Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hoá trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, cùng với đó là thị trường tư vấn xây dựng được mở
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư vấn tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn” là công trình
nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn
là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Hoàng Đình Tiến
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Lời đầu tiên, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Kinh tế và quản lý, trường Đại học Thuỷ Lợi đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng giao thông Lạng Sơn và các đơn vị liên quan đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo, TS Nguyễn Thế Hoà, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học
và đã giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành tốt nhất luận văn này Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Mặc dù bản thân
đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng chí và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, tháng 01 năm 2018
Tác giả
Hoàng Đình Tiến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA CÁC TỔ CHỨC TƯ VẤN XÂY DỰNG 5
1.1 Những vấn đề chung về tư vấn xây dựng 5
1.1.1 Dịch vụ tư vấn xây dựng 6
1.1.2 Năng lực tư vấn xây dựng 8
1.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng
11
1.2 Nội dung cơ bản hình thành năng lực TVXD của các tổ chức tư vấn 12
1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của các tổ chức tư vấn xây dựng 12
1.2.2 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn xây dựng 15
1.2.3 Năng lực chuyên môn 18
1.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ 20
1.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin 20
1.2.6 Năng lực tài chính 20
1.3 Các nhân tổ ảnh hưởng đến năng lực tư vấn 21
1.3.1 Nhân tố khách quan 21
1.3.2 Nhân tố chủ quan 24
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng 27
1.4.1 Yêu cầu về năng lực hành nghề của các tổ chức tư vấn xây dựng 27
1.4.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức tư vấn xây dựng 28
1.5 Cơ sở thực tiễn về năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG GIAO THÔNG LẠNG SƠN 31
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Giao thông Lạng Sơn31 2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 31
Trang 42.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu lao động của Công ty 34
2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây 41
2.2 Phân tích thực trạng năng lực tư vấn của LSTC 49
2.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý 49
2.2.2 Mô hình tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh 51
2.2.3 Về năng lực chuyên môn 53
2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ 56
2.2.5 Về ứng dụng công nghệ thông tin 57
2.3 Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 58
2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ VẤN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XDGT LẠNG SƠN 66
3.1 Định hướng đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông trong thời gian tới 66
3.1.1 Định hướng đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông Việt Nam 66
3.1.2 Định hướng đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông tỉnh Lạng Sơn 68
3.1.3 Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020 tỉnh Lạng Sơn 70
3.2 Sứ mệnh, chiến lược và mục tiêu phát triển của LSTC 70
3.2.1 Sứ mệnh 70
3.2.2 Chiến lược phát triển 70
3.2.3 Mục tiêu phát triển 71
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn tại LSTC 73
3.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực tổ chức quản lý 73
3.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh 78
3.3.3 Giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn 81
3.3.4 Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ 84
3.3.5 Giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin 85
KẾT LUẬN 87
KIẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu chức năng 12
Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến 13
Hình 1.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu hỗn hợp 14
Hình 1.4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu ma trận 14
Hình 1.5: Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa 16
Hình 1.6: Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn 16
Hình 1.7: Mô hình sản xuất theo sơ đồ đầu mối 17
Hình 1.8: Mô hình sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành 18
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của LSTC 34
Hình 2.2: Đường lên Khu du lịch Mẫu Sơn do LSTC thiết kế và giám sát thi công 44
Hình 2.3: Cầu 17/10 thành phố Lạng Sơn 45
Hình 2.4: Đường Hùng Vương, thành phố Lạng Sơn 45
Hình 2.5: Đường vận tải hàng hoá Cửa khẩu Hữu Nghị 46
Hình 2.6: Toà nhà cửa khẩu Hữu Nghị 46
Hình 2.7: Biểu đồ tăng trưởng sản lượng, doanh thu 48
Hình 2.8: Quy trình tạo sản phẩm 50
Hình 2.9: Mô hình tổ chức sản xuất của LSTC 51
Hình 2.10: Biểu đồ Doanh thu thuần về bán hàng và Lợi nhuận từ HĐKD 58
Hình 3.1: Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty 78
Hình 3.2: Mô hình thực hiện dự án đối với các dự án vừa và nhỏ 80 Hình 3.3: Mô hình thực hiện dự án đối với các dự án quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp 81
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-2: Bảng đánh giá của khách hàng đối với các nhà tư vấn 25
Bảng 1-3: Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá hồ sơ sự thầu tư vấn một dự án cụ thể 26
Bảng 2-1: Lĩnh vực hoạt động tư vấn xây dựng của LSTC 33
Bảng 2-2: Trình độ năng lực của HĐQT và Ban Giám đốc 35
Bảng 2-3: Bảng Cơ cấu lao động phân theo trình độ 35
Bảng 2-4: Bảng tổng hợp lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực tư vấn 36
Bảng 2-5: Bảng cơ cấu lao động phân theo độ tuổi 36
Bảng 2-6: Cơ cấu lao động qua các năm 37
Bảng 2-7: Bảng tổng hợp sản lượng, doanh thu 5 năm 2012 - 2016 47
Bảng 2-8: Bảng chi tiết doanh thu 5 năm 47
Bảng 2-9: Bảng tổng hợp kết quả nộp NSNN và chế độ với người lao động 48
Bảng 2-10: Bảng tổng hợp tài sản, lợi nhuận 5 năm 49
Bảng 2-11: Bảng thống kê tỷ lệ dự án chậm tiến độ qua các năm 53
Bảng 2-12: Bảng thống kê Chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng 54
Bảng 2-13: Bảng kê năng lực hoạt động tư vấn xây dựng của LSTC 54
Bảng 2-14: Bảng thống kê kỹ sư chuyên ngành hoạt động tư vấn xây dựng 55
Bảng 2-15: Bảng kê trang thiết bị công nghệ 56
Bảng 2-16: Bảng kê trang bị phần mềm, ứng dụng 57
Bảng 2-17: Bảng tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh 58
Bảng 2-18: Các danh hiệu đã được phong tặng giai đoạn 2012 - 2016 59
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
BCNCKT Báo cáo nghiên cứu khả thi
ĐTXD Đầu tư xây dựng
GSTC Giám sát thi công
GTNT Giao thông nông thôn
GTVT Giao thông vận tải
HC-TC Hành chính - Tổ chức
HĐKD Hoạt động kinh doanh
KHKT Kế hoạch kỹ thuật
KSTK Khảo sát thiết kế
LSTC Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn
NTM Nông thôn mới
TKBVTC Thiết kế bản vẽ thi công
UBND Ủy ban nhân dân
VILAS Hệ thống công nhận phòng thử nghiệm, hiệu chuẩn của Việt Nam
XD Xây dựng
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, công tác tư vấn xây dựng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nó không chỉ là hoạt động mang tính nghề nghiệp mà còn là đòn bẩy mang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao cho xã hội
Ở Việt Nam, hoạt động tư vấn đã được ghi nhận và phổ biến rộng rãi trong những năm trở lại đây Cùng với sự chuyển mình của hoạt động này, các tổ chức tư vấn xây dựng
đã và đang từng bước thay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường Bên cạnh
đó, Nhà nước và các Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt chính sách quy chế quản lý loại hình hoạt động kinh doanh chất xám này và những chính sách đó đã và đang phát huy hiệu lực trong việc quản lý và khai thác hoạt động tư vấn trong toàn quốc
Với lực lượng đông đảo các nhà tư vấn đang hoạt động hết sức năng động trên toàn quốc, lĩnh vực tư vấn xây dựng đang vươn lên phát huy nội lực, từ chỗ chỉ thực hiện khảo sát, thiết kế đến nay đã đảm nhiệm các loại hình hoạt động tư vấn theo thông lệ quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển quá nhanh về số lượng còn nhiều vấn đề nổi cộm về chất lượng công tác tư vấn như: năng lực của các tổ chức tư vấn còn hạn chế,
ưu thế cạnh tranh của tư vấn trong nước đối với các công ty nước ngoài còn kém, cạnh tranh gay gắt và thiếu lành mạnh giữa các tổ chức tư vấn, việc quản lý và các cơ chế chính sách đối với các tổ chức tư vấn còn nhiều vấn đề bất cập Điều này đòi hỏi các tổ chức tư vấn cần phải nhìn nhận, đánh giá, nắm bắt mọi diễn biến của hoạt động kinh doanh để tự đổi mới từ các khâu tổ chức, quản lý đến củng cố lại đội ngũ cán bộ, dần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tư vấn
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hoá trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, cùng với đó là thị trường tư vấn xây dựng được mở rộng, các nhà thầu tư vấn trong nước, với năng lực và chuyên môn
kỹ thuật cao, tham gia ngày càng nhiều các dự án trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, các đơn
vị tư vấn trên địa bàn tỉnh sẽ tận dụng được uy tín và kỹ thuật của họ để vươn lên, học tập được kỹ năng quản lý toàn diện một dự án, nâng cao được kiến thức công nghệ Tuy nhiên, việc các nhà thầu trong nước tham gia nhiều đồng nghĩa với việc các công
Trang 10ty trên địa bàn tỉnh sẽ bị cạnh tranh quyết liệt hơn cả trong đấu thầu do khả năng, trình
độ, vốn liếng của các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế
Đối với một số dự án lớn, trọng điểm như Dự án Cầu 17/10, Cầu Kỳ Cùng, nâng cấp
QL 1A, đường Cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn…, các đơn vị tư vấn lớn trong nước tham gia với vai trò nhà thầu chính, tư vấn trên địa bàn tỉnh thường đóng vai trò thầu phụ Các nhà thầu chính chỉ dành cơ hội cho nhà thầu phụ trong nước những phần việc nhỏ nhoi, với chi phí thấp hơn nhiều so với họ Thách thức, cơ hội và áp lực đan xen đòi hỏi bản lĩnh và sự phấn đấu của chính lực lượng tư vấn xây dựng địa phương có bước đi thích hợp, khai thác thế lợi, hạn chế tiêu cực, từng bước, bắt kịp với trình độ quốc tế, tiến tới vươn ra bên ngoài ngày càng lớn
Trong điều kiện như vậy, việc đưa ra những tiêu chí, biện pháp và lịch trình cho các doanh nghiệp tư vấn nói chung và Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn nói riêng trên con đường hội nhập là một nhu cầu bức thiết cả trước mắt và lâu dài, nhất là xét đến bối cảnh hiện nay khi nhu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật ngày càng lớn
Hiện nay, chất lượng sản phẩm tư vấn của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn đã từng bước được nâng lên, cơ bản đáp ứng được với yêu cầu của khác hàng, song do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và yêu cầu về chất lượng sản phẩm tư vấn ngày càng cao, thì kết quả Công ty đạt được còn khiêm tốn Trong môi trường cạnh tranh và phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, để có thể tồn tại và phát triển vững mạnh thì còn rất nhiều vấn đề về năng lực tư vấn mà Công ty
phải điều chỉnh hoặc thay đổi Do đó tác giả chọn vấn đề: “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư vấn của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn” làm đề tài luận văn nhằm giải quyết phần nào nhu cầu thực tiễn của Công
ty càng ngày càng trở nên cấp bách
2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm nâng cao năng lực tư vấn của Công ty cổ phần
tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn (LSTC) trong thời gian tới
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trang 11Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau:
- Các văn bản về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế
- Các văn bản pháp quy về quản lý đầu tư xây dựng và đấu thầu
- Các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề tư vấn
- Các số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn (LSTC) trong thời gian qua
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh;
- Phương pháp khảo sát điều tra thu thập số liệu;
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Qua tham khảo xin ý kiến của các thầy
cô trong Trường và một số chuyên gia có kinh nghiệm chuyên môn tại địa phương
- Và một số các phương pháp kết hợp khác
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tương nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu nghiên cứu là năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng
Trang 126 Kết quả dự kiến đạt được
- Thứ nhất: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về tư vấn, năng lực tư vấn của các
nhà doanh nghiệp tư vấn xây dựng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
- Thứ hai: Khảo sát và phân tích đánh giá có hệ thống thực trạng năng lực tư vấn xây
dựng của các tổ chức tư vấn xây dựng ở Việt Nam nói chung và Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2016
- Thứ ba: Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực tư vấn
của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn
7 Nội dung của luận văn
Tên đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tư vấn tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn“
Kết cấu của Luận văn ngoài Phần mở đầu, kết luận và kiến nghị còn có 3 chương nội
dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tư vấn tại Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA CÁC TỔ CHỨC TƯ VẤN XÂY DỰNG
1.1 Những vấn đề chung về tư vấn xây dựng
Trong lịch sử, nghề tư vấn công trình có lẽ phát triển nhất tại các nước có nền văn hoá Anglo-Saxon; Tại đó các cơ quan chính quyền thường thuê tư vấn để giải quyết các vấn đề kỹ thuật Ở một số nước khác như Pháp, Đức… các cơ quan nhà nước lại có khuynh hướng tăng cường năng lực nhân viên của mình để thực hiện các công việc như vậy Tại Hà Lan, người ta dung hoà cả hai, một là tăng cường sự phát triển tư vấn đồng thời các cơ quan chính quền tăng cường năng lực nhân viên của họ
Khởi đầu, hoạt động tư vấn do các nhà tư vấn tự do (individual) với sự giúp đỡ của vài nhân viên Nhà tư vấn tự duy trì mối quan hệ với khách hàng, hoạt động và chịu trách nhiệm cá nhân với những công việc tư vấn Khi nhu cầu khách hàng tăng lên các nhà
tư vấn như vậy nhóm lại với nhau thành các công ty tư vấn ở các lĩnh vực khác nhau Các hiệp hội tư vấn được thiết lập ở nhiều quốc gia nhằm bảo vệ cho các nhà tư vấn chuyên nghiệp Các hiệp hội đề cao tiêu chuẩn đạo đức tư vấn trong khi áp dụng các tiêu chuẩn gia nhập Trong lịch sử ở một số hiệp hội quốc gia ban đầu chỉ có các nhà
tư vấn tự do tham gia chứ không phải là các hãng tư vấn Bắt buộc các nhà tư vấn tham gia không thuộc tổ hợp các công ty mà trong đó bao gồm cả nhà thầu xây dựng hoặc nhà cung cấp, sản xuất Ngày nay, tham gia các hiệp hội không chỉ có các nhà tư vấn tự do mà còn có các công ty tư vấn, các công ty có thể thuộc tập đoàn trong đó có nhà sản xuất hoặc cung cấp Dẫu sao mục đích của hiệp hội vẫn là đề cao chuẩn mực trung thực và khách quan trong nghề tư vấn Các nhà cung cấp tài chính như WB, ADB luôn yêu cầu tính độc lập của tư vấn
Tư vấn xây dựng (TVXD) có thể là cá nhân (Individual consultants) nếu yêu cầu của khách hàng chỉ nhằm giải quyết vấn đề cụ thể mà chỉ cần một chuyên gia Trong trường hợp này thoả thuận khá đơn giản Nếu chuyên gia đó thuộc công ty tư vấn thì khó khăn hơn và giá cũng phải cao hơn do phải chi phí cho công ty và công ty có trách nhiệm thay thế chuyên gia trong trường hợp cần thiết Một nhóm kỹ sư tư vấn tự do có thể được thuê để giải quyết một vấn đề Khi cần một đội tư vấn tổng hợp để thực hiện
Trang 14nhiệm vụ cụ thể trong thời gian nhất định thì việc thuê công ty tư vấn là tốt nhất Công
ty có trách nhiệm bố trí nhân sự, có trách nhiệm cao nhất và lâu dài đối với khách hàng
Thông thường các khách hàng thuê tư vấn hành động như là cố vấn kỹ thuật, lập các
hồ sơ thiết kế, các tiêu chuẩn kỹ thuật, đấu thầu, giám sát xây dựng, quản lý dự án… Trong một số trường hợp đặc biệt kỹ sư tư vấn còn thay mặt khách hàng thương thảo với nhà thầu hoặc nhà cung cấp Khi lựa chọn nhà tư vấn, khách hàng thường quan tâm đến tình hình tài chính, năng lực chuyên môn (các chuyên gia chính), kinh nghiệm
dự án, quốc gia tương tự…
Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cầu
Tư vấn xây dựng là một loại hình tư vấn đa dạng trong công nghiệp xây dựng, kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn có quan hệ chặt chẽ với tư vấn đầu tư, thực hiện phần việc tư vấn tiếp nối sau việc của tư vấn đầu tư
Tư vấn xây dựng còn có thể được hiểu là các kiến trúc sư, kỹ sư, v.v , những chuyên gia xây dựng có kỹ năng đa dạng, cung cấp các dịch vụ thiết kế, quản lý cho một dự án xây dựng thông qua các hợp đồng kinh tế Cách hiểu này phản ánh bản chất đa dạng của hoạt động tư vấn xây dựng, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, trong mọi giai đoạn của dự án và đòi hỏi không những khả năng về kỹ thuật, quản lý, mà còn phụ thuộc
Trang 15một cách quyết định vào sự hiểu biết và những kỹ năng khác, bao gồm "cập nhật",
"phát hiện", "sáng tác", lựa chọn", "chuyển giao"
Kỹ sư tư vấn xây dựng là người có đủ trình độ, chuyên môn để thực hiện công tác tư vấn xây dựng Ở Việt Nam, để được hành nghề Kỹ sư tư vấn xây dựng cần phải có chứng chỉ hành nghề, phải có tối thiểu 3 năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và số lượng công trình đã tham gia phải đủ lớn theo yêu cầu của từng dự án
Tổ chức tư vấn xây dựng là những đơn vị chuyên ngành, hoạt động độc lập về mặt
pháp lý và phục vụ khách hàng theo hợp đồng tư vấn về các hoạt động đầu tư xây dựng
Các loại hình dịch vụ tư vấn xây dựng
1.1.1.2
Theo Luật Xây dựng năm 2014, Hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng gồm:
- Tư vấn lập quy hoạch xây dựng;
- Tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Tư vấn khảo sát xây dựng;
- Tư vấn thiết kế xây dựng, thẩm tra thiết kế xây dựng;
- Tư vấn thí nghiệm, kiểm định chất lượng công trình xây dựng;
- Tư vấn quản lý dự án,
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng;
- Tư vấn lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu;
- Và công việc tư vấn khác có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng
Vai trò của tư vấn xây dựng
1.1.1.3
Tư vấn xây dựng là sản phẩm của sự phát triển của nền kinh tế thị trường Sự cần thiết của hoạt động tư vấn xây dựng xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan: Chủ đầu tư cần đầu tư xây dựng công trình rất ít khi có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện hoặc
kiểm tra, giám sát các hoạt động cần thiết để tạo nên công trình như mong muốn Thậm chí, chủ đầu tư đôi khi không định hình được một cách chính xác, cụ thể công trình muốn xây dựng, vừa thỏa mãn nhu cầu sử dụng, vừa phù hợp với khả năng tài chính trong khoảng thời gian cho phép Chính vì thế nảy sinh nhu cầu cần có những chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực xây dựng … Ngành xây dựng càng phát triển, các
Trang 16công trình ngày càng đa dạng, phức tạp thì vai trò của nhà tư vấn xây dựng càng trở nên quan trọng
Với kiến thức, kinh nghiệm thực tế và vị trí độc lập của mình, các nhà tư vấn xây dựng đóng vai trò là cố vấn, là các chuyên gia, là người hướng dẫn, là xúc tác, là đạo diễn cho các hoạt động xây dựng Các nhà tư vấn xây dựng thực hiện chức năng tham mưu, đôn đốc giúp cho Chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng một cách hiệu quả nhất
Tư vấn xây dựng có vai trò tích cực trên phạm vi toàn nền kinh tế, là cấu nối giữa các chủ đầu tư và nhà thầu, từ giai đoạn chuẩn bị dự án, khảo sát, thiết kế, quản lý dự án,
giám sát tiến độ thực hiện, đảm bảo chất lượng, khối lượng, giá thành công trình Trong đó bao gồm cả tư vấn mua sắm vật tư, thiết bị, nghiệm thu, bảo hành sử dụng công trình Các hoạt động này nhằm hướng tới:
- Đáp ứng mong muốn của khách hàng có công trình đẹp, an toàn, bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong quá trình sử dụng
- Công trình được xây dựng với chi phí thấp nhất
- Công trình thân thiện với môi trường
Sự phát triển của công nghệ mới, tiên tiến của ngành xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước hiện nay đang là một đòi hỏi lớn của tư vấn xây dựng Vì vậy
tư vấn xây dựng phải nắm vững, tìm được công nghệ mới, tiên tiến phù hợp với mặt tự nhiên, môi trường xã hội nhưng vẫn đảm bảo tính kinh tế kỹ thuật theo yêu cầu của chủ đầu tư, trước mắt cũng như lâu dài
Như vậy, chúng ta thấy vai trò của tư vấn xây dựng là cực kỳ quan trọng và cần thiết Làm tốt công tác này sẽ góp phần tạo ra sản phẩm xây dựng đạt chất lượng cao, góp phần đảm bảo mục tiêu của Dự án đầu tư xây dựng
1.1.2 N ăng lực tư vấn xây dựng
Năng lực là tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm một tổ chức, cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc
Trang 17Năng lực của một tổ chức bao gồm các nhóm năng lực chính như sau:
- Nhóm năng lực quản lý / lãnh đạo: là các yêu cầu đối với các công việc có tính chất quản lý bao gồm hoạch địch, tổ chức, điều phối nguồn lực (ngân sách, con người…)
và thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá công việc Tùy theo tính chất phức tạp, mức
độ và phạm vi quản lý mà mỗi chức danh có những yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực quản lý khác nhau
- Nhóm năng lực chuyên môn: là các kiến thức, kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn
cụ thể cần để hoàn thành một công việc, mang tính đặc thù cho vị trí công việc hoặc bộ phận mà cá nhân cần có để có thể đảm nhận vị trí công việc đó
- Nhóm năng lực về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ: là các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, máy móc và công nghệ sử dụng trong quá trình sản xuất, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin
Năng lực tư vấn xây dựng phản ánh khả năng, quy mô, phạm vi của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng
Năng lực tư vấn của các tổ chức TVXD được thể hiện qua năng lực tổ chức quản lý,
mô hình SXKD, năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất chông nghệ của tổ chức Ngoài ra, năng lực tư vấn của các tổ chức TVXD còn được thể hiện qua kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, uy tín của tổ chức đối với các chủ đầu tư
Theo pháp luật về xây dựng Việt Nam, năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng được quy định tại Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của
Bộ Xây dựng hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng Theo đó:
- Điều kiện đối với tổ chức:
+ Có giấy đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
+ Nội dung đăng ký cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng phải phù hợp với nội dung đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Trang 18+ Những cá nhân đảm nhận chức danh chủ chốt phải có hợp đồng lao động với tổ chức
đề nghị cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng
+ Đối với các dự án, công trình có tính chất đặc thù như: Nhà máy điện hạt nhân, nhà máy sản xuất hóa chất độc hại, sản xuất vật liệu nổ, những cá nhân đảm nhận chức danh chủ chốt thì ngoài yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề tương ứng với loại công việc thực hiện còn phải được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực đặc thù của
dự án
+ Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức có hiệu lực tối đa trong thời hạn
5 (năm) năm Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày có thay đổi, hết hiệu lực thì phải làm thủ tục cấp lại
- Điều kiện đối với cá nhân: Cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng khi đáp ứng các điều kiện sau:
+ Có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; có giấy phép cư trú tại Việt Nam đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
+ Có trình độ chuyên môn được đào tạo, thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề như sau: (1) Hạng I: Có trình
độ đại học thuộc chuyên ngành phù hợp, có thời gian kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 7 (bảy) năm trở lên; (2) Hạng II: Có trình độ đại học thuộc chuyên ngành phù hợp, có thời gian kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 5 (năm) năm trở lên; (3) Hạng III: Có trình độ chuyên môn phù hợp, có thời gian kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề từ 3 (ba) năm trở lên đối với cá nhân có trình độ đại học; từ 5 (năm) năm trở lên đối với cá nhân
có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp
+ Đạt yêu cầu sát hạch về kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức pháp luật liên quan đến lĩnh vực hành nghề
Trang 191.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng
Hiện nay thị trường đầu tư xây dựng trong nước có giảm hơn so với những năm trước đây, đặc biệt là đối với các dự án có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, từ đó hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng cũng thu hẹp lại, trong khi các doanh nghiệp tư vấn xây dựng vẫn có xu hướng phát triển về số lượng, đồng thời sự quản lý của Nhà nước về hoạt động tư vấn xây dựng ngày càng chặt chẽ hơn, do đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng, cơ hội để các doanh nghiệp tư vấn xây dựng trong nước tiếp cận với các dự án có vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước rất khó khăn
Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp cận các dự án vốn vay, làm việc với tư vấn nước ngòai, ngày nay khách hàng đã có những đòi hỏi ở mức quốc tế đối với các dịch vụ tư vấn được cung cấp bởi tư vấn trong nước mà đôi khi không cần quan tâm chi phí tư vấn vẫn còn ở mức rất thấp Tuy đó là một nghịch lý nhưng những đòi hỏi của khách hàng về chất lượng tư vấn vẫn là chính đáng Tuy nhiên năng lực cán bộ còn nhiều bất cập Trong khi tư vấn giải quyết các bài tóan kỹ thuật tương đối tốt thì họ ít được đào
tạo về quản lý xây dựng, không thông thạo lắm về chính vai trò của tư vấn, nhầm lẫn
về trách nhiệm của mình trong từng dự án cụ thể
Tự bản thân các công ty tư vấn, kỹ sư tư vấn đã và đang nhận ra rằng chất lượng dịch
vụ tư vấn của mình chưa đáp ứng yêu cầu của hiện tại và tương lai rất gần
Do tiếp cận các dự án vốn vay, làm việc với tư vấn nước ngòai, ngày nay khách hàng
đã có những đòi hỏi ở mức quốc tế đối với các dịch vụ tư vấn được cung cấp bởi tư vấn trong nước mà đôi khi không cần quan tâm chi phí tư vấn vẫn còn ở mức rất thấp Tuy đó là một nghịch lý nhưng những đòi hỏi của khách hàng về chất lượng tư vấn vẫn là chính đáng Ngoài dịch vụ khảo sát và thiết kế đã được các công ty tư vấn thực hiện khá tốt, các công ty tư vấn đang cố gắng cung cấp các dịch vụ khác như quản lý
dự án, tư vấn đấu thầu, giám sát xây dựng… Tuy nhiên năng lực cán bộ còn nhiều bất cập Trong khi tư vấn giải quyết các bài toán kỹ thuật tương đối tốt thì họ ít được đào tạo về quản lý xây dựng, không thông thạo lắm về chính vai trò của tư vấn, nhầm lẫn
về trách nhiệm của mình trong từng dự án cụ thể
Trang 20Trong những năm gần đây, chất lượng dịch vụ tư vấn xuất hiện nhiều vấn đề, không chỉ riêng tiến độ thực hiện chậm mà còn có những sai sót phải điều chỉnh thiết kế trong quá trình thi công Những sai sót trong thiết kế cũng không tránh được do công tác kiểm soát chất lượng sản phẩm còn nhiều bất cập, trình độ chuyên gia còn chưa đáp ứng Tuy nhiên, cũng cần nêu ra rằng các khách hàng (nhà nước) do không chủ động được kế họach vốn mà khi được phép thuê tư vấn thì lại muốn hoàn thành công việc trong thời gian quá ngắn Những điều chỉnh thiết kế trong quá trình thi công là điều bình thường (kể cả tư vấn nước ngoài) nhưng khách hàng cũng xem đó như là những sai sót yếu kém của tư vấn
Như vậy nếu năng lực tư vấn không được tăng cường, chúng ta không những bỏ mất
cơ hội thực hiện những dự án ODA mà ngay cả các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trong nước nhiều công ty, kỹ sư tư vấn cũng không đáp ứng được
1.2 Nội dung cơ bản hình thành năng lực TVXD của các tổ chức tư vấn
1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của các tổ chức tư vấn xây dựng
Cơ cấu tổ chức quản lý chức năng
1.2.1.1
Là kiểu cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng với những nhiệm vụ quản lý được phân chia cho các đơn vị riêng biệt thực hiện dưới dạng các phòng chức năng, hình thành nên các phân hệ chuyên môn hóa và những người lãnh đạo chức năng Lãnh đạo cao nhất của tổ chức làm nhiệm vụ phối hợp điều hòa các chức năng
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu chức năng
Trang 21Cơ cấu trực tuyến
1.2.1.2
Là dạng cơ cấu tổ chức quản lý chỉ có một cấp trên chỉ huy và một số cấp dưới thực hiện Đặc điểm cơ bản của cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến là người lãnh đạo tổ chức thực hiện tất cả các chức năng quản trị, các mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức được thực hiện theo đường thẳng, người thừa hành mệnh lệnh chỉ làm theo mệnh lệnh của một cấp trên trực tiếp Với những đặc điểm đó, cơ cấu này tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn
về kết quả công việc của người dưới quyền
Hình 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến
Lãnh đạo tổ chức Lãnh đạo tuyến 1
Trang 22Cơ cấu tổ chức quản lý hỗn hợp
1.2.1.3
Để khắc phục các nhược điểm của các cơ cấu trực tuyến và chức năng, hiện nay kiểu
cơ cấu hỗn hợp (trực tuyến - chức năng) được áp dụng rộng rãi và phổ biến cho mọi doanh nghiệp
Trong đó các nhiệm vụ quản lý giao cho những đơn vị chức năng riêng biệt (các phòng chức năng) làm tham mưu tư vấn cho lãnh đạo cao nhất của tổ chức Đặc điểm của cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu kết hợp là lãnh đạo các phòng chức năng tư vấn, chuẩn
bị các quyết định quản lý và đưa tới cấp thực hiện (các văn phòng, xưởng, xí nghiệp trực thuộc công ty) theo chỉ đạo của lãnh đạo Công ty Việc điều hành quản lý vẫn theo trực tuyến
Hình 1.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức kiểu hỗn hợp
Cơ cấu tổ chức quản lý ma trận
1.2.1.4
Đặc điểm của cơ cấu này là ngoài những người lãnh đạo theo tuyến và các bộ phận chức năng, còn có những người lãnh đạo đề án hay sản phẩm, phối hợp hoạt động của các bộ phận thực hiện một dự án nào đó
Lãnh đạo
tổ chức
F: Các phòng chức năng; O: Các dự án
Trang 23Trong cơ cấu này mỗi nhân viên (hoặc bộ phận của bộ phận trực tuyến) được gắn với việc thực hiện một đự án hoặc một sản phẩm nhất định Đồng thời mỗi một nhân viên của bộ phận chức năng cũng được gắn với một đự án hoặc sản phẩm nhất định
Sau khi hoàn thành đự án, những nhân viên trong các bộ phận thực hiện đề án hay sản
phẩm không chịu sự lãnh đạo của người lãnh đạo theo đự án ấy nữa, mà trở về đơn vị trực tuyến hay chức năng cũ của mình
Ưu điểm của cơ cấu ma trận: có tính năng động cao; dễ dàng chuyển các nhân viên từ việc thực hiện một dự án này sang việc thực hiện một dự án khác; sử dụng nhân viên
có hiệu quả hơn
Nhược điểm kiểu cơ cấu này là nó thường chỉ áp dụng để thực hiện các mục tiêu ngắn hạn và trung hạn
1.2.2 Mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm tư vấn xây dựng
Một trong những khâu quan trọng nhất của đơn vị tư vấn là việc tổ chức dây chuyền sản xuất các sản phẩm tư vấn Qua việc xem xét đã cho thấy mỗi một tổ chức tư vấn có một cách thức tổ chức sản xuất riêng, tuy cơ cấu tổ chức có khác nhau về số lượng các đơn vị chuyên môn và các phòng nghiệp vụ nhưng tựu trung lại được quy về năm mô hình cơ bản sau đây:
1.2.2.1
Phạm vi áp dụng loại mô hình này được áp dụng ở một số Công ty tư vấn lớn Cơ cấu
tổ chức sản xuất này cho thấy những ưu điểm và nhược điểm sau:
+ Ưu điểm: Đây là mô hình có tính hiện đại, được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến, mang tính chuyên môn hóa theo các bộ môn; Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, hội nhập với tư vấn nước ngoài; Tập trung nguồn lực, chuyên gia giỏi để thực thi cùng một lúc nhiều dự án và những dự án lớn để đáp ứng yêu cầu tiến độ của khách hàng; Tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học hỏi, trao đổi chuyên môn, đào tạo cán bộ trẻ cho các bộ môn kỹ thuật; Thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị có cùng chuyên ngành Tích lũy lớn, lợi nhuận cao, tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp
Trang 24+ Nhược điểm: Đơn vị Chủ trì đồ án và Chủ nhiệm đồ án khó điều hành trực tiếp công việc mà phải qua các đơn vị bộ môn chuyên ngành, do vậy tăng thêm đầu mối xử
lý công việc, kéo dài thời gian thực hiện; Việc trao đổi thông tin để phối hợp giữa các Chủ trì thiết kế với Chủ nhiệm đồ án và giữa các Chủ trì thiết kế với nhau chưa được kịp thời; Việc hình thành các đơn vị chuyên ngành, làm tăng đầu mối quản lý và tăng chi phí hành chính
1.2.2.2
Phạm vi áp dụng: mô hình sản xuất này cũng được áp dụng ở đa số các tổ chức tư vấn (các công ty, tổng công ty và doanh nghiệp tư nhân)
Hình 1.5: Mô hình sản xuất theo chuyên môn hóa
Hình 1.6: Mô hình sản xuất theo hình thức tổng hợp các bộ môn
Trang 25+ Ưu điểm: Chu trình sản xuất được khép kín, đơn vị Chủ trì đồ án và Chủ nhiệm đồ
án hoàn toàn có thể chủ động, trực tiếp tổ chức triển khai công việc Việc trao đổi thông tin giữa các bộ môn diễn ra nhanh chóng, kịp thời Tiến độ thực hiện dự án được rút ngắn đáng kể Hồ sơ thiết kế kiểm soát tốt và dễ dàng được điều chỉnh khi có yêu cầu; Tiết kiệm chi phí hành chính nhờ giảm bớt đầu mối Việc thanh toán lương sản phẩm được nhanh chóng do quy về một đơn vị chủ trì
+ Nhược điểm: Lực lượng cán bộ chuyên ngành bị dàn mỏng ra các bộ phận nên khó đáp ứng được các yêu cầu của những dự án lớn; Hạn chế việc trao đổi học hỏi kinh nghiệm chuyên môn của các bộ môn ngay trong quá trình thiết kế
1.2.2.3
Mô hình này khắc phục những hạn chế đã nêu ở hai mô hình nói trên Các đơn vị thiết
kế tổng hợp có nhiệm vụ thực hiện các dự án vừa và nhỏ (mà tỷ trọng loại này chiếm
từ 50 - 70% khối lượng công việc) để đáp ứng yêu cầu của đại đa số các chủ đầu tư Với những dự án lớn có yêu cầu kỹ, mỹ thuật cao thì sử dụng các đơn vị chuyên ngành
để thực hiện Tùy điều kiện cụ thể của từng nơi mà quy mô nhân lực của các đơn vị chuyên ngành nhiều ít khác nhau Phạm vi áp dụng thích hợp với các công ty lớn
1.2.2.4
Hình 1.7: Mô hình sản xuất theo sơ đồ đầu mối Phạm vi áp dụng dạng mô hình này thường áp dụng ở các Công ty tư vấn trực thuộc các Hội nghề nghiệp Mô hình này có đặc điểm: Bộ máy quản lý gọn nhẹ, chi phí hành chính nhỏ; Việc tư vấn do các cộng tác viên khai thác được mang danh nghĩa Công ty
để triển khai thực hiện Lực lượng kỹ thuật kiểm hồ sơ phần lớn do các chuyên gia có
uy tín bên ngoài Công ty đảm nhận
GIÁM ĐỐC Kiểm soát
chất lượng Các cộng tác viên
Kiểm soát hợp đồng Văn phòng
tư vấn trực thuộc
Trang 26Mô hình tổ chức sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành
1.2.2.5
Hình 1.8: Mô hình sản xuất theo sơ đồ một chuyên ngành Phạm vi áp dụng mô hình này thích hợp với dạng văn phòng kiến trúc, công ty tư nhân Mô hình này có các đặc điểm: Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, chỉ có một tổ chức nhỏ làm đầu mối công việc giao dịch và chịu trách nhiệm pháp nhân, từ đó thuê lại các cá nhân bên ngoài để thực hiện công việc
1.2.3 Năng lực chuyên môn
Trình độ chuyên môn, kỹ năng, và kinh nghiệm là những yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá năng lực nhà tư vấn Chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn phụ thuộc vào chính những yếu tố này Những nội dung chủ yếu đánh giá năng lực chuyên môn bao gồm: Khả năng thực hiện các loại hình dịch vụ tư vấn, khả năng nắm vững dây chuyền công nghệ, ứng dụng công nghệ và vật liệu mới, trình độ và kinh nghiệm của nhà tư vấn, nắm bắt thông lệ quốc tế và trình độ ngoại ngữ
Trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm là những yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá năng lực của nhà tư vấn Chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn phụ thuộc vào chính những yếu tố này Nhìn từ góc độ bằng cấp, hiện nay trình độ chuyên môn của
tư vấn xây dựng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là tương đối cao Tỷ lệ trung bình nhân viên kỹ thuật có trình độ đại học là trên 70%
Các kiến trúc sư, kỹ sư ở độ tuổi 23-40 tuổi chiếm trên 60% tổng số lượng tư vấn Cán
bộ tư vấn ở độ tuổi 51-60 chiếm 16% và nhiều cán bộ tư vấn ở độ tuổi này là những người có năng lực và kinh nghiệm
Qua những nội dung đã trình bày trên, có thể đi đến nhận xét về mặt năng lực tư vấn xây dựng của các tổ chức tư vấn xây dựng như sau:
GIÁM ĐỐC
Bộ phận
Thiết kế Kế toán, hợp đồng Bộ phận Chuyên gia, công tác viên kỹ thuật
Trang 27+ Tư vấn xây dựng đã phát triển và bao quát toàn bộ loại hình công việc trong các giai đoạn của dự án Công tác nghiên cứu chuyển giao công nghệ vẫn bị coi là thứ yếu và chưa được quan tâm thích đáng
+ Các tổ chức tư vấn đã xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng của mình với những mức độ khác nhau: 86% tổ chức tư vấn có một bộ phận riêng biệt (như Phòng
kỹ thuật) để kiểm tra quản lý đánh giá chất lượng (chủ yếu ở các tổ chức tư vấn vừa và nhỏ); 14% tổ chức tư vấn phân cấp ủy quyền quản lý chất lượng cho cán bộ quản lý chất lượng cấp dưới hay các Chủ nhiệm kết hợp với cá nhân lãnh đạo được phân công cùng chịu trách nhiệm
+ Các doanh nghiệp tư vấn xây dựng vừa và nhỏ hiện nay cơ bản đúng là “nhỏ”, phần lớn nhân sự mỗi doanh nghiệp khoảng 10 -15 người, trong đó “chuyên gia” trong khoảng trên dưới 10 người, hầu như chuyên gia trong các doanh nghiệp này là cộng tác viên (một người cộng tác cùng lúc nhiều doanh nghiệp), các chuyên gia có kinh nghiệm và kỹ năng không nhiều (do dòng chảy nhân sự trong cơ chế thị trường), tiếp cận công việc theo hình thức truyền nhau nên không cơ bản và thụ động Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 04/61 đơn vị tư vấn là có số lượng kỹ sư đủ điều kiện hành nghề trên 20 người, các doanh nghiệp này đều là những doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá, còn lại 57/61 đơn vị tư vấn là các doanh nghiệp mới thành lập, hoặc các chi nhánh hoạt động trên địa bàn, với số lượng nhân sự khoảng 15 - 25 người, số lượng kỹ
sư đủ điều kiện hành nghề dưới 10 người, thậm chí dưới 5 người
Phần lớn các doanh nghiệp chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là với các
dự án có quy mô và tính chất yêu cầu kỹ thuật cao, chủ yếu tham gia vào các dự án lập báo cáo kinh tế kỹ thuật ĐTXD các công trình cấp IV, rất ít doanh nghiệp đã tham gia các dự án cấp II và III
Phân cấp công trình xây dựng được quy định tại Thông tư số 03/2016/TT-BXD, ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng
+ Ngoài một số ít các doanh nghiệp Tư vấn lớn có truyền thống, bề dày kinh nghiệm, còn lại là các doanh nghiệp Tư vấn nhỏ lẻ mới hình thành trong những năm gần đây,
Trang 28còn yếu về năng lực Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc
đề xuất các chủ trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp
kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của công việc
mà hình thành, chưa có những định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động tư vấn
1.2.4 C ơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ
Cơ sở vật chất và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức tư vấn xây dựng Bên cạnh yếu tố về chuyên môn thì yếu tố về công nghệ cũng rất quan trọng trong hoạt động của các tổ chức tư vấn xây dựng, nó thể hiện sự năng động, nhạy bén nắm bắt được các công nghệ mới, hiện đại ứng dụng vào sản xuất, đặc biệt trọng giai đoạn hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển rất nhanh
1.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin đã đem lại nhiều hiệu quả to lớn trong công tác nghiên cứu, tư vấn, thiết kế Với sự trợ giúp của máy tính, tốc độ thực hiện các dự án được tăng lên, tính toán được chuẩn hơn, mức độ tự động hóa cao hơn và trình bày thể hiện cũng đẹp hơn
Do khả năng tích lũy của các tổ chức tư vấn xây dựng còn thấp nên việc đầu tư cho xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất hạn chế và bị động Các phần mềm đa phần không có bản quyền Số lượng các tổ chức tư vấn có mạng nội bộ
và xây dựng được websitte chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 30%)
Trang 29Mặt khác, đối với các tổ chức tư vấn xây dựng, năng lực về chuyên môn (con người) là chủ yếu, mang tính chất quyết định, năng lực về tài chính có ảnh hưởng đến năng lực chung của tổ chức nhưng không đáng kể, vì khi thực hiện các dịch vụ tư vấn xây dựng, các chi phí về nguyên vật liệu, máy móc là không đáng kể, chủ yếu là trả lương
1.3 Các nhân tổ ảnh hưởng đến năng lực tư vấn
Luật pháp tác động điều chỉnh trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế Mỗi thị trường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Luật pháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính phủ, các hiệp định kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tới sự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia Sự khác biệt này có thể sẽ làm tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách
kế hoạch chiến lược phát triển, loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường
Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định một môi trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế Khuyến khích phát triển, tham gia khả năng cạnh tranh
Yếu tố kinh tế
1.3.1.2
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, một nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo đà
Trang 30cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lên đồng nghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc dộ tích luỹ vốn đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên , mức độ hấp dẫn đầu tư và ngoài cũng sẽ tăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt
Yếu tố kỹ thuật, công nghệ
1.3.1.3
Khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán bất kỳ một sản phẩm nào được sản xuất ra cũng đều phải gắn với một công nghệ nhất định Công nghệ sản xuất đó sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chi phí cá biệt của từng doanh nghiệp từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp
Khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp các doanh nghiệp xử lý thông tin một cách chính xác và có hiệu quả nhất trong thời đại hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền phát thông tin một cách chính xác, đầy đú nhanh chóng hiệu quả về thị trường và đối thủ cạnh tranh Bên cạnh đó, khó học công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như thị trường doanh nghiệp nói riêng Vì vậy, có thể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng
1.3.1.4
Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh vị trí địa lý thuận lợi ở trung tâm công nghiệp hay gần nhất nguồn nguyên liệu, nhân lực trình độ cao, lành nghề hay các trục đường giao thông quan trọng sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển, giảm được chi phí Các vấn đề ô nhiểm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên Cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến cho xã hội cũng như các doanh nghiệp phải thay đôỉ quyết định và các biên pháp hoạt động liên quan
Yếu tố khách hàng
1.3.1.5
Khách hàng của doanh nghiệp tư vấn xây dựng là các chủ đầu tư
Trang 31Các chủ đầu tư là những cá nhân, tổ chức có nhu cầu xây dựng công trình họ sẽ quyết định doanh nghiệp nào sẽ xây dựng công trình theo thiết kế xác định khi tham gia thị trường thì các chủ đầu tư đều liên hệ, giao tiếp với chủ thầu xây dựng thông qua các hình thức đấu thầu, ký kết hợp đồng và thanh toán bàn giao công trình đã hoàn thành
Họ đều mong muốn các công trình của họ phải đạt được các yêu cầu về chất lượng, giá
cả, kết cấu công trình
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường xây dựng, đấu thầu và thắng thầu là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiêp xây dựng, để thắng thầu trong đấu thầu đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải có chiến lược đấu thầu đúng, trong đó các giải pháp công nghệ và giá dự thầu hợp lý giữ vai trò quan trọng Do vậy, đấu thầu xây dựng và thương thảo hợp đồng xây dựng có thể được xem là những hoạt động marketing quan trọng của doanh nghiệp xây dựng trong môi trường cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh
1.3.1.6
Việc đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp hiện nay khá dễ dàng, do vậy hàng năm có khá nhiều doanh nghiệp ra đời, bởi hoạt động tư vấn xây dựng không đòi hỏi nhiều vốn ban đầu, các hoạt động đều do con người thực hiện, đến nay đã có trên 60 doanh nghiệp và chi nhánh hoạt động về tư vấn xây dựng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, con số này cho thấy sự canh tranh khá lớn giữa các doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Sự am hiểu về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các doanh
nghiệp Cha ông ta đã có câu “biết mình biết trăm trận trăm thắng" Do đó doanh nghiệp cần phải hiểu rõ đối thủ cạnh tranh Có thể thấy trước hết là đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cuộc tranh đua để giành lợi thế trong ngành và trên thị trường nói chung
Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lương các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và tăng thi phần nâng cao khả năng cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh chính là các doanh nghiệp tư vấn xây dựng khác trên thị trường, kể cả trong và ngoài nước Các doanh nghiệp tư vấn xây dựng trên thị trường cạnh tranh với nhau chủ yếu trong việc đấu thầu vì qua đấu thầu thì chủ đầu tư sẽ lựa
Trang 32chọn được doanh nghiệp xây dựng thoả mãn tốt nhất các yêu cầu về kỹ thuật, mỹ thuật, giá cả, điều kiện thanh toán, thời gian hoàn thành Do đó các nhà thầu sẽ luôn phải đối mặt và cạnh tranh lẫn nhau về công nghệ, kỹ thuật, về chất lượng lên hàng đầu, khác với thời gian trước đây là đặt yếu tố giá cả lên hàng đầu (tình trạng bỏ giá dự thầu quá thấp để cạnh tranh nhau)
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Nguồn lực tài chính
1.3.2.1
Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng trong quyết định khả năng sản xuất cũng như
là chỉ tieu hàng đầu để đánh giá qui mô của doanh nghiệp Bất cứ một hoạt động đầu
tư, mua sắm trang thiết bị , nguyên liệu hay phân phối, quảng cáo cho sản phẩm đều phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp
có tiềm lực tài chính mạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị công nghệ máy móc hiện đại, Bởi vì bất có một hoạt động đầu tư mua saqứm trang thiết bị nào cũng phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp doanh nghiệp nào có tiềm lực tài chính hùng mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, giá bán sản phẩm tổ chức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, doanh nghiệp cũng có khả năng chấp nhận lỗ một thời gian ngắn để
hạ giá thành sản phẩm nhằm giữ vững và mở rộng thị phần cho doanh nghiệp để tăng giá, thu lợi nhuận nhiều hơn
Nguồn nhân lực
1.3.2.2
Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể được làm đựợc tốt tất cả những gì như mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồn lực khác cho doanh nghiệp khác lên một cách nhanh chóng, trí tuệ chất xám là những thứ vô cùng quý giá
Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu viêt hơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh Một đội ngũ công nghiệp lãnh đạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình độ cao, năng động, linh hoạt và hiểu biết sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước nmắt như tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp Họ sẽ đưa ra
Trang 33nhiều ý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của doanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường
Bên cạnh đó nguồn nhân lực của một doanh nghiệp phải đồng bộ, sự đồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ công nghiệp của doanh nghiệp là từ những nhóm người khác nhau mà còn xuất phát từ năng lực tổng hợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn nhân lực về mặt vật chất, tổ chức trình độ tay nghề, ý thức kỹ luật, lòng hăng say lao động sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm
Đối với các đơn vị tư vấn xây dựng, con người là nguồn lực chủ yếu tạo ra sản phẩm, chất lượng sản phẩm, dịch vụ có được tốt hay không là do yếu tố con người Thông thường các khách hàng thuê tư vấn hành động như là cố vấn kỹ thuật, lập các hồ sơ thiết kế, các tiêu chuẩn kỹ thuật, đấu thầu, giám sát xây dựng, quản lý dự án… Trong một số trường hợp đặc biệt kỹ sư tư vấn còn thay mặt khách hàng thương thảo với nhà thầu hoặc nhà cung cấp Khi lựa chọn nhà tư vấn, khách hàng thường quan tâm đến tình hình tài chính, năng lực chuyên môn (các chuyên gia chính), kinh nghiệm dự án, quốc gia tương tự…
Biểu dưới đây cho thấy khi đánh giá các nhà tư vấn, khách hàng quan tâm lớn nhất đến các chuyên gia chính
Bảng 1-1: Bảng đánh giá của khách hàng đối với các nhà tư vấn
Loại công việc Kinh nghiệm
của công ty Kế hoạch thực hiện Nhân sự chủ chốt
Lập dư án đầu tư
Thiết kế chi tiết
Giám sát
10-20 25-40 25-40
25-40 10-20 10-20
40-60 25-40 40-60 (Nguồn: Hội đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam)
Theo Nghị định 63/2014/NĐ-CP, ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định Tiêu chuẩn
đánh giá về kỹ thuật đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn:
- Kinh nghiệm và năng lực nhà thầu: Từ 10% đến 20% tổng số điểm;
- Giải pháp và phương pháp luận để thực hiện gói thầu: Từ 30% đến 40% tổng số điểm;
Trang 34- Nhân sự thực hiện gói thầu: Từ 50% đến 60% tổng số điểm;
- Tổng tỷ trọng điểm của nội dung trên bằng 100%;
- Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật được đánh giá đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật khi có điểm
về kỹ thuật không thấp hơn 70% (80% đối với gói thầu tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao, đặc thù) tổng số điểm và điểm của từng nội dung yêu cầu về kinh nghiệm và năng lực,
về giải pháp và phương pháp luận, về nhân sự không thấp hơn 60% (70% đối với gói thầu tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao, đặc thù) điểm tối đa của nội dung đó
Bảng 1-2 thể hiện năng lực kỹ thuật yêu cầu đối với nhà thầu tham gia dự thầu tư vấn khảo sát, thiết kế của một dự án giao thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Theo bảng trên, yêu cầu về năng lực nhân sự chiếm 50% số điểm Năng lực nhân sự bao gồm: năng lực của chủ nhiệm dự án, năng lực chủ nhiệm khảo sát và số lượng, trình độ cán
bộ khảo sát, thiết kế tham gia vào dự án
Tất nhiên đề xuất kỹ thuật cần phải vượt qua số điểm nhất định (thường là 70%) thì hồ
sơ dự thầu mới được xem xét
Ngoài các tiêu chuẩn về kỹ thuật nêu trên, tiêu chuẩn về giá đề xuất thực hiện hợp đồng cũng là yếu tố quan trọng, nhưng tỷ trọng điểm về giá chỉ chiếm khoảng 15-30%, thể hiện sự coi trọng yếu tố kỹ thuật trong lựa chọn nhà tư vấn Như vậy, có thể thấy rằng, đối với dịch vụ tư vấn, năng lực về nhân sự là rất quan trọng
Khả năng liên danh, liên kết
1.3.2.3
Ngoài việc nâng cao năng lực của các đơn vị tư vấn để đảm bảo cạnh tranh trong tìm kiếm việc làm, các nhà tư vấn còn phải liên kết với nhau để cùng thực hiện các dự án
Bảng 1-2: Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá hồ sơ sự thầu tư vấn một dự án cụ thể
tối đa Mức điểm yêu cầu tối thiểu
1 Kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu 20 12
(Nguồn: Ban quản lý Đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Lạng Sơn)
Trang 35có quy mô lớn mà bản thân một đơn vị tư vấn không đủ khả năng thực hiện Bên cạnh
đó, theo pháp luật về đầu tư xây dựng hiện hành, đối với các đơn vị tư vấn mới thành lập sẽ không đủ năng lực tham gia đấu thầu Để đủ điều kiện tham gia đấu thầu, các đơn vị tư vấn mới thành lập phải liên danh với các đơn vị đã có năng lực để tham gia một phần của dự án, từ đó nâng cao năng lực của tổ chức mình Do vậy, khả năng liên danh, liên kết là không thể thiếu trong quá trình hoạt động của bất kỳ đơn vị tư vấn nào
1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng
1.4.1 Yêu cầu về năng lực hành nghề của các tổ chức tư vấn xây dựng
Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP, ngày của Chính phủ, yêu cầu năng lực của tổ chức tư vấn xây dựng bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
nghề khảo sát xây dựng phù hợp với lĩnh vực hoạt động; Có ít nhất 05 người trong hệ thống quản lý chất lượng của tổ chức khảo sát xây dựng có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại hình khảo sát xây dựng;
hành nghề thiết kế quy hoạch xây dựng; những người chủ trì các bộ môn phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận; Có ít nhất 10 (mười) người có chuyên môn phù hợp với loại quy hoạch xây dựng
chứng chỉ thiết kế phù hợp với loại công trình xây dựng; những người chủ trì thiết kế lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề thiết kế phù hợp với công việc đảm nhận; Có ít nhất 5 (năm) người trong hệ thống quản lý chất lượng của tổ chức thiết kế xây dựng công trình có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại công trình xây dựng
kiện năng lực làm chủ nhiệm lập dự án phù hợp với loại dự án ĐTXD; Những người chủ trì lĩnh vực chuyên môn của dự án phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận; Có tối thiểu 10 (mười) người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại dự án ĐTXD
Trang 36- T ổ chức tư vấn quản lý dự án: Có ít nhất 3 (ba) người đủ điều kiện năng lực làm
giám đốc quản lý dự án cùng loại; Những người phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với công việc đảm nhận; Có ít nhất 10 (mười) người trong hệ thống quản lý chất lượng của tổ chức tư vấn có chuyên môn, nghiệp vụ
phù hợp với loại dự án ĐTXD
có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng hạng III phù
hợp với lĩnh vực giám sát thi công xây dựng, kiểm định xây dựng
chỉ hành nghề định giá xây dựng; Có ít nhất 5 (năm) người có chuyên môn nghiệp vụ
phù hợp với công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng
1.4.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tổ chức tư vấn xây dựng
Một tổ chức tư vấn xây dựng muốn tồn tại và phát triển, ngoài các yêu cầu bắt buộc về năng lực hành nghề như đã nêu ở phần 1.4.1, còn cần phải hội đủ các tiêu chí sau:
- Co cấu tổ chức quản lý: Xây dựng hệ thống các văn bản quản lý điều hành; Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng
- Năng lực tổ chức điều hành SXKD: Có dịch vụ đa dạng; Có tầm nhìn, biết hướng
về tương lai; Hoạt động có hiệu quả
- Năng lực chuyên môn: Giỏi về nghiệp vụ chuyên môn; Có năng lực làm việc tốt với chủ đầu tư; Có uy tín; Độc lập, khách quan; Có khả năng sáng tạo và đổi mới;
- Năng lực về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, các máy, thiết bị phục vụ sản xuất;
- Ứng dụng công nghệ thông tin: khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, trang bị các phần mềm tính toán chuyên ngành;
Các tiêu chí trên thể hiện rõ ràng những đòi hỏi về trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm,
kỹ năng và hiểu biết cần thiết đối với một tổ chức tư vấn xây dựng Toàn bộ những điểm trên gắn kết chặt chẽ với nhau như một chuỗi mắt xích phản ánh một cách đồng
bộ năng lực của một công ty tư vấn
Trang 371.5 Cơ sở thực tiễn về năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn xây dựng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức tư vấn không được xếp hạng mà chỉ đăng ký và được Sở Xây dựng, Bộ Xây dựng công nhận năng lực của tổ chức căn
cứ vào các tiêu chí của từng lĩnh vực tư vấn theo quy định của pháp luật về xây dựng như đã nêu ở mục 1.4 Riêng Bộ Giao thông vận tải hằng năm có công bố xếp hạng năng lực các tổ chức tư vấn xây dựng công trình giao thông và lấy thứ hạng để được cộng điểm ưu tiên trong quá trình đấu thầu dự án
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, đến năm 2015 tổng số doanh nghiệp hoạt động ngành xây dựng khoảng 77.500 doanh nghiệp, chưa kể nhiều doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp gia đình không đăng ký
Theo Công bố của Bộ Xây dựng tại, trên địa bàn cả nước có 5.616 tổ chức tham gia hoạt động tư vấn xây dựng Trong đó có 216 đơn vị có phòng thí nghiệm được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
Năm 2017, Bộ GTVT công bố xếp hạng năng lực và kết quả thực hiện của các tổ chức
tư vấn ngành Giao thông vận tải năm 2016 theo từng lĩnh vực: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa - hàng hải, đường hàng không Trong đó lĩnh vực thiết kế đường bộ
có 123 doanh nghiệp; lĩnh vực tư vấn giám sát đường bộ có 105 doanh nghiệp (Quyết định số 1386/QĐ-BGTVT ngày 16/5/2017 của Bộ GTVT) Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn chỉ có 02 doanh nghiệp có tên trong bảng xếp hạng Theo bảng xếp hạng, Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn đứng thứ 46 trong lĩnh vực Tư vấn thiết
kế và thứ 60 trong lĩnh vực Tư vấn giám sát
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 107 doanh nghiệp đăng ký hoạt động xây dựng theo quy định Trong đó có 61 tổ chức có hoạt động tư vấn xây dựng; Có 03 đơn vị có phòng thí nghiệm được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
Trang 38Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu tổng quan ở Chương 1 cho thấy tính đa dạng của các loại hình dịch
vụ tư vấn xây dựng ở nước ta hiện nay Chương 1 cũng đã tổng kết được các loại hình hoạt động và quy trình hoạt động của các tổ chức tư vấn xây dựng Từ đó đưa ra cơ sở
lý luận của việc đánh giá năng lực tư vấn xây dựng Năng lực tư vấn xây dựng của một đơn vị là tập hợp các tiêu chí phản ánh khả năng, quy mô, phạm vi hoạt động của đơn
vị đó trong lĩnh vực tư vấn xây dựng Năng lực tư vấn thể hiện ở trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và những kỹ năng, hiểu biết khác cần thiết đối với một tổ chức tư vấn xây dựng Đặc biệt thấy rõ các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực tư vấn của một tổ chức tư vấn xay dựng, từ đó giúp đề ra được phương hướng, kế hoạch cho việc nâng cao năng lực đối với các tổ chức tư vấn xây dựng đó Bên cạnh đó, những nghiên cứu
ở Chương 1 cũng chỉ rõ được thực trạng năng lực tư vấn của các tổ chức tư vấn hiện nay nói chung
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG GIAO THÔNG LẠNG SƠN
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Giao thông Lạng Sơn
- Tên Công ty: Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Giao thông Lạng Sơn
Tên tiếng anh: Lang Son Transport Construction Consultantcy Join stock company Tên viết tắt: LSTC;
- Hình thức sở hữu và tư cách pháp nhân:
+ Công ty là Công ty cổ phần, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản do Công ty sở hữu, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan
+ Công ty thuộc sở hữu của các cổ đông
2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng giao thông Lạng Sơn (LSTC) được chuyển đổi từ Công ty TNHH một thành viên Tư vấn và XDGT Lạng Sơn theo Quyết định số 04/QĐ-ĐTKDV.HĐQT, ngày 19/02/2009 của Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Đầu tư
và Kinh doanh vốn Nhà nước
Trang 40Thành lập từ tháng 6/1985, tiền thân là Đội Khảo sát - Thiết kế trực thuộc Sở GTVT tỉnh Lạng Sơn, với chức năng chủ yếu là khảo sát, thiết kế các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, LSTC hiện là tổ chức tư vấn chuyên nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Hiện nay LSTC là tổ chức tư vấn chuyên nghiệp trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật và là đơn vị tư vấn hàng đầu của tỉnh Lạng Sơn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng giao thông Trung bình hàng năm LSTC thực hiện hoàn thành trên 200 hợp đồng tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, thí nghiệm
và các dịch vụ tư vấn khác với nhiều chủ đầu tư khác nhau trên địa bàn tỉnh
Công ty đã đào tạo được đội ngũ kỹ sư trẻ, có trình độ, nhiệt huyết với sự tự tin trong thực thi nhiệm vụ, cùng với bộ máy lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm trong quản lý và điều kiện cơ sở vật chất hoàn chỉnh, hiện đại gồm Trụ sở chính 4 tầng tại đường Quang Trung, phường Chi Lăng với đầy đủ các phòng chức năng, phòng thí nghiệm LAS-XD302, và văn phòng Tư vấn giám sát 2 tầng tại phố Xứ Nhu, phường Chi Lăng;
Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 được áp dụng toàn Công
ty từ năm 2005 và đã xây dựng chuyển đổi lên phiên bản ISO 9001: 2015 từ 01/8/2017
LSTC là thành viên của Hiệp hội Tư vấn xây dựng Việt Nam và là hội viên của Hiệp hội Doanh nghiệp, Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa và Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Lạng Sơn
Là công ty cổ phần với 100% vốn là của các cá nhân (chủ yếu là người lao động trong Công ty) và 01 tổ chức là Công đoàn Công ty nắm giữ
Kế thừa cơ cấu tổ chức của công ty Nhà nước, hiện tại LSTC có các tổ chức chính trị -
xã hội bao gồm: Chi bộ Đảng với 36 đảng viên trực thuộc Đảng uỷ Sở Giao thông vận tải Lạng Sơn; Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với 23 đoàn viên trực thuộc Đoàn Cơ sở Sở Giao thông vận tải Lạng Sơn; Công đoàn Công ty trực thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh Lạng Sơn, 100% người lao động trong Công ty là đoàn viên Công đoàn