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 (đãđược sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 của Nghị định số17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006) Nếu việc sử dụng đất xây dựng nơi thờ tự của

Trang 35

cơ sở tôn giáo mà phù hợp với các quy định về căn cứ để giao đất thì Ủy ban nhândân cấp huyện căn cứ quy định tại Khoản 8 Điều 38 của Luật Đất đai để thu hồi đấtcủa các hộ gia đình, cá nhân Sau đó, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao đất cho

cơ sở tôn giáo để xây dựng nơi thờ tự của cơ sở tôn giáo đó theo hình thức giao đấtkhông thu tiền sử dụng đất

Đến Luật đất đai 2013 thì được quy định cụ thể hơn đối với các cơ sở tôn giáođang sử dụng đất, tại khoản 4 điều 120

“4 Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sauđây:

a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;

15 tháng 5 năm 2014 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sởhữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các cơ sở tôn giáo

Từ đó cho thấy hệ thống chính sách pháp luật đất đai liên quan đến tôn giáo từnăm 1975 đến năm 2013 là một quá trình xuyên suốt, có tính hệ thống và mang tính

kế thừa lịch sử, không phân biệt tôn giáo, mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật, tự do tín ngưỡng Hoạt động tôn giáo được Nhà nước bảo hộ, đồng thời Nhànước còn tạo những điều kiện thuận lợi về đất để các tôn giáo có điều kiện hoạtđộng, góp phần bảo vệ và xây dựng đất nước Chính sách đối với tôn giáo của Đảng

và Nhà nước ta được xây dựng trên quan điểm cơ bản học thuyết Mác Lê - Nin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời căn cứ vào đặcđiểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Tư tưởng nhất quán xuyên suốt của Đảng và

Trang 36

Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đoàn kết tôn giáo,hoà hợp dân tộc, tốt đời đẹp đạo Mặt khác, mỗi người công dân có đạo hay không

có đạo, có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, cần đề cao cảnh giác chống mọi âmmưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo

Trong tổng thể chung về pháp luật đất đai, giá trị kinh tế của các cơ sở thờ tựcũng như của diện tích đất sử dụng làm cơ sở thờ tự không lớn Song giá trị tinhthần của các cơ sở thờ tự đối với các đồng bào theo tôn giáo là vô giá, cơ sở thờ tự

là nơi thiêng liêng, là nơi bất khả xâm phạm Sự tôn sùng của đồng bào tôn giáo thểhiện qua sự thành kính đối với cơ sở thờ tự

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng về sử dụng đất của các tôn giáo ở Việt Nam

Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo hiện là vấn đề được Nhà nước quan tâm, ngaytrong Hiến pháp 1992 và đã được sửa đổi một số điều năm 2001 (văn bản có giá trịpháp lý cao nhất) đã khẳng định một nguyên tắc nhất quán:

"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôngiáo nào, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật

Nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ"

Và Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quyết định chính sách dân tộc, chính

sách tôn giáo của Nhà nước;

Về vấn đề sở hữu đất đai, Hiến pháp quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do nhà nước thống nhất quản lý" có nghĩa là đất đai mà tôn giáo đang sử dụngkhông thuộc quyền sở hữu của tôn giáo mà thuộc quyền sở hữu toàn dân Nhà nướcgiao đất cho tôn giáo sử dụng, cơ sở, tôn giáo có quyền sử dụng đất đồng thời phảithực hiện những nghĩa vụ theo luật định và Nhà nước cũng có một số ưu đãi như:không phải nộp tiền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổnđịnh lâu dài

Về quyền sở hữu tài sản, theo quy định của Bộ Luật Dân sự, tài sản của tôngiáo là tài sản thuộc sở hữu chung chứ không phải thuộc quyền sở hữu của cá nhântôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo mà của cộng đồng tín đồ (Điều 234) Các thành viên

Trang 37

của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thoả thuận hoặctheo tập quán, vì lợi ích chung của cộng đồng Tài sản chung của cộng đồng là tàisản chung hợp nhất, không phân chia.

Về vấn đề giao đất cho tôn giáo, Nhà nước không giao quyền sử dụng của

cơ sở thờ tự cho một cá nhân tôn giáo hay một tổ chức tôn giáo nào mà Nhà nướcgiao quyền sử dụng đất cho cơ sở tôn giáo (đại diện là ban quản lý cơ sở thờ tự, ban

tự hộ của Phật giáo, ban hành của Công giáo,…là người chịu trách nhiệm trước Nhànước về việc sử dụng đất) Điều đó phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự quyđịnh về quyền sở hữu tài sản của tôn giáo Điều 51 Luật Đất đai năm 1993 khẳngđịnh là Nhà nước không giao đất mới cho cơ sở tôn giáo mà " Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quỹđất đai của địa phương, quyết định diện tích đất giao cho nhà chùa, nhà thờ, thánhthất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo đang sửdụng" Nhưng trên thực tế do giải phóng mặt bằng phục vụ công tác quy hoạch,hoặc ở khu dân cư mới được tạo lập, hoặc mặt bằng cơ sở thờ tự bị thiên tai, rủi rohuỷ hoại thì giải quyết như thế nào? Và những trường hợp không phải nhà chùa,nhà thờ, thánh thất tôn giáo như các trường học, tu viện, trụ sở của tôn giáo hiệnđang sử dụng đất tuy đã được các văn bản dưới luật có những quy định nhưng hiệulực pháp lý chưa cao và chưa được áp dụng thống nhất

Về đất đai: "Đất tôn giáo đang sử dụng gồm các nhà chùa, nhà thờ, thánhthất, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ

sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động" (Khoản 1, Điều 99, LuậtĐất đai năm 2003) "Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứvào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quỹ đất của địa phương, quyết định diện tíchgiao cho cơ sở tôn giáo" (Khoản 2, Điều 99, Luật Đất đai năm 2003)

Bên cạnh đó với vấn đề đất đai, tài sản có nguồn gốc tôn giáo do lịch sử đểlại, tại Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm1999của Chính phủ quy định: “Nhà, đất và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôngiáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng do thực hiện chính

Trang 38

sách của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thờiCộng hòa miền Nam Việt Nam, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namhoặc tặng, hiến cho Nhà nước thì đều thuộc quyền sở hữu của nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Về vấn đề giao đất mới, tại Điều 51 Luật Đất đai năm

1993 khẳng định là không giao đất mới mà chỉ Nhà nước “quyết định diện tích đấtgiao cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhàthờ, thánh thất tôn giáo đang sử dụng”

1.2.2 Thực trạng về xây dựng cơ sở thờ tự của các tôn giáo ở Việt Nam

Trong tổng thể chung về đất đai toàn quốc, giá trị kinh tế của các cơ sở thờ

tự cũng như của diện tích đất sử dụng làm cơ sở thờ tự không lớn Song giá trị tinhthần của các cơ sở thờ tự đối với các đồng bào theo tôn giáo là không thể tính được,

cơ sở thờ tự là nơi thiêng liêng, là nơi bất khả xâm phạm Sự sùng đạo của đồng bàotôn giáo thể hiện qua sự thành kính đối với cơ sở thờ tự Những đặc điểm này cũngcần tính đến trong hoạch định chính sách đất đai tôn giáo

Theo thống kê cả nước hiện nay có 21.534 cơ sở thờ tự gắn với đất đai tôngiáo (trong đó Phật giáo có 14 012 ngôi chùa, tịnh xá, niệm phật đường; Công giáo

có 6.003 nhà thờ, nhà nguyện, dòng tu; Tin lành có 437 nhà thờ, nhà nguyện; Caođài có 896 thánh thất, điện thờ; Phật giáo Hoà hảo có 115 chùa, 108 cơ sở khác; Hồigiáo có 71 đền thờ); 99% là cơ sở cũ, đã có từ nhiều chục năm nay, số đất giao mới,

cơ sở xây dựng mới rất ít Về cơ bản, đại đa số các cơ sở thờ tự này hoạt động bìnhthường, đất đai được sử dụng ổn định không có tranh chấp, khiếu kiện

Điều này có được do Nhà nước ta có chính sách đúng đắn, các cấp chínhquyền nghiêm túc thực hiện, chú trọng quan tâm đến đất đai tôn giáo sử dụng Giữ

ổn định về đất đai do tôn giáo sử dụng góp phần không nhỏ đảm bảo chính sách lớncủa Đảng ta hiện nay là thực hiện "quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúngpháp luật" cho đồng bào các tôn giáo Để tiếp tục phát huy và củng cố tính ổn định,đồng thời tăng cường quản lý đối với diện đất đai và cơ sở thờ tự, cần nhanh chóngcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những cơ sở thờ tự đã ổn định Việc

Trang 39

này vừa phù hợp với những lợi ích của cộng đồng các tôn giáo mà mặt khác đảmbảo công tác quản lý Nhà nước

1.2.3 Những tồn tại, bất cập của việc áp dụng chính sách pháp luật liên quan trong quản lý đất, cơ sở thờ tự tôn giáo

Tuy đa số cơ sở tôn giáo sử dụng đất ổn định, song tồn tại lớn nhất hiện nay

là còn một số cơ sở thờ tự, cơ sở vật chất khác gắn liền với đất của một số tôn giáovẫn có sự tranh chấp về quyền sử dụng đất, phát sinh các đơn khiếu nại Hiện naytrên toàn quốc có 832 vụ khiếu kiện chủ yếu là các tôn giáo đòi lại đất đai, cơ sở củatôn giáo hiện các cơ quan nhà nước, đoàn thể, tổ chức xã hội đang sử dụng (việctranh chấp, khiếu kiện về cơ sở thờ tự rất ít, chủ yếu là các cơ sở vật chất kinh tế,văn hoá, xã hội khác của tôn giáo như trường học, bệnh viện, ) Tuy số các vụkhiếu nại này không nhiều song rất phức tạp, gây nhiều khiếu kiện đông người,tranh cãi, nhiều nơi làm mất ổn định an ninh, chính trị, xã hội địa phương, gây khókhăn cho chính quyền Chủ yếu do những nguyên nhân sau:

Trước hết, vấn đề phức tạp trên là do lịch sử để lại Theo thống kê mới nhấtcủa Ban Tôn giáo của Chính phủ (tháng 4 năm 2002), tại 22 tỉnh, thành phố thì diệntích đất do các cơ sở tôn giáo đang sử dụng là xấp xỉ 6.260 ha Trong đó có 543 cơ

sở có nguồn gốc của tôn giáo mà hiện các cơ quan, tổ chức đang sử dụng do đượchiến tặng, do mượn, do tịch thu, trưng mua, trưng dụng Cụ thể gồm 218 cơ sở dotôn giáo hiến tặng cho Nhà nước (chiếm 40,15%); 42 cơ sở tôn giáo Nhà nước đangmượn của tôn giáo (chiếm 7,73%); 283 cơ sở Nhà nước sử dụng do tịch thu, trưngthu, trưng mua, trưng dụng của tôn giáo (chiếm 52,12%) Trong 542 trường hợp đó,nếu phân loại theo chứng cứ pháp lý thì có 197 trường hợp có văn bản (văn bảnmượn, văn bản hiến, tặng, văn bản tịch thu, trưng thu, trưng mua, trưng dụng)chiếm 36,3%, 346 trường hợp không có văn bản chiếm 63,7% Riêng thành phố HồChí Minh, theo số liệu gần đây có 253 trường hợp cơ sở vật chất của tôn giáo màNhà nước đang quản lý, sử dụng Trong đó của Công giáo là 168 trường hợp

Trước tình hình trên, xử lý vấn đề này theo hướng như sau:

Trang 40

- Các cơ sở tôn giáo đã hiến, tặng cho Nhà nước hoặc do Nhà nước tịch thu,trưng thu, trưng mua, trưng dụng thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.

- Đối với các cơ sở tôn giáo mà hiện nay Nhà nước đã quản lý và đưa vào sửdụng, nếu không có chứng cứ rõ ràng về việc cho mượn, hiến, tặng, tịch thu, trưngthu, trưng mua, trưng dụng thì không đặt vấn đề xem xét lại và Nhà nước tiếp tụcđưa vào sử dụnh theo mục đích đã được xác định

- Các cơ sở của tôn giáo mà Nhà nước mượn của tôn giáo, nay cơ sở tôn giáo

có nhu cầu xin lại thì Nhà nước xem xét để trả lại hoặc bồi thường

Trường hợp Nhà nước trả lại cơ sở có nguồn gốc của tôn giáo thì tuỳ vàohoàn cảnh cụ thể, có thể trả bằng chính cơ sở đó, có thể bằng hoán đổi một cơ sởkhác, có thể giao đất mới và bồi thường để cơ sở tôn giáo xây dựng lại (theo tinhthần của Nghị quyết số 58/NQ-UBTVQH10 về giao dịch dân sự về nhà ở được xáclập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991)

Vấn đề giao đất cho các cơ sở tôn giáo, Điều 51 của Luật Đất đai năm 1993quy định:

“Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào chínhsách tôn giáo của Nhà nước, quỹ đất đai của địa phương, quyết định diện tích đấtgiao cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhàthờ, thánh thất tôn giáo đang sử dụng”

Điều đó khẳng định Nhà nước không giao mới đất cho tôn giáo và cũngkhông đặt vấn đề thu hồi đất nếu cơ sở tôn giáo sử dụng đất quá rộng hay sử dụngkhông có hiệu quả, còn bỏ hoang Song trong thực tế có rất nhiều trường hợp: dogiải phóng mặt bằng phục vụ công tác quy hoạch; hoặc ở khu dân cư mới được tạolập; hoặc mặt bằng của cơ sở thờ tự bị thiên tai, rủi ro huỷ hoại việc này khắcphục như thế nào?

Trước tình hình đó, Thông tư liên tịch số 1646/TTLT-TCĐC-TGCP ngày 30tháng 10 năm 2000 của Tổng cục Địa chính và Ban Tôn giáo của Chính phủ hướngdẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích cơ sở tôn giáo đang sửdụng: "Trường hợp các cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp, được cơ quan Nhà nước

Ngày đăng: 02/06/2019, 07:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. André Chieng (2007), Để hiểu về văn hóa và tôn giáo Trung Hoa, tạp chí nghiên cứu tôn giáo (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu về văn hóa và tôn giáo Trung Hoa
Tác giả: André Chieng
Năm: 2007
2. Ban tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb tôn giáo, HN, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạtđộng tôn giáo
Nhà XB: Nxb tôn giáo
3. Nguyễn Thành Cam (2006), Tìm hiểu thực trạng vấn đề tôn giáo ở các vùng đồng bào dân tộc trong phát triển hiện nay ở Gia Lai, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực trạng vấn đề tôn giáo ở các vùngđồng bào dân tộc trong phát triển hiện nay ở Gia Lai
Tác giả: Nguyễn Thành Cam
Năm: 2006
5.Nguyễn Hồng Dương (2010), Một số vấn đề về tôn giáo ở Việt Nam, tạp chí nghiên cứu tôn giáo (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Năm: 2010
6. Hoàng Minh Đô (2008), Vấn đề tôn giáo và dân tộc với hệ thống chính trị cơ sở ở Tây nguyên, tạp chí nghiên cứu tôn giáo (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và dân tộc với hệ thống chính trị cơ sởở Tây nguyên
Tác giả: Hoàng Minh Đô
Năm: 2008
11. Lục Hà, Minh Tân (2012), Các tỉnh Tây Nguyên cần quan tâm chính sách đất đai, dân tộc, tôn giáo, Báo Công an TP. Đà Nẵng (Số 67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tỉnh Tây Nguyên cần quan tâm chính sách đấtđai, dân tộc, tôn giáo
Tác giả: Lục Hà, Minh Tân
Năm: 2012
12. Mai Thanh Hải, Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb công an nhân dân, Hà nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nxb công an nhân dân
13. Nhiều tác giả (1999), Gia Lai đất nước con người, Tạp chí Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Lai đất nước con người
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1999
14. Nhiều tác giả, Tây nguyên ngày nay, Nxb văn hóa dân tộc, 2005;19. Lê Nhị Hòa (2011), Vấn đề dân tộc và tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên , Tạp chí Dân tộc (Số 127) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây nguyên ngày nay", Nxb văn hóa dân tộc, 2005;19. Lê Nhị Hòa(2011), "Vấn đề dân tộc và tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên
Tác giả: Nhiều tác giả, Tây nguyên ngày nay, Nxb văn hóa dân tộc, 2005;19. Lê Nhị Hòa
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2011
15. Khái quát về lịch sử truyền giáo và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1217/Khai_quat_ve_lich_su_truyen_giao_va_phat_trien_dao_Cong_giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về lịch sử truyền giáo và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam
16. Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng, Sở hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu và sử dụng đất đai ở cáctỉnh Tây nguyên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
17. Nguyễn Thị Bích Ngân (2011), Tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống của cư dân bản địa tỉnh Gia Lai, Tạp chí Khoa học công nghệ và môi trường (Số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống của cư dânbản địa tỉnh Gia Lai
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Ngân
Năm: 2011
18. Paul Pouprad, Các tôn giáo, Nxb thế giới, HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo
Nhà XB: Nxb thế giới
19. Nguyễn Văn Quang (2000), Thực trạng cơ sở thờ tự của các tôn giáo trong tỉnh, những tác động về kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương, đề tài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng cơ sở thờ tự của các tôn giáo trongtỉnh, những tác động về kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 2000
20. Nguyễn Trọng Tuấn (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, tạp chí nghiên cứu tôn giáo (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chính sách tôngiáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Tuấn
Năm: 2010
22. Nguyễn Thị Kim Vân (2011), Tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân bản địa tỉnh Gia Lai những chuyển biến và tác động đến văn hóa – xã hội (từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay), đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và tôn giáo của cư dân bản địa tỉnhGia Lai những chuyển biến và tác động đến văn hóa – xã hội (từ nửa cuối thế kỷXIX đến nay)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Vân
Năm: 2011
23. Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện sử học, Lê Quý Đôn, phủ biên tạp lục, Nxb văn hóa thông tin, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn, phủ biên tạp lục
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
24. . Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (1999), Địa chí Gia Lai, Nxb văn hóa dân tộc, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Gia Lai
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 1999
25. W.Cole Durham,JR (2006), Tiến trình và bối cảnh hiện tại của pháp luật tôn giáo tại Đông Nam á: một cách nhìn so sánh, tạp chí nghiên cứu tôn giáo (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình và bối cảnh hiện tại của pháp luật tôngiáo tại Đông Nam á: một cách nhìn so sánh
Tác giả: W.Cole Durham,JR
Năm: 2006
4. Cục Thống kê Gia Lai (2011), Niên giám thống kê Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w