Lý do lựa chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là điều không thể tránh khỏi, để lại nhiều hệ lụy đến người lao động, gia đình họ và toàn xã hội như: mất cân đối về tài
Trang 1
Hµ Néi, N¡M 2018
Trang 2Chuyªn ngµnh: Tµi chÝnh Tµi chÝnh Tµi chÝnh Ng©n hµng (Kinh tÕ B¶o hiÓm)Ng©n hµng (Kinh tÕ B¶o hiÓm)Ng©n hµng (Kinh tÕ B¶o hiÓm)
Trang 3cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tôi xin cam đoan các số liệu được sử dụng trong luận án tiến sĩ “Quản lý quỹ
bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” hoàn toàn được thu thập từ thực tế, chính xác,
đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực và khách quan
Hà Nội, tháng năm 2018
Tác giả Luận án
Trần Minh Thắng
Trang 4Khoa Kinh tế Bảo hiểm, TS Nguyễn Thị Chính - Trưởng khoa, cùng các thầy cô tham gia giảng dạy chương trình nghiên cứu sinh Chính những kiến thức cùng phương pháp nghiên cứu được tiếp thu trong thời gian học tập tại trường là hành trang quan trọng giúp tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chuyển lời tri ân sâu sắc nhất đến tập thể giáo viên hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Văn Định và TS Đỗ Văn Sinh Sự hướng dẫn tận tình, tâm huyết và rất trách nhiệm của các thầy đã giúp tôi hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo BHXH Việt Nam và các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, các đồng nghiệp trong ngành đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện trong quá trình thu thập dữ liệu, tư vấn và các gợi ý chính sách
Xin cảm ơn tình cảm của những người thân, gia đình đã quan tâm, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận án
Trang 5LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 19
1.1 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 19
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 19
1.1.2 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 23
1.2 Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 27
1.2.1 Khái niệm quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 27
1.2.2 Mục tiêu quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 28
1.2.3 Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 29
1.2.4 Nội dung quản lý quỹ BHTN 30
1.3 Những nhân tố chủ yếu tác động đến quản lý quỹ BHTN 42
1.3.1 Chính sách pháp luật 42
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
1.3.3 Tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 44
1.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát 45
1.3.5 Tổ chức triển khai chính sách pháp luật về quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 46
1.3.6 Chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 47
1.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin 47
1.4 Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 48
1.4.1 Quản lý quỹ BHTN ở một số nước trên thế giới 48
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 59
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 60
2.1 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 60
2.1.1 Quá trình hình thành và mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 60
Trang 62.2.1 Quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp 68
2.2.2 Quản lý chi BHTN 76
2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 84
2.2.4 Quản lý cân đối thu - chi quỹ BHTN 85
2.2.5 Quản lý hoạt động đầu tư quỹ BHTN 86
2.3 Đánh giá tình hình quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 86
2.3.1 Kết quả đạt được 86
2.3.2 Tồn tại, hạn chế 96
2.3.3 Đánh giá nhân tố tác động đến quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 122
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 123
3.1 Định hướng, quan điểm tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 123
3.1.1 Định hướng mục tiêu quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 123
3.1.2 Quan điểm về tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 126
3.2 Giải pháp quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 131
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 131
3.2.2 Giải pháp về kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý 132
3.2.3 Giải pháp về quản lý thu bảo hiểm thất nghiệp 133
3.2.4 Giải pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi bảo hiểm thất nghiệp 135
3.2.5 Giải pháp đảm bảo cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp 136
3.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp137 3.2.7 Xây dựng và ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ trong quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp 138
3.2.8 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 139
3.2.9 Xây dựng cơ chế thưởng phạt nghiêm minh 140
3.3 Kiến nghị 141
3.3.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 141
3.3.2 Đối với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội 143
3.3.3 Đối với các Bộ, ngành có liên quan 145
3.3.4 Đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam 146
3.3.5 Đối với người sử dụng lao động 148
3.3.6 Đối với người lao động 148
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 7DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152 TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 161
Trang 8BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHVL Bảo hiểm việc làm
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CPS Khảo sát Dân cư Hiện thời
TTLB Thông tư liên Bộ
TTLT Thông tư liên tịch
UBND Uỷ ban nhân dân
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 9Bảng 1.2: Quỹ BHTN và tính bền vững ở một số quốc gia trên thế giới 49
Bảng 2.1: Tình hình lập và giao kế hoạch thu BHTN (2011 - 2015) 69
Bảng 2.2: Số người lao động tham gia BHTN (2011 - 2015) 71
Bảng 2.3: Số tiền thu BHTN (2011 - 2015) 73
Bảng 2.4: Tình hình lập và giao kế hoạch chi BHTN (2011 - 2015) 78
Bảng 2.5: Số người thụ hưởng các chế độ BHTN (2011-2015) 78
Bảng 2.6: Kết quả chi trả BHTN (2011 - 2015) 82
Bảng 2.7: Cân đối quỹ BHTN (2011 - 2015) 85
Bảng 2.8: Đánh giá sự phù hợp của chính sách pháp luật về BHTN 89
Bảng 2.9: Đánh giá của cán bộ BHXH về việc chấp hành pháp luật BHTN đối với đơn vị sử dụng lao động sau khi thanh tra, kiểm tra 92
Bảng 2.10: Đánh giá về thủ tục, hồ sơ tham gia BHTN 93
Bảng 2.11: Đánh giá về thủ tục, hồ sơ hưởng chế độ BHTN 94
Bảng 2.12: Đánh giá về sự chuyên nghiệp của cán bộ BHXH hiện nay 96
Bảng 2.13: Đánh giá của cán bộ BHXH về việc chấp hành chính sách, pháp luật về BHTN của người sử dụng lao động 97
Bảng 2.14: Đánh giá về tỷ lệ tham gia BHTN hiện nay 98
Bảng 2.15: Kết quả phân tích hồi quy Logistic 111
Bảng 2.16: Kết quả kiểm định Hosmer-Lemeshow đánh giá sự phù hợp của mô hình Logistic 112
Bảng 2.17: Kết quả phân tích hồi quy Logistic 118
Trang 10Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam 65
Hình 2.2: Số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHTN (2011 - 2015) 70
Hình 2.3: Số tiền nợ đọng BHTN (2011 - 2015) 74
Hình 2.4: Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHTN (2011 - 2015) 76
Hình 2.5: Tình hình thực hiện kế hoạch chi BHTN (2011 - 2015) 83
Hình 2.6: Tình hình tham gia và thụ hưởng chế độ BHTN 87
Hình 2.7: Đánh giá của cán bộ BHXH về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật BHTN 91
Hình 2.8: Kênh tiếp cận thông tin của người sử dụng lao độngvà người lao động về chính sách pháp luật BHTN 91
Hình 2.9: Tình hình chi trả và hưởng trợ cấp BHTN của cơ quan BHXH đối với người thất nghiệp 95
Hình 2.10: Đánh giá của cán bộ BHXH về lý do người sử dụng lao động tham gia BHTN chưa đầy đủ cho người lao động 100
Hình 2.11: Đánh giá của người lao động về chất lượng đào tạo nghề và sự hài lòng trong công tác tư vấn, giới thiệu việc làm 105
Hình 2.12: Tỉ lệ tham gia BHTN 109
Hình 2.13: Tỉ lệ tham gia BHTN theo khu vực làm việc 110
Hình 2.14: Tỉ lệ tham gia BHTN theo thành thị (TT) và nông thôn (NT) 110
Hình 2.15: Tỉ lệ tham gia BHTN theo trình độ học vấn 111
Hình 2.16: Số lượng cán bộ BHXH được khảo sát theo tỉnh thành 116
Hình 2.17: Đánh giá của cán bộ cơ quan BHXH về mức độ ảnh hưởng của nhân tố chính sách pháp luật đến quản lý quỹ BHTN 120
Hình 2.18: Đánh giá của người sử dụng lao động và người lao động về mức độ ảnh hưởng của nhân tố chính sách pháp luật đến quản lý quỹ BHTN 121
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là điều không thể tránh khỏi, để lại nhiều hệ lụy đến người lao động, gia đình họ và toàn xã hội như: mất cân đối về tài chính đối với người lao động; lãng phí nguồn nhân lực xã hội; tệ nạn xã hội gia tăng, thậm chí đe doạ đến sự ổn định thể chế chính trị của quốc gia,… Để đối phó và khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, các chế độ trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp mất việc làm hay BHTN là những biện pháp hữu hiệu nhằm thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị thất nghiệp và quan trọng hơn là hỗ trợ họ học nghề, giới thiệu việc làm để người thất nghiệp sớm quay lại thị trường lao động, có thu nhập
và ổn định lại cuộc sống Tại nhiều quốc gia trên thế giới, BHTN là một trong những chính sách quan trọng góp phần giải quyết các vấn đề về thất nghiệp, việc làm và đảm bảo ASXH
Tại Việt Nam, quyền lợi của người lao động cũng như tình trạng thất nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm trong từng giai đoạn phát triển kinh tế -
xã hội khác nhau Giai đoạn trước năm 2009, NSNN đã chi hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để giải quyết cho hàng chục vạn người lao động thông qua các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp tạm ngừng việc, trợ cấp mất việc làm hay các chế độ trợ cấp đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, Để đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người lao động khi không may bị thất nghiệp và giảm gánh nặng cho NSNN, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật BHXH, quy định chi tiết
về BHTN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 Sau 5 năm triển khai thực hiện, BHTN được hoàn thiện hơn trong Luật Việc làm được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Trải qua quá trình hình
thành và sửa đổi đến nay, BHTN đã từng bước đi vào cuộc sống và là “Phao cứu
sinh” cho người lao động khi bị mất việc làm Theo số liệu của BHXH Việt Nam đến năm 2015, cả nước đã có trên 10,3 triệu người lao động tham gia BHTN với số thu vào quỹ BHTN lên đến trên 9,7 nghìn tỷ đồng và đã chi trên 4,5 nghìn tỷ đồng cho hơn
545 nghìn người hưởng chế độ Qua đó, quỹ BHTN không những đủ chi các chế độ
mà còn kết dư trên 49 nghìn tỷ đồng
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý quỹ BHTN vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập về chính sách như: người lao động có đóng BHTN nhưng không hưởng chế độ khi về hưu, chưa có quy định giới hạn về độ tuổi hưởng BHTN nên một số người lao động hết tuổi lao động nghỉ việc hưởng chế độ BHTN sau đó mới làm thủ
Trang 12tục hưởng lương hưu, người lao động hưởng chế độ thai sản chủ động xin nghỉ việc để hưởng cả trợ cấp thai sản và TCTN, Trong tổ chức thực hiện, tình trạng trục lợi quỹ BHTN vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo toàn Quỹ BHTN, biểu hiện như: người lao động chủ động nghỉ việc hoặc bắt tay với người sử dụng lao động làm thủ tục để hưởng chế độ BHTN trong khi đơn vị vẫn bố trí được việc làm cho người lao động; người lao động nghỉ việc hưởng TCTN đồng thời vẫn đi làm và đóng BHXH, BHTN tại các địa phương khác nơi hưởng TCTN để tránh bị phát hiện; một số đơn vị có biểu hiện lách luật để trốn đóng BHTN bằng cách giao kết hợp đồng lao động với người lao động thời hạn dưới 03 tháng hoặc đóng chưa đầy đủ số người trong đơn vị, đóng không đúng mức lương của người lao động, nợ đọng tiền BHTN,… Thông tin việc làm còn hạn chế, việc đào tạo nghề còn bất cập về thời gian, kinh phí và ngành nghề đào tạo, chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Cơ chế phối hợp trong thực hiện chính sách và thanh tra, kiểm tra giữa các cơ quan, tổ chức chưa thực sự chặt chẽ, Mặt khác, quỹ BHTN hiện nay chủ yếu hướng tới chi trả chế độ trợ cấp thất nghiệp với số chi tuyệt đối lớn hơn rất nhiều lần các chế độ khác, chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động chưa được chi trả, các chính sách BHTN mang tính chủ động nhằm hạn chế tình trạng sa thải lao động, hỗ trợ mức đóng BHTN hay nâng cao vai trò của thị trường lao động chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến
số tiền kết dư của quỹ BHTN hiện nay là khá lớn
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, “Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam” là đề tài được tác giả lựa chọn để nghiên cứu nhằm khắc phục những vấn đề hạn chế, bất cập, từ đó, góp phần quản lý quỹ BHTN chặt chẽ, hiệu quả và đúng pháp luật
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp và đưa ra những kiến nghị nhằm quản lý quỹ BHTN
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 13chặt chẽ, hiệu quả và đúng pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quản lý quỹ BHTN
b Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý sự nghiệp quỹ BHTN Trong đó, chủ yếu nghiên cứu về quản lý thu, quản lý chi, cân đối quỹ BHTN ở Việt Nam
- Về không gian: Luận án nghiên cứu quản lý quỹ BHTN tại Việt Nam
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử để hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, Ngành có liên quan
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các phiếu khảo sát thực tế Cách thức và phương pháp thu thập dữ liệu cho nghiên cứu là đặc biệt quan trọng vì
nó ảnh hưởng đến chất lượng của số liệu và ảnh hưởng đến kết quả phân tích (Creswell, 2013) Do đó, để đảm bảo chất lượng dữ liệu cho nghiên cứu, tác giả thực hiện khảo sát với hai nhóm đối tượng chủ yếu: Nhóm thứ nhất, là người lao động trên toàn quốc, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố có đông lao động, mật độ khu công nghiệp dày đặc như: thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Nhóm thứ hai, là các bộ quản lý quỹ BHTN trên toàn quốc và tập trung chủ yếu ở các địa bàn địa lý nêu trên, mà ở đó, cán bộ quản
lý BHTN nhiều hơn so với các tỉnh khác
Trang 14Theo Privitera (2013) kích thước mẫu nghiên cứu phải đảm bảo hai khía cạnh sau: (1) đủ lớn và (2) đối tượng chọn mẫu phải đa dạng nhằm phản ánh đúng bản chất của thông tin Số lượng phiếu khảo sát đối với người lao động là 2019 người ở các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh Số lượng phiếu khảo sát đối với cán bộ quản lý quỹ BHTN là 1021, chủ yếu làm công tác quản lý thu BHTN, chi trả chế độ BHTN ở các tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương và các quận/ huyện/ thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh Sau khi loại bỏ các trường hợp không hợp lệ, tác giả thu về 1613 phiếu hợp
lệ với nhóm thứ nhất và với nhóm thứ hai tác giả thu về 976 phiếu hợp lệ Như vậy, kích cơ mẫu sử dụng cho các mô hình nghiên cứu có thể nói là đủ lớn để đảm bảo rằng các kết quả phân tích là đáng tin cậy
Một số cán bộ cơ quan BHXH mặc dù đã được hẹn trước nhưng không gặp được trực tiếp vì nhiều lý do khác nhau, tác giả đã thực hiện khảo sát qua điện thoại Tuy vậy, nhóm này chiếm tỉ lệ không nhiều và vẫn đảm bảo chất lượng về mặt số liệu
Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, tác giả thực hiện tiếp 1 đợt khảo sát thông qua phiếu khảo sát điện tử được tạo trên công cụ “Google docs forms” cho cả ba nhóm đối tượng là người lao động, chủ sử dụng lao động và cán bộ BHXH trên phạm
vi cả nước để phân tích, đánh giá các nhân tố tác động đến công tác quản lý quỹ BHTN Sau khi thu thập và xử lý dữ liệu, tác giả thu về 828 mẫu phiếu hợp lệ đối với người lao động, 359 mẫu phiếu hợp lệ đối với người sử dụng lao động và 404 mẫu phiếu hợp lệ đối với cán bộ BHXH
Do đối tượng được khảo sát trải rộng trên toàn quốc nên khoảng thời gian cần thiết để thực hiện kéo dài từ tháng 07/2016 đến tháng 04/2017
- Các nguồn dữ liệu sau khi thu thập được phân tích trên bảng, biểu và sử dụng phần mềm SPSS (Phần mềm thống kê dành cho khoa học xã hội - Statistical Package for the Social Sciences) để phân tích, đánh giá cho nghiên cứu này
5 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Bảo hiểm thất nghiệp không phải là vấn đề mới, từ những năm đầu của thế kỷ
XX để góp phần giải quyết tình trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, ILO Convention (1919), phê chuẩn Công ước thất nghiệp C2 vào năm
1919 ILO Convention (1934), Tổ chức này tiếp tục phê chuẩn Công ước số 44 vào ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp Trên cơ sở Công
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 15ước này, nhiều nước đã ban hành chính sách về BHTN ILO Convention (1952), Công ước An sinh xã hội C102 năm 1952; ILO Convention (1991), Công ước xúc tiến, hỗ trợ và bảo vệ phòng chống thất nghiệp C168 năm 1991 Những công ước này là định hướng cho các nước hoạch định chính sách tìm kiếm biện pháp phòng chống thất nghiệp để bảo vệ người lao động và gia đình họ Để hoạch định và tổ chức thực hiện được những chính sách này là hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và
xã hội của từng nước
Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học công bố những công trình nghiên cứu về BHTN và các vấn đề liên quan
- Wandner, S A., & Stengle, T (1997) đã chỉ ra thực tế là trong những năm gần
đây, cứ mỗi tháng lại có khoảng 1/3 số người lao động thất nghiệp có trong danh sách những người nhận trợ cấp định kỳ theo thống kê của Khảo sát Dân cư Hiện thời (CPS) Những cá nhân này gọi là người thất nghiệp được bảo hiểm Tỷ lệ những người đang nhận bảo hiểm được gọi là tỷ lệ người thụ hưởng thất nghiệp Có rất nhiều cách tính tỷ
lệ thụ hưởng thất nghiệp và mỗi cách tính lại có những ý nghĩa riêng Mục đích của nghiên cứu này nhằm giới thiệu các tính chỉ tiêu, tỷ lệ người thụ hưởng thất nghiệp Từ
đó, để mọi người thảo luận và vận dụng trong thực tiễn
CPS giới thiệu số liệu người thất nghiệp toàn cầu Dựa vào khảo sát trên một số
hộ gia đình, phương pháp này xác định tất cả những người thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm trong một đơn vị thời gian nhất định trong tháng Tất cả những người đang tìm việc làm, bất kể do bị mất việc hay bỏ việc, bất kể đó là công việc đầu tiên hay họ mới quay lại làm việc, bất kể họ có gắn bó với công việc đó hay không và bất kể thời gian thất nghiệp là một tuần hay vài năm, đều được CPS tính đến
Ngược lại, khái niệm về người thất nghiệp được bảo hiểm dựa trên những nguồn thông tin hoàn toàn khác lại mang tính hạn chế hơn Người thất nghiệp được bảo hiểm gồm tất cả những người tham gia vào hệ thống BHTN Họ phải đáp ứng những điều kiện thụ hưởng ban đầu và đang yêu cầu hay đang được thụ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 01 tuần thất nghiệp Họ thường là những người lao động có gắn bó với công việc nhưng bị ép buộc phải thôi việc và có khả năng tìm kiếm việc khác Họ có thể có tiền lương và vẫn được tính như một người thất nghiệp vì khoảng thời gian họ nhận trợ cấp thất nghiệp là hạn chế, đa số thường chỉ thất nghiệp trong khoảng dưới 06 tháng Theo hồ sơ hành chính, số lượng người thất nghiệp được tính định kỳ theo tuần
Trong thời kỳ khủng hoảng, người ta dường như đã không còn bận tâm về vấn
đề người thụ hưởng chương trình định kỳ vì có quá nhiều sự thay đổi liên quan đến
Trang 16thất nghiệp với tỷ lệ người thất nghiệp và người thụ hưởng gia tăng Tuy nhiên, cùng lúc đó, trợ cấp từ các chương trình định kỳ được cho là ngày càng cao, và người ta lại đặt câu hỏi về việc liệu có bao nhiêu lao động thất nghiệp rời khỏi chương trình mà không nhận được trợ cấp thu nhập nào thêm? Mối bận tâm lúc này là liệu trợ cấp BHTN có đủ kéo dài để ngăn ngừa tình trạng kiệt quệ về tài chính và nếu có kéo dài thêm thì sẽ kéo dài đến bao lâu?
Các tác giả cho rằng tỷ lệ người thụ hưởng có những ý nghĩa khác nhau vì nó liên quan đến hai thước đo khác nhau Tỷ lệ này có tác động tới bất cứ tranh cãi nào về tính hợp lý của chương trình BHTN và vì thế cần phải xem xét kỹ lưỡng khi đưa ra chính sách Ngoài ra tài liệu này còn cho rằng không nên sử dụng tỷ lệ thụ hưởng như một công cụ phân tích chính sách khi khủng hoảng xảy ra bằng cách đưa ra những thước đo khác tỷ lệ thụ hưởng và cách sử dụng chúng trong tương lai
Có thể thấy, nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến sự tác động của BHTN tới tình hình lao động việc làm, việc trở lại làm việc sau thất nghiệp, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp và tác động của BHTN đến an sinh xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu không đi sâu vào công tác quản lý và cân đối quỹ BHTN, cho dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ người thụ hưởng có ảnh hưởng đến quỹ và quản lý quỹ BHTN
- Schwartz, J (2009) phân tích mối tương quan giữa BHTN tại Mỹ và chu kỳ kinh doanh Nghiên cứu thứ nhất xây dựng mô hình xác định mức điều chỉnh trợ cấp BHTN tối ưu nhất cho chu kỳ kinh doanh Mô hình này hỗ trợ hiệu quả cho việc tăng cường trợ cấp BHTN cho người thất nghiệp lâu dài trong thời kỳ suy thoái Tại Mỹ, cơ chế để bắt đầu mở rộng trợ cấp BHTN khi tỷ lệ thất nghiệp của một bang đạt tới một ngưỡng nhất định Cơ chế này được xem là thiết kế không hiệu quả và việc mở rộng chỉ có thể được thực hiện ở một số ít bang trước khi xảy ra khủng hoảng Tiểu luận thứ hai phân tích tính khả thi của các mô hình Markov Switching (MS) nhằm xác định ở chu kỳ suy thoái nào trong thị trường lao động có thể thực hiện mở rộng trợ cấp BHTN Tăng cường trợ cấp trong thời kỳ suy thoái với mô hình MS dựa theo khoảng thời gian thất nghiệp trung bình liên kết chặt chẽ hơn với việc kéo dài thời gian đảm nhận một công việc tạm thời hơn là các chương trình hiện thời và các giải pháp đề xuất khác Tiểu luận cuối cùng tập trung vào tác động của chương trình mở rộng tự động tại
Mỹ tới hành vi tìm kiếm Với chương trình này, có một sự không chắc chắn trong việc thụ hưởng trợ cấp của cá nhân người tham gia bởi việc mở rộng mang tính ngẫu nhiên
và không chắc chắn vì phụ thuộc vào tỷ lệ thất nghiệp tại một bang Tác giả sử dụng cách tiếp cận hồi quy gián đoạn để xác định ảnh hưởng của chương trình tới khoảng thời gian thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp ở quy mô hạt Tác giả nhận thấy rằng việc mở
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 17rộng trợ cấp có tác động đáng kể đến cả hai yếu tố trên, sự không chắc chắn ở chương trình này có thể tác động đáng kể đến tỷ lệ thất nghiệp ở hạt
Kết luận của nghiên cứu này có thể sử dụng như nguồn tài liệu hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách nhằm thiết kế một hệ thống BHTN tối ưu, xác định thời điểm suy thoái của thị trường lao động và hiểu rõ tác động của việc tăng cường trợ cấp một cách tự động trong thời kỳ suy thoái tới hành vi tìm hiểu của người dân Tuy nhiên, các chuỗi nghiên cứu này chưa đề cập đến việc quản lý quỹ BHTN, mà chỉ đề cập đến thời kỳ suy thoái của thị trường lao động như một nhân tố tác động lớn đến quỹ và quản lý quỹ BHTN
- Mullins, S D (2012) phân tích tác động của thất nghiệp tới việc mở rộng bảo hiểm thất nghiệp vào năm 2008 Robert J Barro, báo Wall Street, 30/8/2010 đã từng đưa ra dự đoán rằng tỷ lệ thất nghiệp có thể xuống thấp hơn 6,8% thay vì 9,5% nếu trợ cấp thất nghiệp không được mở rộng đến 99 tuần
Tại Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trung bình đạt 4,6% trong vòng 02 năm trước cuộc khủng hoảng năm 2008-2009 và sau đó vào mùa hè năm 2010, con số này đã tăng lên hơn gấp đôi Robert Barro lúc đó đã nghiên cứu đánh giá liệu sự gia tăng tỉ lệ thất nghiệp này có tác động như thế nào tới sự thay đổi trong chính sách BHTN Phân tích của ông gợi ý rằng: khủng hoảng không thực sự nghiêm trọng như những gì số liệu thống kê thất nghiệp đưa ra bởi vì hơn một nửa phần tăng trong tỷ lệ thất nghiệp kể từ khi khủng hoảng bắt đầu là do việc mở rộng BHTN Barro tin tưởng rằng Chính phủ cần xem xét lại việc mở rộng BHTN
Chương trình BHTN là một ví dụ hoàn hảo phản ánh chính sách của Chính phủ phải đối mặt với sự thỏa hiệp giữa công bằng và hiệu quả kinh tế (Okun 1975) Động
cơ triển khai BHTN năm 1935 chính là từ lòng thương cảm nhằm mang đến sự trợ giúp tạm thời cho những người đang phải đối mặt với tổn thất về thu nhập trong thời
kỳ suy thoái kinh tế lan rộng Nhưng tất nhiên, việc gì cũng có hai mặt Tính thiếu hiệu quả có thể được nhìn thấy khi trợ cấp này nhằm hỗ trợ người dân kéo dài tình cảnh thất nghiệp mà BHTN đang tìm cách để kéo họ ra??? Các nhà kinh tế học từ lâu đã chấp nhận rằng trợ cấp BHTN có thể dẫn đến việc kéo dài tình trạng thất nghiệp (Kartz và Meyer 1990; Chetty 2008) Một số chuyên gia khuyến nghị rằng tính thiếu hiệu quả có thể nghiêm trọng đến nỗi phải xem xét lại việc mở rộng trợ cấp thất nghiệp (Barro) hoặc hủy bỏ chương trình BHTN hiện thời, thay bằng tài khoản tiết kiệm tạm ứng cá nhân (Feldstein và Altman 1998)
Cuộc khủng hoảng hiện thời cùng với tình trạng thất nghiệp kéo dài (Farber
Trang 182011) và chính sách mở rộng trợ cấp thất nghiệp chưa từng có tiền lệ (Bộ Lao động Mỹ 2011) đã thu hút sự quan tâm trong những thảo luận về chính sách của Chính phủ Trợ cấp BHTN có thể được đề xuất xóa bỏ nếu chính sách mở rộng trợ cấp này trong những năm vừa qua được xác định là làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp Ở khía cạnh khác, nếu sự gia tăng này là không đáng kể, chính sách hạn chế trợ cấp có thể “trừng phạt” những cá nhân chịu tác động của khủng hoảng kinh tế nhưng lại “đút túi” một món lời nhỏ
Nghiên cứu này cho thấy việc mở rộng chính sách BHTN, việc kéo dài thời gian nhận trợ cấp BHTN của người lao động bị thất nghiệp có tác động trực tiếp và làm gia tăng người bị thất nghiệp Điều này đương nhiên ảnh hưởng đến quỹ và quản
lý quỹ BHTN Song nghiên cứu không đi sâu vào vấn đề chính mà luận án hướng tới
- Carter, J., Bédard, M., & Bista, C P (2013) nghiên cứu so sánh kinh nghiệm
thực hiện bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm việc làm khu vực Châu Á và trên thế giới
Trong nghiên cứu này đã trình bày tổng quan về các chương trình bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm việc làm đang được thực hiện tại 14 quốc gia, như một phương án
hỗ trợ một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm trong khi họ thay đổi công việc, và tìm kiếm việc làm mới Các quốc gia được lựa chọn làm đối tượng cho nghiên cứu này không chỉ đa dạng về mặt địa lý, mà còn đang trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau Có hai quốc gia ở Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ), hai ở Nam
Mỹ (Argentina và Chile), ba ở Châu Âu (Đan Mạch, Pháp, Đức), một ở Trung Đông (Bahrain), hai nước là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (Thái Lan và Việt Nam), và bốn nước cuối cùng thuộc khu vực Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ và Hàn Quốc)
Nghiên cứu này thực chất chỉ là một bài báo nêu lên các đặc điểm chính và thực tiễn triển khai một số chương trình BHTN - có ba nước gọi là chương trình bảo hiểm việc làm - nhưng không đi vào nghiên cứu chi tiết tất cả các đặc điểm và đưa ra các số liệu cụ thể Đồng thời, bài báo cũng nêu lên những bức tranh toàn cảnh vè BHTN ở 14 quốc gia đại diện cho các Châu lục khác nhau để dễ dàng so sánh Vì thế, việc đi sâu vào nghiên cứu quỹ và quản lý quỹ BHTN chưa được thực hiện Hơn nữa, báo cáo chỉ được trình bày dưới dạng liệt kê, phản ánh các vấn đề có liên quan đến BHTN ở từng nước để người đọc tự so sánh, tự liên hệ…
- Hu, Y W., Impavido, G., & Li, X (2009) đã nêu lên vấn đề về hệ thống hưu trí của Trung Quốc có sự phân hoá và phân cấp cao, với các tiêu chuẩn quản trị, thực tiễn quản lý quỹ hưu trí, quy định và giám sát của họ khác nhau đáng kể giữa các thành phần được hỗ trợ của hệ thống lương hưu Trung Quốc và các tỉnh Báo này mô
tả các thành phần chính của hệ thống, nhấn mạnh những tiến bộ đã đạt được cho đến
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 19nay và xác định các điểm yếu còn lại liên quan đến công bố thông tin, khung quản trị
và các tiêu chuẩn quản lý quỹ lương hưu Tuy rằng, báo cáo này đề cập đến quản lý quỹ trong hệ thống hưu trí có tính tương đồng với vấn đề mà luận án đang nghiên cứu nhưng chỉ đề cập đến quản lý quỹ trên góc độ của một tổ chức, bộ máy quản trị quản
lý quỹ hưu trí Những vấn đề liên quan đến đối tượng tham gia, mức đóng, mức hưởng, các nhân tố tác động đến việc quản lý quỹ trong báo cáo chưa đề cập
5.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Cả trước và sau khi chính sách pháp luật về BHTN ở Việt Nam được thực hiện (01/01/2009) đã có không ít những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này của các nhà khoa học, các nhà quản lý:
- Đỗ Văn Sinh (2005) đã nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về quỹ BHXH, quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam Tác giả cũng đã chỉ ra những nhân tố tác động đến quỹ BHXH đó là: nhân tố chính sách, nhân tố tổ chức thực hiện, các nguồn tài chính vận động làm tăng quy mô quỹ BHXH, giảm quỹ BHXH Và các nội dung quản lý quỹ BHXH Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH trong giai đoạn nghiên cứu, cụ thể tập trung nghiên cứu quỹ hưu trí và trợ cấp giai đoạn từ năm 1995 - 2003 và quỹ khám chữa bệnh từ năm 1998 - 2003 về chính sách,
mô hình quỹ, phương thức quản lý và hệ thống tổ chức bộ máy quản lý quỹ BHXH để tìm ra những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân Xuất phát từ những thực trạng, tồn tại, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam gồm: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về chế độ hình thành và sử dụng quỹ BHXH; Hoàn thiện hoạt động nghiệp vụ quản lý quỹ BHXH; Hoàn thiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán quỹ BHXH; Hoàn thiện hoạt động thông tin, tuyên truyền về chính sách BHXH; Các giải pháp điều kiện về mô hình tổ chức bộ máy, cán bộ, trang thiết bị
cơ sở vật chất phục vụ quản lý quỹ BHXH;
Nghiên cứu trên đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến quỹ và quản lý BHXH như: Đối tượng tham gia, đối tượng thụ hưởng, mô hình tổ chức thực hiện, Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện trước khi Luật BHXH ban hành và là một trong những nghiên cứu có tính tương đồng về quỹ BHTN, quản lý quỹ BHTN Do
đó, công trình này sẽ được tác giả kế thừa những vấn đề liên quan để nghiên cứu trong luận án này
- Nguyễn Văn Định (2008) nghiên cứu và đề xuất mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề lý luận về thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp và BHTN, đánh giá đúng thực trạng thất nghiệp ở nước ta, nhu cầu và
Trang 20khả năng tham gia BHTN, xác định những nội dung liên quan đến BHTN và đề xuất
mô hình tổ chức BHTN ở nước ta Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp như: tổng hợp, phân tích, so sánh và điều tra, khảo sát thực tế cụ thể ở Thủ đô Hà Nội với một số doanh nghiệp đại diện trên địa bàn Tác giả đã làm rõ một số vấn đề về thất nghiệp, các biện pháp, chính sách khắc phục tình trạng thất nghiệp và nội dung cơ bản của BHTN, cùng với đó đề xuất hai mô hình tổ chức BHTN ở Việt Nam bên cạnh việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức BHTN tại các nước như: Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Thái Lan
Nội dung của đề tài đề cập đến thực trạng thất nghiệp, nhu cầu và khả năng tham gia BHTN ở Việt Nam Đề tài dựa trên các chính sách và một số biện pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp ở nước ta những năm trước đó và đưa ra mô hình tổ chức BHTN ở Việt Nam Theo mô hình tổ chức BHTN của tác giả thì BHTN Việt Nam phải tổ chức theo một hệ thống dọc với 3 cấp (cấp trung ương, cấp tỉnh/ thành phố, cấp huyện/ quận/ thị xã) Chính vì thế, nghiên cứu này đã kiến nghị nên gắn BHTN vào hệ thống BHXH hiện hành Cơ quan BHXH các cấp vừa nắm đối tượng tham gia BHTN, vừa thực hiện công tác thu - chi BHTN và quản lý đối tượng hưởng trợ cấp BHTN… Điều đó cũng có nghĩa coi BHTN giống như một chế độ BHXH bắt buộc, nên khi tổ chức thực hiện phải đảm bảo tính thống nhất trong toàn hệ thống Có thể nói đây là một đề tài được nghiên cứu khá toàn diện và hết sức công phu, đồng thời cũng rất phù hợp với Việt Nam khi tổ chức triển khai Tuy nhiên, thực tế tổ chức triển khai chính sách BHTN ở nước ta lại khác Bộ lao động thương binh và xã hội ngoài việc thực hiện chức năng là quản lý Nhà nước về BHTN, cũng tham gia quản lý sự nghiệp BHTN Còn BHXH Việt Nam chỉ thực hiện các nghiệp vụ thu và chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động
Nghiên cứu trên đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến quản lý thu BHTN như: Đối tượng tham gia, hình thức triển khai, mức đóng góp BHTN; một số vấn đề liên quan đến quản lý chi trả chế độ như: Mức hưởng, Điều kiện hưởng, Thời gian hưởng
và vấn đề về chi chế độ BHTN khác Tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện trước khi chính sách BHTN có hiệu lực và chưa đề cập đến quỹ BHTN cũng như quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam
- Nguyễn Vinh Quang (2009) nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp trên thế giới với mục đích đưa ra các thông tin cô đọng và khái quát bức tranh về các mô hình BHTN điển hình trên thế giới tại các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi Về cơ sở lý thuyết, chuyên đề đưa ra một số định nghĩa về BHTN như: Trong Công ước 102/1952 về An sinh xã hội (Các
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 21Tiêu chuẩn tối thiểu) và Công ước 168/1988 về thúc đẩy việc làm và bảo đảm người lao động chống lại thất nghiệp, ILO đã xác định: BHTN là một hình thức bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một thời gian giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra việc mất thu nhập mà họ
và gia đình họ dựa vào đó; Từ điển bách khoa toàn thư Columbia định nghĩa: BHTN là loại hình bảo hiểm chống lại sự mất thu nhập trong khoảng thời gian một người lao động khoẻ mạnh bị thất nghiệp một cách không tự nguyện Mục đích của hình thức bảo hiểm này là cung cấp một khoản trợ cấp tối thiểu cho người lao động bị thất nghiệp đến khi họ tìm lại được việc làm; Từ điển bách khoa toàn thư Britannica định nghĩa: BHTN là một loại hình BHXH được xây dựng nhằm đền bù cho người lao động trong một giai đoạn ngắn hạn do bị thất nghiệp không tự nguyện Mục đích cơ bản của BHTN là cung cấp sự trợ giúp tài chính cho các lao động mất việc trong một khoảng thời gian đủ để cho phép họ tìm việc làm khác hoặc được thuê lại làm công việc cũ
Trong chuyên đề này, tác giả tập trung nghiên cứu các yếu tố như: Đối tượng tham gia, nguồn đóng góp, điều kiện hưởng, trường hợp loại trừ, các hình thức cung cấp chế độ BHTN, mức hưởng, thời gian hưởng và cơ quan thực hiện Các yếu tố này được đưa vào phân tích so sánh tại các nước phát triển bao gồm: các nước Bắc Âu, Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Hàn Quốc; Các nước đang phát triển bao gồm: các nước Mỹ Latinh, Thái Lan; Và tại các nước chuyển đổi bao gồm các nước Đông Âu và Trung Quốc Trên cơ sở đó, chuyên đề đã khái quát, đánh giá mô hình BHTN tại các nước và đưa ra bốn khuyến nghị: Thứ nhất, đối tượng tham gia nên mở rộng diện bao phủ chế
độ BHTN; Thứ hai, thời gian hưởng nên quy định theo cả độ tuổi và thời gian đóng góp bảo hiểm thay vì chỉ dựa vào thời gian đóng bảo hiểm; Thứ ba, quản lý hành chính cần thiết lập một cơ chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan liên quan để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và công tác quản lý đối tượng; Thứ tư, hình thức cung cấp chế độ cần được đa dạng hoá
Nghiên cứu đã chỉ ra một số vấn đề liên quan đến quản lý thu BHTN, như: đối tượng tham gia, nguồn đóng góp; một số vấn đề liên quan đến quản lý chi BHTN, như: mức hưởng, điều kiện hưởng, thời gian hưởng; và một số vấn đề về tổ chức thực hiện chính sách BHTN Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến quỹ BHTN cũng như quản lý quỹ BHTN tại các nước trên thế giới và được thực hiện trước khi chính sách BHTN ở Việt Nam có hiệu lực thi hành
- Phạm Trường Giang (2010) nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế thu Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam với mục đích nghiên cứu sự phối hợp giữa các bộ phận trong hệ thống thu BHXH từ đó phát hiện ra những hạn chế, bất cập nhằm đưa ra
Trang 22những giải pháp hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam
Luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và làm rõ khái niệm, vai trò của thu BHXH từ đó đưa ra khái niệm về cơ chế thu BHXH, nội dung cơ bản của cơ chế thu BHXH Trong quá trình phân tích thực trạng cơ chế thu BHXH ở Việt Nam, cơ chế thu BHXH được đánh giá phải đảm bảo qua 5 tiêu chí, cụ thể: tính minh bạch, tính thuận tiện, tính hiệu quả, tính kiểm soát, tính trôi chảy trong vận hành Và một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá cơ chế thu BHXH là: tỷ lệ lao động tham gia BHXH, kết quả cấp
sổ BHXH, tỷ lệ nợ đóng BHXH, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH Sau khi đánh giá các tiêu chí, tác giả đưa ra những kết quả đạt được và một số hạn chế về cơ chế thu BHXH như: Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc còn chậm, sự phối hợp chưa chặt chẽ, chưa thường xuyên, hoạt động thu nộp phí BHXH chưa thuận tiện, sự kiểm soát đối với hoạt động thu BHXH chưa chặt chẽ, tỷ lệ lao động tham gia BHXH thấp, ứng dụng CNTT trong hoạt động thu BHXH còn nhiều hạn chế Với những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra nhiều nhóm giải pháp, trong đó tập trung vào các giải pháp hoàn thiện cơ chế thu BHXH: Hoàn thiện các quy định về thu BHXH; Tăng cường quan hệ công chúng vào hoạt động BHXH; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; Ứng dụng CNTT và cải cách hành chính
Đây là một công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống về cơ chế thu BHXH Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ có tính tương đồng với luận án và được kế thừa để nghiên cứu về hoạt động thu BHTN do cơ quan BHXH thực hiện thu đồng thời với BHXH
- Nguyễn Thị Chính (2010) nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến công tác tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người lao động, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người lao động ở Việt Nam Tác giả đã tiếp cận cơ sở lý thuyết khá chi tiết về BHXH trong đó có quỹ BHXH, nghiên cứu các kinh nghiệm về
tổ chức chi trả các chế độ BHXH tại Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Pháp… và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thực trạng hệ thống tổ chức chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam được tác giả phân tích rất chi tiết, từ quy trình chi trả các chế độ BHXH đến phân tích các tồn tại của hoạt động chi trả các chế độ BHXH Qua đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam như: Giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức chi trả BHXH; Giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả BHXH; Hoàn thiện phương thức chi trả; Quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí chi trả; Tăng cường phương tiện phục vụ công tác chi trả; Kiện toàn công tác cán bộ; Tăng cường kiểm tra, thanh tra trong các khâu chi trả; Quản lý chặt chẽ chi trả các chế độ
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 23BHXH ngắn hạn; tăng lệ phí chi trả…
Nghiên cứu này đề cập sâu đến quản lý chi trả chế độ BHXH và quỹ BHXH, những vấn đề tương đồng với luận án đang nghiên cứu Vì vậy, sẽ được kế thừa để
nghiên cứu những vấn đề liên quan mà luận án đề cập
- Lê Quang Trung (2011) nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng tham gia BHTN của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời gian qua và khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp này tham gia BHTN giai đoạn đến năm 2020 Qua nghiên cứu cơ sở lý thuyết, đề tài đưa ra một số khái niệm cơ bản và vai trò, đặc điểm phân loại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đặc biệt, đề tài chỉ ra các yếu tố tác động đến việc tham gia BHTN của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: Các quy định của pháp luật về BHTN, việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức về BHTN, việc tổ chức triển khai và thực hiện chính sách BHTN, vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện chính sách BHTN, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm hành chính về BHTN Đồng thời đề tài nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách BHTN của một số nước trên thế giới
Nghiên cứu thực trạng tham gia BHTN của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đề tài rút ra một số tồn tại, đó là: về mặt nhận thức của người lao động, chủ sử dụng lao động và các cơ quan tổ chức có liên quan còn rất hạn chế Mặt khác, còn tồn tại một số khó khăn trong công tác thu BHTN đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khi đơn vị lách luật về đối tượng tham gia hay nói cách khác là thiếu bình đẳng trong hỗ trợ doanh nghiệp lớn và nhỏ bởi giới hạn số lượng lao động để tham gia BHTN; hoặc trụ sở đơn vị không rõ ràng gây khó khăn cho cơ quan quản lý thực hiện thu BHTN Để khắc phục những tồn tại đó, đề tài đưa ra bốn giải pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia BHTN trong thời gian tới Cụ thể, với giải pháp 1: Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHTN, đề xuất mở rộng đối tượng tham gia BHTN, quy định trách nhiệm của chủ sử dụng lao động trong việc tham gia BHTN và các cơ quan thực hiện chính sách, đồng thời quy định về thanh tra, kiểm tra, rà soát tình hình tham gia BHTN; Giải pháp 2: giải pháp về tổ chức thực hiện, tăng cường thông tin tuyên truyền, tập huấn thực hiện chính sách; Giải pháp 3: giải pháp về thanh tra, kiểm tra và phát hiện các vi phạm, xử lý các vi phạm; Giải pháp 4: các giải pháp hỗ trợ khác
Tuy nhiên, liên quan đến quỹ BHTN và quản lý quỹ BHTN lại được trình với nội dung rất hạn chế, có chăng chỉ đề cập đến các yếu tố có liên quan đến việc hình thành và sử dụng quỹ, như: chính sách, pháp luật, đối tượng tham gia, mức đóng, thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật…
Trang 24- Trung tâm phát triển xã hội và môi trường vùng (CERSED) (2013) nghiên cứu, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của quỹ BHTN trong giai đoạn 2009 -
2012, xác định các yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra cũng như các yếu tố tác động tới tình hình hoạt động của quỹ Đánh giá, dự báo tình hình phát triển của quỹ, tính bền vững của quỹ trong bối cảnh có những thay đổi của các yếu tố có liên quan Và đề xuất mô hình chuyển đổi xây dựng quỹ bảo hiểm việc làm dựa trên quỹ BHTN
Nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động quỹ BHTN giai đoạn 2009 - 2012
Cụ thể: Đối với hoạt động thu BHTN là thực trạng về đối tượng tham gia và thu BHTN Đối với hoạt động chi là thực trạng về các hoạt động như chi trợ cấp thất nghiệp, chi tư vấn, giới thiệu việc làm, chi hỗ trợ đào tạo nghề, chi BHYT, chi phí quản lý Qua đó, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu BHTN gồm 3 yếu tố: đối tượng tham gia, mức hỗ trợ của Nhà nước, mức đóng Và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động chi của quỹ BHTN gồm 7 yếu tố: xác định nguyên nhân nghỉ việc, thời gian đăng ký thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp một lần, xác định mức trần hưởng và mức sàn hưởng, thời gian tính trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm, chi khác Đồng thời nghiên cứu cũng dự báo tình hình phát triển quỹ BHTN đến năm 2025
Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận về quản lý quỹ BHTN, kinh nghiệm quản lý quỹ BHTN và bài học rút ra cho tỉnh Hưng Yên Tuy nhiên, tác giả chưa làm rõ được những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN nói chung và ở Việt Nam nói riêng Đồng thời, chưa có bộ chỉ tiêu để đánh giá những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN Mặt khác, phần lý luận về quản lý quỹ BHTN trình bày còn sơ sài, chưa có tính hệ thống và phạm vi nghiên cứu ở một tỉnh…
- Trần Quang Lâm (2016) nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về những nhân tố tác động đến nguồn thu của quỹ BHYT nói chung và ở Việt Nam nói riêng để đưa ra các
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 25nhóm giải pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn thu của quỹ BHYT
Luận án đã bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận về quỹ BHYT và nguồn thu của quỹ BHYT Đặc biệt, nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra nhiều nhân tố tác động đến nguồn thu của quỹ BHYT, bao gồm: Chính sách pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, chất lượng KCB, tổ chức thu, đối tượng tham gia, mức đóng góp BHYT v.v Nghiên cứu đã phân tích từng nhân tố và cho rằng, các nhân tố trên đều có tác động tổng hợp đến nguồn thu, nhưng số lượng đối tượng tham gia và mức đóng góp BHYT có tác động mạnh và trực tiếp đến nguồn thu của quỹ BHYT Qua phân tích thực trạng ở Việt Nam, nghiên cứu lý giải các nhân tố có tác động mạnh nhất đến nguồn thu đó là: Chính sách pháp luật về BHYT Do chính sách pháp luật được điều chỉnh kịp thời và hợp lý nên số đối tượng tham gia tăng nhanh, mức đóng cũng tăng nhanh từ đó làm tổng thu BHYT tăng, góp phần cân đối thu - chi quỹ BHYT; và Chất lượng KCB BHYT còn nhiều yếu kém, đây là nhân tố không chỉ tác động trước mắt, mà còn tác động rất lâu dài đến nguồn thu Chính vì vậy, nghiên cứu này đã đưa ra các giải pháp chủ yếu tập trung vào hoàn thiện chính sách, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh BHYT…
Đây là một trong những nghiên cứu mà tác giả tổng quan do có tính tương đồng về quỹ BHYT, nguồn thu của quỹ BHYT với quỹ và quản lý quỹ BHTN Do đó, nghiên cứu này sẽ được tác giả kế thừa để nghiên cứu về vấn đề mà luận án đang đề cập đến
- Nguyễn Quang Trường (2016) quan điểm hiệu quả quản lý nhà nước về BHTN được thể hiện qua nhiều khía cạnh như: số người tham gia BHTN tăng lên hằng năm, quỹ BHTN phải an toàn và phát triển, trợ cấp bằng tiền cho người thất nghiệp và giải quyết tốt việc làm cho người thất nghiệp, giảm tỷ lệ thất nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về BHTN và phân tích, đưa ra một số các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về BHTN, như: (i) trình độ phát triển của nền kinh tế, (ii) phạm vi bao phủ, (iii) chu kỳ kinh doanh, (iv) sự phát triển của thị trường lao động, (v) tập quán của dân cư, (vi) ý thức tuân thủ chính sách của người tham gia BHTN, (vii) mô hình quản lý BHTN Một số hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHTN được tác giả đánh giá qua thực trạng về chính sách như: chưa cụ thể, rõ ràng trong việc xác định đối tượng, phạm vi tham gia BHTN, hay mức đóng, mức hưởng BHTN chưa thực sự hợp lý; tình trạng đơn vị sử dụng lao động nợ đọng tiền BHTN vẫn diễn ra làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động; tình trạng trục lợi quỹ BHTN xảy ra cả với người lao động và người sử dụng lao động, Theo tác giả, quỹ BHTN có kết dư cao, được cơ quan BHXH quản lý tốt và dự báo quỹ vẫn đảm bảo an toàn đến năm 2020 Tuy nhiên, nếu chính sách trong thời gian tới có một số điểm thay đổi
Trang 26mà không có phương án dự báo quỹ trong dài hạn thì có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối
Qua phân tích thực trạng, tác giả đưa ra một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHTN Tuy nhiên, trong nghiên cứu, tác giả chưa
có những lý giải, phân tích rõ nguyên nhân quỹ BHTN hiện nay ngày một thặng dư lớn
Do vậy, nghiên cứu này cũng sẽ được luận án kế thừa, phân tích và đánh giá nhằm làm rõ những vấn đề mà luận án đang đề cập
Trên đây là tổng quan các công trình nghiên cứu mà tác giả cho là thiết thực, có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án Còn nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu, sách, báo tạp chí có liên quan được tác giả đề cập trong phần tài liệu tham khảo
5.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy còn nhiều khoảng trống nghiên cứu liên quan đến quản lý quỹ BHTN, cụ thể:
Khoảng trống lý thuyết: khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp, quỹ BHTN và quản
lý quỹ BHTN, phân biệt quỹ BHTN với các quỹ BHXH, hệ thống chỉ tiêu liên quan đến quản lý quỹ BHTN, những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN
Khoảng trống về phương pháp nghiên cứu: Phần lớn các công trình nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thứ cấp, còn nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra, khảo sát còn rất hạn chế Các phương pháp áp dụng trong nghiên cứu chủ yếu là các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, mô tả…
Khoảng trống về thực tế: Quản lý quỹ BHTN cần được phân tích toàn diện, chi tiết, khách quan về tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước
Quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam được nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ tổ chức thực hiện do cơ quan BHXH đảm nhiệm Vì vậy, các giải pháp và kiến nghị của Luận
án đều hướng tới hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHTN, kiến nghị sửa đổi chính sách, mô hình quản lý ở Việt Nam
6 Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan nghiên và các khoảng trống trong các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến như sau:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 27Hình 1: Mô hình nghiên cứu dự kiến
Trong mô hình nghiên cứu dự kiến, bảy nhân tố tác động tới quản lý quỹ BHTN bao gồm: Chính sách pháp luật, Tổ chức triển khai chính sách pháp luật, Tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, Chất lượng nguồn nhân lực, Thanh tra, kiểm tra và giám sát, Ứng dụng công nghệ thông tin và Điều kiện kinh tế - xã hội
Để đơn giản hoá trong việc phân tích thì hoạt động quản lý quỹ BHTN được giả
sử ảnh hưởng bởi 3 nhóm nhân tố lớn: (i) Chính sách pháp luật, (ii) Chất lượng nguồn nhân lực và (iii) Điều kiện kinh tế - Xã hội Cụ thể, chính sách pháp luật được thể hiện qua các chỉ tiêu như đối tượng tham gia và thụ hưởng, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp, quy trình tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHTN; Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua các tiêu chí như trình độ học vấn của cán bộ quản lý, kỹ năng giao tiếp, tác phong làm việc, am hiểu chính sách pháp luật và thành thạo tin học, ngoại ngữ; Điều kiện kinh tế - xã hội thể hiện qua các tiêu chí như cơ sở hạ tầng trong thực hiện quản lý quỹ BHTN, sự phù hợp của chính sách với mục tiêu và định hướng phát triển quốc gia và sự thúc đẩy sản xuất kinh doanh với việc trích nộp BHTN, thực hiện chính sách pháp luật về BHTN tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội
7 Những đóng góp mới của Luận án
Trang 28+ Xác định và lựa chọn các chỉ tiêu phục vụ công tác quản lý quỹ BHTN
- Những đóng góp mới rút ra từ kết quả nghiên cứu:
+ Phân tích và làm rõ thực trạng quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam (2011 - 2015) + Phân tích những nhân tố tác động đến quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam bao gồm cả chính sách, pháp luật về BHTN; điều kiện kinh tế - xã hội; đối tượng tham gia
và thụ hưởng chính sách; mức đóng góp, mức thụ hưởng; công tác tổ chức quản lý thu, chi và cân đối quỹ BHTN; công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách pháp luật; công tác kiểm tra, thanh tra BHTN và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan đến BHTN;… Đồng thời, tác giả đã tiến hành điều tra cả người thụ hưởng chính sách và những người trực tiếp tổ chức triển khai chính sách BHTN để từ đó xác định 3 nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quỹ BHTN một cách khoa học, khách quan: chính sách pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan quản lý quỹ BHTN
+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHTN, bao gồm cả các giải pháp về chính sách và tổ chức thực hiện chính sách BHTN ở Việt Nam
8 Kết cấu Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 29CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một phạm trù kinh tế - xã hội gắn với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội, giúp cho người lao động giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình khi bị mất việc làm, tái hoà nhập thị trường lao động
- Theo ILO Convention (1952) và ILO Convention (1988): Bảo hiểm thất nghiệp là một hình thức bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo chi trả một khoản trợ cấp tối thiểu trong một thời gian giới hạn cho những cá nhân bị thất nghiệp mà không do lỗi của họ, gây ra việc mất thu nhập mà họ và gia đình họ dựa vào đó
Bảo hiểm thất nghiệp thường chỉ đảm bảo cho những người lao động có thu nhập định kỳ, bởi vì theo lý thuyết những đối tượng này dễ gặp phải rủi ro thất nghiệp không tự nguyện Vì vậy, người lao động tự tạo việc làm (hay còn gọi là lao động tự do) và các lao động thời vụ thường không được bao gồm trong các chương trình BHTN
- Columbia Encyclopidia (2008) đưa ra khái niệm: Bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm chống lại sự mất thu nhập trong khoảng thời gian một người lao động khoẻ mạnh bị thất nghiệp một cách không tự nguyện Mục đích của hình thức bảo hiểm này là cung cấp một khoản trợ cấp tối thiểu cho người lao động bị thất nghiệp đến khi họ tìm lại được việc làm
- Britiannica Encyclopidia (2008) cho rằng: Bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm xã hội được xây dựng nhằm đền bù cho người lao động trong một giai đoạn ngắn do bị thất nghiệp không tự nguyện Mục đích cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp là cung cấp sự trợ giúp tài chính cho các lao động mất việc trong một khoảng thời gian đủ để cho phép họ tìm việc làm khác hoặc được thuê lại làm công việc cũ
- Lê Thị Hoài Thu (2008) nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, Bảo hiểm thất nghiệp (một dạng thuộc hệ thống chế độ BHXH) là tổng hợp những quy định của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực đảm bảo điều kiện vật chất cho người lao động đang có việc làm mà bị mất việc vì lý do khách quan,
Trang 30cũng như trong lĩnh vực giúp người thất nghiệp trở lại với thị trường lao động
- Bảo hiểm thất nghiệp là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong trường hợp bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm việc, đồng thời bao gồm một số biện pháp giúp họ trở lại với thị trường lao động (Nguyễn Tiệp, 2011)
Như vậy, khái niệm về BHTN ở các nước tuy câu chữ có khác nhau, song đều thống nhất ở những khía cạnh chủ yếu sau:
+ BHTN là loại hình bảo hiểm độc lập với BHXH, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với BHXH
+ Mục đích của BHTN nhằm đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người lao động khi họ bị mất việc làm, giúp họ và gia đình tiếp tục ổn định cuộc sống và sớm trở lại làm việc
+ Nguyên nhân mất việc làm không phải lỗi của người lao động
+ Phần thu nhập của người lao động bị mất đi do bị mất việc làm sẽ được BHTN bù đắp, nhưng chỉ bù đắp trong một khoảng thời gian nhất định
Tuy nhiên, các khái niệm trên chủ yếu chỉ đề cập đến việc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định mà chưa
đề cập đến việc bảo hiểm cho người lao động tránh khỏi tình trạng thất nghiệp bằng những biện pháp đảm bảo việc làm trong ngắn hạn hoặc dài hạn cho người lao động Đây cũng là một trong những biện pháp ở một số nước trên thế giới áp dụng trong chương trình bảo hiểm việc làm nhằm hạn chế tối đa việc sa thải người lao động
Xuất phát từ những phân tích trên, theo tác giả: “Bảo hiểm thất nghiệp là sự
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định cho người lao động bị thất nghiệp, nhằm ổn định cuộc sống cho họ và gia đình, giúp người thất nghiệp sớm quay lại thị trường lao động và hạn chế tình trạng sa thải lao động bằng các biện pháp hỗ trợ của quỹ BHTN, từ đó góp phần đảm bảo ASXH.”
1.1.1.2 Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp
Dù khái niệm có khác nhau, song bản chất của BHTN thể hiện ở chỗ: BHTN là
sự đảm bảo những khoản trợ cấp tối thiểu trong một khoảng thời gian nhất định để người lao động bị thất nghiệp ổn định cuộc sống
BHTN là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội hoạt động theo cơ chế thị trường Khi mối quan hệ thuê mướn lao động ngày càng phát
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 31triển, kinh tế phát triển thì thị trường lao động cũng phát triển và có sự biến động không ngừng Đặc biệt là những biến cố, rủi ro làm cho người lao động mất việc làm
mà không phải do lỗi của họ, như: bị sa thải, chấm dứt quan hệ lao động, thường xảy
ra khi người sử dụng lao động chuyển đổi hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh và những biến động lớn như khủng hoảng nền kinh tế, Do vậy, mối quan hệ trong BHTN phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHTN (người lao động và người sử dụng lao động), tổ chức quản lý BHTN (tổ chức nhận nhiệm vụ quản
lý quỹ BHTN) và Nhà nước
Nguồn tài chính để bù đắp một phần thu nhập tối thiểu cho người thất nghiệp trong khoảng thời gian nhất định, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người thất nghiệp được đào tạo, học nghề và giới thiệu việc làm để có thể sớm quay trở lại thị trường lao động được cung cấp từ quỹ BHTN Ngoài ra, quỹ còn có thể sử dụng vào mục đích hạn chế tình trạng sa thải lao động bằng các biện pháp hỗ trợ đào tạo, duy trì việc làm cho người lao động, Quỹ được hình thành từ người lao động, người sử dụng lao động đóng góp và có thể được Nhà nước bảo hộ, hỗ trợ Với tư cách là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, Nhà nước phải can thiệp và bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi bị thất nghiệp Do vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm sử dụng ngân sách trong trường hợp sự đóng góp của các bên tham gia không đủ để bù đắp các khoản trợ cấp cho người thất nghiệp
- Bảo hiểm thất nghiệp cũng giống như nhiều loại hình bảo hiểm khác, đó
là hoạt động dựa trên nguyên tắc “cộng đồng - lấy số đông bù số ít”, nghĩa là dùng số tiền nhỏ được đóng góp từ số đông người tham gia BHTN để chia sẻ, bù đắp cho số ít người thất nghiệp với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người khi thất nghiệp
1.1.1.3 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đó là:
a Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm, giúp họ và gia đình ổn định cuộc sống
Thất nghiệp là rủi ro bị mất việc làm mà không một người lao động nào mong muốn Khi bị thất nghiệp, thu nhập của người lao động bị mất toàn bộ Vì thế, nếu họ
có tham gia BHTN, họ sẽ được bù đắp một phần thu nhập bị mất đi từ quỹ BHTN chi trả do các bên tham gia đóng góp Cho dù khoản thu nhập được bù đắp thấp hơn thu nhập của người lao động trước khi bị thất nghiệp, song vẫn góp phần ổn định cuộc
Trang 32sống của họ và gia đình, đặc biệt là ổn định cuộc sống ngay sau những ngày bị thất nghiệp, cũng như thông qua các chế độ, giúp người thất nghiệp có những cơ hội về việc làm để trở lại thị trường lao động Chính vì điều này, những hệ lụy mà tình trạng thất nghiệp gây ra sẽ được kiểm soát, xã hội vì thế sẽ đảm bảo ổn định bền vững, nhiều
tệ nạn sẽ được đẩy lùi,
b Phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHTN
Trong thực tế, chỉ có một bộ phận người lao động bị mất việc làm trở thành thất nghiệp do các nguyên nhân khách quan và không ai mong muốn Do đó, só người hưởng trợ cấp thất nghiệp tất yếu ít hơn số người tham gia đóng góp bắt buộc vào quỹ BHTN Từ đó hình thành nguyên tắc BHTN là “lấy số đông bù số ít” Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập giữa những người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người đóng góp đều đặn và không đều đặn vào quỹ BHTN Như vây, vai trò BHTN không những phân phối lại thu nhập mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội
c Động viên người lao động hăng hái làm việc
Người lao động sẽ thực sự yên tâm do có chỗ dựa vững chắc khi được đảm bảo việc làm bằng các biện pháp hỗ trợ nhằm hạn chế việc bị sa thải và được chi trả các chế độ thất nghiệp nếu như tham gia BHTN và đủ điều kiện hưởng Chính vì vậy, người lao động sẽ gắn bó với công việc, tích cực làm việc để tăng thêm nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúc nào đó có thể sẽ được hưởng chế độ Đó là quan hệ hai chiều mang tính chất tích cực của BHTN đối với người lao động
d Quỹ BHTN nhàn rỗi sẽ góp phần đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội
Các nguồn thu chủ yếu từ đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ BHTN, trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN Khoản đầu tư này vừa góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN khỏi bị mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động
e Cùng với các loại hình bảo hiểm khác, BHTN còn góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Ngoài BHTN, trong điều kiện kinh tế thị trường còn có BHXH, BHYT, bảo hiểm thương mại, Tất cả các loại hình bảo hiểm ngày nay đều đóng vai trò là trụ cột chính của hệ thống các chính sách, các chương trình đảm bảo an sinh xã hội quốc gia Bởi các loại hình bảo hiểm đều dựa trên mối quan hệ đóng, hưởng, trên cơ sở hình
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 33thành quỹ do các bên tham gia đóng góp Vì thế, các rủi ro mà đối tượng gặp phải đều được quỹ bảo hiểm bù đắp, chi trả hoặc bồi thường Từ đó, góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước Ngày nay, chính sách BHTN ngày càng được thế giới khẳng định, quan tâm và đánh giá rất cao
1.1.2 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm và nguồn hình thành quỹ BHTN
Để triển khai các chương trình BHTN hay BHVL, chính sách và pháp luật các nước đều quy định rõ nguồn tài chính để thực hiện Hạt nhân tài chính BHTN hay BHVL chính là quỹ BHTN được hình thành từ các bên tham gia đóng góp (nếu như BHTN được triển khai độc lập với BHXH) Còn nếu trợ cấp thất nghiệp được coi là một trong các chế độ BHXH thì quỹ trợ cấp thất nghiệp có thể là một quỹ thành phần hoặc cũng có thể được hình thành, quản lý thống nhất, tập trung và gọi chung là quỹ BHXH Nội dung được đề cập ở đây là quỹ BHTN và nguồn hình thành quỹ BHTN trong BHTN, không phải trong chế độ trợ cấp thất nghiệp
Quỹ BHTN ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sản xuất hàng hoá cũng như sự thuế mướn nhân công của giới chủ với mục đích chính là thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro mất việc làm và giúp họ được đào tạo, giới thiệu, tìm kiếm việc làm để sớm quay lại thị trường lao động Chính vì vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu và quản lý đều cho rằng: Quỹ BHTN phải là một quỹ tiền
tệ tập trung do các bên tham gia đóng góp Song, Nhà nước cũng phải có trách nhiệm
hỗ trợ và bảo hộ
Theo ILO Convention (1952), ILO Convention (1988), khuyến nghị rằng các loại trợ cấp và chi phí quản lý chương trình BHTN/ BHVL phải có nguồn tài chính tập thể từ đóng bảo hiểm, hoặc từ thuế để tránh tạo ra gánh nặng đối với người lao động thu nhập thấp và đề xuất các quốc gia phải chịu trách nhiệm quản lý chương trình này hiệu quả, bao gồm cả tính toán cần thiết và đánh giá tài chính định kỳ Kinh phí hoạt động của các chương trình này được đảm bảo từ nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và ngân sách Nhà nước Trong một số trường hợp ngân sách chương trình được ba bên chia sẻ đóng góp theo thoả thuận (chi tiết tại Bảng 1.1)
Trang 34Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng góp BHTN/BHVL ở một số nước trên thế giới
Quốc gia Đơn
vị
Người lao động
Người sử dụng lao động
Nhà nước Ghi chú
Đan
Mức phí cố định, 30% chi phí
(>1000)
Người sử dụng lao động chỉ đóng cho Quỹ đảm bảo Việc làm và Đào tạo phát triển kỹ năng nghề
"Hai dịch vụ"
Nguồn: Carter, J., Bédard, M., & Bista, C P (2013)
Nhìn chung, các quốc gia đã triển khai các chương trình BHTN/BHVL trong một thời gian dài thường có chi phí và mức đóng bảo hiểm cao hơn, đặc biệt tại các quốc gia Châu Âu, trong khi các nước mới triển khai các chương trình này thời gian gần đây có xu hướng áp dụng mức trợ cấp và chi phí thấp hơn Bên cạnh phần đóng góp vào quỹ BHTN/ BHVL, một số quốc gia yêu cầu người sử dụng lao động đóng góp thêm vào các chương trình hỗ trợ việc làm như: Nhật Bản, Hàn Quốc Các nước này ưu tiên các chương trình xúc tiến việc làm nhằm hỗ trợ người thất nghiệp có việc làm và duy trì việc làm dài hạn Quỹ này phần lớn được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, Nhà nước có thể hỗ trợ một phần Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của quốc gia mà mỗi nước có quy định về đối tượng đóng góp, mức đóng góp và cách thức đóng góp vào quỹ khác nhau và được bổ sung bởi lãi đầu tư từ phần quỹ nhàn rỗi
Các quốc gia trên sử dụng quỹ BHTN chi theo những nội dung chương trình BHTN/BHVL khác nhau, không chỉ giới hạn trong trợ cấp thất nghiệp và các chi phí quản lý tương ứng, mà còn gồm cả chi phí chương trình dịch vụ việc làm quốc gia,
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 35hoặc chi phí của một loạt các chương trình phát triển kỹ năng nghề và các biện pháp
hỗ trợ tái tìm việc làm, đôi khi còn gồm cả các chương trình khẩn cấp hoặc tạm thời
Ở một khía cạnh khác, so sánh với quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ BHTN là quỹ ngắn hạn với mục tiêu quan trọng nhất là nhằm duy trì việc làm, hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo tay nghề cho người lao động thất nghiệp để họ sớm tìm được việc làm; đồng thời hỗ trợ, bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong thời gian thất nghiệp, được gắn liền với tác động của thị trường lao động như: thất nghiệp, chính sách việc làm và kỹ năng nghề, ; Do đó, quỹ BHTN phải được kết dư theo một tỷ lệ nhất định để thực hiện các chính sách thị trường lao động chủ động và các chính sách thụ động Còn quỹ BHXH có trụ cột chính là bảo hiểm hưu trí, là quỹ dài hạn với mục tiêu chính là bảo đảm, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi nghỉ hưu, gắn liền với tác động sinh học của con người như: ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, Vì vậy, quỹ BHXH cần phải được đầu tư và kết dư lớn nhằm đảm bảo chi trả cho các chế độ hưu trí, tử tuất trong dài hạn
Quy mô của Quỹ BHTN phụ thuộc chủ yếu vào nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHTN Khi đối tượng tham gia BHTN ngày càng tăng, mức đóng góp BHTN dựa trên tiền lương, tiền công và tỷ lệ đóng góp càng tăng thì nguồn hình thành quỹ BHTN càng lớn và ngược lại Quỹ BHTN được sử dụng chủ yếu vào mục đích chi trả trợ cấp thất nghiệp và các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại thị trường lao động, như: chăm sóc y tế, đào tạo nghề, tìm kiếm và giới thiệu việc làm, hoạt động quản lý quỹ, Khi tỷ lệ thất nghiệp càng cao, mức hưởng, thời gian hưởng dài sẽ làm cho quỹ chi trả càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc trong thời gian này quỹ BHTN
sẽ không được bổ sung nguồn đóng góp từ các đối tượng này, ảnh hưởng đa chiều đến quỹ BHTN Do vậy, khi quỹ BHTN được cân đối, nghĩa là trong một khoảng thời gian nhất định, nguồn hình thành quỹ BHTN đảm bảo để sử dụng chi trả trợ cấp và có kết
dư thì quy mô quỹ ngày càng lớn và ngược lại
Từ những vấn đề trên, theo tác giả: “Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung được
hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia với mục đích sử dụng chủ yếu để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định cho người lao động bị thất nghiệp; đồng thời, hỗ trợ đào tạo, giới thiệu việc làm để người thất nghiệp sớm quay lại thị trường lao động và hạn chế tình trạng sa thải lao động.”
1.1.2.2 Đặc điểm của quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là quỹ tài chính tập trung được thiết lập nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp và có các đặc điểm
Trang 36chủ yếu sau:
Thứ nhất, Nhà nước là chủ thể duy nhất quy định việc hình thành và sử dụng quỹ BHTN với mục đích đảm bảo an sinh xã hội Với những đạo luật được ban hành, Nhà nước quy định về mức phí đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ và mang tính bảo vệ, không mang tính bồi hoàn Cũng như quy định về mức hưởng, điều kiện hưởng đối với từng chế độ để chi trả cho người thất nghiệp Để tổ chức thực hiện các quy định trên, Nhà nước phải có một tổ chức quản lý quỹ BHTN để thực hiện hoạt động thu và chi trả chể độ BHTN theo các tiêu chuẩn, định mức đảm bảo chính xác, công bằng, công khai, minh bạch và hiệu quả
Thứ hai, Quỹ BHTN là một quỹ tiền tệ tập trung mang tính cộng đồng xã hội Hoạt động theo nguyên tắc cộng đồng, lấy số đông bù số ít, dùng tiền đóng góp của nhiều người tham gia để bù đắp cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số tiền đóng góp của từng người khi họ bị mất việc làm Mặt khác, hoạt động của quỹ BHTN
là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính cộng đồng, tính xã hội rất cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động Do quỹ BHTN được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nên khoản phí mà người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHTN được tính vào chi phí sản xuất để hình thành giá thành sản phẩm, dịch vụ và được xã hội tiêu dùng, sử dụng Như vậy, thông qua việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà mọi người trong xã hội đã gián tiếp đóng góp vào quỹ BHTN
Thứ ba, Quỹ BHTN ra đời, tồn tại và phát triển luôn gắn với mục đích chủ yếu đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi bị thất nghiệp Do đó, tỷ lệ hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN hàng tháng được quy định trên nguyên tắc đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và được cân đối với mức đóng góp BHTN trước đó của người lao động Khi xác định mức hưởng trợ cấp BHTN, một mặt, căn cứ vào khả năng chi trả của quỹ, mặt khác, còn đảm bảo khuyến khích người lao động chủ động tìm kiếm việc làm nhằm thoát khỏi tình trạng thất nghiệp
Thứ tư, Quỹ BHTN luôn chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, trong đó, sự phát triển nền kinh tế xã hội luôn là yếu tố quan trọng và có tác động tổng hợp Khi nền kinh tế phát triển, cơ hội việc làm cao, lực lượng lao động được sử dụng nhiều, sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa được tạo ra lớn, thu nhập người lao động cao, do đó, mức đóng góp vào quỹ BHTN luôn tăng trưởng đều Như vậy, tỷ lệ nghịch với nó là tình trạng thất nghiệp ngày càng thấp đi, quỹ BHTN sử dụng để chi trả cho người thất nghiệp vì thế cũng giảm theo tương ứng Nguồn kết dư quỹ BHTN có thể sẽ được Nhà nước sử dụng vào những mục đích xã hội khác nhằm ổn định, phát triển kinh tế và
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 37nâng cao chất lượng cuộc sống, Ngược lại, nền kinh tế kém phát triển dẫn đến dư thừa lực lượng lao động do thất nghiệp, quỹ BHTN sẽ không tăng nguồn thu mà gia tăng chi trả chế độ BHTN dẫn đến mất cân đối quỹ BHTN Hơn nữa, Nhà nước phải chịu những hệ lụy của tình trạng thất nghiệp, làm mất ổn định xã hội, tệ nạn gia tăng như: trộm cướp, bệnh tật, chất lượng cuộc sống ngày càng đi xuống,
1.2 Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1 Khái niệm quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý các tổ chức như:
Quản lý là nghệ thuật đạt mục đích thông qua nỗ lực của những người khác Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức
Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được những mục đích của tổ chức
Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức
Quản lý tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động (TS Đoàn Thị Thu Hà và TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2005, tr 25)
Từ những quan niệm trên cho thấy: Quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Sử dụng các nguồn lực, điều kiện
để tác động tới hoạt động của con người, tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung
Cùng với khái niệm về quỹ BHTN đã được làm sáng tỏ ở phần trên, theo quan điểm của tác giả, quản lý quỹ BHTN được hiểu như sau:
“Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp là sự tác động của các chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong các hoạt động hoạch định, tổ chức, kiểm tra sự vận động của
Trang 38quỹ nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ nhất định”
Như vậy, trên phương diện tổ chức thực hiện, quản lý quỹ BHTN được hiểu là
sự tác động cơ quan quản lý quỹ BHTN đến đối tượng tham gia, thụ hưởng chính sách BHTN và các đối tượng khác có liên quan trong các hoạt động tổ chức thực hiện, kiểm soát quỹ BHTN để bảo toàn, tăng trưởng quỹ BHTN với mục đích cuối cùng là bảo đảm đầy đủ mọi quyền lợi cho người lao động bị thất nghiệp theo đúng quy định
Một trong những tiêu chí chủ yếu đánh giá quản lý quỹ BHTN có hiệu quả, cả hai Công ước ILO (Điều 72 của Công ước số 102 và Điều 3, Điều 29 của Công ước số 168) đều khuyến cáo: Các quốc gia phải tham vấn và mời người sử dụng lao động và người lao động tham gia vận hành các chương trình này BHTN
1.2.2 Mục tiêu quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, toàn bộ quá trình vận động của quỹ BHTN đều chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua quyền lực của cả các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp bằng những nguyên tắc và định hướng cơ bản trong Hiến pháp mỗi quốc gia hay các đạo Luật nói chung về bảo hiểm thất nghiệp Quản lý quỹ BHTN cũng dựa trên các nguyên tắc, định hướng và đều được thể chế trong các đạo Luật hướng dẫn tổ chức thực hiện quản lý quỹ BHTN qua các cơ quan hành pháp và kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện thông qua các cơ quan tư pháp
Tại Mỹ và Canada thực hiện quản lý quỹ BHTN/BHVL và có hệ thống giám sát hiệu quả trong suốt quá trình vận hành Đối với Mỹ, hiệu quả của quản lý quỹ BHTN được dựa trên ba khía cạnh chính, đó là: hiệu quả thu phí, sự chính xác của trợ cấp và
sự kịp thời của trợ cấp Các nội dung này báo cáo chi tiết về các hoạt động như sự kịp thời của đợt chi trả trợ cấp đầu tiên, sự chính xác trong thanh toán, lý do chi trả và lượng chi trả vượt mức hay dưới mức, sự gian lận, khiếu nại và sự tuân thủ các quy định thực hiện chương trình BHTN Còn ở Canada, trong đánh giá các biện pháp trợ cấp và hỗ trợ việc làm hay một số quốc gia trên thế giới gọi là các chính sách thị trường lao động chủ động lại coi các yêu cầu về tìm kiếm việc làm tích cực là phần quan trọng không thể thiếu trong trương trình BHVL chứ không phải là một phần trợ cấp nên phần hỗ trợ việc làm cần phải được đánh giá trong cùng hệ thống với trợ cấp việc làm Các chính sách thị trường lao động chủ động chủ yếu do chính quyền các tỉnh quản lý trong quan hệ hợp tác với các liên bang và yêu cầu có đánh giá định kỳ Kết quả đánh giá này có ý nghĩa quan trọng và là một trong những nội dung quan tâm hàng đầu về hiệu quả tổng thể của chương trình BHVL do một số nghiên cứu đánh giá
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 39cho thấy tác động của các lớp đào tạo và các khóa vừa học vừa làm có vẻ khả quan trong trung hạn (sau hai năm) hơn là trong ngắn hạn Nghiên cứu cũng cho thấy nhiều chương trình đào tạo có tác động không đáng kể hoặc thậm chí tiêu cực trong năm đầu nhưng lại có tác động tích cực đáng kể sau hai hoặc ba năm Do vậy, quỹ BHVL cần phải được cân đối ở một tỷ lệ nhất định, kết dư từ 1,5 lần đến 2 lần so với chi phí của năm trước lền kề (kinh nghiệm Hàn Quốc) để sử dụng phòng ngừa sa thải lao động hàng loạt hay khủng hoảng kinh tế không nên để thặng dư lớn mà cần phải được sử dụng thực sự hiệu quả trong các chính sách thụ động và chủ động Thực tế cho thấy, tại Canada các nguồn thu của quỹ duy trì ở mức cao hơn cần thiết để chi trả trợ cấp thất nghiệp hoặc để tích lũy mức dự trữ quỹ an toàn từ năm 1996 đến năm 2008 để sau
đó Chính phủ đã quốc hữu hóa phần thặng dư của quỹ BHTN
Do vậy, Quỹ BHTN không những phải được quản lý chặt chẽ từ đầu vào, bao gồm các hoạt động xác định đối tượng tham gia, thu phí đầy đủ, kịp thời; quản lý chặt chẽ trong việc thực hiện chi trả các chế độ, trợ cấp BHTN đúng đối tượng, đúng mức hưởng, mà còn phải định kỳ thực hiện việc cân đối thu - chi BHTN, dự báo và có những điều chỉnh phù hợp trong trung hạn, dài hạn để quản lý, sử dụng quỹ BHTN thực sự hiệu quả với mục tiêu cao nhất đảm bảo cho người lao động khi được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi trước và sau khi thất nghiệp, tái hòa nhập thị trường lao động và góp phần đảm bảo ASXH quốc gia
1.2.3 Nguyên tắc quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Để hoạt động quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp đúng pháp luật, đúng mục tiêu
đề ra cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Một là: Có đóng - có hưởng
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động quản lý quỹ BHTN, trên cơ sở
sử dụng nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia để chi trả các chế độ BHTN cho người thất nghiệp nhằm đảm bảo sự duy trì ổn định và tồn tại của quỹ
Không giống như các quỹ bảo hiểm có tính tương đồng như quỹ từ thiện và các quỹ cứu trợ xã hội, đối tượng không phải đóng góp vào quỹ nhưng vẫn được thụ hưởng các chế độ, phúc lợi của quỹ Đối với quỹ BHTN thì người được thụ hưởng các chế độ phải trực tiếp có đóng góp vào quỹ theo các quy định của pháp luật
Hai là: Lấy số đông bù số ít
Cũng giống như nguyên tắc của các quỹ bảo hiểm khác là lấy số đông bù số ít, chia sẻ với những người không may gặp rủi ro may Tuy nhiên, bảo hiểm thất nghiệp
Trang 40là một trong những chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia nên đây là hoạt động chia sẻ rủi ro mang tính xã hội cao và được hưởng những chế độ về chăm sóc y tế cũng như được tiếp cận với cơ hội việc làm để sớm trở lại thị trường lao động
Ba là: Cân đối thu - chi
Nguyên tắc này đòi hỏi hỏi hoạt động quản lý quỹ BHTN luôn được đảm bảo
để chi trả kịp thời và đầy đủ các chế độ BHTN cho người thất nghiệp trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào của nền kinh tế - xã hội Do vậy, quỹ phải được tính toán cân đối hằng năm, trung hạn và dài hạn để có những điều chỉnh, hoạch định chính sách phù hợp với từng thời kỳ Đồng thời, quỹ BHTN phải thường xuyên được bổ sung các nguồn tài chính từ các hoạt động đầu tư sinh lời theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về mức độ hiệu quả cũng như rủi ro trong đầu tư tài chính Mặt khác, Nhà nước hỗ trợ hợp lý và bảo hộ cho quỹ BHTN, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu chi trả cho các đối tượng được hưởng BHTN do BHTN là một trong những chính sách an sinh xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định chung của nền kinh tế, xã hội
Bốn là: Công bằng, công khai, minh bạch
Hoạt động quản lý quỹ BHTN phải đảm bảo tính công bằng trên cơ sở xác định đúng đối tượng để thu phí BHTN kịp thời, đầy đủ để hình thành và ổn định quỹ BHTN; và sử dụng quỹ BHTN để chi trả chế độ đảm bảo đúng mức hưởng và thời gian hưởng cho đúng đối tượng thất nghiệp được kịp thời và đầy đủ Mức đóng góp và thụ hưởng phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không có sự phân biệt đối xử làm mất đi tính bình đẳng Đồng thời, công khai, minh bạch hoạt động quản lý quỹ BHTN và có sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát chặt chẽ của các chủ thể tác động đến hoạt động quản lý quỹ BHTN
Năm là: Quản lý quỹ tập trung, an toàn và hiệu quả
Hoạt động quản lý quỹ BHTN phải được tập trung, không phân tán nhằm đảm bảo chi trả cho các đối tượng thụ hưởng chế độ được kịp thời và đảm bảo tập trung nguồn tài chính lớn để đầu tư, tăng trưởng quỹ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khi được phép sử dụng quỹ theo quy định của pháp luật để chi tiêu, đầu tư phải được quản lý chặt chẽ, không để thất thoát, sử dụng tiết kiệm đảm bảo an toàn và đạt hiệu quả cao
1.2.4 Nội dung quản lý quỹ BHTN
Do quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp chủ yếu của các bên tham gia BHTN là: Người sử dụng lao động, người lao động nhằm mục đích đảm bảo một phần
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ