1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện hữu lũng

101 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 671,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường lao động Lạng Sơn có các đặc thù: Tỷ lệ lao động tự làm cao, khu vực phi chính thức lớn, việc làm nông nghiệp ở vùng núi nhiều khó khăn, thị trường lao động bị chia cắt do sự thiế

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan Luận văn “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho

lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng” là công trình nghiên cứu của

riêng em Các nội dung trong luận văn hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân em, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Quốc Hưng Số liệu và kết quả có được trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Cao Sơn Thuỷ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em muốn gửi lời cảm ơn đến các Quý Thầy Cô Trường Đại học Thuỷ lợi

Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo cho em những nền tảng kiến thức Chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Quản lý đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học và thực hiện nghiên cứu khoa học Sự quan tâm của thầy, cô

đã góp phần tạo động lực cho em hoàn thành bài luận văn này Chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Quốc Hưng, người hướng dẫn khoa học của luận văn đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em về mọi mặt trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài em còn nhận được sự giúp đỡ của Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Hữu Lũng, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Hữu Lũng, Trường cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Đông Bắc đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Cao Sơn Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 4

1.1 Nông thôn và lao động nông thôn 4

1.1.1 Nông thôn 4

1.1.2 Lao động nông thôn 5

1.1.3 Các đặc điểm của lao động nông thôn 7

1.2 Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 8

1.2.1 Khái niệm nghề 8

1.2.2 Khái niệm đào tạo nghề 8

1.2.3 Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn 10

1.2.4 Vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn 10

1.3 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 11

1.3.1 Xây dựng kế hoạch đào tạo 11

1.3.2 Tổ chức đào tạo 11

1.3.3 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị dạy nghề công lập 12

1.3.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề 12

1.3.5 Xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn 13

1.3.6 Hỗ trợ cho lao động nông thôn học nghề 14

1.3.7 Giám sát, quản lý hoạt động đào tạo nghề 14

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 15

1.4.1 Các chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề 15

1.4.2 Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề 16

1.4.3 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề 16

Trang 4

1.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động ĐT nghề cho lao động nông thôn

17

1.5.1 Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền 17

1.5.2 Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề đối với LĐNT 17

1.5.3 Hoạt động điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề cho LĐNT 18

1.5.4 Nhân rộng mô hình dạy nghề cho LĐNT có hiệu quả 18

1.5.5 Đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề công lập 19

1.5.6 Hoạt động phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề; xây dựng, phê duyệt danh mục nghề đào tạo, định mức chi phí đào tạo nghề 19

1.5.7 Hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên, người dạy nghề, cán bộ quản lý dạy nghề 20

1.5.8 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của các doanh nghiệp và người sử dụng lao động 20

1.6 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 22

1.6.1 Kinh nghiệm trong nước 22

1.6.2 Kinh nghiệm ngoài nước 24

1.7 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỮU LŨNG 30

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hữu Lũng 30

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hữu Lũng 38

2.2.1 Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn 38

2.2.2 Tốc độ phát triển và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 39

2.2.3 Thái độ xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề 39

2.3 Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hữu Lũng 40 2.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo nghề 40

2.3.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo 42

Trang 5

2.3.3 Tổ chức đào tạo 43

2.3.4 Thực trạng hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề huyện Hữu Lũng 44

2.3.5 Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước 45

2.3.6 Thực trạng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý 46

2.3.7 Thực trạng phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề 47

2.3.8 Quản lý hoạt động đào tạo 47

2.4 Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hữu Lũng 48

2.4.1 Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền 48

2.4.2 Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề đối với LĐNT 48

2.4.3 Hoạt động điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề cho LĐNT 49

2.4.4 Nhân rộng mô hình dạy nghề cho LĐNT có hiệu quả 50

2.4.5 Hoạt động đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề công lập 51

2.4.6 Hoạt động phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề; xây dựng, phê duyệt danh mục nghề đào tạo, định mức chi phí đào tạo nghề 52

2.4.7 Hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên, người dạy nghề, cán bộ quản lý dạy nghề 53

2.4.8 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của các doanh nghiệp và người sử dụng lao động trên địa bàn huyện Hữu Lũng 54

2.5 Đánh giá chung về thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng 55

2.5.1 Những kết quả đạt được 55

2.5.2 Những tồn tại 57

2.5.3 Nguyên nhân gây ra tồn tại 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỮU LŨNG 61

3.1 Định hướng phát triển của huyện Hữu Lũng đến năm 2020 61

3.1.1 Định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn 61

3.1.2 Phương hướng, mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông huyện Hữu Lũng 62

Trang 6

3.1.3 Quan điểm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện Hữu Lũng

thời kỳ CNN, HĐH 69

3.2 Cơ hội và thách thức về đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hữu Lũng 71

3.2.1 Cơ hội 71

3.2.2 Thách thức 73

3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn 2015 - 2020 74

3.3.1 Giải pháp về chính sách 75

3.3.2 Giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập 79

3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn 30

Bảng 2.1 Thống kê diện tích các loại đất năm 2016 33

Hình 2.2 Tỷ lệ các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện Hữu Lũng 36

Hình 2.3 Tỷ trọng tăng trưởng các ngành kinh tế huyện Hữu Lũng 37

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2 Dự báo dân số, quy mô tạo việc làm, tỷ lệ LĐNT qua đào tạo 41Bảng 2.3 Dự báo về nhu cầu đào tạo nghề và tạo việc làm cho LĐNT trên địa bàn huyện 42Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả dạy nghề cho LĐNT của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn huyện (từ năm 2010 – năm 2014) 44Bảng 2.5 Kết quả sử dụng kinh đào tạo nghề giai đoạn 2011 - 2015 46Bảng 2.6 Bảng tổng hợp một số mô hình cá nhân, tổ chức điển hình trong ĐTN cho LĐNT có hiệu quả địa bàn huyện 51

Trang 9

LĐNT : Lao động nông thôn

LĐ - TB và XH : Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là kinh tế nông thôn Nâng cao chất lượng dân số và phát triển nhân lực là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển, là chính sách xã hội cơ bản, hướng ưu tiên hàng đầu trong toàn bộ chính sách kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta khi chuyển sang giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế Nhận thức được vai trò của

nguồn nhân lực, Đại hội Đảng XI cũng xác định “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển

và ứng dụng khoa học công nghệ” là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển

kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011 - 2020 [1]

Đối với Chính phủ ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm

2020 (thường gọi là đề án 1956) với quan điểm : "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”[2] Đây là văn bản quan trọng giúp các địa phương cũng

như các bộ ban ngành có cơ sở để tiến hành đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho lao động nông thôn

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc, nằm trên tuyến hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đầu mối giao thương quốc tế, có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước và khu vực Để khai thác có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực sẵn có cũng như tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi, với lực lượng lao động làm nông nghiệp lớn, cơ cấu trẻ nhưng chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế Ngành nông nghiệp tỉnh Lạng Sơn chưa phát triển, lao động nông thôn hiện nay phần lớn vẫn

là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, chưa qua đào tạo; Hiện nay, thị

Trang 12

trường lao động Lạng Sơn có các đặc thù: Tỷ lệ lao động tự làm cao, khu vực phi chính thức lớn, việc làm nông nghiệp ở vùng núi nhiều khó khăn, thị trường lao động

bị chia cắt (do sự thiếu hụt thông tin thị trường lao động, thiếu các chính sách về thị trường lao động, chính sách về hành chính…), bất cân đối lớn về cung - cầu lao động (đặc biệt là cung lao động phổ thông), giá cả sức lao động rẻ và hạn chế liên kết với thị trường lao động trong tỉnh và cả nước… đã cản trở đến sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường lao động… dẫn đến tình trạng thất nghiệp của lao động khu vực nông thôn và thành thị còn cao, tiềm năng của nguồn nhân lực nông thôn chưa được khai thác đầy

đủ ảnh hưởng đến khả năng kết hợp các nguồn nhân lực tự nhiên với các nguồn lực vốn, công nghệ, tri thức, thông tin để tăng sản phẩm, thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và dân cư

Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây – Nam, thuộc huyện vùng núi thấp của tỉnh Lạng Sơn Trong thời gian vừa qua công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Hữu Lũng chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế

xã hội của Huyện Kinh phí dành cho công tác đào tạo nghề ít, chủ yếu là nguồn kinh phí từ Chương trình mục tiêu Quốc gia Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo nghề lạc hậu Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy các lớp dạy nghề vừa thiếu lại vừa yếu, chưa huy động được đội ngũ chuyên gia, các nghệ nhân tham gia giảng dạy

Đã có nhiều chính sách về phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông thôn nói riêng, nhưng các chính sách này đang gặp nhiều bất cập trong triển khai,

tổ chức thực hiện và chưa thực sự có hiệu quả cao, cần được điều chỉnh và tăng cường Chính những lý do trên đây, em lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng”

2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài

Luận văn tập chung nghiên cứu và đánh giá một số những vấn đề sau:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn, bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng

Trang 13

Từ những phân tích và đánh giá trên đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở

lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng từ nay cho đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lao động nông thôn, người học nghề, giáo viên dạy nghề, cán bộ quản lý dạy nghề, cán bộ xã, các đơn vị có liên quan và những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng

Phạm vi về mặt thời gian, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, thu thập và phân tích các

số liệu thực trạng liên quan đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hữu Lũng trong giai đoạn 2010 - 2015 và đề xuất các giải pháp tăng cường chất lượng công tác này trong thời gian tới

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu chung của khoa học kinh tế như: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích, phân tích so sánh và tổng hợp, phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia,… để đưa ra các đánh giá về thực trạng lao động nông thôn huyện Hữu Lũng

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã thực hiện phân tích định tính và định lượng, thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Nông thôn và lao động nông thôn

1.1.1 Nông thôn

Cho đến nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng răi Nếu cho rằng nông thôn là địa bàn có mật độ dân số thấp hơn thành thị thì chưa thoả đáng vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các nước và ngay ở nước ta thì một số vùng nông

thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số không thấp hơn

Có nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp Đây là ý kiến có tính thuyết phục hơn nhưng chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư,

cụ thể:

"Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [18]

Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị, vì vậy nó

mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn

Với khái niệm về nông thôn như trên, chúng ta có thể phân tích những đặc trưng chủ

yếu của vùng nông thôn và so sánh với thành thị

Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò quan trọng (kể cả lâm và ngư nghiệp) Kể cả những vùng mà Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng Bên cạnh đó,

nông nghiệp còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn thành thị, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá kém hơn Đối với mọi quốc gia thì chỉ tiêu này là khá rõ

Trang 15

ràng Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển kinh

tế - xã hội thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá

thành thị

Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng về quy

mô và trình độ phát triển…giữa các vùng khác nhau thì tính đa dạng cũng khác nhau

Thứ năm, một đặc trưng khác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng - xã - thôn - bản rất chặt chẽ Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành thị, do đó tính cộng đồng làng xã rất vững chắc Mỗi làng, mỗi thôn bản hay mỗi vùng nông thôn đều có phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng Điều đó giống như pháp luật bất thành văn mà mọi cư dân phải tuân theo Dân cư thành thị chủ yếu là từ nhiều nơi đến lập nghiệp nên phong tục tập quán và bản sắc văn hoá phong phú đa dạng, không đồng nhất, còn nông thôn, những bản sắc văn hoá của mỗi làng bản được duy trì vững chắc hơn Điều đó tạo nên truyền thống văn hoá của mỗi vùng, mỗi làng quê ở nông thôn, nó in đậm trong đời sống

tâm hồn của mỗi con người sinh ra và lớn lên ở đó

1.1.2 Lao động nông thôn

* Khái niệm lao động nông thôn

Trước hết, chúng ta biết lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội Theo đó, có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn lao động Trong phạm vi bài khóa luận, em sử dụng khái niệm sau:

Trang 16

Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động

Theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, độ tuổi lao động của người Việt Nam được quy định như sau:

Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi

Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi.[4]

Như vậy, chúng ta cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động Cả hai thuật ngữ đều giới hạn độ tuổi lao động theo quy định, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộ phân dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân như chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Do vậy, nguồn lao động là một bộ phận của dân

số trong độ tuổi lao động

Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong

độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc

“Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc” [5]

* Lao động nông thôn:

Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn được hiểu như sau: Lao động nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch

vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lí do khác

Trang 17

nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên

nhân như đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, và những người thuộc tình trạng khác.[7]

Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế

- xã hội nông thôn

1.1.3 Các đặc điểm của lao động nông thôn

Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng em đưa ra một số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau:

Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp

Hai là: do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của LĐNT

Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động

Năm là: thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số

Sáu là: trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác [15]

Trang 18

1.2 Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.2.1 Khái niệm nghề

Nghề là một khái niệm trừu tượng, khó có một cách hiểu cụ thể và rõ ràng nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định:

Một là: Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại

Hai là: Nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội

Ba là: Nghề là phương tiện để sinh sống

Bốn là: Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.[5]

Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề được hiểu như sau: Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.[6]

1.2.2 Khái niệm đào tạo nghề

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Đào tạo nghề cho người lao động nông thôn là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác Theo Tổ chức Lao

Trang 19

động Quốc tế (ILO): "Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu" Như vậy, có thể hiểu, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động

để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.[5]

Năng lực là sự tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người

Kiến thức là những điều hiểu biết có được hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế giới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc trưng như kế toán, tài chính, ) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trưng mà người lao động trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo)

Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó Những kỹ năng sẽ giúp cho người lao động hoàn thành tốt công việc quy định tính hiệu quả của công việc

Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình, đam mê đối với công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao

Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả ba yếu tố: thái độ, kỹ năng

và kiến thức Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người lao động với công việc Một người có thể có kiến thức sâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vô trách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc

Trang 20

1.2.3 Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Kết hợp từ khái niệm về đào tạo nghề và khái niệm LĐNT như đã trình bày ở trên em xin đưa ra khái niệm về đào tạo nghề cho LĐNT như sau: đào tạo nghề cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo

1.2.4 Vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn có vai trò hết sức cần thiết và quan trọng vì trang bị các kỹ năng, kiến thức nghề cho lao động nông thôn ở các cấp trình độ để góp phần giải quyết việc làm nuôi sống được bản thân, tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Tạo điều kiện cho lao động nông thôn và các đối tượng chính sách xã hội được tham gia học nghề với sự hỗ trợ của nhà nước, góp phần tạo nguồn nhân lực có trình độ tay nghề nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khu vực nông thôn

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình

độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính, quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Ngoài ra vai trò của đào tạo nghề tác động trực tiếp tới đảm bảo an sinh xã hội, nhất

là đối với nhóm lao động nông thôn, lao động nghèo Thông qua việc trang bị các kiến thức, kỹ năng tối thiểu về nghề nghiệp từ các khoá đào tạo ngắn hạn, người lao động nông thôn, nông dân đã có khả năng nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, thoát được nghèo một cách bền vững

Như vậy, đào tạo nghề vô hình trung, trở thành một nhân tố làm giảm số lượng những người “yếu thế” trên thị trường lao động và như vậy, xét ở khía cạnh quốc gia,

an sinh xã hội được đảm bảo hơn, nhà nước đỡ phải chi phí nhiều hơn cho các loại trợ cấp xã hội, do nghèo đói, do không có việc làm [8]

Trang 21

1.3 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.3.1 Xây dựng kế hoạch đào tạo

Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, dự báo trước và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm Căn cứ thực trạng ban đầu và căn cứ vào mục tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ cử

tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đạt được mục tiêu

Vậy có thể hiểu, xây dựng kế hoạch đào tạo là xác định các mục tiêu, thời gian, biện pháp, cách thức thực hiện và nhân sự thực hiện công tác đào tạo nghề để đạt được mục tiêu đã đề ra Dựa trên nhu cầu đào tạo nghề, cần xác định mục tiêu đào tạo nghề và các yếu tố cần thiết để đảm bảo người lao động sau khi được đào tạo sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động Những yếu tố đảm bảo được vấn đề trên chính là số lượng đào tạo, ngành nghề đào tạo, đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và trình độ đào tạo của người lao động

1.3.2 Tổ chức đào tạo

Sau khi đã xây dựng được kế hoạch đào tạo, tổ chức chương trình đào tạo là nội dung quan trọng thứ ba trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn Trong giai đoạn này, bộ phận phụ trách đào tạo thực hiện các nhiệm vụ: tổ chức các lớp đào tạo bằng các hình thức, phương pháp đào tạo khác nhau Phương thức đào tạo rất đa dạng, căn cứ vào nhu cầu, mục tiêu cũng như đặc điểm của ngành nghề, đối tượng học nghề để lựa chọn

và xác định phương thức đào tạo phù hợp Đa số các hình thức đào tạo đều sử dụng chung phương pháp đào tạo trực tiếp, đó là Nghe/đặt câu hỏi kết hợp với Xem xét/thực hành để áp dụng Sự khác nhau giữa các lớp học và giữa các cơ sở dạy nghề chính là ở hình thức đào tạo, một số hình thức đào tạo phổ biến: Đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề, Kèm cặp trong sản xuất, tại địa điểm tập trung trong địa phương, Đào tạo tại doanh nghiệp

Ngoài phương thức đào tạo ra, một số vấn đề quan trọng khác trong khâu tổ chức đào tạo cũng cần được chú ý, đó là các thiết bị phục vụ cho đào tạo, kinh phí cho đào tạo,

Trang 22

đội ngũ giảng viên, giáo viên, các hình thức theo dõi nội dung và tiến độ đào tạo, định

kỳ gặp gỡ người dạy và người học để nắm bắt tình hình và các phát sinh, nắm bắt kết quả từng bước trong quá trình đào tạo để có thể phối hợp và điều chỉnh kịp thời…đảm bảo điều kiện và sự phục vụ tốt nhất cho quá trình đào tạo

1.3.3 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị dạy nghề công lập

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị là một trong những nhân tố quan trọng tác động tích cực tới việc đảm bảo và nâng cao dạy và học tại các đơn vị dạy nghề công lập Chất lượng của cơ sở vật chất gắn chặt với chất lượng đào tạo, vì thế

việc đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất là đòi hỏi cần thiết nhằm giúp cho người học đáp ứng được yêu cầu của thực tế trong tình hình mới Nếu cơ sở dạy nghề có đầy đủ

cơ sở vật chất, phương tiện, máy móc, hệ thống giáo trình… phục vụ cho hoạt động đào tạo nghề thì chất lượng lao động được đào tạo tại cơ sở đó sẽ được đảm bảo và nâng cao

Hệ thống cơ sở vật chất là những điều kiện rất cần thiết cho hoạt động dạy nghề Dạy nghề là dạy và rèn kỹ năng lao động, dạy nghề cần có hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, nhất là các trang thiết bị phục vụ cho dạy nghề Kinh phí cho việc đầu tư các thiết bị thường rất lớn vì đó là các máy móc, thiết bị cho người học rèn tay nghề nên số lượng lớn và sử dụng thường xuyên, Vì vậy, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo

nghề có vai trò hết sức quan trọng Tăng cường cơ sở vật chất có sự tham gia của các cấp quản lý vĩ mô với các hoạt động quan trọng như: quy hoạch hệ thống đào tạo nghề trên các phương diện cơ sở vật chất, cấp vốn cho các trường, các cơ sở đào tạo nghề và

giám sát quá trình sử dụng vốn Vai trò này chủ yếu thuộc về Tổng cục dạy nghề với

tư cách là đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề, các bộ ngành, các địa phương có liên quan trong chức năng chủ quản của một số cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn thuộc ngành, địa phương [2]

1.3.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề

Đội ngũ cán bộ đào tạo nghề bao gồm các cán bộ quản lý ở cơ sở đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề Đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề là những người trực tiếp truyền đạt các kiến thức cơ bản về nghề, đồng thời cũng là những người hướng dẫn

Trang 23

nghề và rèn luyện tay nghề Vì vậy đội ngũ giáo viên dạy nghề phải là những người nắm vững lý thuyết, nhưng rất giỏi về thực hành Để có được đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng được yêu cầu, các cơ sở dạy nghề cần phải có chế độ tuyển dụng những người đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (có nền tảng lý thuyết vững và trình độ tay nghề giỏi), có lòng yêu nghề Không chỉ vậy, các cơ sở đào tạo nghề cần có chế độ thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và có chính sách sử dụng đội ngũ giáo viên theo hướng khuyến khích, tạo sự yên tâm với nghề, nhất là ở những nơi có sự cạnh tranh cao giữa các trường nghề với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp [2]

1.3.5 Xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn

Các chương trình, giáo trình đào dạy nghề là cơ sở để các cơ sở đào tạo nghề thực hiện các hoạt động dạy và đào tạo tay nghề Các chương trình, giáo trình phải rất cụ thể theo từng nghề và nhóm nghề Các chương trình, giáo trình hướng đến 2 mục tiêu là trang bị cho người học những kiến thức cơ bản và rèn luyện kỹ năng nghề một cách cụ thể Để xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề phải xác định được hệ thống ngành nghề, cơ sở sẽ tham gia đào tạo Cơ sở xác định hệ thống ngành nghề là phạm vi sản phẩm của các cơ sở đào tạo nghề sẽ cung ứng Vì vậy, căn

cứ xác định hệ thống ngành nghề đào tạo nghề là nhu cầu của các địa phương, các cơ

sở đào tạo cung ứng lao động đào tạo Xét trên khía cạnh này, mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hệ thống ngành nghề sẽ phát sinh là cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo Việc xác định nhu cầu ngành nghề đào tạo là sự kết hợp giữa các địa phương với các cơ sở đào tạo trên địa bàn các địa phương theo mức độ ảnh hưởng của các cơ sở đào tạo Vì vậy tổ chức xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình thuộc về chức năng của các trường dưới sự chỉ đạo, giám sát và phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước

Để có chương trình, giáo trình dạy nghề có chất lượng, nhà nước có thể tổ chức xây dựng chương trình, giáo trình chuẩn theo từng cấp dạy nghề để từng cơ sở dạy nghề bổ sung, lựa chọn phù hợp với điều kiện từng cơ sở và yêu cầu sử dụng lao động của từng vùng Chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn so với chương trình, giáo trình dạy nghề nói chung cần cụ thể và dễ hiểu hơn Thậm chí dạy nghề cho lao

Trang 24

động nông thôn vùng sâu, vùng xa, cho các đồng bào dân tộc ít người cần theo phương thức cầm tay chỉ việc, hết sức cụ thể, không tách rời mà gắn lý thuyết với thực hành theo từng kỹ năng nghề Thời gian tổ chức các lớp dạy nghề thường ngắn, vào những thời điểm thích hợp, thường là thời gian nông nhàn [2]

1.3.6 Hỗ trợ cho lao động nông thôn học nghề

Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tương ứng Ngược lại, nhu cầu đào tạo cũng có thể được tính toán từ việc xem xét các điều kiện vật chất và con người

có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu cầu từ sự phát triển kinh tế xã hội

Tuy nhiên xem xét nhu cầu đào tạo nghề cần xem xét tới đối tượng của hoạt động dạy nghề, những người học nghề với nhu cầu học nghề thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề Nông dân là những người có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dưới dạng học phí thường sử dụng ngân sách hoặc qua các chương trình hỗ trợ Thậm chí có một số đối tượng như người nghèo, các đối tượng chính sách khác còn phải hỗ trợ kinh phí cho người học mới có thể tổ chức được Vì vậy, xã hội hóa đào tạo nghề, giảm bớt gánh nặng về kinh phí mới hy vọng nâng cao trình độ nghề cho lao động nông thôn, khu vực có số lượng người cần đào tạo nghề rất lớn [2]

1.3.7 Giám sát, quản lý hoạt động đào tạo nghề

Quản lý hoạt động đào tạo chính là quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đào tạo Kết quả đào tạo phản ánh kiến thức, kỹ năng, thái độ học viên lĩnh hội được sau đào tạo Điều này có đáp ứng được mục tiêu đào tạo và các yêu cầu thực tiễn sản xuất và nhu cầu của thị trường hay không và thường được đánh giá một cách toàn diện như sau: sự phản ứng của người học đối với chương trình đào tạo, các kết quả thu nhận được của người học, công tác tổ chức của chương trình đào tạo và tỷ lệ học viên

sử dụng nghề đào tạo sau đào tạo, khả năng tạo việc làm sau đào tạo của người học có giúp họ cải thiện thu nhập, ổn định đời sống hay không…

Trang 25

Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn Thông qua đó sẽ rút ra được những ưu điểm và hạn chế của chương trình cũng như hình thức đào tạo để có kinh nghiệm đào tạo hiệu quả hơn nữa cho các chương trình đào tạo lần sau.[2]

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Chất lượng đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho LĐNT nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Nhưng xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau thì chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn chịu ảnh hưởng chính của một số nhân tố sau đây:

1.4.1 Các chính sách của Nhà nước về đào tạo nghề

Đào tạo nghề có chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, vì vậy muốn đào tạo nghề phát triển thì Nhà nước phải có các chính sách đầu tư; đồng thời phải ban hành

hệ thống văn bản tạo hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đào tạo nghề phát triển

Kể từ khi Luật dạy nghề có hiệu lực từ năm 2006, nay là Luật Giáo dục nghề nghiệp các chính sách mới liên quan về đào tạo nghề cho người lao động được ban hành, phù hợp với thực tế đào tạo nghề như việc ban hành các chính sách đầu tư cho dạy nghề:

Dự án nâng cao năng lực đào tạo nghề thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục

và đào tạo, trong đó có hợp phần đào tạo nghề cho LĐNT; Đề án phát triển đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020; Chính sách đối với người học nghề (miễn giảm học phí, cử tuyển, giới thiệu việc làm…); Chính sách đối với trường nghề và trung tâm dạy nghề; Chính sách đối với giáo viên, giảng viên tham gia đào tạo nghề và cán bộ quản

lý dạy nghề; Chính sách đối với DN tham gia đào tạo nghề, nhận lao động qua sau khi được đào tạo nghề

Nhà nước quản lý dạy nghề thông qua hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật như: quy định về thành lập, đăng ký hoạt động dạy nghề, quy chế hoạt động của trường dạy nghề; chương trình khung; mã nghề; quy định liên thông các trình độ tay nghề; kiểm định chất lượng đào tạo nghề Đó là những chính sách quan trọng giúp phát triển đào tạo nghề

Trang 26

1.4.2 Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề

Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện, học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nghề, ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học viên có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong DN bấy nhiêu Chất lượng của cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề đòi hỏi phải theo kịp tốc độ đổi mới hiện đại hóa của máy móc, thiết bị sản xuất

1.4.3 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề

Chất lượng của một nền giáo dục phụ thuộc trước hết vào chất lượng của những người thầy cô giáo và thành công của các cuộc cải cách giáo dục luôn phụ thuộc vào ý chí muốn thay đổi của người giáo viên Ở đâu có người thầy giỏi ở đó sẽ có những người trò giỏi Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định, tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo: là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm cho các học viên trên cơ sở thiết bị dạy học

Đào tạo nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, yêu cầu kỹ thuật cao, thường xuyên phải cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề để phù hợp với tiến bộ KHKT; học viên vào học nghề có rất nhiều cấp trình độ văn hóa, độ tuổi khác nhau Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều trình độ khác nhau

+ Chia theo các môn học trong đào tạo nghề có giáo viên dạy bổ túc các môn văn hóa đối với hệ đào tạo trung cấp nghề cho học sinh tốt nghiệp THCS; giáo viên dạy các môn học chung đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; giáo viên dạy nghề, gồm có giáo viên dạy lý thuyết nghề và giáo viên dạy thực hành nghề

+ Chia theo trình độ: đối với đào tạo trình độ cao đẳng nghề, giáo viên dạy nghề phải

có trình độ từ đại học trở lên, đối với đào tạo trình độ trung cấp nghề giáo viên dạy nghề phải có trình độ từ cao đẳng trở lên; đối với đào tạo trình độ sơ cấp nghề và đào

Trang 27

tạo nghề dưới 3 tháng, giáo viên dạy nghề có thể là nhà giáo, nhà khoa học, nghệ nhân, người có tay nghề cao Ngoài ra, giáo viên dạy nghề phải có nghiệp vụ sư phạm về dạy nghề

Một nguồn nhân lực khác cũng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề đó là đội ngũ cán

bộ quản lý dạy nghề Chất lượng cán bộ quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến đào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối, quá trình đào tạo; định hướng, tìm kiến

cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo…

Vì vậy giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề phải có đủ cả về số lượng và chất lượng thì mới có thể tận tình hướng dẫn, theo sát học viên và đặc biệt là đội ngũ giáo viên phải có chất lượng thì mới có thể giảng dạy và truyền đạt cho các học viên học nghề, quản lý dạy nghề một cách hiệu quả

1.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động ĐT nghề cho lao động nông thôn

1.5.1 Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền

Các cấp ủy, chính quyền tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, người lao động về công tác dạy nghề - việc làm Phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong việc tuyên truyền, tư vấn về nghề nghiệp, cung cấp các thông tin về thị trường lao động, chú trọng tuyên truyền cho người lao động ở khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, lao động nữ về chính sách

dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Phấn đấu mỗi năm đào tạo nghề cho trên 750 lao động với tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo nghề đạt trên 80%; bồi dưỡng kỹ năng dạy nghề, nghiệp vụ sư phạm nghề cho 100% số người tham gia dạy nghề; nghiên cứu, biên soạn giáo trình phù hợp với nhu cầu, tình hình kinh tế- xã hội của địa phương; đưa đi đào tạo, bồi dưỡng cho khoảng 300 lượt cán bộ, công chức cấp

xã với tỷ lệ cán bộ được qua đào tạo đạt trên 65%; xuất khẩu lao động phấn đầu mỗi năm đưa trên 150 lao động đi tham gia xuất khẩu; lao động tại các doanh nghiệp trong nước đạt trên 1.000 lao động/năm [10]

1.5.2 Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề đối với LĐNT

Các cơ quan phát thanh, truyền hình, các phương tiện báo chí ở địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; biến các phương tiện

Trang 28

thông tin đại chúng trở thành những kênh thông tin quan trọng nâng cao nhận thực của các cấp, các ngành và của toàn xã hội về dạy nghề cho lao động nông thôn

Biên soạn các tài liệu tuyên truyền đến từng người dân chủ trương của Đảng và Chính phủ, các kế hoạch, mục tiêu đào tạo nghề của địa phương đến từng cơ sở đào tạo nghề

và đến từng lao động nông thôn Tuyên truyền các chính sách ưu đãi đối với lao động nông thôn tham gia đào tạo nghề

Công tác tuyên truyền đã được các đơn vị triển khai thực hiện tốt, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.5.3 Hoạt động điều tra khảo sát, dự báo nhu cầu dạy nghề cho LĐNT

Để triển khai, tổ chức thực hiện tốt công tác đào tạo nghề, hàng năm cần tiến hành điều tra khảo sát, tổng hợp số lượng người lao động trên địa bàn huyện có nhu cầu đào tạo nghề để có định hướng tốt các chương trình kế hoạch đào tạo cho phù hợp với điều kiện thực thế của địa phương

1.5.4 Nhân rộng mô hình dạy nghề cho LĐNT có hiệu quả

Trong quá trình triển khai và thực hiện công tác đào tạo nghề cho LĐNT, cần nghiên cứu nhân rộng các mô hình dạy nghề Kỹ thuật sửa chữa máy nông nghiệp, Kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, Kỹ thuật trồng cây Lâm nghiệp, kỹ thuật trồng cây ăn quả

…là những mô hình dạy nghề có nhiều hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, và nhu cầu của người học, có khả năng nhân rộng trên địa bàn Áp dụng phương pháp dạy giáo viên và học viên cùng trao đổi kiến thức thông qua tài liệu và thực hành trên các vật tư, nguyên liệu, dụng cụ thực hành Học viên tự tạo được việc làm, vận dụng và phát huy được những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học, kết quả sau khi học xong người lao động đã biết áp dụng các kiến thức đã học vào quá trình lao động sản xuất của gia đình và địa phương

Trang 29

1.5.5 Đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề công lập

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị là một trong những nhân tố quan trọng tác động tích cực tới việc đảm bảo và nâng cao dạy và học tại các đơn vị dạy nghề công lập Chất lượng của cơ sở vật chất gắn chặt với chất lượng đào tạo, vì thế việc đầu tue, hiện đại hóa cơ sở vật chất là đòi hỏi cần thiết nhằm giúp cho người học đáp ứng được yêu cầu của thực tế trong tình hình mới Nếu cơ sở dạy nghề có đầy đủ

cơ sở vật chất, phương tiện, máy móc, hệ thống giáo trình… phục vụ cho hoạt động đào tạo nghề thì chất lượng lao động được đào tạo tại cơ sở đó sẽ được đảm bảo và nâng cao Ngoài ra một số cơ sở đào tạo ngoài địa phương cùng tham gia phối hợp dạy nghề

Việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các đơn vị dạy nghề công lập còn thuộc về chính các cơ sở đào tạo trong việc sử dụng nguồn vốn xã hội trong xây dựng

hệ thống cơ sở vật chất của mình Đặc biệt các đơn vị dạy nghề còn năng động trong việc huy động nguồn vốn từ các đơn vị sử dụng lao động, từ các tổ chức phi chính phủ theo phương châm “xã hội hóa” đào tạo nghề cho lao động nông thôn; trong việc quản

lý và sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất của từng cơ sở đào tạo nghề được xây dựng

1.5.6 Hoạt động phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề; xây dựng, phê duyệt danh mục nghề đào tạo, định mức chi phí đào tạo nghề

Để chủ động trong công tác xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, các cơ sở dạy nghề cần liên hệ với các cơ sở dạy nghề khác, các cơ quan chức năng tham khảo, sưu tầm các tài liệu, giáo trình đã dạy nghề cho lao động nông; đồng thời khai thác thêm các kiến thức trên các tài liệu khác như sách tham khảo, từ thông tin đại chúng… Trên

cơ sở đó các Cơ sở dạy nghề tiến hành biên tập nội dung giáo trình, giáo án phù hợp với điều kiện về kinh tế - xã hội của huyện, trở thành giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn, tập chung vào các nghề như: Kỹ thuật sửa chữa cơ khí máy nông nghiệp, Kỹ thuật thêu ren, đan nón lá và kỹ thuật mây tre đan, Kỹ thuật sản xuất giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp giâm hom, Kỹ thuật trồng lúa năng xuất cao, trồng khoai tây và trồng cây có múi, trồng rau an toàn, Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm –

Trang 30

Căn cứ nội dung, chương trình đào tạo nghề được phê duyệt, công tác đầu tư về giáo trình, học liệu dạy nghề, UBND huyện cần quan tâm thực hiện đảm bảo theo quy trình quy định

1.5.7 Hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên, người dạy nghề, cán bộ quản lý dạy nghề

- Tăng cường biên chế cho giáo viên dạy nghề, mời các giáo viên thỉnh giảng có đủ trình độ, kinh nghiệm tham gia dạy nghề tập chung vào các nghề: Kỹ thuật sửa chữa máy nông nghiệp; Kỹ thuật chăn nuôi gia súc-gia cầm; kỹ thuật nhân giống cây ăn quả, tin học văn phòng, kỹ thuật tạo giống và trồng cây Lâm nghiệp Bồi dưỡng kiến thức, nghiệp sư phạm cho đội ngũ giáo viên dạy nghề

Bố trí cử cán bộ chuyên trách tại Phòng Lao động Thương binh và Xã hội ở cấp huyện

và cán bộ theo dõi công tác dạy nghề cho LĐNT ở cấp xã, cần quan tâm bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý và tư vấn chọn nghề, tìm việc làm cho lao động nông thôn

1.5.8 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của các doanh nghiệp và người sử dụng lao động

Trong quá trình chỉ đạo nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta vẫn nhận định Nông nghiệp

là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, do đó chất lượng lao động nông thôn cũng được các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm Trong những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Đảng và Nhà nước ta triển khai một cách tích cực và thường xuyên, tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhờ đó làm tăng thu nhập cho họ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn gặp phải những hạn chế nhất định mà chúng ta cần phải tìm cách giải quyết một cách nhanh chóng, hợp lý Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với chất lượng cao

Và chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải đạt được qua các chỉ tiêu sau:

- Kiến thức chuyên môn mà người lao động nhận được sau quá trình đào tạo: trong quá trình học nghề, người học được đánh giá kết quả thông qua các bài kiểm tra bao gồm kiểm tra lý thuyết và thực hành Kết thúc khóa đào tạo, người học trải quả kỳ thi tốt

Trang 31

nghiệp Tùy ngành học, nghề học, bài kiểm tra có thể có hình thức tự luận, hình thức trắc nghiệm hoặc thực hành nghề Tùy thuộc vào giá trị tích lũy về kiến thức và kỹ năng đặt được và biểu hiện qua kết quả kiểm tra và thi, người tốt nghiệp được xếp loại giỏi, khá, trung bình

- Kỹ năng (sự hoàn thiện) trong quá trình thực hiện công việc: quá trình sản xuất ra hàng hóa thông thường được kết thúc bằng việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, bảo đảm các thông số kỹ thuật, các yêu cầu chất lượng, mẫu mã và có thể lưu thông Sản phẩm của quá trình đào tạo nghề là con người được dùng vào quá trình sản xuất hàng hóa Những người này cần được trang bị đầy đủ các hiểu biết kiến thức và năng lực thực hành đầy đủ…Quá trình đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề cần được đảm bảo chắc chắn quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng đầy đủ, kiểm định (kiểm tra, thi cử) có chất lượng để có thể áp dụng linh hoạt các kiến thức đã học vào công việc

- Ý thức của người lao động: một số lao động không hằn là có tay nghề kém mà là họ chưa thực sự cố gắng phát huy hết khả năng cũng như chuyên môn của mình Nguyên nhân dẫn tới việc này là do việc thực hành ở các cơ sở đào tạo khác so với thực tế công việc đòi hỏi nên họ vẫn chưa quen và việc sử dụng các máy móc, thiết bị tại cơ sở làm việc còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Ngoài ra, người lao động chưa thực sự coi trọng nghề nghiệp của mình và chưa thực sự muốn gắn bó với công việc mà họ đang làm dẫn đến tình trang một bộ phận nhỏ lao động không tuân thủ đầy đủ các nội quy của các cơ sở sản xuất kinh doanh

Đồng thời còn có nguyên nhân đó là một số lao động vẫn mang nặng tính chất lao động nông nghiệp, khả năng tiếp thu của họ chậm và nhận thức về nghề nghiệp của họ còn rất hạn chế, do đó ý thức kỷ luật về nghề nghiệp còn yếu Họ có mong muốn tìm được một công việc để tăng thêm thu nhập lúc nông nhàn nhưng họ lại không hiểu rõ giá trị nghề nghiệp mà mình đang làm, nên họ vẫn có tư tưởng coi thường nghề mà mình đã lựa chọn, dẫn đến tình trạng họ là việc không hăng say, ý thức chấp hành các nội quy, quy định của các đơn vị kém; điều này gây ảnh hưởng tới uy tín về công tác nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT

Trang 32

1.6 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.6.1 Kinh nghiệm trong nước

Những năm qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm chú trọng ở khắp các địa phương trên cả nước Theo đó, nhiều địa phương đã có những mô hình đào tạo nghề hiệu quả và đáng được học hỏi, nhân rộng

* Mô hình đào tạo nghề theo địa chỉ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình hiện có hơn 21 nghìn người trong độ tuổi lao động Trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm hơn 30% Hiện nay, huyện có 2 Khu Công nghiệp mới thành lập và trên 60 doanh nghiệp đã và đang hoạt động với nhiều ngành nghề khác nhau

Xuất phát từ thực tế đó, đào tạo nghề, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp ngay trên địa bàn nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động đang là mục tiêu mà huyện hướng đến Để thực hiện được mục tiêu đó, từ nhiều năm nay huyện đã xác định gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề theo địa chỉ

Ngay từ đầu năm, huyện đã triển khai điều tra, khảo sát tại 85 thôn, xóm để nắm được

số liệu cụ thể về người lao động, đồng thời, tiến hành điều tra, rà soát nhu cầu sử dụng lao động tại 42 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Qua đó, nắm được chính xác nhu cầu lao động của các DN để có kế hoạch đào tạo cụ thể Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy nghề, đặc biệt, để đảm bảo việc làm cho lao động, huyện đã chủ động ký kết với các doanh nghiệp trực tiếp hướng dẫn và truyền nghề cho lao động bằng hình thức học và thực hành ngay tại xưởng Với việc doanh nghiệp trực tiếp đứng ra giảng dạy theo hình thức thực hành tại chỗ, người lao động vừa nắm vững được kiến thức, đồng thời vừa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng Chính vì vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm thường đạt từ 85 - 90%

Ngoài ra, huyện cũng đã phối hợp với ngân hàng CSXH huyện triển khai thực hiện hiệu quả nguồn vốn vay từ quỹ quốc gia về việc làm

Trang 33

Chính nhờ các giải pháp đồng bộ trong công tác đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề theo địa chỉ, huyện đã tạo được nguồn lao động dồi dào, có tay nghề cho các DN, đơn

vị đầu tư trên địa bàn tỉnh.[9]

* Kinh nghiệm của thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang

Thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang hiện có gần 113.407 người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động thành thị 42.237 người chiếm 37,25%; LĐNT 71.170 người chiếm 62,75% Trước tình hình đó Thị ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra nhiệm vụ trong 5 năm tới cần giải quyết việc làm cho 27.000 lao động và lao động qua đào tạo phải đạt 47%, bình quân hàng năm là 10% Do vậy để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho LĐNT, đòi hỏi các cấp các ngành trong toàn thị xã phải có nhiều chương trình, kế hoạch thực hiện nghiêm túc, thực tế, khách quan; có đề ra chỉ tiêu cụ thể, đồng thời phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời rút ra kinh nghiệm để thực hiện công tác đào tạo nghề

ở địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, chất lượng

Với sự quan tâm của cấp ủy, sự chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên… công tác đào tạo nghề cho lao động ở thị xã đã từng bước được triển khai đồng bộ, đúng hướng, mạng lưới dạy nghề phát triển và đạt được kết quả bước đầu, đã lan tỏa tới từng khóm, ấp, từng khu dân cư, đến mọi đối tượng lao động chưa có công ăn việc làm

Hiện nay, trên địa bàn thị xã có 01 trường trung cấp nghề, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên và 14 trung tâm học tập cộng đồng ở 14 xã, phường Hằng năm, số lượng học viên theo học ở các trường và trung tâm tham gia các lớp trung cấp, sơ cấp

và bồi dưỡng ngắn hạn Công tác đào tạo nghề cho LĐNT ở thị xã được triển khai theo hướng đa dạng các loại hình đào tạo nghề Dạy nghề tại cộng đồng theo nhu cầu lao động, dạy nghề theo địa chỉ, liên kết với một số trường dạy nghề Các chương trình đào tạo được biên soạn nội dung theo đúng quy định của Tổng cục dạy nghề và Bộ LĐ

TB và XH, đáp ứng nhu cầu người học Qua đó, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, đồng thời giải quyết việc làm ngay cho một số học sinh vừa tốt nghiệp THPT, các lao động là chủ hộ, chủ cơ sở, người lao động ở nông thôn

Trang 34

Một trong những hướng đào tạo của Trường Trung cấp nghề trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả, đó là: Trường phối hợp các đoàn thể tổ chức các buổi thông tin tư vấn về dạy nghề và giải quyết việc làm đến tận xã, phường Có nơi lồng ghép với các phong trào, kế hoạch vận động gia đình văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, xây dựng nông thôn mới, phòng chống tệ nạn xã hội… tuyên truyền vận động nhân dân từng bước nâng cao nhận thức về học nghề, gắn với tạo việc làm và giảm nghèo Những lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng nhóm đối tượng, từng địa phương, giúp người dân ngày càng nâng cao kiến thức trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình như: Ương cá tra giống, nuôi lươn, nuôi

cá tra thịt, cá lóc; trồng nấm các loại, hoa kiểng, làm vườn Hoặc các nhóm nghề phi nông nghiệp: Lái xe hạng B2, may công nghiệp, xây dựng, điện dân dụng, đan ghế giả mây xuất khẩu, kỹ thuật phục vụ quán ăn nông thôn, kỹ thuật phục vụ nhà hàng, khách sạn, bảo mẫu, quản gia…

Thực tế cho thấy, người lao động sau khi học nghề năng suất và hiệu quả sản xuất tăng lên rõ rệt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại chỗ, cũng như yêu cầu sử dụng lao động của một số DN trong và ngoài thị xã Năm 2015, toàn thị xã đã tổ chức dạy nghề cho 780 lao động; giải quyết việc làm cho 5.130 lao động, trong đó lao động ngoài tỉnh 41 người, có 02 lao động đi làm việc nước ngoài, giải quyết việc làm mới cho 95 lao động [9]

1.6.2 Kinh nghiệm ngoài nước

* Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Trung Quốc là một nước thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa khá thành công, Với dân số đông nhất thế giới, lên tới hàng tỉ người, hàng năm có Trung Quốc có hàng chục triệu người bước vào độ tuổi lao động, một nửa trong số đó là lao động khu vực nông thôn Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, tại nhiều vùng nông thôn diện tích canh tác ngày càng thu hẹp, dẫn tới hàng trăm triệu lao động nông thôn không có việc làm Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng công tác đào tạo nghề cho nông thôn để tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay tại địa phương, các kinh nghiệm chính của Trung Quốc trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn là:

Trang 35

- Đào tạo nhân lực phục vụ cho phát triển công nghiệp hương trấn, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đẩy mạnh các doanh nghiệp hương trấn, sử dụng lao động địa phương Đặc điểm sử dụng lao động của doanh nghiệp hương trấn là lấy hiệu quả làm đầu, tự chủ sản xuất kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường, rất coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhân lực Chính phủ có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các lớp, cơ sở dạy nghề, ở các vùng nông thôn, nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp hương trấn Biện pháp đào tạo mà doanh nghiệp hương trấn sử dụng là dùng các lao động nông thôn có chuyên môn kỹ thuật, dám nghĩ, dám làm, trưởng thành từ thực tiễn, để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt nghiệp các cấp trung học phổ thông Tuy nhiên, khó khăn của doanh nghiệp hương trấn là thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật cao để có thể nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm

và tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Hệ thống đào tạo ở nông thôn chưa cung ứng được đầy đủ lao động chuyên môn kỹ thuật cao cho doanh nghiệp hương trấn

- Chính phủ có các chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạy nghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô thị hóa nhanh để tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp FDI, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tế mở…đây là điều kiện để thu hút nguồn lao động nông thôn đến với các vùng đô thị hóa nhanh chóng và các ngành công nghiệp dịch vụ đang trên đà phát triển

- So với các nước khác, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì Trung Quốc

đã thực hiện chính sách kiểm soát được ở mức độ nhất định dòng di chuyển lao động đến các thành phố lớn, tuy nhiên hạn chế của chính sách này là làm giảm khả năng cạnh tranh lao động trên phạm vi lớn của thị trường lao động bao gồm cả thành thị và nông thôn Do đó, ở mức độ nhất định đã làm giảm tính kích thích lao động nông thôn tham gia đào tạo học nghề Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc có chính sách phát triển các đô thị loại vừa và nhỏ ở nông thôn để phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa Ngoài ra, Chính phủ còn có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nông thôn hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước để đào tạo lao động chuyên

Trang 36

môn kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu đổi mới lao động trong các trường hợp tiếp nhận công nghệ sản xuất mới [9]

* Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là con rồng Châu Á đã đạt được những thành tựu huyền diệu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Trong các năm 1960-1970, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, GNP bình quân đầu người của Hàn

Quốc tăng trung bình 6,7%/năm Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho Chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nông thôn để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ

Có thể nói, Hàn Quốc là nước thành công trong việc kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn Thành tựu trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hàn Quốc phải kể tới vai trò của việc tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho mọi người dân, trong đó có dân cư khu vực nông thôn được giáo dục đào tạo với quy mô lớn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế

Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, Chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động nông thôn vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như dệt, may, giày da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng, … Các thời kì sau, công nghiệp phát triển mạnh mẽ , lao động nông thôn được đào tạo với quy mô lớn trong các lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, … Sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp xuất khẩu đã giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi

cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động

Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn tham gia học nghề ban đầu, để đảm bảo nguồn cung ứng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Chính phủ cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các khóa đào tạ học nghề, học đại học Trong giai đoạn

Trang 37

chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn, Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô giáo dục phổ thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình độ cao, đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó đặc biệt là nhân lực ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ôtô, điện tử cao cấp, viễn thông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học….[9]

Như vậy từ những căn cứ trên, kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các địa phương và các nước bạn cho thấy việc xác định đúng nhu cầu đào tạo cũng như đào tạo các nghề phù hợp với địa phương, và có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và người lao động là hướng đi hiệu quả trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay Một số các vấn đề chính cần lưu ý,

đó là:

- Cần có chính sách phát triển hệ thống đào tạo nghề tại các vùng nông thôn Các nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động

- Đào tạo nhân lực nông thôn đáp ứng cho các khu chế xuất, khu công nghiệp cần chú

ý tới các ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, có giá trị gia tăng lớn

- Đào tạo nghề truyền thống để phát triển các làng nghề sẵn có

- Đào tạo nghề để đưa lao động đi xuất khẩu lao động

- Đào tạo nghề để lao động nông thôn nâng cao năng suất và hiệu quả lao động sản xuất

Đặc biệt, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cấp chính quyền với cơ sở đào tạo, người lao động và doanh nghiệp cho thấy nhận thức đúng đắn của họ về ý nghĩa của công tác đào tạo nghề và sự nhiệt tình khi thực hiện công tác này một cách đầy nhiệt huyết và hiệu quả

Qua những phân tích trên, tác giả nhận thấy, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đầu tư và quan tâm hơn nữa tới các yếu tố ban đầu như xác định nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học tập của người lao động Đứng trước những

Trang 38

yêu cầu của sự phát triển cũng như được sự chỉ đạo của cấp trên, tỉnh Lạng Sơn đang

mở rộng và triển khai nhiều chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tuy nhiên, công tác thực hiện còn chậm và hiệu quả chưa cao, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập Do vậy, tác giả nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này trong những năm tới

1.7 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan

Những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhận được sự quan tâm của nhiều đề tài nghiên cứu trong cả nước Cụ thể:

Tác giả Tăng Minh Lộc - Phó Cục trưởng Cục kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn,

với bài viết: “Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Điều chỉnh lại

cơ cấu lao động, cách dạy nghề”, đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam (2011) Tác

giả đã đưa ra những mặt làm được, thành công của Đề án khi một năm đưa vào triển khai thực hiện, tuy nhiên việc thực hiện Đề án ở khắp các tỉnh, thành phố vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập cần được khắc phục, chấn chỉnh và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Đề án trong giai đoạn tiếp theo

Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội, với bài viết: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong thời kỳ hội nhập quốc tế” đăng trên website của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội Tác giả đã nêu ra một số kết quả bước đầu trong công tác đào tạo nghề cho lao động ở nước ta và đề cập đến một số hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn Những giải pháp mà tác giả đưa ra còn mang tính khái quát và chung chung Bài viết có tính chất tham khảo hữu hiệu cho những nghiên cứu

về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở từng địa phương cụ thể

Tác giả Nguyễn Văn Đại (2012),Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Đại học

KTQD Tác giả đã đánh giá một cách khách quan thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 39

hóa, đồng thời chỉ ra những giải pháp để giải quyết khó khăn, và đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong khu vực này

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1: Trình bầy các khái niệm, định nghĩa, quan điểm cơ bản có liên quan tới nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn Phân tích, đánh giá nông thôn và vai trò của nông thôn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Tác giả nêu đầy đủ các nội dung của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mục tiêu của công tác ĐTN cho LĐNT đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề trong thực tế hiện nay Học tập một số kinh nghiệm của các tỉnh bạn như: Hoà Bình và An Giang; các nước bạn như: Trung Quốc và Hàn Quốc, trong việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từ đó tác giả đúc rút ra một số kinh nghiệm nhằm củng cố, chuẩn bị các vấn đề, các ý kiến đề xuất cho chương III

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của ĐTN cho LĐNT, tác giả nhận thấy: Việc nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Hữu Lũng là rất có ý nghĩa và hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Trang 40

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỮU LŨNG

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hữu Lũng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn Hữu Lũng là huyện nằm ở phía Tây - Nam của tỉnh Lạng Sơn, có toạ độ địa lý từ 21023’ đến 21045’ vĩ độ Bắc, từ 106010’ đến 106032’ kinh độ Đông với diện tích tự nhiên là 806,74 km2 Ranh giới của huyện:

- Phía Bắc giáp huyện Văn Quan và huyện Bắc Sơn

Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên

Ngày đăng: 01/06/2019, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w