ii LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội, được sự dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo các bộ môn trong Trường Đại học Thủy Lợi
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Thị Thanh Nga
Học viên đợt: 23C11
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Vũ Hoàng Hưng và PGS.TS Nguyễn Quang Hùng Những nội dung và kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích
dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Lê Thị Thanh Nga
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội, được sự
dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo các bộ môn trong Trường Đại học Thủy
Lợi, sự giúp đỡ tận tình của bạn bè đồng nghiệp cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng
Công trình thủy với đề tài: “Nghiên cứu trường ứng suất nhiệt trong quá trình thi công
đập bê tông đầm lăn”
Để có được thành quả này, trước tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cán bộ
hướng dẫn khoa học là thầy giáo PGS.TS Vũ Hoàng Hưng và PGS.TS Nguyễn Quang
Hùng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp các thông tin khoa học cần thiết để
tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo Phòng
Đào tạo Đại học & Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại các bộ môn trong
Trường Đại học Thủy lợi đã giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, ban Lãnh đạo nơi
tác giả công tác đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận
văn này
Mặc dù đã hết sức nỗ lực và cố gắng nhưng do điều kiện thời gian và trình độ khoa
học của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác
giả mong được đóng góp ý kiến, chỉ bảo của các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 2 năm 2017
Tác giả
Lê Thị Thanh Nga
Trang 3iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 1
4 Kết quả dự kiến đạt được 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ DIỄN BIẾN NHIỆT TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG BÊ TÔNG ĐẦM LĂN 3
1.1 Xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông đầm lăn trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình xây dựng đập bê tông đầm lăn tại Việt Nam 7
1.2 Bê tông đầm lăn và tính chất cơ bản của bê tông đầm lăn 11
1.2.1 Định nghĩa 11
1.2.2 Ưu , nhược điểm của công nghệ BTĐL [3] 11
1.2.3 Các đặc tính cơ học của BTĐL 12
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biễn nhiệt trong BTĐL 17
1.2.5 Diễn biến nhiệt trong bê tông đầm lăn 17
1.2.6 Nứt do nhiệt và ứng suất nhiệt 18
1.2.7 Một số công trình đập bê tông trọng lực bị nứt do nhiệt 24
1.3 Những vấn đề đặt ra đối với luận văn 27
1.4 Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHIỆT HỌC VÀ ỨNG DỤNG 29
2.1 Cơ sở lý thuyết về truyền dẫn nhiệt [16] 29
Trang 4iv
2.1.1 Truyền dẫn nhiệt 29
2.1.2 Đối lưu nhiệt 31
2.1.3 Bức xạ nhiệt 32
2.2 Phần mềm ANSYS và khả năng tính toán nhiệt 33
2.2.1 Phần mềm ANSYS[17] 33
2.2.2 Khả năng tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt của phần mềm ANSYS 35
2.3 Tính nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập BTĐL bằng phần mềm ANSYS 40 2.3.1 Mô tả kết cấu đập BTTL 40
2.3.2 Tham số đầu vào của mô hình 43
2.3.3 Mô hình hóa kết cấu đập BTĐL 43
2.3.4 Phân tích mô phỏng thi công đập BTĐL bằng phần mềm ANSYS [16] 44
2.4 Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3 TÍNH TOÁN TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ VÀ TRƯỜNG ỨNG SUẤT NHIỆT ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN THỦY ĐIỆN ĐỒNG NAI 2 47
3.1 Giới thiệu công trình 47
3.1.1 Vị trí xây dựng công trình 47
3.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của dự án 47
3.1.3 Quy mô, thông số công trình 48
3.2 Tính toán ảnh hưởng của chiều dày khối đổ đến sự phát triển nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập BTĐL thủy điện Đồng Nai 2 49
3.2.1 Tài liệu tính toán 49
3.2.2 Điều kiện biên về nhiệt 53
3.2.3 Mô phỏng quá trình thi công đập 55
Trang 5v
3.2.4 Mô tả mặt cắt đập tính toán 56
3.2.5 Mô hình hóa kết cấu 57
3.2.6 Phân tích kết quả tính toán nhiệt và ứng suất với các trường hợp thi công 59
3.2.7 Lựa chọn chiều dày khối đổ hợp lý để thi công đập Đồng Nai 2 trên cơ sở kết quả phân tích nhiệt và ứng suất nhiệt trong thân đập 74
3.3 So sánh kết quả tính toán nhiệt và ứng suất trong TH1 với kết quả của đơn vị tư vấn thiết kế 76
3.3.1 Kết qủa tính toán nhiệt và ưng suất của TVTK cho công trình thủy điện Đồng Nai 2 bằng phần mềm Contestpro V3 76
3.3.2 Kết so sánh kết quả tính toán nhiệt và ứng suất của TVTK và của tác giả cho đập BTĐL Đồng Nai 2 77
3.4 Kết luận Chương 3 78
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
4.1 Đánh giá kết quả đạt được của đề tài 79
4.2 Những tồn tại của đề tài 79
4.3 Kiến nghị phương hướng nghiên cứu tiếp theo 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 1 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ sử dụng BTĐL theo các hướng khác nhau
(12/2006) 3
Hình 1 2 Biểu đồ phân bố các đập BTĐL đã và đang XD trên thế giới 5
Hình 1 3 Đập BTĐL đầu tiên trên thế giới Buchtarma - Kazastan cao 90 m (Internet) 6
Hình 1 4 Đập BTĐL Long Than – Trung Quốc cao 192 m (Internet) 6
Hình 1 5 BTĐL đầu tiên tại Việt Nam, đập PlêiKrông- KonTum cao 71 m (Internet) 10
Hình 1 6 Đập BTĐL thủy điện Sơn La cao 138 m (Internet) 10
Hình 1 7 Quá trình thay đổi nhiệt độ của khối bê tông 18
Hình 1 8 Ứng suất nhiệt phát sinh trong khối bê tông 19
Hình 1 9 Biến dạng do nhiệt độ & ứng suất do nền kiềm chế của khối bê tông 22 Hình 1 10 Nứt bề mặt và nứt xuyên ở đập bê tông 23
Hình 1 11 Sơ đồ vết nứt đập Sơn La 24
Hình 1 12 Hiện trạng vết nứt bề mặt đập Sơn La 25
Hình 1 13 Sơ đồ vết nứt đập Liễu Khê - Trung Quốc 26
Hình 1 14 Thấm nước qua vết nứt đập RCC Upper Stillwater, Utah, Hòa Kỳ (Internet) 26
Hình 2 1 Mặt cắt ngang đập trọng lực BTĐL 41
Hình 2 2 Sơ đồ khối chia đợt thi công không đều đập BTĐL 42
Hình 2 3 Sơ đồ khối gán điều kiện biên nhiệt vào từng đợt đổ 43
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 1 Các đập BTĐL đã và đang được xây dựng ở Việt Nam 16
Bảng 2 1 Ký hiệu và đơn vị sử dụng trong phân tích nhiệt 36
Bảng 2 2 Phần tử dùng trong phân tích nhiệt 37
Bảng 3 1 Thông số cơ bản của dự án 48
Bảng 3 2 Đặc trưng nhiệt độ không khí tại trạm Liên Khương (oC) 50
Bảng 3 3 Đặc trưng độ ẩm không khí không khí tại trạm Liên Khương 51
Bảng 3 4 Các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL 51
Bảng 3 5 Các chỉ tiêu về nhiệt của BTĐL 52
Bảng 3 6 Các chỉ tiêu cơ lý của nền 53
Bảng 3 7 Các chỉ tiêu về nhiệt của đá nền 53
Bảng 3 8 Nhiệt độ ban đầu của môi trường 53
Bảng 3 9 Hệ số truyền nhiệt đối lưu 54
Bảng 3 10 Tổng hợp kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt trong thân đập TH1 63
Bảng 3 11 Tổng hợp kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt trong thân đập TH2 69
Bảng 3 12 Tổng hợp kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt trong thân đập TH3 74
Bảng 3 13 Tổng hợp kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt thân đập trong 3 TH 75
Bảng 3 14 Bảng so sánh kết quả tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt thân đập của TVTK và tác giả 77
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
APDL : Phương pháp lập trình tham số
BTĐL : Bê tông đầm lăn
TVTK : Tư vấn thiết kế
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
PTHH : Phần tử hữu hạn
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ bê tông đầm lăn trong xây dựng đập bê tông đã được ứng dụng tương đối
rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam Ưu điểm nổi bật của công nghệ này là tốc độ thi
công nhanh, giá thành hạ so với công nghệ bê tông thông thường Tuy đã giảm được
rất nhiều sự tăng nhiệt độ trong khối đổ bê tông do hàm lượng xi măng trong bê tông
thấp nhưng vẫn bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác như tốc độ thi công, chiều dày khối
đổ, nhiệt độ ban đầu của bê tông, nhiệt độ môi trường…nên việc khống chế nhiệt gặp
nhiều khó khăn và đây là điều kiện gây nên hiện tượng nứt trong quá trình thi công
Vấn đề phát sinh nứt trong các kết cấu đang diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến an toàn của công trình nhất là đối với các công trình dâng nước Các biện
pháp xử lý khi xảy ra nứt thường phức tạp tốn kém, gây chậm tiến độ các công trình
Ngoài các nguyên nhân khách quan như lún không đều, tính kiềm trong cốt liệu đá, sỏi
và sự biến dạng của ván khuôn, chất tải thì một nguyên nhân quan trọng và chủ yếu
gây ra nứt là phát sinh ứng suất nhiệt gây nứt trong bê tông Vì vậy để khống chế nứt
do ứng suất nhiệt trong quá trình thi công thì cần thiết phải nắm được ảnh hưởng của
các yếu tố đến sự phát triển nhiệt và ứng suất nhiệt, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cả
khoa học và thực tiễn
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu trường ứng suất nhiệt trong quá trình thi công đập bê tông đầm lăn từ đó
làm cơ sở cho đánh giá nứt do nhiệt trong quá trình thi công đập bê tông đầm lăn và
lựa chọn được chiều dày khối đổ hợp lý khi thi công đập thủy điện Đồng Nai 2
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a) Về cách tiếp cận:
Tiếp cận từ các số liệu thực tế các công trình đã xây dựng như: đập thủy điện Sơn La,
Lai Châu …
Trang 102
Tiếp cận từ lý thuyết phân tích nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập bê tông
b) Về phương pháp nghiên cứu:
Áp dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu thu thập
Nghiên cứu lý thuyết nhiệt và ứng suất nhiệt
Sử dụng mô hình toán để tính toán bài toán nhiệt và ứng suất nhiệt
4 Kết quả dự kiến đạt được
Nắm được cơ sở lý thuyết về nhiệt học
Sử dụng thành thạo phần mềm ANSYS phân tích nhiệt đập bê tông đầm lăn với các
điều kiện biên khác nhau
Phân tích được ảnh hưởng của các yếu tố trong quá trình thi công đặc biệt là ảnh
hưởng của chiều dày khối đổ đến sự phát triển nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập bê
tông đầm lăn
Áp dụng tính toán cho một công trình cụ thể: đập bê tông đầm lăn Đồng Nai 2
Trang 113
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ DIỄN BIẾN NHIỆT
TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG BÊ TÔNG ĐẦM LĂN
1.1 Xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.1 Tình hình xây dựng đập bê tông đầm lăn trên thế giới
Nhằm hạ giá thành và đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, từ những năm đầu thập
niên 60 của thế kỷ 20, các nước trên thế giới đã nghiên cứu và xây dựng đập bê tông
trọng lực bằng công nghệ bê tông đầm lăn Từ khi xuất hiện công nghệ BTĐL, đặc biệt
từ năm 1996 đến 2006 số lượng đập BTĐL giàu chất kết dính trên thế giới tăng từ
43,3% năm 1996 lên 47,4% năm 2002 và 53,4% năm 2006 (Hình 1.1) [1]
Hình 1 1 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ sử dụng BTĐL theo các hướng khác nhau
(12/2006) Năm 1961, tại công trình xây dựng đập Alpe Gera-Italia và đập Manicongan-Canada,
lần đầu tiên hỗn hợp bê tông không độ sụt được rải bằng xe ủi, sau đó được đầm chặt
bằng các loại đầm dùi gắn sau xe ủi hoặc được đầm chặt bằng máy ủi Cũng trong năm
1961, tại công trình xây dựng đê quây của đập Thạch Môn - Đài Loan, hỗn hợp cát, đá
trộn với xi măng được rải và đầm chặt bằng các thiết bị thi công đập đất
Tuy nhiên BTĐL chỉ thực sự được chú ý khi giáo sư Jerome Raphael (Mỹ) trình bày
báo cáo “Đập trọng lực tối ưu” vào năm 1970, trong đó nêu ra phương pháp thi công
nhanh đập BTTL bằng cách sử dụng thiết bị đắp đập đất và một số công trình ở Mỹ đã
đưa vào nghiên cứu BTĐL trong phòng và nghiên cứu thiết kế thử nghiệm trên hiện
Trang 124
trường Những nỗ lực trên tạo nền tảng cho việc xây dựng đập BTĐL đầu tiên trong
những năm 1980
Từ 1972 đến 1974, Cannon R.W đã có những đóng góp đáng kể về nghiên cứu BTĐL
Kết quả thí nghiệm đã đưa ra khái niệm bê tông nghèo xi măng, vận chuyển bằng ô tô,
san gạt bằng xe ủi và đầm bằng lu rung Sau đó Hiệp hội kỹ sư quân đội Hoa Kỳ
(USACE) đã thi công các lô bê tông thử nghiệm ở đập Lost Creek Năm 1980, lần đầu
tiên Mỹ sử dụng BTĐL để xây dựng đập Willow Creek, bang Oregon Đập cao 52 m,
dài 543 m, khối lượng BTĐL 331.000 m3 Đến 1999, Mỹ có hàng chục đập BTĐL
Những năm 1970 ở Anh, Dunstan thực hiện các nghiên cứu về BTĐL Hiệp hội nghiên
cứu và thông tin công nghiệp xây dựng (CIRIA) đã tiến hành các dự án lớn nghiên cứu
về BTĐL với hàm lượng tro bay cao, sau đó được thử nghiệm tại công trình trạm xử lý
nước Tamara - Coruwall (1976) và đập Wimbledall (1979)
Năm 1974, các kỹ sư Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu sử dụng BTĐL nhằm rút ngắn thời
gian thi công và hạ giá thành các công trình đập bê tông Công trình đập BTĐL đầu
tiên của Nhật là đập Shimajigawa, cao 89 m, dài 240m với 165.000m3
BTĐL trong tổng số 317.000m3 bê tông đập Đến cuối 1992 đã có 30 đập BTĐL được thi công ở
Nhật và đến nay Nhật Bản đã hình thành trường phái BTĐL-RCD (Roller-Compacted
Dams) gồm các công tác thiết kế mặt cắt đập, tính toán cấp phối, công nghệ thi công
và khống chế nhiệt độ trong thân đập
Trung Quốc thực hiện nghiên cứu áp dụng công nghệ BTĐL từ năm 1980, đến năm
1986 đập Khang Khẩu là đập BTĐL đầu tiên đã được xây dựng Đến nay Trung Quốc
là quốc gia đứng đầu thế giới về số lượng, chiều cao và kỹ thuật…trong xây dựng đập
BTĐL Trường phái công nghệ BTĐL của Trung Quốc được hoàn thiện với tên gọi
RCCD (Roller Compacted Concrete Dams), bao gồm các công tác thiết kế mặt cắt
đập; quy trình thiết kế, chọn vật liệu và thi công; quy trình thử nghiệm kiểm tra BTĐL
tại hiện trường
Đập BTĐL sử dụng BTĐL nghèo CKD đã được sử dụng tại một số đập có chiều cao
dưới 60m ở Mỹ Hiện nay, các đập BTĐL được xây dựng trên thế giới chủ yếu sử
Trang 135
dụng BTĐL có lượng CKD trung bình và giàu CKD như các nước Tây Âu, Trung
Quốc, Nhật Bản Đã có trên 300 đập bê tông trọng lực BTĐL với khối lượng tổng
cộng khoảng trên 90 triệu m3 BTĐL đã được xây dựng (Hình 1.2) Trung Quốc là quốc
gia dẫn đầu về số lượng đập BTĐL sau đó là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Tây Ban Nha
Hình 1 2 Biểu đồ phân bố các đập BTĐL đã và đang XD trên thế giới
(nguồn: Hội Đập lớn và PTNN Việt Nam 12/2005)
Số liệu thống kê đến tháng 12/2005: đập Khun Dan của Thái Lan có khối lượng BTĐL
lớn nhất thế giới 4,9 triệu m3 BTĐL trong tổng số 5,4 triệu m3 bê tông sử dụng cho
đập; các đập Sawalkot (Ấn Độ) cao 197m và Giongzhao (Trung Quốc) cao 196m là 2
đập BTĐL có chiều cao lớn nhất thế giới; đập Longtan (Trung Quốc) cao 192 m với
khối lượng BTĐL 4,623 triệu m3 được thi công trong 36 tháng là đập BTĐL có tốc độ
thi công cao nhất thế giới
Một số hình ảnh đập bê tông đầm lăn trên thế giới:
Trang 146
Hình 1 3 Đập BTĐL đầu tiên trên thế giới Alpa - Gera, Italy cao 178 m (Internet)
Hình 1 4 Đập BTĐL Long Than – Trung Quốc cao 216.5 m (Internet)
Trang 157
1.1.2 Tình hình xây dựng đập bê tông đầm lăn tại Việt Nam
Trong một vài năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng
kể nhờ có chính sánh mở cửa của Nhà nước Nhiều công trình lớn đang được xây dựng
để phát triển cơ sở hạ tầng như các công trình giao thông, thuỷ lợi, thủy điện phục vụ
sự phát triển kinh tế của đất nước Sự phát triển kinh tế với tốc độ nhanh kéo theo nhu
cầu dùng điện ngày càng tăng cao, để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện tăng cao trong giai
đoạn 2005-2015, Tổng công ty điện lực Việt nam (EVN) đã lập các dự án xây dựng
mới 32 nhà máy điện trong đó có 20 nhà máy thuỷ điện.Vì các công trình này đều đòi
hỏi thời gian thi công ngắn, năng suất thi công lớn hơn nhiều so với trước đây nên giải
pháp xây dựng đập dâng bằng bê tông trọng lực thi công bằng công nghệ đầm lăn đã
được đề nghị lựa chọn [2]
Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về nguyên vật liệu và máy móc thiết bị để áp dụng
công nghệ BTĐL
Về nguyên vật liệu: ngoài yêu cầu về cốt liệu, cấp phối BTĐL cần một lượng lớn các
phụ gia khoáng hoạt tính là tro bay và puzơlan Nước ta hiện có nhiều nguồn phụ gia
khoáng có thể sử dụng làm PGK cho BTĐL gồm các nguồn nhân tạo như tro bay (nhà
máy nhiệt điện Phả Lại, Ninh Bình, Uông Bí…) và các loại puzơlan tự nhiên như
puzơlan Sơn Tây, đá silic Hải Phòng, puzơlan Phong Mỹ - Thừa Thiên Huế, puzơlan
Gia Lai, điatomit Kontum, puzơlan Bà Rịa-Vũng Tàu, điatomit Phú Yên
Về thiết bị: các thiết bị chính để thi công BTĐL như máy trộn cưỡng bức có khả năng
trộn hỗn hợp bê tông khô sử dụng cốt liệu có đường kính lớn, băng tải hoặc các thiết bị
tương đương để vận chuyển bê tông, xe tải tự đổ, máy san ủi, máy lu rung, máy tạo
khe co, máy đánh xờm, hệ thống phun nước cao áp làm sạch bề mặt bê tông mạch
ngừng, hệ thống phun nước bảo dưỡng bê tông…phần lớn đều đã có sẵn hoặc có thể
được chế tạo bởi ngành cơ khí trong nước Với các ưu điểm nổi bật và tiềm năng lớn
về nguyên vật liệu, thiết bị thi công; việc áp dụng công nghệ BTĐL vào thi công đập
bê tông trọng lực là hoàn toàn hợp lý
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trên từ những năm 1990 Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu
Trang 168
ứng dụng BTĐL Năm 1990 Viện Khoa học Thủy lợi đã nghiên cứu PGK cho BTĐL,
ngày 16/10/1995 Bộ Thủy lợi (cũ) ra quyết định số 1570 QĐ/QLXD phê duyệt nghiên
cứu khả thi công trình thủy lợi Tân Giang (Ninh Thuận) thống nhất phương án công
trình đầu mối là đập BTTL Trên cơ sở quyết định số 1570 QĐ/QLXD, công ty tư vấn
xây dựng thủy lợi HEC-1[9] đã tiến hành nghiên cứu thiết kế đập Tân Giang theo hai
phương án BTTL truyền thống và BTĐL Đây là lần đầu tiên BTĐL được nghiên cứu
vào công trình thực tế ở Việt Nam Ngày 20/9/1997 Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ra quyết định số 2425 NN/ĐTXD/QĐ phê duyệt đập đầu mối công trình
Tân Giang là đập BTĐL Do nhiều lý do, khi thi công, đập Tân Giang được chỉnh
thành đập bê tông truyền thống và đã thi công hoàn thành vào năm 2003 Mặc dù vậy,
các kết quả nghiên cứu thiết kế đập BTĐL Tân Giang đã tích lũy được nhiều kinh
nghiệm quý báu về thiết kế đập BTĐL, sử dụng tro bay và phụ gia
Công trình đập BTĐL xây dựng đầu tiên của Việt Nam là đập thủy điện Pleikrong tại
tỉnh Kon Tum với chiều cao 71m được thiết kế bởi công ty Tư vấn xây dựng điện 1,
công trình khởi công năm 2003, đã hoàn thành vào năm 2009 Tiếp đó hàng loạt công
trình đập thủy điện được thi công và chuẩn bị xây dựng bằng BTĐL như thủy điện
Bản Vẽ, hồ chứa nước Định Bình, công trình thủy điện Sê San 4, công trình thủy điện
A Vương, thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu Tính đến nay đã gần 30 đập BTĐL
đã và đang được xây dựng tại Việt nam (xem bảng 1.1) [2]
Bảng 1 1 Các đập BTĐL đã và đang được xây dựng ở Việt Nam
TT Tên công trình Chiều cao (m) Địa điểm XD Năm dự kiến hoàn thành
Trang 179
TT Tên công trình Chiều cao (m) Địa điểm XD Năm dự kiến hoàn thành
Một số hình ảnh đập bê tông đầm lăn tại Việt Nam:
Trang 1911
1.2 Bê tông đầm lăn và tính chất cơ bản của bê tông đầm lăn
1.2.1 Định nghĩa
Bê tông đầm lăn (BTĐL) là loại bê tông không có độ sụt được tạo bởi hỗn hợp bao
gồm cốt liệu nhỏ (cát thiên nhiên hoặc cát nghiền), cốt liệu lớn (đá dăm), chất kết dính
(xi măng, PGK hoạt tính nghiền mịn), nước, phụ gia đầy và phụ gia hóa học Sau khi
trộn đều, vận chuyển, san rải hỗn hợp được đầm chặt theo yêu cầu của thiết kế bằng
thiết bị đầm lăn
1.2.2 Ưu , nhược điểm của công nghệ BTĐL [3]
1.2.2.1 Ưu điểm của BTĐL
BTĐL là loại bê tông nghèo xi măng, hỗn hợp RCC khô và không có độ sụt Khác với
bê tông thường, phương pháp thi công RCC gần giống phương pháp thi công đắp đập
đất đá: San rải từng đợt mỏng, dùng đầm lu rung để đầm chặt So với bê tông thường
về các mặt: Tiêu hao vật liệu, hiệu suất thi công và tính năng vật liệu của RCC ưu việt
hơn Công nghệ BTĐL đặc biệt hiệu quả khi áp dụng xây dựng đập bê tông trọng lực,
khi khối lượng thi công bê tông càng lớn thì hiệu quả tác dụng càng cao Những ưu
điểm nổi bật của công nghệ bê tông đầm lăn:
Giảm lượng xi măng trong bê tông dẫn đến giảm ứng suất nhiệt và hạn chế nứt trong
khối bê tông
Thi công nhanh: So với đập bê tông thường, đập BTĐL được thi công với tốc độ cao
hơn do có thể dùng băng tải để vận chuyển bê tông, dùng máy ủi để san gạt, máy lu
rung để đầm lèn và ít phải chờ khối đổ hạ nhiệt So với đập đất đắp có cùng chiều cao,
khối tích của đập BTĐL nhỏ hơn nên thi công nhanh hơn Công trình đập càng cao,
hiệu quả kinh tế của đập BTĐL càng lớn so với đập đất đắp
Giá thành hạ: Theo các tính toán tổng kết từ các công trình đã xây dựng trên Thế giới,
giá thành đập BTĐL rẻ hơn so với đập bê tông thi công bằng công nghệ truyền thống
từ 25% đến 40% Việc hạ giá thành đạt được là do giảm được chi phí cốp pha, giảm
chi phí cho công tác vận chuyển, đổ, đầm bê tông
Trang 2012
Giảm chi phí cho các kết cấu phụ trợ: So với đập đắp, chi phí làm cửa tràn của đập
BTĐL rẻ hơn (tương tự như đập bê tông thường) Đối với đập thuỷ điện được thiết kế
có nhiều cửa nhận nước ở nhiều cao trình khác nhau thì phương án đập BTĐL càng rẻ
hơn so với phương án đập đắp Hơn nữa khi làm đập BTĐL, chiều dài của kênh xả
nước ngắn hơn so với kênh xả nước của đập đắp và vì vậy giảm chi phí làm bản đáy và
chi phí xử lí nền đập
Giảm chi phí cho biện pháp thi công: Việc thi công đập bằng BTĐL có thể giảm chi
phí dẫn dòng trong thời gian xây dựng và giảm các thiệt hại, các rủi ro khi nước lũ tràn
qua đê quai Đối với đập BTĐL, đường ống dẫn dòng ngắn hơn ống dẫn dòng của đập
đắp Hơn nữa thời gian thi công đập BTĐL ngắn nên các ống dẫn dòng cho đập
BTĐL chỉ cần thiết kế để đáp ứng lưu lượng xả nước lớn nhất theo mùa thay vì lưu
lượng lớn nhất theo năm như đối với đập bê tông và đập đắp Vì vậy đường kính cống
dẫn dòng của đập BTĐL nhỏ hơn và chiều cao đê quai cho đập BTĐL cũng thấp hơn
so với phương án đập bê tông thường và đập đắp
1.2.2.2 Nhược điểm của BTĐL
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, công nghệ BTĐL cũng tồn tại một số nhược điểm
mà nếu không có biên pháp khắc phục sẽ gây khó khăn cho công tác duy tu, vận hành,
bảo dưỡng sau này như:
- Chất lượng RCC phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết khu vực đổ bê tông (đặc biệt
là nhiệt độ và độ ẩm không khí)
- Thời gian ninh kết đạt cường độ thiết kế dài
- Yêu cầu giám sát các công đoạn vận chuyển, san ủi, đầm… cao, phụ thuộc nhiều vào
nguồn cung cấp PGK: tro bay, puzơlan
1.2.3 Các đặc tính cơ học của BTĐL
1.2.3.1 ư ng độ háng n n của BTĐL
Cường độ kháng nén là tính chất cơ học quan trọng nhất của bê tông nói chung và
Trang 2113
BTĐL nói riêng, các tính năng cơ học khác của bê tông như mô đun đàn hồi, tính
thấm… đều có quan hệ mật thiết với cường độ kháng nén Giá trị cường độ kháng nén
có thể gián tiếp phản ánh mức độ lớn nhỏ của các tính năng này
Giá trị cường độ kháng nén của bê tông được xác định thông qua thí nghiệm nén mẫu
Tuy nhiên hình dạng, kích thước, ngày tuổi mẫu thí nghiệm bê tông khi xác định
cường độ kháng nén giới hạn của bê tông không thống nhất giữa các nước Ví dụ như
Việt Nam, Trung Quốc sử dụng mẫu lập phương 15cm; Mỹ, Nhật, Canada sử dụng
mẫu trụ tròn đường kính 15cm, cao 30cm Ngoài ra giá trị cường độ kháng nén của bê
tông còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất vật liệu kết dính và tỉ lệ nước/xi
măng, cường độ và độ sạch cốt liệu, điều kiện bảo dưỡng bê tông… Đối với BTĐL,
cường độ kháng nén có liên quan mật thiết với tỉ lệ chất kết dính và hàm lượng trộn
PGK
1.2.3.2 ư ng độ háng o của BTĐL
Cường độ kháng kéo của BTĐL là một trong những tính năng cơ bản của bê tông Khả
năng chống nứt, chống cắt, chống xoắn … đều có liên quan đến cường độ kháng kéo
của bê tông Giá trị cường độ kháng kéo của bê tông có thể xác định trực tiếp thông
qua thí nghiệm kéo mẫu hoặc tính toán theo công thức kinh nghiệm từ giá trị cường độ
kháng nén Nói chung cường độ kháng kéo của BTĐL tăng lên khi cường độ kháng
nén của bê tông tăng lên
1.2.3.3 đun đàn hồi của BTĐL
Mô đun đàn hồi là tham số quan trọng khi tính toán phân bố ứng suất trong kết cấu đập
BTĐL Thí nghiệm xác định mô đun đàn hồi tương đối khó, nói chung đều dự đoán
thông qua cường độ kháng nén của bê tông Công thức kinh nghiệm xác định mô đun
đàn hồi đều đưa ra từ kết quả thống kê thực nghiệm Đối với bê tông nói chung các
quốc gia khác nhau có công thức xác định khác nhau, ví dụ:
Quy phạm Trung Quốc [4]: c
c
100E
Trang 2214
Quy phạm ACI của Mỹ [5]: Ec 4730 fc (MPa) (1.2)
Tiêu chuẩn BS8110 của Anh [6]: c c
c
5,5
Tiêu chuẩn của Châu Âu [7]: Ec 6000 fc (MPa) (1.4)
Theo TCXDVN 356-2005 [8] giá trị của Ec phụ thuộc vào cấp độ bền chịu nén của bê
tông và trong khoảng từ (21 40) 103 (MPa)
Tuy nhiên đối với BTĐL, cường độ kháng nén của BTĐL phụ thuộc tỉ lệ chất kết dính
và hàm lượng trộn PGK Vì vậy mô đun đàn hồi (Ec) của BTĐL tại thời điểm 28 ngày
và 90 ngày có thể được xác định theo công thức (1.5) và (1.6) [9]:
c28
E 14, 210(N / CKD)-0,145(PGK/CKD)+0,726 (1.5)
c90
E 21, 217(N / CKD)-0,197(PGK/CKD)-1,376 (1.6)
Từ công thức (1.5) và (1.6) có thể thấy rằng mô đun đàn hồi của BTĐL giảm nhỏ khi
tỷ lệ chất kết dính và hàm lượng trộn Fuzơlan tăng lên
1.2.3.4 Bi n d ng của BTĐL
Bê tông trong quá trình đông cứng và trong môi trường sử dụng khác nhau đều có thể
xuất hiện biến dạng, biến dạng của bê tông bao gồm co ngót hóa học, co dãn do độ ẩm,
biến dạng nhiệt, biến dạng do tải trọng… Theo tính chất biến dạng có thể phân thành
biến dạng hồi phục và biến dạng không hồi phục, biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo
Từ biến của bê tông
Khi kết cấu bê tông chịu tác dụng của tải trọng trong thời gian dài, biến dạng bê tông
tăng lên theo thời gian được gọi là từ biến Thời kỳ đầu gia tải, từ biến của bê tông
tăng lên khá nhanh sau đó dần dần giảm xuống, một vài năm sau tăng lên rất chậm Bê
tông sau khi dỡ tải, một phần biến dạng hồi phục tức thời, biến dạng này nhỏ hơn biến
dạng đàn hồi phát sinh khi gia tải ban đầu Trong một khoảng thời gian sau khi dỡ tải,
biến dạng vẫn có thể tiếp tục hồi phục gọi là hồi phục từ biến Biến dạng không có khả
Trang 2315
năng hồi phục gọi là biến dạng dư
Bê tông bất kể là chịu nén, chịu kéo hoặc chịu uốn đều có hiện tượng từ biến, nguyên
nhân phát sinh từ biến nói chung là do tính bám dính của khối đá xi măng dưới tác
dụng của tải trọng trong một thời gian dài bị nới lỏng, đồng thời hút nước bám trên hạt
kết dính do ứng suất tải trọng và thấm đi theo ống mao dẫn Có rất nhiều nhân tố ảnh
hưởng đến giá trị từ biến như chủng loại xi măng, tính chất cốt liệu, tỉ lệ nước/xi
măng, tỉ lệ vữa, chất phụ gia cùng với ngày tuổi bê tông khi gia tải, giá trị ứng suất,
thời gian duy trì tải trọng, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường, hình dạng và kích thước
kết cấu…
Co ngót của bê tông
Khi bê tông đông cứng trong không khí, thể tích của nó có thể giảm nhỏ, hiện tượng
này gọi là co ngót bê tông Co ngót là biến dạng phát sinh do thể tích thay đổi mà bê
tông không chịu ngoại lực Thông thường cho rằng co ngót bê tông là do thể tích bản
thân khối kết dính bị co ngót và bê tông co ngót thể tích do mất nước Thời kỳ đầu co
ngót phát triển rất nhanh, sau đó dần dần chậm lại, tổng thể quá trình co ngót có thể
kéo dài 2 năm trở lên Khi bê tông không thể tự do co ngót, trong bê tông phát sinh
ứng suất kéo dẫn đến phá hoại nứt Trong cấu kiện bê tông cốt thép, do cốt thép đã hạn
chế co ngót bê tông khiến biến dạng co ngót của kết cấu giảm đi so với bê tông co ngót
tự do Khi co ngót của bê tông lớn, hàm lượng cốt thép trong cấu kiện lại nhiều, có thể
dẫn đến nứt do co ngót trong cấu kiện
Nhân tố ảnh hưởng đến co ngót của bê tông chủ yếu có nhiệt độ và độ ẩm môi trường
xung quanh, hình dạng và kích thước mặt cắt cấu kiện, tỉ lệ cấp phối, tính chất cốt liệu,
tính chất xi măng, điều kiện bảo dưỡng nên tính toán chính xác co ngót bê tông rất
khó khăn
1.2.3.5 Tính năng cơ học của BTĐL theo th i gian
Quan hệ ứng suất - biến dạng của vật liệu BTĐL là biểu thức toán học miêu tả quy luật
vận động và quan hệ giữa lực, nhiệt độ, biến dạng… của nội bộ kết cấu trong không
gian và thời gian
Trang 2416
Do tính phức tạp của vật liệu BTĐL, hiện nay vẫn chưa có một mô hình vật liệu BTĐL
duy nhất được mọi người công nhận Nói chung căn cứ vào đặc điểm chịu lực, phạm
vi ứng suất và độ chính xác tính toán của kết cấu phân tích để lựa chọn mô hình
thích hợp Đương nhiên để xác định chính xác cần phải tiến hành nghiên cứu thực
nghiệm để xác lập các hàm biểu diễn quá trình phát triển các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL
theo thời gian ứng với cấp phối được lựa chọn tối ưu cho từng công trình cụ thể
Theo nghiên cứu của Lê Quốc Toàn [10], sử dụng phương pháp quy hoạch thực
nghiệm để xác định cấp phối tối ưu cho đập BTĐL Đồng Nai 4 dùng 2 dạng PGK phổ
biến đó là cấp phối BTĐL-P (BTĐL dùng PGK hoạt tính Puzơlan) với tuổi thiết kế
365 ngày và BTĐL-T (BTĐL dùng PGK hoạt tính tro bay nhiệt điện) với tuổi thiết kế
90 ngày với các loại vật liệu trong nước và xây dựng các hàm quan hệ cường độ nén
theo thời gian, cường độ kéo theo thời gian, biến dạng co ngót theo thời gian và modul
đàn hồi theo thời gian của 02 cấp phối BTĐL …Cụ thể như sau:
Hàm biểu diễn sự phát triển cường độ nén của BTĐL theo thời gian:
Giá trị modul đàn hồi tương thích với quy luật phát triển cường độ của BTĐL, hàm
biểu diễn theo thời gian:
Yđh1 = 0,4823ln(x) + 0,0946 với R2 = 0,9758 (1.13)
Trang 2517
Yđh2= 0,5031ln(x) + 0,0808 với R2 = 0,9831 (1.14)
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biễn nhiệt trong BTĐL
Do BTĐL có thể tích lớn, lượng dùng xi măng tương đối ít, lượng dùng PGKHT
nhiều, sử dụng biện pháp đổ bê tông đợt móng liền khối, không bố trí khe dọc và đôi
khi không có khe ngang, thời gian nghỉ giãn cách giữa các đợt đổ rất ngắn Những đặc
điểm này dẫn đến diễn biến nhiệt trong khối BTĐL khác với khối bê tông thường và
do vậy các biện pháp khống chế nhiệt độ tương ứng cũng khác biệt Các quốc gia có
ứng dụng BTĐL đều rất coi trọng việc nghiên cứu các chỉ tiêu cơ nhiệt và quy luật
thay đổi nhiệt trong khối BTĐL để sử dụng các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo an
toàn cho đập
Các nghiên cứu lý thuyết kết hợp với các tài liệu quan trắc đo đạc trên công trình cho
thấy diễn biến nhiệt trong khối BTĐL phụ thuộc các yếu tố cơ bản sau:
- Nhiệt độ ban đầu của hỗn hợp BTĐL và tính chất tỏa nhiệt của BTĐL
- Hàm lượng xi măng hoặc chất kết dính trong cấp phối BTĐL
- Tính chất thủy hóa của loại xi măng và của cốt liệu sử dụng
- Điều kiện môi trường xung quanh
1.2.5 Diễn biến nhiệt trong bê tông đầm lăn
Trong quá trình bê tông đông cứng, do sự thủy hoá của xi măng đã sinh ra lượng nhiệt
rất lớn, làm cho nhiệt độ trong khối bê tông tăng cao, do tính chất dẫn nhiệt của bê
tông kém nên nhiệt lượng sinh ra tập trung vào trong khối bê tông làm tăng nhiệt độ
trong bê tông gây ra chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài khối bê tông Nhiệt độ trong
khối bê tông cao hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài khối bê tông Theo thời gian,
nhiệt độ trong khối bê tông sẽ giảm dần, tới mức ổn định Quan sát thực tế thấy rằng:
sự giảm dần nhiệt độ tự nhiên của bê tông kéo dài tới vài chục năm Sau khi nhiệt độ
đã giảm xuống tới mức ổn định thì chỉ có vài mét ngoài vỏ của khối bê tông nhiệt độ
lên xuống, thay đổi theo nhiệt độ môi trường bên ngoài
Trang 2618
Quá trình thay đổi nhiệt độ của bê tông khối lớn có thể chia làm 3 thời kỳ: tăng nhiệt,
giảm nhiệt, ổn định nhiệt như hình 1.7 Từ hình vẽ thấy rằng; nhiệt độ cao nhất của bê
tông Tmax bằng nhiệt độ trong bê tông đổ vào Tp cộng với nhiệt độ phát nhiệt lớn nhất
của xi măng (chất kết dính) Tr Từ nhiệt độ Tp đến Tmax là thời kỳ tăng nhiệt, sau khi
đạt đến Tmax thì nhiệt độ trong bê tông sẽ giảm dần, giai đoạn này gọi là thời kỳ giảm
nhiệt, cuối cùng nhiệt độ trong khối bê tông ổn định Thời gian để nhiệt độ trong khối
bê tông đạt đến nhiệt độ ổn định phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Theo kết quả nghiên
cứu của Viện bê tông Hoa Kỳ (ACI) thì trường hợp mặt tường bê tông dày 150 mm có
thể ổn định sau 1,5 giờ, tường dày 1,5 m cần 1 tuần, nếu dày 15m thì phải cần 2 năm
và như các đập Hoover, Shasta, Grand Coulee có chiều dày khoảng trên 150 m thì thời
gian để đạt trạng thái ổn định về nhiệt độ lên tới 200 năm
Quá trình thay đổi nhiệt độ của khối BTĐL được mô phỏng như Hình 1.7
Hình 1 7 Quá trình thay đổi nhiệt độ của khối bê tông
Tmax = Tp + Tr (1.15)
trong đó
Tmax: Nhiệt độ cao nhất của khối bê tông;Tp: Nhiệt độ ban đầu của hỗn hợp bê tông; Tr:
Nhiệt độ lớn nhất do thủy hóa xi măng; Tf: Nhiệt độ ổn định của khối bê tông
1.2.6 Nứt do nhiệt và ứng suất nhiệt
Nhiệt lượng thuỷ hoá xi măng trong bê tông nếu không kịp thời tán phát mà tích tụ lại
sẽ làm cho nội bộ bê tông thể tích lớn phát sinh tăng nhiệt tương đối cao Sự thay đổi
nhiệt độ của khối bê tông làm cho nó biến đổi hình dạng và sinh ra ứng suất Bê tông
Trang 2719
đã cứng trong quá trình nhiệt tăng lên hình thành áp suất nén nhưng trong quá trình hạ
nhiệt lại phát sinh co ngót Khi co ngót bị ràng buộc, trong nội bộ bê tông phát sinh
ứng suất kéo Khi ứng suất kéo vượt quá cường độ kháng kéo, bê tông phát sinh khe
nứt Loại ứng suất do nhiệt độ dẫn đến gọi là ứng suất nhiệt Khe nứt nhiệt hạ thấp tính
hoàn chỉnh kết cấu của bê tông, tính chống thấm và tính vững bền, làm cho toàn bộ độ
an toàn của kết cấu bị hạ thấp Trong thi công bê tông thể tích lớn, mục đích khống chế
nhiệt một cách nghiêm ngặt chính là đề phòng hoặc giảm thiểu xuất hiện khe nứt nhiệt
độ Tùy theo điều kiện của khối bê tông tự do hay không mà có các hiện tượng nứt bề
mặt và nứt xuyên, nứt sâu Nguyên nhân gây hiện tượng nứt là do ứng suất ràng buộc
bên trong và bên ngoài sinh ra trong quá trình bê tông hạ nhiệt co ngót
1.2.6.1 Nứt bề mặt
Trong quá trình bê tông đông cứng, do xi măng thuỷ hoá làm nhiệt độ của khối bê tông
tăng cao, mặt ngoài của khối bê tông tỏa nhiệt nhanh, bên trong tỏa nhiệt chậm, sinh
chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng dẫn đến thể tích các vùng biến đổi khác nhau, kiềm
chế lẫn nhau Nhất là trường hợp bê tông mới đổ xong, nhiệt độ bên ngoài đột ngột hạ
thấp làm cho mặt ngoài của khối bê tông co lại, trong lòng khối bê tông nở ra, dẫn đến
chênh lệch biến dạng trong và ngoài khối lớn Kết cục là trong lòng khối bê tông sinh
ứng suất nén, bề mặt sinh ứng suất kéo Ứng suất nhiệt lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào
sự chênh lệch nhiệt độ, biểu thị trên hình 1.8
T
x O
Trang 2820
Khi ứng suất kéo xuất hiện ở mặt ngoài vượt quá trị số cho phép sẽ xảy ra nứt Đó là
nứt bề mặt Nứt mặt thường không sâu và có khả năng “khép lại” khi nhiệt độ trong
khối bê tông giảm dần
Ứng suất kéo do nhiệt gây nứt mặt được xác định theo công thức sau:
s: ứng suất kéo lớn nhất có thể phát sinh tại mặt khoảnh (N/cm2);
: hệ số giãn nở vì nhiệt của bê tông, thường lấy 10-5÷8×10-6
(1/0C);
E: mô đun đàn hồi của bê tông (N/cm2);
: hệ số Poisson, lấy 0,15÷ 0,2;
T: chênh lệch nhiệt độ bình quân giữa khối bê tông và không khí bên ngoài (0C)
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCXDVN 305:2004 thì có 2 điều kiện sau đây làm cho bê
tông bị nứt do hiệu ứng nhiệt thuỷ hoá xi măng trong bê tông [11] :
Độ chênh nhiệt độ T > 200
C - Điều kiện cần Môdun độ chênh nhiệt độ M T ≥ 500C/m - Điều kiện đủ
Điều kiện đủ M T được mô tả bằng:
MT = tg = (ta-tb)/a = T/a
trong đó: a là khoảng cách giữa 2 điểm a và b có chênh lệch độ T
1.2.5.2 Nứt xuyên
Nứt xuyên xảy ra tại bề mặt tiếp xúc giữa khối bê tông mới đổ với nền đá hoặc với
khối bê tông cũ, do ứng suất kiềm chế của nền đá hoặc khối bê tông đã đổ cũ với khối
bê tông mới đổ
Trang 2921
Ứng suất kiềm chế sinh ra do khối bê tông mới đổ và nền đá hoặc khối bê tông đã đổ
cũ có sự chênh lệch về nhiệt độ hoặc chênh lệch về biến dạng do sự thay đổi nhiệt độ
Ở giai đoạn bê tông phát nhiệt, thể tích bê tông nở ra, ứng suất kiềm chế là ứng suất
nén; ở giai đoạn hạ nhiệt, thể tích bê tông co lại, ứng suất kiềm chế là ứng suất kéo
Khi ứng suất kéo vượt quá khả năng chịu kéo cho phép của bê tông sẽ phát sinh nứt,
loại nứt này được gọi là nứt do sự kiềm chế của nền, hình 1.9
Loại nứt này bắt đầu từ mặt tiếp xúc với nền phát triển lên, ở trường hợp nghiêm trọng
có thể nứt suốt khối bê tông, phá vỡ sự chỉnh thể, do vậy thường gọi là nứt xuyên Vì
vết nứt có thể tới 1÷3 m, nên còn được gọi là nứt sâu Vết nứt thường vuông góc với
mặt nền, gây nguy hại cho đập
Giả thiết khối bê tông mới đổ, nhiệt độ của các điểm trong khối có giá trị là T1 Nếu
khối bê tông hoàn toàn cách nhiệt và nhiệt độ của các điểm trong khối đều tăng lên trị
số T2, khi này chênh lệch nhiệt độ là: T=T2 –T1, tương ứng có biến dạng nhiệt là t =
.T Nếu khối bê tông không bị sự kiềm chế nào, thì sẽ tự do biến dạng và trong khối
bê tông không phát sinh ứng suất nhiệt Song thực tế thì khối bê tông mới đổ gắn chắc
vào nền hoặc mặt của khối bê tông đã đổ cũ và do đó sẽ bị kiềm chế cả hai hướng trên
mặt bằng Tại mặt đáy, do nền không biến dạng nên biến dạng do nhiệt độ thay đổi và
biến dạng do ứng suất nền kiềm chế phải triệt tiêu nhau, nghĩa là:
Trang 3022
t,o: biến dạng do nhiệt độ thay đổi và do kiềm chế của nền;
: hệ số Poisson của bê tông, lấy 0,15÷ 0,2 Các ký hiệu khác như (1.16)
Nếu kể đến các yếu tố ảnh hưởng khác như biến dạng dẻo, từ biến và xét đến mức độ
giảm kiềm chế của nền theo chiều cao của khối bê tông thì ứng suất nhiệt được tính
Kp: hệ số từ biến của bê tông, thường lấy bằng 0,5;
R: hệ số xét đến ảnh hưởng kiềm chế của nền, phụ thuộc vào tỷ số giữa mô đun đàn
hồi của bê tông và nền (E/En) và vào tỷ số giữa chiều cao và cạnh dài của khối bê tông
y
(a) (b) (c) Hình 1 9 Biến dạng do nhiệt độ & ứng suất do nền kiềm chế của khối bê tông
(a) Bi n d ng do nền kiềm ch ; (b) Phân bố ứng suất nhiệt khi bị nền kiềm ch : s1 :
ứng suất n n, s2 : ứng suất o, txy : ứng suất ti p; (c) V t nứt do nền kiềm ch
Khi ứng suất kéo vượt quá ứng suất kéo cho phép, bê tông sẽ nứt Nứt trong trường
hợp này gọi là nứt xuyên (hình 1.10) Nứt xuyên rất nguy hiểm, làm mất tính chỉnh thể
của công trình; nếu không kịp thời phát hiện và xử lý công trình sẽ bị phá hoại Loại
nứt xuyên này thường khó phát hiện và thường sinh ra trong thời kỳ công trình vận
hành
Trang 3123
Hình 1 10 Nứt bề mặt và nứt xuyên ở đập bê tông
1.2.5.3.Nứt song song mặt đập
Phát sinh chủ yếu tại vị trí tiếp giáp giữa các đợt đặc biệt là gần thượng hạ lưu mặt
dừng mùa đông và mặt nghỉ thi công thông thường, nghiêm trọng có thể xuất hiện vết
nứt xuyên thượng hạ lưu, trong vùng lạnh rất khó ngăn ngừa loại vết nứt này Vết nứt
này chủ yếu là do ứng suất chênh lệch nhiệt gây ra và có liên quan đến chiều dài khối
đập, đập càng dài ứng suất càng lớn, do khối đập đập BTĐL khá dài, ứng suất nhiệt
phát sinh do chênh lệch nhiệt độ thượng hạ lưu vượt quá cường độ kháng kéo của
BTĐL
1.2.5.4 Nứt hành lang
Thường xuất hiện ở gần hành lang, hướng vuông góc với bề mặt Nguyên nhân chủ
yếu là mép trong hành lang tiếp xúc với nước hoặc không khí, nhiệt độ nước mùa đông
hoặc nhiệt độ không khí thấp hơn nhiều nhiệt độ ổn định trong đập, ở phạm vi gần
hành lang xuất hiện chênh lệch nhiệt độ lớn, hiện tượng này gọi là quá lạnh Trong
thời kỳ thi công, bề mặt hành lang bị phơi dễ xuất hiện nứt bề mặt, phạm vi kiềm chế
cường độ của nền đập trọng lực thi công lên đều khá lớn, ứng suất kiềm chế cũng khá
lớn làm cho vết nứt phát triển hướng vào trong thân đập
Hầu hết tất cả các loại vết nứt trên đều có liên quan đến nhiệt độ cả trong và ngoài
khối đập
Trang 3224
1.2.7 Một số công trình đập bê tông trọng lực bị nứt do nhiệt
Ở nước ta trong quá trình thi công thuỷ điện Sơn la đã xuất hiện vết nứt tại các khối
C3 và L1 (hình 1.11) [12][13][14][15]:
(a)
(b) Hình 1 11 Sơ đồ vết nứt đập Sơn La
(a): ặt bằng v t nứt t i hối 3 và L1 (b): Sơ đồ v t nứt hối C3
Trang 3325 Hình 1 12 Hiện trạng vết nứt bề mặt đập Sơn La
Trang 3426
Đập Liễu Khê của Trung Quốc thi công bằng công nghệ đầm lăn bị nứt do ảnh hưởng
một phần của nhiệt trong quá trình thi công
Hình 1 13 Sơ đồ vết nứt đập Liễu Khê - Trung Quốc Đập RCC Upper stillwater , Utah Hoa Kỳ cao 90m phát triển 13 vết nứt do nhiệt dọc
thân đập với chiều dài trung bình 49m, rộng 10mm, gây ra thấm về hạ lưu
Hình 1 14 Thấm nước qua vết nứt đập RCC Upper Stillwater, Utah, Hòa Kỳ
(Internet)
Trang 3527
1.3 Những vấn đề đặt ra đối với luận văn
Trong quá trình xây dựng đập BTĐL đã xảy ra một số hiện tượng nứt đập mà theo
đánh giá sơ bộ chủ yếu đến từ nguyên nhân phát sinh nhiệt trong quá trình thi công
BTĐL dẫn đến nứt đập do ứng suất nhiệt Trong điều kiện thời tiết nước ta biên độ dao
động nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hè lớn, chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban
đêm lớn, khí hậu khô hanh, ít mưa Hiện tượng co khô, co ngót nhiệt độ, do thi công,
do chất lượng vật liệu xây dựng… đều có thể sẽ gây ra nứt bê tông làm ảnh hưởng đến
chất lượng bê tông BTĐL và đặc biệt là ảnh hưởng đến độ bền và tuổi thọ công trình
Vì vậy, : “Nghiên cứu trường ứng suất nhiệt trong quá trình thi công đập bê tông
đầm lăn” khi chịu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ ban đầu của khối đổ, nhiệt
độ của môi trường và kích thước của khối đổ trong qua trình thi công là rất cần thiết,
làm cơ sở đánh giá nứt đập BTĐL do nhiệt trong quá trình thi công
1.4 Kết luận chương 1
Với tính chất ưu việt là tốc độ thi công nhanh, giá thành hạ so với công nghệ bê tông
thông thường,công nghệ bê tông RCC đang là xu hướng phát triển không chỉ ở trên
thế giới, mà còn ở Việt Nam trong xây dựng các hồ chứa nhất là các hồ chứa lớn
Tuy đã giảm được rất nhiều sự tăng nhiệt độ trong khối đổ bê tông do hàm lượng xi
măng trong bê tông thấp nhưng vẫn bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác Nhiệt độ sau
khi đổ bê tông sẽ có sự thay đổi khá phức tạp và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; Quá
trình nhiệt trong bê tông gồm 3 giai đoạn: gian đoạn tăng nhiệt, giai đoạn giảm nhiệt
và giai đoạn ổn định nhiệt Quá trình nhiệt cũng hình thành ứng suất nhiệt trong bê
tông khối lớn, khi ứng suất nhiệt phát sinh lớn hơn cường độ chịu kéo của bê tông sẽ
gây ra nứt; Có hai loại vết nứt là nứt mặt và nứt xuyên, trong đó nứt xuyên rất nguy
hiểm cho công trình vì nó thường xuất hiện trong thời gian vận hành công trình Đã có
khá nhiều công trình ở Việt Nam và thế giới xảy ra hiện tượng nứt xuyên gây mất an
toàn cho đập và hồ chứa, công tác khắc phục kéo dài và gây tốn kém
Để hiểu rõ hơn bản chất phá hoại do nhiệt để từ đó có những ứng xử phù hợp, cần hiểu
rõ cơ sở lý thuyết của trường nhiệt và trường ứng suất nhiệt trong bê tông RCC
Trang 3628 Những nghiên cứu được nêu ra ở chương này sẽ làm sơ sở để đưa vào phân tích trường
nhiệt độ và ứng suất nhiệt trong thân đập ở những chương tiếp theo
Trang 3729
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHIỆT HỌC VÀ ỨNG DỤNG
2.1 Cơ sở lý thuyết về truyền dẫn nhiệt [16]
Phân tích nhiệt tuân theo định luật thứ nhất của nhiệt động lực học, tức là định luật bảo
toàn năng lượng:
Đối với một hệ thống khép kín (không có dòng vào hoặc dòng ra của lượng chất):
trong đó: Q - nhiệt lượng; W: công làm việc; U: nội năng hệ thống; ∆KE: động năng
của hệ thống; ∆PE: thế năng của hệ thống
Đối với đại đa số vấn đề truyền nhiệt công trình thì KE PE 0
Thông thường chưa xem xét công làm việc: W=0 , thì: Q=∆U
Đối với phân tích nhiệt ổn định: Q=∆U=0 ; tức là nhiệt lượng dòng vào hệ thống bằng
nhiệt lượng dòng ra
Đối với truyền nhiệt không ổn định; tức là tốc độ chuyển nhiệt dòng vào hoặc dòng ra
q bằng nội năng hệ thống thay đổi theo thời gian
Bài toán nhiệt trong bê tông khối lớn được xây dựng trên cơ sở lý thuyết truyền nhiệt
Truyền nhiệt là một quá trình phức tạp xảy ra đồng thời bởi ba dạng trao đổi nhiệt cơ
bản:
Trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt, gọi tắt là dẫn nhiệt;
Trao đổi nhiệt bằng đối lưu;
Trao đổi nhiệt bằng bức xạ
2.1.1 Truyền dẫn nhiệt
Dẫn nhiệt là quá trình trao đổi nhiệt giữa các phần của một vật hay giữa các vật có
nhiệt độ khác nhau khi chúng tiếp xúc với nhau Hình thức trao đổi nhiệt diễn ra trong
Trang 3830
khối bê tông là từ phần này sang phần khác, diễn ra ở nơi tiếp xúc giữa bê tông với
nền, giữa bê tông với ván khuôn và giữa bê tông với không khí hoặc nước
Phương trình vi phân dẫn nhiệt được thiết lập trên cơ sở định luật bảo toàn năng lượng
và định luật Fourier với các giả thiết là vật liệu đồng chất, đẳng hướng; các đại lượng
vật lý không đổi; vật xem là hoàn toàn cứng, nghĩa là sự thay đổi thể tích do nhiệt độ
gây nên rất nhỏ và các phần vĩ mô của vật không có sự chuyển động tương đối với
: hệ số dẫn nhiệt của vật liệu, với bê tông = (1,1÷2,3) Kcal/m.h.oC;
C: nhiệt dung riêng của vật liệu, với bê tông C = (0,22 ÷ 0,27) Kcal/Kg.oC;
: khối lượng riêng của vật (kg/m3);
x, y, z : tọa độ điểm đang xét;
qv: năng suất phát nhiệt của nguồn nhiệt bên trong (Kcal/m3.h)
Trang 39Trường hợp dẫn nhiệt ổn định không có nguồn nhiệt bên trong thì phương trình vi
phân dẫn nhiệt được biểu diễn dưới dạng phương trình Laplace:
2
T 0
Phương trình (2.2) là phương trình vi phân dẫn nhiệt tổng quát Giải phương trình vi
phân này, ta được nghiệm tổng quát dưới dạng T = f(x,y,z,t) Muốn được nghiệm cụ
thể của từng bài toán, ta cần kết hợp với các điều kiện ban đầu và điều kiện biên
2.1.2 Đối lưu nhiệt
Trao đổi nhiệt đối lưu là quá trình trao đổi nhiệt được thực hiện nhờ sự chuyển động
của chất lỏng hay chất khí giữa các vùng có nhiệt độ khác nhau Trao đổi nhiệt đối lưu
luôn luôn kèm theo hiện tượng dẫn nhiệt, vì trong nội bộ chất lỏng hoặc chất khí
không thể tránh khỏi có những phần tử có nhiệt độ khác nhau tiếp xúc với nhau
Trao đổi nhiệt đối lưu giữa bề mặt vật rắn với chất lỏng hoặc chất khí chuyển động gọi
là tỏa nhiệt đối lưu Trong công trình thủy lợi, trao đổi nhiệt đối lưu là sự tỏa nhiệt từ
bề mặt công trình với không khí hoặc từ bề mặt công trình với môi trường nước Trong
trường hợp bề mặt bê tông có ván khuôn thì sự tỏa nhiệt sẽ diễn ra trên bề mặt ván
khuôn với môi trường
Trang 4032
Theo định luật Fourier thì quan hệ giữa nhiệt lượng Q truyền qua bề mặt đẳng nhiệt F
trong một đơn vị thời gian có thể xác định theo biểu thức:
: hệ số toả nhiệt (Kcal/m²hoC);
F : diện tích bề mặt trao đổi nhiệt (m²);
Tw: nhiệt độ bề mặt vách (oC);
Tf : nhiệt độ trung bình của chất lỏng (oC)
Trao đổi nhiệt đối lưu là một quá trình phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình
dạng, kích thước bề mặt trao đổi nhiệt, nhiệt độ bề mặt vật, nhiệt độ chất lỏng, , C,
của chất lỏng,
2.1.3 Bức xạ nhiệt
Trao đổi nhiệt bức xạ là quá trình trao đổi nhiệt được thực hiện bằng sóng điện từ.Quá
trình trao đổi nhiệt bằng bức xạ liên quan đến hai lần chuyển biến năng lượng: nhiệt
năng biến thành năng lượng bức xạ và năng lượng bức xạ biến thành nhiệt năng Khác
với trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt và trao đổi nhiệt bằng đối lưu, cường độ trao đổi
nhiệt bức xạ không chỉ phụ thuộc vào độ chênh nhiệt độ, mà còn phụ thuộc vào giá trị
tuyệt đối nhiệt độ của vật Trao đổi bằng nhiệt bức xạ giữa các vật còn có thể diễn ra
trong chân không
Ánh sáng mặt trời ảnh hưởng đến nhiệt độ môi trường, nó làm thay đổi nhiệt độ bề mặt
công trình Sự tăng thêm biên độ dao động nhiệt ở bề mặt công trình do ánh sáng mặt