Luận án đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với TĐKT; đồng thời trên cơ sở khảo sát thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp viễn thông ở Vi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tập đoàn Dệt may Việt nam được thành lập ngày 02/12/2005 theo Quyết định 314/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Tổng công ty Dệt May Việt nam Trong những năm qua Tập đoàn Dệt - May Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước về tạo việc làm, nguồn thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên trong những năm gần đây trong bối cảnh nền kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế thế giới, mặt khác trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Tập đoàn Dệt - May Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn, đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ cả về kỹ thuật - công nghệ sản xuất, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách để có thể tiếp tục cạnh tranh bình đẳng và phát triển một cách bền vững
Nghị quyết Hội nghị TW 3 của BCH Trung ương Đảng, khóa XI đã đề ra mục tiêu phát triển giai đoạn 2011-2015 là: “ Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, ” Quốc hội Khóa XIII cũng đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, trong đó tái cơ cấu doanh nghiệp, chủ yếu là các TĐKT, TCT Nhà nước là một trong ba trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế Tái cơ cấu TĐKT, TCT nhà nước đòi hỏi phải thực hiện nhiều nội dung khác nhau, từ tổ chức lại hệ thống sản xuất, ngành nghề kinh doanh, bộ máy quản lý đến nguồn nhân lực, chiến lược phát triển, thị trường và sản phẩm Điều đó cũng liên quan mật thiết đến các hoạt động tài chính của Tập đoàn, đòi hỏi cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn cũng phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp, tạo điều kiện thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của Tập đoàn
Về khung khổ pháp lý, mặc dù từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động
Trang 2và quản lý TĐKT nhà nước Tiếp đó là Nghị định 69/2014/NĐ-CP ngày 15/7/2014 về
tổ chức và hoạt động của các TĐKT nhà nước và TCT Nhà nước thay thế Nghị định 101/2009/NĐ-CP Tuy nhiên cho đến nay Nhà nước chưa có các quy định cụ thể về cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT Nghị định 71/2013/NĐ-CP chỉ quy định về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ Đối tượng áp dụng của Nghị định này là các công ty TNHH 1 thành viên là công ty mẹ TĐKT, TCT Nhà nước, công ty TNHH 1 thành viên độc lập Như vậy chưa có văn bản pháp quy nào được ban hành để chi phối, điều tiết mối quan hệ hợp tác hoặc liên kết giữa công ty mẹ và các công ty con, công ty liên kết
Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT nói chung, Tập đoàn Dệt May Việt Nam nói riêng là vấn đề rất cần thiết, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các TĐKT
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam” làm luận án tiến sĩ kinh tế
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
Trên thế giới cũng như Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về TĐKT và cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn kinh tế được công bố Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã được công
bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu sau đây:
* Luận án tiến sĩ ‟Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong Tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, năm 2000 của tác giả Phạm Quang Trung
Luận án là đã hệ thống và khái quát hóa một số vấn đề lý luận về Tập đoàn kinh doanh
và cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh doanh; đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty được thành lập theo Quyết định 90/1994/QĐ-TTg
và Quyết định 91/1994/QĐ-TTg và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Trang 3* Sách ‟Tập đoàn kinh tế: Lý luận và Kinh nghiệm quốc tế - Ứng dụng vào Việt
Nam” của TS Trần Tiến Cường và các tác giả năm 2005 Nội dung chủ yếu là tổng hợp
các kinh nghiệm quốc tế về hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, phân tích cơ hội và thách thức đối với các Tổng công ty Nhà nước khi phát triển theo hướng Tập đoàn kinh tế, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp về chính sách cho quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế trên cơ sở các Tổng công ty ở Việt Nam
* Luận án tiến sĩ ‟Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các Tổng công
ty 91 phát triển theo mô hình Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”, năm 2006 của tác giả
Nguyễn Xuân Nam Nội dung chủ yếu của luận án là làm rõ quá trình hình thành, mô hình, đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý vốn và tài sản hiện nay của các Tổng công
ty 91, đưa ra được những ưu điểm và tồn tại của cơ chế quản lý vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 ở Việt Nam hiện nay Đề xuất đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 ở Việt Nam hiện nay phù hợp với định hướng phát triển các Tổng công ty 91 thành các Tập đoàn kinh doanh
* Luận án tiến sĩ ‟Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
theo định hướng Tập đoàn kinh tế”, năm 2006 của tác giả Chu Xuân Lai Luận án đã
phân tích quá trình hình thành và thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam, chỉ ra được những vấn đề còn bất cập của cơ chế quản
lý tài chính hiện tại của các Tổng công ty, cũng như các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng này và đi đến khẳng định các Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam nói chung, Tổng công ty Dầu khí (chưa phải là Tập đoàn kinh tế) Luận án đã đề xuất mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động, đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trên nguyên tắc quyền sở hữu về nguồn lực tài chính và tự chủ
Trang 4cơ chế quản lý tài chính hiện nay trong các TCT Nhà nước theo Quyết định 91/TTg định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các Tổng công ty Nhà nước định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
* Luận án tiến sĩ ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp
viễn thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập”, năm 2009 của tác giả Trần Duy Hải Luận án đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận
về cơ chế quản lý tài chính đối với TĐKT; đồng thời trên cơ sở khảo sát thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam hiện nay, luận án chỉ ra những khó khăn bất cập trong cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam; đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp viễn thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và hội nhập
* Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Bộ Tài chính do PGS,TS
Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm là ‟Chính sách cơ chế quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp đến giai đoạn 2020” Nội dung đề tài đề cập đến chính sách quản lý vốn và
tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp trên góc độ quản lý Nhà nước, chưa nghiên cứu
cơ chế quản lý vốn Nhà nước trên góc độ chủ sở hữu
* Luận án tiến sĩ ‟Cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt
Nam”, năm 2012 của tác giả Phạm Thị Thanh Hòa Đề tài đề cập đến cơ chế quản lý vốn
nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trên góc độ chủ sở hữu Nhà nước được nghiên cứu qua các nội dung như cơ chế đầu tư vốn, cơ chế quản lý và sử dụng vốn, cơ chế phân chia lợi nhuận, cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư, quản lý và sử dụng vốn; hình thức thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về vốn đầu tư tại doanh nghiệp Ngoài ra, tác giả còn đưa ra được những hạn chế về cơ chế quản lý phần vốn đầu tư cho mô hình Công ty
mẹ - Công ty con Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể về cơ chế quản
lý vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung
Trang 5Ngoài ra cũng còn nhiều bài viết về TĐKT và cơ chế quản lý tài chính của các Tập đoàn kinh tế được đăng trên các kỷ yếu hội thảo, báo và tạp chí kinh tế trong nước
Từ những trình bày trên cho thấy, các công trình nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về cơ chế tài quản lý chính của TĐKT Có công trình nghiên cứu
về cơ chế quản lý tài chính nói chung của các Tập đoàn kinh tế, song cũng có những công trình lại chỉ nghiên cứu một hay một số nội dung của cơ chế quản lý tập đoàn như cơ chế huy động vốn, sử dụng vốn hoặc kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính của TĐKT Có công trình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của một Tập đoàn cụ thể, có công trình nghiên cứu
cơ chế quản lý tài chính trên góc độ chung của các TĐKT Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào về cơ chế tài chính của Tập đoàn Dệt May Việt Nam được công bố
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam” Đây là nghiên cứu đầu tiên về cơ chế quản lý tài chính của Tập
đoàn Dệt May Việt Nam Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh tế, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
Trên cơ sở thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn tác giả đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
nữa cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt - May Việt nam
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra đối với luận án là:
- Nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề lý luận chủ yếu về TĐKT và cơ chế quản lý tài chính trong các TĐKT, những kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính trong các TĐKT của một số quốc gia trên thế giới
- Đánh giá đúng thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam hiện nay, những ưu điểm đạt được và những mặt hạn chế tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, nguyên nhân của những hạn chế tồn tại đó
Trang 6- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cần thực hiện để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động quản lý tài chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
Luận án đã hệ thống và khái quát hóa, góp phần làm rõ hơn hơn những vấn đề
lý luận về cơ chế quản lý tài chính trong các tập đoàn kinh tế
Về thực tiễn:
Luận án đã phản ánh một cách hệ thống và làm rõ thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế của cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam
Luận án đưa ra các giải pháp phù hợp, khả thi để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chung của các Tập đoàn
Trang 76 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án đã sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phương pháp phân tích thống
kê, đối chiếu, so sánh, diễn giải và tổng hợp, phương pháp chuyên gia, kết hợp phương pháp phân tích định tính và định lượng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử để xem xét, phân tích đánh giá các vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu
Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận án bao gồm:
- Số liệu sơ cấp thông qua quá trình phỏng vấn trực tiếp cán bộ, các phòng ban chức năng của Tập đoàn Dệt May Việt Nam
- Số liệu thứ cấp được tác giả sử dụng qua một số kênh như: Niêm giám thống kê, Tập đoàn Dệt May Việt Nam, Hiệp hội Dệt May Việt Nam Ngoài ra luận án cũng sử dụng một số số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Văn phòng Chính phủ…
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản TĐKT và cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và mối quan hệ tài chính giữa công ty mẹ
và các công ty con trong TĐKT; các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tài chính của các TĐKT
- Chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ quản lý tài chính của một số TĐKT trên thế giới để có thể xem xét vận dụng ở Việt nam
- Phản ánh và đánh giá đúng thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam hiện nay trên các nội dung cơ bản: cơ chế huy động tạo lập vốn; cơ chế đầu tư, sử dụng vốn; cơ chế phân phối lợi nhuận; cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính trong Tập đoàn
- Chỉ ra được những ưu điểm và những hạn chế, tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính hiện tại của Tập đoàn Dệt May Việt nam; làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó để có biện pháp khắc phục
- Đã đề xuất được các nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt May Việt nam
Trang 8- Đề xuất được hệ thống những giải pháp phù hợp, khả thi để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam
8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính trong các
Tập đoàn kinh tế
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH TRONG CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm về tập đoàn kinh tế
Quá trình hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế luôn gắn liền với quá trình phát triển của kinh tế thế giới Sự xuất hiện các công ty có số vốn lớn ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp v.v…đã khắc phục được những hạn chế về vốn của các tổ chức, cá nhân Quá trình tích tụ vốn trong các công ty để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-
1933 và đặc biệt sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai Sau chiến tranh các nước
đã chú trọng đến việc khôi phục đất nước và đầu tư cho phát triển kinh tế nên đã tạo ra một quá trình sáp nhập các doanh nghiệp, công ty để hình thành nên các tập đoàn kinh
tế Khi mới hình thành các tập đoàn kinh tế chỉ tập trung hoạt động trong những ngành mũi nhọn mang lại lợi nhuận cao của quốc gia đó Trải qua quá trình hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế nhận thấy cần phải đa dạng hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh, từng bước mở rộng quy mô kinh doanh ra các quốc gia trên thế giới từng bước hình thành các công ty hoạt động xuyên quốc gia
Kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn kinh tế đã cho thấy quá trình hình thành và phát triển các TĐKT là một tất yếu khách quan song cũng là một quá trình lâu dài, gắn liền với sự tập trung, tích tụ sản xuất và nhu cầu tự nhiên về hợp tác, liên kết SXKD của các doanh nghiệp trong quá trình phát triển theo cơ chế cạnh tranh và thị trường
Việc tập trung đầu tư vốn cho sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào SXKD đã từng bước nâng cao sức cạnh tranh và trở thành động lực phát triển nền kinh tế Tập đoàn kinh tế ra đời phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất
Trang 10trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh đó nó còn thể hiện vai trò đầu tàu và chi phối nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế của các quốc gia như năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, công nghiệp v.v…
Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm Tập đoàn kinh tế (TĐKT), không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà còn là nội dung tranh luận trên phạm vi quốc tế và giữa các nhà khoa học kinh tế
Ở các nước phương Tây: TĐKT được nhận thức như là một tổ hợp các công ty
độc lập về mặt pháp lý gồm một công ty mẹ và nhiều công ty, hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ [44], hoặc đó là một TĐKT về tài chính, gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn; mỗi công ty con cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác [45]
Tại Malaysia và Thái Lan: TĐKT được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối
quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng Nòng cốt của các tập đoàn là cơ cấu công
ty mẹ - công ty con tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập
Theo Viện nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) thì “TĐKT được hiểu
là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về
tài chính và chiến lược phát triển.” [10]
Tóm lại, mặc dù còn có những sự khác biệt trong nhận thức về TĐKT, tuy nhiên
có thể thấy các quan niệm về TĐKT ở trên đều thống nhất ở một số điểm sau đây: + TĐKT là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay một số ngành có quan hệ với nhau về vốn, quản trị, công nghệ, thương hiệu, thị trường và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết
Trang 11+ Trong tập đoàn thường có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về tài chính, công nghệ và chiến lược phát triển
+ Công ty mẹ là hạt nhân, đầu mối của các liên kết; tuy nhiên, lợi ích chính là cơ
sở của các liên kết
Từ những phân tích trên, theo tôi TĐKT có thể được định nghĩa như sau:
‟Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty, tham gia hoạt động kinh doanh ở một hay nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Trong đó công ty mẹ là trung tâm của Tập đoàn kinh tế, là đầu mối liên kết giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn Công
ty mẹ định hướng chiến lược phát triển và nắm quyền chi phối hoạt động về mặt tài chính của các Công ty thành viên Ngoài chức năng kinh doanh thì Tập đoàn kinh tế còn
có chức năng liên kết giữa các thành viên về kinh tế nhằm tăng khả năng tích tụ, tập
trung vốn, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và tối đa hóa giá trị của Tập đoàn”
1.1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Mặc dù chưa có sự thống nhất trong nhận thức và khái niệm về TĐKT, tuy nhiên có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật của các TĐKT, đó là:
Một là, Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, liên kết với nhau bởi mối quan hệ Công ty mẹ - Công ty con
Bản thân TĐKT không có tư cách pháp nhân Công ty mẹ, các công ty con và các công ty liên kết có tư cách pháp nhân Không có một quyết định hành chính của bất
kỳ cấp quản lý nào về việc thành lập tập đoàn Các doanh nghiệp tham gia TĐKT giữ nguyên sự độc lập của mình về địa vị kinh tế và pháp lý; Trong đó, công ty mẹ đóng vai trò chủ đạo, là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên Thông qua bộ máy quản lý của công ty mẹ, Tập đoàn quản lý các công ty thành viên thống nhất về mọi mặt từ định hướng phát triển SXKD, chiến lược bán hàng, chiến lược đầu tư, quản
lý vốn, quản lý dòng tiền trong nội bộ tập đoàn … nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho Tập đoàn
Hai là, Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân
Trang 12Tập đoàn kinh tế là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nhưng bản thân tập đoàn lại không phải là một pháp nhân Các doanh nghiệp là thành viên của tập đoàn đều có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên (với công ty TNHH), đại hội đồng cổ đông (với công ty cổ phần) Theo thỏa thuận giữa các thành viên của tập đoàn, chủ tịch hội đồng thành viên, hội đồng quản trị các công ty trong tập đoàn tập hợp lại thành hội đồng chủ tịch tập đoàn Hội đồng chủ tịch bầu ra chủ tịch tập đoàn Hội đồng chủ tịch không thực hiện chức năng điều hành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh và tổ chức của các công ty thành viên;
do đó, không có chức danh tổng giám đốc tập đoàn
Ba là, Tập đoàn kinh tế thường có quy mô lớn
Các TĐKT thường có quy mô rất lớn và tiềm lực tài chính rất mạnh Quy mô của TĐKT có nhiều khác biệt tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thời điểm khác nhau
và quốc gia khác nhau Tuy chưa thống nhất tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động, nhưng nói đến TĐKT là ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí
có khi lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia Năm 2005, giá trị thị trường của 5 TĐKT tiêu biểu đạt 1.060,35 tỷ USD; trong đó, Coca-Cola có giá trị 105,5 tỷ USD; Microsoft là 272,46 tỷ USD; IBM là 121,3 tỷ USD; con số này với General Electric (GE)
và Intel lần lượt là 391,63 tỷ USD và 169,46 tỷ USD Năm 2006, tổng giá trị của Cola đạt 103 tỷ USD, của Pepsi đạt 105,4 tỷ USD
Coca-Doanh thu của TĐKT thường rất lớn Nhiều tập đoàn có quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên có doanh thu khổng lồ Chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil, doanh thu năm 2006 lên tới 339,938 tỷ USD, năm 2007 mặc dù tụt xuống vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạn fortune 500 nhưng vẫn đạt 347,254 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm 2006 đạt 315,654 tỷ USD, năm 2007 đạt 351,139 tỷ USD (xếp thứ 1 trong Fortune 500 năm 2007)… Trong tốp 500 công ty hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2008 được tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Nike
có doanh thu thấp nhất, đứng thứ 500 cũng đạt doanh thu lên tới 13,739 tỷ USD Trong
Trang 13bối cảnh kinh doanh hiện đại, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành, có mặt ở nhiều quốc gia với rất nhiều sản phẩm hàng hoá khác nhau Chính điều này đã đem lại doanh thu và lợi nhuận khổng lồ cho các TĐKT
Bốn là, Tập đoàn kinh tế có cơ cấu tổ chức và sở hữu phức tạp
Về cơ cấu tổ chức, cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý của một quốc gia nào quy định một cơ cấu tổ chức thống nhất cho TĐKT Bởi lẽ, các TĐKT được hình thành dần dần trong quá trình phát triển; các doanh nghiệp hình thành một tập đoàn theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương nên việc mỗi doanh nghiệp có một cơ cấu tổ chức khác nhau là điều dễ hiểu Vì vậy, cơ cấu tổ chức của các TĐKT khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống nhất Cơ cấu tổ chức được xây dựng trên nền tảng văn hoá, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lược xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thường có một công ty mẹ và các công ty con, trong đó công ty mẹ thường đảm nhiệm các chức năng như phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động đến mục tiêu đã định sẵn thông qua chiến lược chung, qua tỷ lệ vốn góp hay những quan hệ khác Thông thường, các TĐKT thường được tổ chức theo 3 dạng cơ cấu: (i) Cơ cấu tổ chức hình tháp: đỉnh tháp
là trung tâm quyền lực, điều hành mọi hoạt động của toàn tập đoàn, sự phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhưng đảm bảo trật tự từ trên xuống; (ii) Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thường được phân định và giới hạn theo cấp quản lý như cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản lý cấp 3; cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3; (iii) Cơ cấu tổ chức mạng lưới: Các quan hệ đan xen, ban đầu là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng, sau đó mỗi nhân tố trong mạng có thể phát triển thành một trung tâm độc lập với đầy đủ các quan hệ như trong mạng lưới ban đầu
Sở hữu vốn trong các TĐKT vì thế cũng rất đa dạng Trước hết, vốn trong tập đoàn là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm vốn tư nhân và vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong tập đoàn cũng tùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào CTM và thông thường ở hai cấp độ: (i) Cấp độ thấp hay còn gọi
Trang 14là liên kết mềm, vốn của công ty “mẹ”, công ty “con”, công ty “cháu” là của từng công ty; và (ii) Cấp độ cao hay còn gọi là liên kết cứng là công ty “mẹ” tham gia đầu tư vào các CTC, biến các công ty “con”, công ty “cháu” thành công ty TNHH một thành viên
do công ty mẹ làm chủ sở hữu hoặc công ty mẹ chiếm trên 50% vốn điều lệ (với công ty TNHH), giữ cổ phần chi phối (với công ty con, cháu là công ty cổ phần) Trên thực tế, không một TĐKT nào chỉ có quan hệ về sở hữu vốn theo một cấp độ mà đan xen cả hai cấp độ tùy theo từng trường hợp trong quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con, cháu
Năm là, TĐKT có phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực
và sản phẩm
TĐKT có phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ quốc gia
mà có thể phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới Mở rộng phạm vi là chiến lược của hầu hết các tập đoàn trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, qua đó, các tập đoàn tận dụng lợi thế về lao động, thị trường, tránh được hàng rào thuế quan, tìm được những thị trường giàu tiềm năng, mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra của sản phẩm Tập đoàn P&G có nhà máy sản xuất tại hơn 80 quốc gia trên thế giới, hơn 300 sản phẩm của tập đoàn này được tiêu thụ tại gần 200 nước
Tập đoàn McDonald’s năm 2005 có trên 31.000 cửa hàng phân bố trên 121 quốc gia trên thế giới và mỗi ngày tập đoàn này phục vụ 46 triệu khách hàng đủ các màu da, ngôn ngữ với hơn 50 triệu cái bánh kẹp thịt kiểu Hamburger Đó là chưa kể đến hàng loạt các cửa hàng ăn nhanh được McDonald’s mua lại nhưng không đổi tên, chẳng hạn
hệ thống cửa hàng Partner - Brands ở Mỹ hay Prêt à Manger ở Anh Tập đoàn Nokia năm 2004 đã cung cấp 200 triệu chiếc điện thoại trên toàn thế giới, mỗi năm Nokia phải mua, sản xuất và vận chuyển hơn 60 tỷ linh kiện sản xuất trên phạm vi toàn cầu Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT
Thông thường, mỗi tập đoàn lựa chọn những ngành chủ chốt và những ngành mũi nhọn, bên cạnh đó, những lĩnh vực mạo hiểm và những ngành có liên quan được lựa chọn đầu tư Cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các ngành không liên
Trang 15quan nhiều đến nhau Điển hình là tập đoàn Unilever với trên 1.600 sản phẩm độc lập, từ kinh doanh mỹ phẩm (sản phẩm Dove) đến bột giặt (Omo), từ đồ uống (trà Lipton) đến kem đánh răng … nhưng nhìn chung, hầu hết các tập đoàn lựa chọn một số ngành chủ lực, đồng thời mở rộng những lĩnh vực mới tuỳ thuộc chiến lược và mục tiêu phát triển Các sản phẩm trong Tập đoàn kinh tế hết sức đa dạng tuỳ thuộc chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược xây dựng thương hiệu Có những sản phẩm mang thương hiệu tập đoàn trên toàn cầu như hệ thống khách sạn Hilton nhưng cũng có những sản phẩm nổi tiếng hơn cả tên của tập đoàn (Ở Việt Nam, thương hiệu sản phẩm bột giặt OMO được biết đến nhiều hơn tên của công ty Unilever, mặc dù tập đoàn này có tới hơn 1.600 thương hiệu sản phẩm độc lập)
Để giảm thiểu rủi ro, trong các Tập đoàn kinh tế, ngoài ngành nghề sản phẩm, dịch vụ chủ yếu, các Công ty còn hoạt động trong những ngành nghề, sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh khác nhau nhằm mục đích phân tán rủi ro và tăng khả năng chi phối thị trường, đồng thời tạo điều kiện chuyên môn hoá, khai thác thế mạnh chuyên môn, uy tín trong ngành Thông thường các ngành nghề kinh doanh có liên quan chặt chẽ với nhau sẽ
hỗ trợ đắc lực cho chuyên ngành chính, tạo điều kiện liên kết kinh tế mang tính dây chuyền và liên hợp
1.1.3 Vai trò của Tập đoàn kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường các TĐKT có vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, các Tập đoàn nắm giữ phần lớn nguồn lực phục vụ quá trình sản xuất của quốc gia đó Quá trình phát triển của các TĐKT có vai trò quan trọng đến
hệ thống kinh tế, vai trò này được thể hiện qua một số mặt sau:
Một là: Đối với bản thân các Tập đoàn kinh tế
+ Việc hình thành các TĐKT cho phép phát huy lợi thế của các đơn vị kinh tế quy mô lớn; khai thác một cách triệt để năng lực, uy tín, các hoạt động đầu vào, đầu ra
và các dịch vụ chung của cả Tập đoàn Bên cạnh đó, Tập đoàn không ngừng phát huy năng lực sản xuất, khả năng sản xuất của mình cũng như của tất cả các thành viên trong
Trang 16Tập đoàn thông qua việc tập trung huy động mọi nguồn lực phục vụ quá trình SXKD Từng bước xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty thành viên, thực hiện tốt chiến lược phát triển Tập đoàn, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn và các công ty thành viên
+ Hình thành TĐKT góp phần quan trọng nhằm khắc phục khó khăn về vốn của các công ty cá biệt Trong TĐKT, nguồn vốn huy động từ các công ty thành viên trước hết được tập trung đầu tư tại các công ty thành viên, vào các dự án có hiệu quả nhất, những dự án tạo ra sức mạnh quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các công ty thành viên và Tập đoàn Bên cạnh đó vốn của công ty thành viên này còn được huy động đầu tư vào công ty khác trong Tập đoàn, từng bước tạo sự gắn kết chặt chẽ và sự trợ giúp giữa các công ty thành viên với nhau ngày càng chặt chẽ hơn Các TĐKT đã từng bước khắc phục tình trạng nguồn vốn bị phân tán và là cơ sở hình thành nên các trung gian tài chính Các trung gian tài chính giúp TĐKT sử dụng vốn một cách linh hoạt, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các TĐKT và các công ty thành viên
+ Hình thành và phát triển các TĐKT là giải pháp quan trọng giúp Tập đoàn tích cực đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào SXKD của các đơn vị thành viên Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ đòi hỏi cần một lượng vốn rất lớn, có sự hợp lực của đội ngũ nghiên cứu giàu kinh nghiệm, có phòng thí nghiệm, trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khác mà mỗi công ty riêng rẽ khó có khả năng huy động được Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty lại mới tạo được tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó
Sự liên kết và hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong TĐKT tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thành viên có khả năng đưa nhanh những kết quả của nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, từng bước nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh
Sự liên kết giữa các công ty thành viên trong việc thực hiện một chiến lược công nghệ đã tạo ra một tiềm lực nghiên cứu khoa học lớn về cơ sở vật chất, về trình độ và
Trang 17đội ngũ cán bộ nghiên cứu, triển khai ứng dụng nhanh và có hiệu quả những công trình khoa học trên quy mô lớn, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu ứng dụng với quá trình SXKD của Tập đoàn và các công ty thành viên Từng bước thu hồi vốn nhanh và hạn chế những ảnh hưởng xấu do hao mòn vô hình
Hai là: Đối với nền kinh tế
+ Về thu NSNN: Các TĐKT tạo nguồn thu lớn cho NSNN Nguồn thu của
NSNN phụ thuộc đáng kể các khoản thuế từ các chủ thể trong nền kinh tế nói chung, trong đó các TĐKT nói riêng có đóng góp nguồn thu rất quan trọng Các khoản thu này
có tác động tích cực đến tình hình kinh tế, xã hội đã làm cho vị thế của các các TĐKT ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia nói chung
+ Về mặt tài chính: Hầu hết các TĐKT lớn có khả năng chi phối thị trường tài
chính dựa trên các hoạt động đầu tư và tham gia vào các giao dịch tài chính với khối lượng giao dịch lớn Vì vậy, sự biến động của thị trường tài chính phụ thuộc vào sự điều chỉnh của một số các Tập đoàn lớn trong nền kinh tế
Việc huy động vốn từ các công ty thành viên trong Tập đoàn để tập trung đầu tư vào những công ty, những dự án có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao, từng bước khắc phục tình trạng phân tán vốn trong TĐKT Quá trình sử dụng vốn như trên của TĐKT là cơ sở cho việc hình thành các công ty tài chính (CTTC) trong Tập đoàn kinh tế Các CTTC thực hiện chức năng huy động vốn từ các công ty thành, điều hòa vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển hoặc lĩnh vực đạt hiệu quả kinh tế cao CTTC có thể huy động vốn thông qua việc vay từ các công ty thành viên trong Tập đoàn với lãi suất thỏa thuận
+ Về sử dụng lao động: Hiện nay số lượng lao động được các TĐKT đang sử
dụng là rất lớn điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động trong xã hội TĐKT hoạt động dưới hình thức là các công ty đa quốc gia được coi như là một giải pháp quan trọng giúp các quốc gia đang phát triển thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn với nhau Mục đích của quá trình
Trang 18chuyển giao công nghệ giữa các công ty thành viên nhằm giúp các công ty lựa chọn những công nghệ sản xuất phù hợp với trình độ của mình với chi phí thấp nhất và hạn chế những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình chuyển giao công nghệ với nước ngoài
do thiếu hiểu biết và năng lực còn hạn chế
Ngoài ra, đối với các quốc gia đang phát triển, sự ra đời các TĐKT là chìa khóa trong quá trình bảo hộ tình hình sản xuất trong nước nhằm chống lại sự xâm nhập và cạnh tranh quyết liệt từ các TĐKT nước ngoài và công ty đa quốc gia, không ngừng mở rộng, củng cố vai trò và vị thế của mình trên thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới
1.1.4 Mô hình và cơ cấu tổ chức của Tập đoàn kinh tế
1.1.4.1 Mô hình tổ chức của Tập đoàn kinh tế
Hầu hết các TĐKT trên thế giới được hình thành trên cơ sở tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý, bao gồm công ty mẹ và các công ty con; trong đó, công ty mẹ giữ vai trò chủ đạo, chi phối về mặt tài chính, về chiến lược phát triển và các lĩnh vực khác được quy định theo điều lệ của TĐKT Tùy thuộc vào đặc thù của từng TĐKT, mỗi TĐKT có thể có những cơ cấu và tổ chức khác nhau Thông thường, các TĐKT được tổ chức theo các mô hình sau:
- Mô hình tổ chức TĐKT theo đơn vị kinh doanh chiến lược:
Theo mô hình này các TĐKT được tổ chức dựa vào việc phân khúc thị trường,
nó phù hợp với các Tập đoàn kinh tế hoạt động kinh doanh đa dạng trên nhiều lĩnh vực trong đó có một lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh cốt lõi, truyền thống Hiện nay có một số TĐKT trên thế giới đang hoạt động theo mô hình kinh doanh chiến lược như Tập đoàn kinh tế General Foods, General Electric,…
- Mô hình tổ chức các Tập đoàn kinh tế theo phạm vi hoạt động:
Phạm vi hoạt động của các TĐKT ngoài việc phản ánh quy mô của mình nó còn quyết định đến cấu trúc tổ chức của Tập đoàn Căn cứ vào phạm vi hoạt động các TĐKT được chia thành TĐKT đa quốc gia và TĐKT quốc gia Trong giai đoạn hiện nay quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra đã làm mờ nhạt đi biên giới kinh tế giữa các
Trang 19quốc gia với nhau Vì vậy, phần lớn các TĐKT là những Tập đoàn đa quốc gia nhằm tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia Mô hình tổ chức này được
nhiều Tập đoàn áp dụng như: Royal Dutch/ Shell, British Petroleum, Toyota, …
- Mô hình tổ chức Tập đoàn kinh tế dựa trên sự phát triển cao của thị trường tài chính:
Theo hình thức này, các TĐKT được hình thành xoay quanh hạt nhân là CTTC Phần lớn cổ phiếu của các công ty con do công ty mẹ nắm giữ nên các công ty con chịu
sự chi phối của công ty mẹ Mặt khác, các TĐKT hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, các công ty con chịu sự chi phối và kiểm soát của công ty
mẹ, mặc dù giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn còn có thể có sự khác nhau về
kỹ thuật và công nghệ Theo mô hình này, công ty mẹ là công ty tài chính hay gắn với công ty mẹ là CTTC hay là các NHTM có uy tín và thế lực lớn Thông thường các TĐKT hoạt động theo mô hình này thường lấy tên theo công ty mẹ, trong các công ty thành viên sự khác nhau về kỹ thuật và công nghệ đã hình thành nên quá trình sáp nhập hay bán bớt các công ty thành viên trong Tập đoàn
1.1.4.2 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn kinh tế
(1) TĐKT theo cấu trúc nhất nguyên và tập trung quyền lực:
Đặc điểm nổi bật của cấu trúc này là tính nhất nguyên và quyền lực (hình 1.1) Trung
tâm của cấu trúc này là Văn phòng của Tập đoàn (haed office) với cơ cấu bao gồm Ủy ban điều hành Tập đoàn (executive committee) và các đơn vị chức năng phụ trách những lĩnh vực chuyên biệt như sản xuất, kinh doanh, tài chính, Văn phòng của Tập đoàn là
cơ quan quản lý của Tập đoàn, cơ quan này được tổ chức tại công ty mẹ và không có tư
cách pháp nhân độc lập
Trang 20Hình 1.1: Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc nhất nguyên
Tính nhất nguyên của mô hình này được thể hiện ở chỗ Tổng Giám Đốc trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của văn phòng và quá trình SXKD của Tập đoàn Văn phòng thực hiện sự quản lý tập trung đối với các đơn vị kinh doanh cấp dưới, là trung tâm đầu tư, trung tâm lợi nhuận, thông qua các phòng ban chức năng và phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng cho các đơn vị chức năng để phục vụ cho công tác quản lý nhằm hỗ trợ cho hoạt động SXKD
Ưu điểm: cấu trúc này đảm bảo sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất và
kịp thời của lãnh đạo tập đoàn đối với các vấn đề của Tập đoàn
Hạn chế của cấu trúc là lãnh đạo TĐKT tập trung quá nhiều vào tác nghiệp kinh
doanh nên đã giảm tính tự chủ, năng động, sáng tạo và động lực của các công ty thành viên, tăng chi phí quản lý và giảm hiệu quả chung của Tập đoàn Phạm vi áp dụng là các Tập đoàn kinh tế có quy mô không lớn và có hoạt động kinh doanh tương đối đồng nhất Hiện nay hầu hết các Tập đoàn kinh tế đều không sử dụng mô hình cấu trúc theo
mô hình này
(2) Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc Holding (hình 1.2):
Điểm nổi bật của cấu trúc này là không có sự kiểm soát tập trung
- Cơ cấu tổ chức mô hình: Văn phòng và các công ty thành viên, trong đó Văn
phòng Tập đoàn chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động điều phối chung của toàn Tập đoàn, không thực hiện quá trình kiểm tra, kiểm soát trực tiếp quá trình SXKD của
ỦY BAN ĐIỀU HÀNH
Các doanh nghiệp khối tài chính
.v.v
Trang 21các công ty thành viên Các công ty thành viên trong Tập đoàn đều có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ tương đối cao về tài chính và kinh doanh của mình
Hình 1.2: Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc Holding
Mô hình này được các Tập đoàn kinh tế áp dụng phổ biến theo cấu trúc công ty
mẹ - công ty con Theo mô hình này, công ty mẹ và các công ty con trong Tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập Mặc dù chức năng hoạt động và mối quan hệ giữa các chủ thể này có sự khác nhau nhưng chúng có tài sản và bộ máy quản lý riêng
Theo mô hình này các giao dịch giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn trở thành những giao dịch bên ngoài hay giao dịch thị trường
Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc holding: Công ty mẹ (Holding
company) sở hữu toàn bộ hay một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con Công ty mẹ có nhiệm vụ xây dựng chiến lược và định hướng phát triển chung của toàn Tập đoàn Mặt khác, công ty mẹ thực hiện việc phân bổ nguồn vốn dựa trên các hoạt động tài chính như cơ cấu lại tài sản, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán, của các công ty con Bên cạnh đó, công ty mẹ còn thực hiện việc đầu tư, góp vốn cổ phần, tham gia góp vốn liên doanh, liên kết hình thành các công ty con, công ty liên kết từ nguồn vốn của mình
Các công ty con là những pháp nhân kinh tế hoạt động độc lập, có quyền tự chủ trong mọi hoạt động của mình Trong quá trình kinh doanh nhiều sản phẩm do các công ty con sản xuất ra không liên quan đến nhau
Công ty nắm vốn
Sản xuất
kinh doanh Bán hàng Tài chính Kỹ thuật
Trang 22Hình thức pháp lý của các công ty con khá đa dạng, điều đó phản ánh sự phong phú trong các lĩnh vực hoạt động của công ty mẹ, thông thường bao gồm:
+ Công ty cổ phần do công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối
+ Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên trong đó công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối
+ Công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu
Theo tính chất và phạm vi hoạt động mô hình công ty mẹ - công ty con được chia làm hai loại:
Một là: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy PHC (pure holding company)
Hoạt động kinh doanh chính của công ty mẹ là đầu tư vốn vào các công ty khác
Hai là: Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh OHC
(operating holding copany) Ngoài việc đầu tư vốn vào các công ty khác thì công ty mẹ còn tham gia trực tiếp vào các hoạt động SXKD như các công ty khác trong Tập đoàn
Một số ưu và nhược điểm của mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc Holding:
- Giữa quyết định về chiến lược và quyết định điều hành kinh doanh của các nhà quản lý cấp cao ở mô hình PCH đã có sự tách biệt Còn trong mô hình OHC, các nhà quản
lý cấp cao còn phải tập trung vào cả việc ra quyết định điều hành kinh doanh của mình và các quyết định mang tính chiến lược cho cả Tập đoàn
- Mô hình PHC đã làm thay đổi hành vi của nhà quản lý, bởi vì các nhà quản lý trong mỗi bộ phận có thể trở thành Chủ tịch (CEO) của một công ty con độc lập
- Đối với nền kinh tế tăng trưởng và có thị trường vốn phát triển mạnh đòi hỏi việc quản trị Tập đoàn và các công ty thành viên cần được quan tâm đúng mức Hiệu quả hoạt động về vốn được xác định thông qua tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE – Return
on Equity) Vì vậy, PHC hình thành là một giải pháp hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả của đầu tư vốn và năng lực quản trị của Tập đoàn
Trang 23- Công ty nắm vốn chủ động lựa chọn lĩnh vực kinh doanh và quyết định khả năng tham gia đầu tư Tại các văn phòng điều hành TĐKT theo cấu trúc Holding, các chuyên gia về lĩnh vực đầu tư, quản lý vốn đầu tư kinh doanh có điều kiện tích lũy được nhiều kinh nghiệm Khi đó, các công ty nắm vốn trở nên dễ dàng và thuận lợi trong việc đưa ra quyết định tham gia hay không tham gia vào hoạt động kinh doanh, xây dựng các danh mục đầu tư kinh doanh mới
- Công ty nắm vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn mà công ty
đã đầu tư vào công ty con Qua đây cho thấy, đây là hình thức phân tán rủi ro cho các công ty con Thực tế cho thấy công ty mẹ trong các TĐKT thường đứng ra bảo lãnh các khoản nợ và các hoạt động trong nội bộ Tập đoàn với mục đích tạo ra sự gắn kết chặt chẽ nên công ty mẹ vẫn nhận một phần rủi ro của các công ty con trong TĐKT
- Tự do lưu chuyển tiền tệ giữa công ty nắm vốn và các Công ty thành viên trong Tập đoàn Song mức độ tự do lưu chuyển dòng tiền mặt giữa Công ty nắm vốn và các công ty thành viên còn thấp Lợi nhuận sau thuế mà các công ty đạt được trong quá trình kinh doanh chính là lợi tức của công ty mẹ
Ví dụ, một công ty con X có thể đầu tư vào công ty con Y hoặc công ty con Y vay vốn của công ty con X Trường hợp này cho thấy công ty mẹ trong Tập đoàn không có một mối quan hệ tài chính trực tiếp nào với công ty con Y Khi đó quyền kiểm soát sẽ mất khi chấp nhận cơ cấu công ty nắm vốn
- Quyền tự quyết của các công ty thành viên trong TĐKT Ngoài việc Tập đoàn khống chế cổ phần, chức năng hoạt động của loại hình công ty mới ra đời là quá trình thực thi các quy định có liên quan đến các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh đã
ký kết giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn như: giá cả, sản lượng Mặt khác, các công ty còn có quyền quyết định đến quy mô và khả năng đầu tư vốn của mình Điều đó giúp các công ty thành viên thuận lợi trong việc mua bán sản phẩm, dịch vụ,
Trang 24(3) Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc hỗn hợp (hình 1.3):
Hình 1.3 Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc hỗn hợp
Mô hình này phù hợp với những TĐKT có quy mô lớn Mô hình này đòi hỏi vừa phân quyền vừa tập trung nhưng về tổng thể phải đạt hiệu quả như mong muốn Mô hình này là sự kết hợp giữa mô hình cấu trúc nhất thể với mô hình cấu trúc holding
Tính chất tập trung của mô hình TĐKT theo cấu trúc hỗn hợp dựa trên cơ chế kiểm soát tập trung của cơ quan văn phòng Tập đoàn đối với 3 vấn đề sau:
Thứ nhất: Đưa ra những quyết định mang tính chiến lược của TĐKT
Thứ hai: Quyết định những chính sách chung, điều hành các giao dịch bên
trong Tập đoàn
Thứ 3: Có quyền tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, giám sát, miễn nhiệm các cán
bộ cấp cao của Tập đoàn
Việc phân bổ nguồn vốn và điều hành các giao dịch nội bộ của văn phòng Tập đoàn ngoài việc căn cứ vào các hoạt động tài chính của các công ty thành viên nó còn tạo sự gắn kết các hoạt động trên với việc thực hiện chiến lược kinh doanh và tối đa hóa hiệu quả hoạt động của toàn Tập đoàn Bên cạnh đó, văn phòng Tập đoàn và những lĩnh vực hoạt động cụ thể đều được quản lý tập trung theo mô hình dạng cấu trúc hỗn hợp
Các công ty tài chính
Các công ty khối
kỹ thuật
Trang 25Về tính chất phân quyền: Các công ty con trong Tập đoàn được phân quyền
khá rộng rãi khi thực hiện các quyết định đầu tư, tham gia các hoạt động kinh doanh, quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chủ về mặt tài chính Hoạt động của các công ty thành viên chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát trực tiếp của các ban chức năng như ban tài chính, ban dự án, ban nhân sự, v.v
Về cơ cấu tổ chức mô hình TĐKT theo cấu trúc hỗn hợp: Cơ cấu tổ chức của
TĐKT theo mô hình này gồm 03 cấp quan hệ:
Cấp 1: Là cơ quan đầu não của Tập đoàn, nó bao gồm HĐQT, cơ quan điều
hành Tập đoàn HĐQT và cơ quan điều hành là cơ quan ra quyết định tối cao trong Tập đoàn, chịu trách nhiệm xây dựng và thông qua các chiến lược phát triển, điều phối các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn
Cấp 2: Các ban chức năng của Tập đoàn như: Ban nhân sự, Ban tài chính, Ban
kế hoạch, Ban kiểm toán, Ban pháp chế,v.v Các ban chức năng có nhiệm vụ giúp HĐQT xây dựng chiến lược kinh doanh, điều hành các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn
và giám sát các công ty con trong Tập đoàn Nhiệm vụ của các ban chức năng là đảm bảo sự ổn định trong Tập đoàn, giúp lãnh đạo Tập đoàn đưa ra những quyết định khoa học, hợp lý nhằm giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra
Về mặt pháp lý: Văn phòng chính (HĐQT) và các ban chức năng của Tập đoàn
kinh tế không có tư cách pháp nhân nhưng hợp thành bộ máy tổ chức, quản lý Tập đoàn và được đặt tại công ty mẹ
Cấp 3: Các công ty con độc lập trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh của
mình dựa trên chiến lược kinh doanh chung của toàn Tập đoàn Thực tế cho thấy, đa số các công ty con cũng tổ chức theo cơ cấu dạng hỗn hợp
Nhằm đảm bảo tối ưu hóa mọi hoạt động của toàn Tập đoàn các nhà quản lý cấp cao của Tập đoàn tập trung vào những quyết định mang tính chiến lược, dài hạn và quan trọng của Tập đoàn, còn các quyết định điều hành kinh doanh được phân cho cấp dưới thực hiện
Trang 26Mô hình TĐKT theo cấu trúc hỗn hợp thể hiện sự tối ưu hóa toàn bộ hoạt động của Tập đoàn và các công ty thành viên thông qua việc huy động các nguồn vốn lớn hơn nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh một cách có hiệu quả và điều hành các giao dịch bên trong Tập đoàn Đặc biệt là việc thực hiện các giao dịch trong nội bộ và xác định giá chuyển nhượng trong Tập đoàn nhằm tối đa hóa giá trị của toàn Tập đoàn
Mô hình này được áp dụng ở nhiều TĐKT, trong đó chức năng nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển Tập đoàn và chức năng điều hành các giao dịch nội bộ của văn phòng chính thể hiện ưu thế vượt trội Các chức năng trên tác động đến quá trình phân bổ các nguồn vốn, làm thay đổi cơ cấu của thị trường Vì vậy, nó còn được coi là bàn tay hữu hình thứ hai sau bàn tay hữu hình thứ nhất là Chính phủ Mặt khác, Văn phòng chính còn thực hiện việc kiểm tra, đánh giá và giám sát một cách có hệ thống kết quả hoạt động của các phòng ban chuyên môn; việc tuyển dụng, sa thải các cán bộ quản lý cấp cao của các phòng ban trên Căn cứ vào tình hình thực tế của Tập đoàn, HĐQT sẽ đưa ra quyết định là có hay không tham gia vào một thị trường mới có nhiều tiềm năng hay một thị trường không có tiềm năng
(4) Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc sở hữu:
- Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc sở hữu giản đơn (hình 1.4)
Hình 1.4 Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc sở hữu giản đơn
CÔNG TY MẸ (Công ty cấp 1)
Công ty con
cấp 2
Công ty con cấp 2
Công ty
con cấp 3
Công ty con cấp 3 con cấp 3 Công ty con cấp 3 Công ty
Trang 27Theo mô hình này, công ty mẹ chi phối công ty con cấp 2 (công ty con) Công ty cấp 2 tiếp tục đầu tư, chi phối công ty con cấp 3 (công ty cháu), v.v Cơ cấu đầu tư vốn theo kiểu đơn giản Công ty cấp trên trực tiếp chi phối về tài chính thông qua việc nắm giữ cổ phần, vốn góp công ty cấp dưới Trong thực tế ít tồn tại kiểu cấu trúc này
- Mô hình Tập đoàn kinh tế bao gồm các Công ty thành viên đồng cấp đầu
tư và kiểm soát lẫn nhau (hình 1.5)
Hình 1.5: Mô hình Tập đoàn công ty thành viên đồng cấp đầu tư và kiểm soát
Theo mô hình này, các công ty thành viên trong Tập đoàn có sự đầu tư, chi phối lẫn nhau Việc hình thành một công ty mới trong Tập đoàn không bị các công ty, các nhà đầu
tư bên ngoài Tập đoàn kiểm soát hay thôn tính Nếu các công ty con, cháu đủ mạnh về vốn
sẽ thuận lợi trong việc tăng cường mối liên kết tài chính chặt chẽ trong Tập đoàn Các Tập đoàn Sam Sung, LG, Mitsubishi, Sumitomo, General Motors áp dụng mô hình này
Qua một số mô hình cấu trúc TĐKT trình bày ở trên cho thấy, để hình thành một TĐKT cần căn cứ vào mục đích kinh doanh, khu vực hoạt động, những điểm lợi
và bất lợi; căn cứ vào tình hình tài chính, giá trị thương hiệu, và phải phù hợp với
yêu cầu đòi hỏi của bản thân Tập đoàn đó [10,tr 26,38]
1.2 CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.2.1 Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, phần lớn các TĐKT được hình thành và phát triển
ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, ở đó có thị trường tài chính (TTTC) và các
CÔNG TY MẸ (Công ty cấp 1)
Công ty con
cấp 2
Công ty con cấp 2
Công ty
con cấp 3
Công ty con cấp 3
Công ty con cấp 3
Công ty con cấp 3 Công ty con
cấp 2
Trang 28công cụ tài chính rất đa dạng và phong phú Để kiểm soát được hoạt động tài chính của TĐKT đòi hỏi Tập đoàn phải xây dựng cho mình một cơ chế quản lý tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của mình trong từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, các TĐKT cần phải thường xuyên điều chỉnh, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của mình nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý tài chính của Tập đoàn trong thực tiễn
Thuật ngữ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học,
2000) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện"
Trong lĩnh vực quản lý, cơ chế quản lý được hiểu là cách thức liên kết, phối hợp, tương tác giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành của hệ thống mà nhờ đó hệ thống có thể
hoạt động, vận hành hiệu quả
Trong lĩnh vực kinh tế, thuật ngữ "cơ chế quản lý kinh tế" được sử dụng rộng rãi từ
khoảng cuối những năm 1970, khi Việt Nam bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và đổi mới quản lý nền kinh tế Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì cơ chế kinh tế bao gồm:
“Những chính sách và phương pháp quản lý, những hình thức cụ thể của quan hệ sản xuất như hệ thống kế hoạch, hệ thống đòn bẩy kinh tế (hạch toán kinh tế, giá cả, lợi nhuận, tiền lương, tín dụng…) và những hình thức cụ thể về tổ chức (hệ thống sản xuất, hệ thống tổ
chức bộ máy quản lý ” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXBST, Hà nội, 1995, trang 612) Với cách hiểu cơ chế quản lý kinh tế như đã nêu ở trên, có thể định nghĩa: Cơ chế quản lý kinh tế là tổng hợp các chính sách, công cụ và biện pháp quản lý và cách thức sử dụng chúng để định hướng và chi phối các hoạt động của một hệ thống kinh tế nhất định nhằm
đạt được những mục tiêu chung trong hoạt động của hệ thống đó
Cơ chế tài chính gắn với các hoạt động tài chính của Tập đoàn kinh tế được gọi là
cơ chế tài chính của Tập đoàn kinh tế Từ những quan niệm trên về cơ chế quản lý kinh
tế có thể rút ra khái niệm: Cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT là hệ thống các hình thức, phương pháp và công cụ tài chính được sử dụng để quản lý các hoạt động tài
Trang 29chính của TĐKT trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của Tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Hoạt động tài chính của TĐKT rất rộng, nó bao gồm các hoạt động kinh tế và các mối quan hệ kinh tế Thông qua sự vận động của quỹ tiền tệ các mối quan hệ kinh tế được biểu hiện thành các quan hệ tài chính; các quan hệ này được biểu hiện dưới hình thái giá trị
và nảy sinh trong quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình kinh doanh của toàn Tập đoàn
Sự khác biệt cơ bản trong cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế với cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp độc lập chính là ở các mối quan hệ tài chính nảy sinh giữa các đơn vị thành viên trong Tập đoàn, mà tiêu biểu là mối quan hệ tài chính giữa công ty mẹ với các công ty con, công ty liên kết trong huy động và tạo lập vốn; trong đầu tư sử dụng vốn và trong phân chia kết quả kinh doanh của Tập đoàn
Mặc dù cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT có thay đổi như thế nào trong quá trình phát triển thì nó vẫn có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Tính mục đích
Hoạt động quản lý TĐKT luôn có mục đích cụ thể nên cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn cũng luôn gắn liền với những mục đích đó Thông thường, mục đích cơ bản của TĐKT là tối đa hóa giá trị của Tập đoàn, tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị lợi ích của cổ đông và các thành viên trong Tập đoàn, từng bước mở rộng quy mô kinh doanh nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của Tập đoàn Vì vậy, mục đích cơ bản của cơ chế quản lý tài chính trong các TĐKT cũng tập trung vào các mục tiêu đó, trên góc độ tài chính tức là doanh thu tăng, chi phí giảm, tăng giá trị tài sản của Tập đoàn, sức mạnh tài chính của doanh thu ngày một tăng và được thể hiện qua việc điều hành, phân phối các dòng tiền tệ trong bản thân TĐKT
- Tính hệ thống
Cơ chế quản lý tài chính của TĐKT là tổng thể các chính sách, các phương pháp và các công cụ được thiết lập một cách chặt chẽ, khoa học, hợp lý toàn diện thống
Trang 30nhất nhằm tối đa hóa hiệu quả hoạt động tài chính của TĐKT Nếu thiếu tính hệ thống hay được thực hiện một cách riêng biệt, độc lập ngoài việc làm giảm tính hiệu quả, hiệu lực của bản thân những cơ chế, chính sách của Tập đoàn mà còn gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống về cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT
- Tính linh hoạt
Tất cả những hoạt động của TĐKT đều chịu tác động và chi phối của những quy luật khắt khe của thị trường Vì vậy, nó phải luôn được thay đổi và điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh điều kiện kinh doanh cụ thể nhằm đảm bảo tính thích ứng với những thay đổi của các phương pháp và công cụ tài chính, từng bước phát huy tối đa hiệu quả của cơ chế quản lý tài chính đối với mục đích kinh doanh của TĐKT trong từng giai đoạn nhất định
Quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế làm cho nó phù hợp, hiệu quả hơn với thực tiễn hoạt động của Tập đoàn kinh tế chính là quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn kinh tế
1.2.2 Nội dung chủ yếu cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế
Phần lớn các Tập đoàn kinh tế trên thế giới đều được hình thành ở các nước
có nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động tài chính của các TĐKT đều tập trung trên thị trường tài chính (hoạt động kinh doanh vốn, tiền tệ, ngoại hối …), các hoạt động này dựa trên các công cụ tài chính rất phong phú và đa dạng Vậy, cơ chế quản lý tài chính của TĐKT cần phải xây dựng các nội dung sao cho phù hợp với quy mô, trình độ và khả năng của Tập đoàn nhằm đạt hiệu quả cao nhất Mặt khác, các TĐKT trên thế giới hình thành dưới hình thức đa sở hữu (công ty cổ phần) nó có thể tồn tại dưới hình thức là các công ty tư nhân và Nhà nước
Vậy, cơ chế quản lý tài chính TĐKT là tổng thể các công cụ, chính sách tài chính được hình thành và thực hiện thông qua các giải pháp tài chính dựa trên mối quan hệ biện chứng tạo nên một cơ chế thống nhất giữa các thành viên trong Tập
Trang 31đoàn Nó phản ánh mối quan hệ của chủ sở hữu đối với mọi hoạt động của TĐKT,
và mối quan hệ trong nội bộ Tập đoàn với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh
và kích thích quá trình tăng trưởng và phát triển SXKD của TĐKT Từ những vấn
đề trên ta có thể thấy cơ chế quản lý tài chính của các TĐKT được thể hiện một số
nội dung cơ bản sau:
1.2.2.1 Cơ chế huy động và tạo lập vốn của tập đoàn kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ chủ thể kinh tế nào đều phải có một lượng vốn nhất định, vốn là điều kiện tiên quyết quyết định đến sự thành bại của các chủ thể kinh tế nói chung, Tập đoàn kinh tế nói riêng
Nhu cầu về vốn tại các TĐKT luôn là một vấn đề bức thiết trong việc Tập đoàn muốn mở rộng quy mô SXKD Mặt khác, việc sử dụng vốn trong các TĐKT còn nhằm mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, tăng doanh thu và lợi nhuận
Vì vậy, trong công tác quản lý tài chính của các TĐKT, cơ chế tạo lập, huy động vốn giữ một vai trò hết sức quan trọng, tiềm lực và khả năng của Tập đoàn phụ thuộc tổng lượng vốn mà Tập đoàn huy động được thông qua các kênh huy động vốn khác nhau Một cơ chế tạo lập và huy động vốn trong các TĐKT không khoa học, hợp lý sẽ không đáp ứng được nhu cầu về vốn cho Tập đoàn và các thành viên, điều đó tác động trực tiếp đến chiến lược phát triển, cũng như việc thực hiện các mục tiêu hoạt động của toàn Tập đoàn và với từng thành viên trong tập đoàn
Nguồn hình thành vốn của TĐKT thường được hình thành từ các nguồn cơ bản sau đây:
(1) Nếu xét theo phạm vi huy động, vốn của các TĐKT được huy động từ các
nguồn sau :
Một là: Nguồn vốn huy động trong nước
+ Vốn chủ sở hữu đóng góp ban đầu khi thành lập TĐKT, nguồn vốn này
được hình thành thông qua hình thức góp vốn cổ phần, vốn góp Nếu TĐKT có nhiều đồng chủ sở hữu thì cổ phần chi phối do cổ đông chi phối nắm giữ
Trang 32+ Vốn do các tập đoàn tự tích luỹ: Các TĐKT hoàn toàn tự chủ trong việc tăng
nguồn vốn chủ sở hữu bằng cách vốn hoá một phần lợi nhuận sau thuế thuộc quyền sở hữu của các chủ sở hữu tập đoàn để tái đầu tư
+ Vốn huy động trên thị trường tài chính: Các TĐKT tự chủ hoàn toàn trong
việc lựa chọn hình thức huy động vốn trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành chứng khoán nếu đủ điều kiện theo quy định của luật pháp Tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể về chủ quan và khách quan, các TĐKT có thể huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, hoặc phát hành trái phiếu thông qua công ty tài chính của tập đoàn, hoặc Công ty mẹ và Công ty con trực tiếp thực hiện
+ Ngoài các nguồn vốn trên, các TĐKT còn có thể mở rộng quy mô, tăng
cường sức mạnh của Tập đoàn thông qua việc sáp nhập, hợp nhất các công ty có cùng ngành nghề kinh doanh, cùng sản xuất những sản phẩm theo một quy trình công nghệ tương đối giống nhau, trên cơ sở tự nguyện để tạo nên một TĐKT có quy mô lớn với tiềm lực kinh tế mạnh hơn trước, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của TĐKT trong nền kinh tế
Hai là: Tạo lập và huy động vốn từ nguồn vốn ngoài nước
Các TĐKT có thể thu hút vốn đầu tư thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, gọi vốn liên doanh liên kết hay phát hành cổ phiếu, trái phiếu thông qua thị trường tài chính quốc tế hoặc vốn vay nước ngoài Việc huy động vốn từ bên ngoài của các TĐKT thông qua thị trường tài chính quốc tế dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp tự
huy động nhờ sức hấp dẫn về quy mô nguồn vốn chủ sở hữu của Tập đoàn
(2) Nếu xét theo quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn của tập đoàn bao gồm nguồn
vốn chủ sở hữu và nguồn vốn nợ (các khoản nợ phải trả)
+ Nguồn vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của TĐKT;
nó được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển Tập đoàn và thường xuyên được bổ sung trong quá trình kinh doanh Nguồn vốn CSH thường bao gồm số vốn góp của các CSH và nguồn vốn TĐKT tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế hàng năm
Trang 33Trong các TĐKT, nguồn vốn chủ sở hữu được hình thành từ sự đóng góp của các nhà đầu tư thông qua hình thức góp vốn bằng tiền, hiện vật hay bằng bản quyền sở hữu công nghiệp Tuỳ theo sự thoả thuận giữa các nhà đầu tư và hình thức pháp lý tổ chức của CTM và các doanh nghiệp thành viên
Trong TĐKT, quy mô và tỷ lệ vốn góp của CTM vào các CTC, hoặc CTC góp vốn tạo lập ra công ty cháu sẽ quyết định vị thế của CTM trong Tập đoàn kinh tế trên
cơ sở nắm giữ cổ phần đa số, hay cổ phần chi phối, chủ sở hữu dùng một phần vốn của mình để đầu tư trực tiếp hay góp cổ phần chi phối hoạt động và quyết định mức sở hữu của chủ sở hữu đối với bản thân TĐKT
Ngoài ra, hàng năm các Tập đoàn kinh tế còn dành một phần lợi nhuận sau thuế của mình để tăng thêm vốn chủ sở hữu phục vụ quá trình SXKD và mở rộng quy mô kinh doanh của Tập đoàn kinh tế
+ Các khoản nợ phải trả của TĐKT (nguồn vốn nợ): ngoài nguồn vốn chủ sở
hữu, các TĐKT còn sử dụng các khoản nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn vốn từ bên ngoài thông qua việc huy động vốn vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng, vay từ việc phát hành trái phiếu, các khoản vốn chiếm dụng, bao gồm:
- Nợ ngắn hạn: Đây là những khoản vay và vốn chiếm dụng của Tập đoàn có
thời hạn dưới một năm Khoản vốn này thường dùng để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, các khoản tạm ứng, hay bù đắp những khoản thiếu hụt tạm thời phát sinh trong quá trình kinh doanh của Tập đoàn Trong một số trường hợp đặc biệt, các NHTM cũng có thể cho các TĐKT vay để tài trợ cho các khoản đầu tư TSNH, những khoản vay đó phụ thuộc vào sự thế chấp và uy tín của Tập đoàn đối với các NHTM Mặt khác, huy động vốn ngắn hạn trong các TĐKT còn có thể thực hiện được thông qua bán các chứng khoán ngắn hạn, bán nợ, thế chấp các khoản phải thu, … TĐKT còn có thể sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại (tín dụng nhà cung cấp) là hình thức mua bán chịu giữa TĐKT với các tổ chức kinh tế khác Thực chất, đây là việc TĐKT chiếm dụng vốn của các đối tác kinh doanh để phục vụ quá trình SXKD của mình
Trang 34- Nợ dài hạn: là các khoản nợ có thời gian trên một năm mà Tập đoàn kinh tế
có thể huy động thông qua việc vay vốn từ các tổ chức tài chính, tín dụng, các công ty tài chính,… bằng một hợp đồng tín dụng và Tập đoàn có trách nhiệm hoàn trả các khoản vốn vay theo thỏa thuận Thông thường, các khoản vay trong hợp đồng thường được trả những khoản tiền bằng nhau theo thỏa thuận trong hợp đồng Đây là hình thức trả dần các khoản tiền vay của Tập đoàn trong suốt thời gian diễn ra hoạt động giao dịch bao gồm cả gốc và lãi
Đối với các Tập đoàn kinh tế cơ chế tạo lập, huy động vốn của TĐKT thể hiện tập trung qua việc phân cấp trách nhiệm và quyền hạn trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn, ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn chung của tập đoàn và của từng công ty thành viên Cụ thể là:
+ Việc huy động tăng vốn dài hạn để thực hiện các dự án phát triển, các chiến lược kinh doanh dài hạn của tập đoàn sẽ do công ty mẹ hoặc công ty tài chính của Tập đoàn đứng ra chủ trì
+ Quyết định huy động vốn dài hạn (quy mô, phương thức, thời hạn, ) để thực hiện những dự án đầu tư và kế hoạch sản xuất kinh doanh của từng công ty thành viên
sẽ do Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của các công
ty này quyết định theo quy định cụ thể trong Điều lệ của các công ty nhưng về nguyên tắc phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn và không được làm thay đổi tỷ lệ sở hữu của công ty mẹ trong các công ty con Người đại diện phần vốn góp của công ty mẹ vào các công ty con sẽ thực hiện quyền sở hữu của công ty mẹ trong việc tham gia ý kiến khi thông qua các quyết định này
+ Công ty mẹ thực hiện việc bảo lãnh, thế chấp và tín chấp cho công ty con vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật
+ Trường hợp công ty mẹ huy động vốn để thay đổi sở hữu phải được sự đồng ý của các chủ sở hữu và phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Trang 35+ Việc huy động các nguồn vốn ngắn hạn hoàn toàn do Ban Giám đốc các đơn
vị thành viên của tập đoàn tự quyết định
+ Tập đoàn có thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời của các công ty thành viên để sử dụng cho các hoạt động chung của tập đoàn, hoặc sử dụng cho các thành viên khác trong tập đoàn thông qua công ty tài chính của tập đoàn theo nguyên tắc có hoàn trả và đảm bảo lợi ích của các bên
+ Công ty mẹ quản lý quỹ dự trữ, dự phòng tài chính, và các quỹ chung khác của tập đoàn để sử dụng cho các mục tiêu chung của tập đoàn theo quy định
Tóm lại, vấn đề cốt lõi của cơ chế tạo lập, huy động vốn của TĐKT là một mặt
phát huy quyền của công ty mẹ trong việc huy động vốn thực hiện chiến lược phát triển của tập đoàn; vừa phát huy quyền tự chủ tài chính của các công ty thành viên trong việc tạo lập huy động vốn đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của mỗi công ty, đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi thành viên và toàn Tập đoàn Để đạt được mục tiêu trên, mỗi TĐKT cần xây dựng cho mình chiến lược và chính sách thu hút vốn của Tập đoàn phù hợp, đa dạng hoá các kênh và hình thức huy động vốn khác nhau, huy động tối đa các nguồn vốn huy động nội bộ Tập đoàn
1.2.2.2 Cơ chế đầu tư (hay quản lý, sử dụng) vốn của tập đoàn kinh tế
Trong Tập đoàn kinh tế, cơ chế đầu tư vốn (hay còn gọi là cơ chế quản lý sử dụng vốn) là nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó phản ánh tập trung kết quả của quan hệ liên kết trong đầu tư giữa công ty mẹ với các thành viên trong tập đoàn, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển về chiều rộng và chiều sâu, cũng như có tính chất quyết định tới khả năng thực hiện các mục tiêu hoạt động của tập đoàn
Nội dung chủ yếu của cơ chế đầu tư vốn trong Tập đoàn kinh tế phải giải quyết
được các vấn đề: Tập đoàn nên tập trung đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
nào để làm tăng sức mạnh của toàn tập đoàn? Quy mô vốn đầu tư vào lĩnh vực mà Tập đoàn quan tâm là bao nhiêu? Nguồn vốn đầu tư Tập đoàn lấy từ nguồn nào? Hiệu quả
do hoạt động đầu tư mang lại cho các thành viên và toàn Tập đoàn ? Vấn đề phân cấp
Trang 36quyền hạn và trách nhiệm giữa công ty mẹ với các công ty con và các thành viên khác của Tập đoàn trong hoạt động đầu tư
Công ty mẹ là hạt nhân và đầu mối thực hiện các hoạt động chung của toàn tập đoàn; vì vậy, cũng trực tiếp định hướng và tổ chức thực hiện chiến lược đầu tư của tập đoàn thông qua việc tập trung các nguồn lực đầu tư hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển để tăng thêm sức mạnh cho tập đoàn, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế
Hội đồng quản trị của công ty mẹ thay mặt Tập đoàn giữ vai trò chủ đạo trong việc hoạch định và quyết định chính sách, những giải pháp tối ưu trong việc sử dụng vốn, tài sản của Tập đoàn, quyết định việc đầu tư thêm vốn vào một công ty cụ thể, cũng như quyết định việc dịch chuyển vốn và tài sản giữa các thành viên trong Tập đoàn với nhau
Các công ty thành viên của tập đoàn với tư cách là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân sẽ tự quyết định quy mô đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, thời hạn đầu tư, phạm vi đầu tư,v.v của công ty mình phù hợp với định hướng chiến lược đầu
tư của Tập đoàn, có tính đến mức độ rủi ro và hiệu quả của sự đầu tư Công ty mẹ thông qua cơ chế người đại diện phần vốn của mình tại các công ty con sẽ đóng vai trò chi phối các quyết định đầu tư của các công ty thành viên phù hợp với chiến lược đầu
tư của công ty mẹ
Căn cứ vào quy mô của TĐKT, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, thời gian và khả năng tác động đến mức độ sinh lời của TĐKT và các đơn vị thành viên để xác định quy
mô đầu tư vốn phù hợp Các chính sách tài chính được TĐKT xây dựng khoa học, hợp lý trong việc thúc đẩy hay hạn chế hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn trên từng lĩnh vực kinh doanh, từng khu vực, từng giai đoạn cụ thể hay từng địa điểm nào đó Thông thường nó mang ý nghĩa cốt lõi và chiến lược lâu dài của TĐKT
Đối với các dự án đầu tư tại TĐKT; ngoài việc đánh giá hiệu quả của dự án thông qua việc sử dụng các chỉ tiêu mức doanh lợi, khả năng rủi ro có thể gặp phải, khả năng
Trang 37huy động vốn đầu tư của các dự án hay của các công ty thành viên trong Tập đoàn Mặt khác, nó còn đánh giá những tác động của nó đến giá trị của Tập đoàn, tỷ lệ phân chia cổ tức hiện tại và tương lai thì nó còn được đánh giá xem có phù hợp với chiến lược phát triển của TĐKT hay không? Những vùng, miền mà TĐKT đầu tư vốn vào kinh doanh có phù hợp với chiến lược mở rộng quy mô kinh doanh và chiến lược mở rộng thị trường của Tập đoàn hay không? Cùng với chính sách kinh tế vĩ mô của lĩnh vực đó tác động
như thế nào đến các lĩnh vực kinh doanh tại Tập đoàn Vì vậy, trong từng trường hợp cụ
thể như tình hình kinh tế, chính trị trong và ngoài nước, các quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có ảnh hưởng rất lớn tới chiến lược kinh doanh của các TĐKT
Tuỳ theo tính chất sở hữu của tập đoàn thì tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vốn của Tập đoàn cũng không giống nhau Nhìn chung, với các Tập đoàn kinh tế tư nhân thì tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư phải là hiệu quả về tài chính, được biểu hiện qua các chỉ tiêu như NPV, IRR, PI, PP hoặc DPP,v.v Tuy nhiên, đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước thì bên cạnh hiệu quả kinh tế -tài chính, vấn đề hiệu quả xã hội của các
dự án cũng luôn được coi trọng, đôi khi là rất quan trọng, bởi nguồn vốn đầu tư vào các dự
án của Tập đoàn kinh tế nhà nước là nguồn vốn NSNN cấp, là tiền thuế do người dân đóng góp Vì vậy, người dân có đòi hỏi phải mang lại cho họ những gì: giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước,v.v
1.2.2.3 Cơ chế quản lý và phân phối lợi nhuận của tập đoàn kinh tế
Trong hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế nói chung, Tập đoàn kinh
tế nói riêng thì lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính quan trọng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của Tập đoàn kinh tế Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu thực hiện trong kỳ và tổng chi phí mà Tập đoàn đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó Từ khái niệm trên cho thấy, hình thành cơ chế quản lý lợi nhuận tại Tập đoàn kinh tế là nhiệm vụ quan trọng quyết định đến sự phát triển bền vững của Tập đoàn
Để đạt được mục tiêu trên, các TĐKT cần phải xây dựng cho mình một cơ chế quản lý lợi nhuận cho phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể
Trang 38Vì vậy, hình thành cơ chế phân chia lợi nhuận tại Tập đoàn là một tất yếu khách quan Thông thường cơ chế quản lý lợi nhuận của các TĐKT thường được quản lý theo một số hình thức sau:
Hình thức 1: Cơ chế quản lý lợi nhuận tại TĐKT theo hình thức phân tán
Theo hình thức này, lợi nhuận của TĐKT được quản lý theo khả năng của từng thành viên trong Tập đoàn, mô hình này thường được áp dụng cho những TĐKT có mối liên kết lỏng lẻo và là những Tập đoàn kinh doanh đa ngành, song những sản phẩm
mà Tập đoàn sản xuất ra ít có tác động lẫn nhau Vì vậy, các TĐKT hoạt động theo hình thức này chỉ đóng vai trò là người điều tiết chung về nguồn vốn trong Tập đoàn thông qua thị trường tài chính hay thực hiện các mục tiêu phát triển mang tính chiến
lược của các TĐKT
Hình thức 2: Cơ chế quản lý lợi nhuận tại TĐKT theo hình thức tập trung
Trong chiến lược phát triển của mình, các TĐKT đã không ngừng xây dựng cho mình một cơ chế quản lý lợi nhuận mà Tập đoàn có được sau một chu kỳ kinh doanh Việc quản lý lợi nhuận được thực hiện thông qua cơ chế đó có vai trò quan trọng nó tạo tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của Tập đoàn Một số TĐKT đã sử dụng biện pháp quản lý và hạch toán tập trung lợi nhuận, nghĩa là, TĐKT dùng quyền lực của mình tiến hành tổ chức hạch toán tập trung lợi nhuận cho toàn bộ các hoạt động kinh doanh của Tập đoàn sau đó mới thực hiện quá trình phân phối lợi nhuận về các đơn vị thành viên theo tỷ lệ đóng góp của các đơn vị thành viên
Cơ chế quản lý lợi nhuận này thường được áp dụng cho các TĐKT có quy mô hoạt động vừa và nhỏ, các sản phẩm dịch vụ mà các thành viên trong Tập đoàn sản xuất ra có mối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau tức là những sản phẩm đầu ra của đơn vị thành viên này có thể là yếu tố đầu vào của đơn vị thành viên khác trong TĐKT và cuối cùng sẽ là những sản phẩm, dịch vụ chung cho toàn bộ Tập đoàn
Sự liên kết giữa các đơn vị thành viên trong Tập đoàn đã phản ánh đầy đủ mối quan hệ chặt chẽ về lợi ích kinh tế vì sự phát triển chung của Tập đoàn
Trang 39Hình thức 3: Cơ chế quản lý lợi nhuận tại TĐKT theo hình thức hỗn hợp
Trong giai đoạn hiện nay, các TĐKT ngày càng cạnh tranh khốc liệt trong việc
mở rộng và chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, từng bước hình thành các TĐKT đa quốc gia nhằm nâng cao vị thế của Tập đoàn trên thị trường quốc tế Để đạt được điều đó, hiện nay đa số các TĐKT đã xây dựng cho mình những cơ chế quản lý lợi nhuận phù hợp với trình độ và khả năng của Tập đoàn trong từng giai đoạn cụ thể Các Tập đoàn hiện nay đều áp dụng cơ chế quản lý lợi nhuận theo hình thức hỗn hợp, tức là TĐKT vừa quản lý lợi nhuận tập trung vừa phân tán, hình thức quản lý này cho thấy có những thành viên hạch toán độc lập chỉ phụ thuộc một cách tương đối vào sự kiểm soát của Tập đoàn về mối quan hệ lợi nhuận trong quá trình kinh doanh Mặt khác, có những thành viên trong TĐKT có mối quan hệ chặt chẽ với Tập đoàn và chịu
sự kiểm soát của Tập đoàn theo nguyên tắc quản lý và thực hiện việc hạch toán tập trung toàn bộ hay một phần kết quả kinh doanh (lợi nhuận) của mình Bên cạnh đó những đơn vị thành viên trong TĐKT cũng cần phải xây dựng cho mình biện pháp quản lý và hạch toán phần lợi nhuận còn lại của đơn vị mình và thực hiện việc phân phối kết quả đạt được từ phần lợi nhuận đó
Việc phân chia lợi nhuận trong tập đoàn căn cứ vào mức độ sở hữu về vốn của công ty mẹ và các công ty thành viên Việc phân chia lợi nhuận do chủ sở hữu quyết định Đối với các công ty thành viên việc phân phối lợi nhuận cũng tuân thủ căn cứ phân chia theo tỷ lệ góp vốn của các chủ thể tham gia vào công ty (kể cả công ty mẹ cũng là một chủ thể)
* Nguyên tắc phân phối lợi nhuận:
Để đảm bảo cho việc phân phối lợi nhuận có hiệu quả đảm bảo sự phát triển bền vững của tập đoàn trên cơ sở tính đến lợi ích của các doanh nghiệp thành viên, việc phân phối lợi nhuận của TĐKT phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc lợi nhuận thực hiện: theo đó lợi nhuận được dùng để phân phối
phải là lợi nhuận thực tế đã làm ra chứ không dựa vào lợi nhuận kế toán hay lợi nhuận
Trang 40dự tính Điều này để tránh trường hợp gặp phải những rủi ro bất thường trong kinh doanh dẫn đến “thất hứa” hoặc phải lấy vốn để chia lợi nhuận
- Nguyên tắc lợi nhuận ròng: theo đó phần lợi nhuận dùng để chia cho các chủ
sở hữu - các nhà đầu tư góp vốn - là phần lợi nhuận còn lại sau khi đã hoàn thành nghĩa
vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với Nhà nước
- Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán: theo đó trước khi nghĩ đến việc
phân chia lợi nhuận thì phải chắc chắn đảm bảo duy trì khả năng thanh toán nợ đến hạn của Tập đoàn (CTM và doanh nghiệp thành viên) Điều này đòi hỏi nhà quản trị tài chính phải cân đối được dòng tiền vào và dòng tiền ra để duy trì sự lành mạnh về tài chính - đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (nợ phải trả) đến hạn
- Nguyên tắc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể: như chủ nợ, chủ sở hữu,
các đơn vị thành viên, Nhà nước, người lao động… để hạn chế sự xung đột, góp phần tạo động lực cho sự phát triển ổn định và lâu dài
- Nguyên tắc hài hòa lợi ích trước mắt và lâu dài của tập đoàn: việc phân phối
lợi nhuận của TĐKT vừa phải tính đến sự phát triển chung của tập đoàn trong tương lai, vừa phải coi trọng lợi ích của các đơn vị thành viên Điều này đòi hỏi phải dành ra phần lợi nhuận thích đáng cho việc thực hiện các dự án đầu tư của tập đoàn đã được phê duyệt, các chiến lược kinh doanh dài hạn đã vạch ra cho tập đoàn
*Về mô hình phân phối lợi nhuận trong các TĐKT
Nhìn chung lợi nhuận thực hiện hay lợi nhuận trước thuế của tập đoàn được phân phối theo hướng chủ yếu như sau:
Lợi nhuận của các đơn vị trong tập đoàn sau khi thực hiện bù đắp phần bị lỗ của năm trước (nếu có) theo quy định của luật thuế TNDN, trích Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ theo quy định của pháp luật, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, phần lợi nhuận còn lại được phân phối như sau:
- TĐKT hoặc đơn vị trực thuộc quyết định mức lãi chia cho các thành viên góp vốn trên
cơ sở tỷ lệ cổ tức do Hội đồng thành viên (hoặc HĐQT của các đơn vị thành viên) quyết định