ii LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của khoa Kinh tế trường Đại học Thủy Lợi và TS.Lê Văn Chính tôi đã thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Qu ản lý và
Trang 1i
L ỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các
kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất
cứ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu(nếu có) đã được tác giả thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Lộc Thị Mai Loan
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của khoa Kinh tế trường Đại học Thủy Lợi và TS.Lê Văn Chính tôi
đã thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần
Qu ản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn”.Để hoàn thành được luận văn này, tôi
xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn, trường Đại học Thủy Lợi, phòng đào tạo sau đại học, khoa Quản lý xây dựng, bộ môn Kinh tế xây dựng và đặc biệt là TS.Lê Văn Chính người trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Tác giả xin trân trọng cảm ơn các
thầy,cô và các đồng nghiệp tại phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học đóng góp ý kiến cho việc soạn thảo tài liệu hướng dẫn trình bày luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô những người đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt
những kiến thức khoa học trong thời gian tôi học tập tại trường Tôi xin được cảm ơn các bạn học viên trong lớp, nhóm thực hiện luân văn đã đóng góp những ý kiến quý báu và nhiệt tình giúp tôi hoàn thiện luận văn tốt hơn Xin cảm ơn gia đình đã luôn động viên, chia sẻ, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong cuộc sống, trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác gi ả
L ộc Thị Mai Loan
Trang 3
iii
M ỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4.Nội dung nghiên cứu của đề tài 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TƯ VẤN XÂY DỰNG 4
1.1 Tư vấn xây dựng và doanh nghiệp tư vấn xây dựng 4
1.1.1 Khái niệm về tư vấn xây dựng và các đặc trưng của của hoạt động tư vấn xây dựng 4
1.1.2 Doanh nghiệp tư vấn xây dựng 8
1.2 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 9
1.2 1 Khái niệm chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 9
1.2.2 Các hình thức cạnh tranh và phương thức cạnh tranh của của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 13
1.3 Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 18
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 18
1.3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 30
1.4 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 40
1.4.1 Trên thế giới 40
1.4.2 Tại Việt Nam 42
1.5 Tổng quan các công trình đã được công bố có liên quan đến đề tài: 44
Trang 4iv
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY 46
CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG GIAO THÔNG LẠNG SƠN 46 2.1 Khái quát về Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 46 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 46 2.1.2 Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 47 2.1.3 Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn48 2.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây
dựng Giao thông Lạng Sơn trong giai đoạn 2014-2016 50 2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh qua một số chỉ tiêu của Công ty Cổ phần Quản
lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 51 2.2.1 Về nguồn nhân lực của công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 51 2.2.2.Năng lực tài chính của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 52 2.2.3 Thực trạng máy móc thiết bị của công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn2014 -2016 57 2.2.4 Khả năng và kinh nghiệm của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 58 2.2.5 Hoạt động marketing của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 58 2.2.6 Khả năng đổi mới của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 59 2.2.7.Khả năng liên doanh, liên kết của công ty Cổ phần Quản lý và Xây
dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 59 2.2.8 Một số chỉ tiêu khác của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014 -2016 59 2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014
-2016 61
Trang 5v
2.3.1 Các nhân tố bên trong 61
2.3.2 Các nhân tố bên ngoài 63
2.4 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn giai đoạn 2014-2016 65
2.4.1 Những ưu điểm 65
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
Kết luận chương 2 69
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG GIAO THÔNG LẠNG SƠN 70
3.1 Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 70
3.1.1 Xu hướng phát triển của lĩnh vực hoạt động tư vấn xây dựng của nước ta những năm gần đây 70
3.1.2 Định hướng chiến lược hoạt động sản xuất kinh doanh 71
3.1.3 Mục tiêu phát triển của Công ty trong giai đoạn 2017 -2020 71
3.2 Quan điểm, nguyên tắc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 75
3.3 Nội dung các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông Lạng Sơn 76
3.3.1 Giải pháp tăng năng lực tài chính 76
3.3.2 Giải pháp tăng cường hoạt động marketing 79
3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn 80
3.3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng Hồ sơ đấu thầu tư vấn 81
3.3.5 Giải pháp xây dựng và phát triển thương hiệu của công ty 83
3.3.6 Giải pháp hoàn thiện kỹ năng quản lý hiện đại của đội ngũ lãnh đạo 85 3.3.7 Giải pháp đầu tư cho cán bộ công nhân viên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 86
3.3.8 Giải pháp hoàn thiện hệ thống trang bị thiết bị, máy móc 89
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6vi
DANH M ỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa nhà tư vấn và khách hàng 5
Hình 1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng 30
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu Công ty 48
Hình 2.2: Chất lượng nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2014-2016 51
Hình 2.3: Nhóm hệ số khả năng thanh toán của Công ty giai đoạn 2014-2016 53
Hình 2.4: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2014-2016 54
Hình 2.5 Số vòng quay các khoản phải thu của Công ty giai đoạn 2014-2016 55
Hình 2.6: Hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị của Công ty giai đoạn 2014-2016 57
Hình 2.7 Tỷ lệ trúng thầu theo hợp đồng của Công ty giai đoạn 2014-2016 60
Hình 2.8: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị hợp đồng của Công ty giai đoạn 2014-2016 60
Hình 3.1: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn 75
Trang 7vii
DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các hoạt động tư vấn theo giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng 7
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2014- 2016 50
Bảng 2.2 Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2014- 2016 51
Bảng 2.3 Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán của Công ty giai đoạn 2014- 2016 52
Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2014- 2016 53
Bảng 2.5 Số vòng quay các khoản phải thu của Công ty giai đoạn 2014- 2016 54
Bảng 2.6 Số vòng quay hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân của Công ty giai đoạn 2014- 2016 55
Bảng 2.7 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản của Công ty giai đoạn 2014- 2016 56
Bảng 2.8 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu của Công ty giai đoạn 2014- 2016 56
Bảng 2.9 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư của Công ty giai đoạn 2014- 2016 57 Hình 2.6: Hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị của Công ty giai đoạn 2014-2016 57 Hình 2.7 Tỷ lệ trúng thầu theo hợp đồng của Công ty giai đoạn 2014-2016 60 Hình 2.8: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị hợp đồng của Công ty giai đoạn 2014-2016 60 Hình 3.1: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn 75
Trang 91
PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một vấn đề rất quan trọng mang tính chất quyết định đối với sự tồn tại của bất kỳ doanh nghiệp nào Cạnh tranh là quy luật tất yếu và là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế thị trường phát triển Cạnh tranh tạo nên sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp không đón nhận những cơ hội phát triển bằng những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ và phát huy tối
đa các nguồn lực sức mạnh của mình Chính vì vậy cạnh tranh là động lực phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như mỗi quốc gia Năng lực canh tranh là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp về nhiều mặt
Trong lĩnh vự xây dựng một vài năm trở lại đây thị trường đầu tư xây dựng trong nước có giảm hơn so với những năm trước đây, đặc biệt là đối với các dự án có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, từ đó hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng cũng thu hẹp lại, trong khi các doanh nghiệp tư vấn xây dựng vẫn có xu hướng phát triển về số lượng, đồng thời sự quản lý của Nhà nước về hoạt động tư vấn xây dựng ngày càng chặt chẽ hơn, do đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng cơ hội để các doanh nghiệp tư vấn xây dựng trong nước tiếp cận với các dự án rất khó khăn Để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình
Để nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tư vấn xây dựng thì các doanh nghiệp tư vấn xây dựng phải không ngừng tìm ra những giải pháp để củng cố, hoàn thiện doanh nghiệp, ngày càng chiếm được thị phần lớn hơn Vì vậy việc định ra một
hệ thống các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý
và xây dựng giao thông Lạng Sơn là một điều cần thiết Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ
ph ần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn” để thực hiện luận văn của mình
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là năng lực canh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp quản lý và xây dựng giao thông
Trang 102
3 Ph ạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn
+ Về không gian: nghiên cứu tại Công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông
Lạng Sơn
+ Về thời gian: Các số liệu, tình hình được khảo sát, đánh giá, xem xét trong giai đoạn
từ 2014-2016 và kiến nghị giải pháp đến năm 2020
4.N ội dung nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng và sự cần thiết khách quan
phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn trong điều kiện nền kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế
Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tư vấn xây dựng của Công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và ý nghĩa nói trên, phương pháp nghiên cứu của luận văn
là vận dụng một cách tổng sử hợp nhiều phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Luận văn có sự phân tích các tư liệu, tài liệu ghi chép lịch sử hình thành và phát triển của Công ty, cũng những tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh của công ty trong
những năm qua, đặc biệt là ba năm gần đây để phân tích, nghiên cứu và so sánh Luận văn cũng xem xét chủ đề nghiên cứu trong một mối tương quan logic, biện chứng với các vấn đề khác làm cho luận văn có tính ứng dụng cao hơn
- Phương pháp phân tích hệ thống, phân tích tổng hợp và so sánh; nhằm mô tả, phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty đảm bảo tính chính xác và trung thực của các tài liệu đã thu thập được và đưa vào sử dụng
Để có được nguồn dữ liệu đầy đủ, phù hợp phục vụ cho nghiên cứu, tác giả thực hiện thu thập dữ liệu theo phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập các tài liệu được công bố chính thức tại Tổng Cục Thống kê, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chủ
Trang 113
trương, chính sách và các tài liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ phòng kinh doanh, phòng kế toán
6 K ết cấu của luận văn
K ết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Chương 2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn
Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn
Trang 124
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH C ỦA CÁC DOANH NGHIỆP TƯ VẤN XÂY DỰNG
1.1 Tư vấn xây dựng và doanh nghiệp tư vấn xây dựng
1.1.1 Khái ni ệm về tư vấn xây dựng và các đặc trưng của của hoạt động tư vấn xây
d ựng
1.1.1.1 Khái ni ệm về tư vấn xây dựng
Tư vấn được hiểu là một lĩnh vực hoạt động mang tính dịch vụ Chính quá trình phân
công lao động và cạnh tranh ngày càng sâu sắc trong nền kinh tế thị trường với xu thế
hội nhập, khu vực hoá, quốc tế hoá và xã hội hoá đã tạo điều kiện cho loại hình dịch
vụ tư vấn ra đời Đây là một phương thức giúp người ra quyết định có được thông tin đầy đủ hơn hoặc có được cách thức giải quyết vấn đề khách quan hơn, từ đó nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh tế - xã hội
Bản chất của tư vấn chính là một loại hình dịch vụ trí tuệ, là một hoạt động chất xám,
cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ hướng dẫn khách hàng thực hiện lời khuyên đó [1]; kể cả
tiến hành những nghiên cứu, soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt
hiệu quả cao nhất Tư vấn là một loại hình lao động trí tuệ có yêu cầu cao về tính thực
tiễn; khách hàng thuê tư vấn không chỉ để tăng hiểu biết mà chủ yếu để định hướng và hành động Tư vấn nhằm vào các trường hợp cụ thể, điều kiện cụ thể Một giải pháp có
thể thích hợp với một tổ chức, một tình huống, nhưng lại không thích hợp với một tổ
chức, một tình huống khác
Như vậy, tư vấn xây dựng là một loại hình dịch vụ mang tính chất trí tuệ, dựa trên sự
v ận dụng những kiến thức, trí thức, kỹ năng khoa học, kỹ năng áp dụng các công nghệ, cách n ắm bắt và xử lý các thông tin của các nhà tư vấn để giúp các cá nhân, các tổ
ch ức, các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề như lập dự án đầu tư xây dựng, quy
ho ạch, khảo sát, thiết kế, tổ chức thực hiện thi công xây lắp … nhằm mang lại hiệu
qu ả đầu tư, hiệu quả sử dụng cao nhất
Mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng và khách hàng là chủ đầu tư
hoặc người sử dụng được diễn ra trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư xây
dựng đến khi kết thúc dự án
Trang 135
Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa nhà tư vấn và khách hàng (nguồn công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn)
1.1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tư vấn xây dựng
a Đặc trưng của hoạt động tư vấn xây dựng
Hoạt động tư vấn xây dựng là một loại hình hoạt động đặc biệt có những đặc trưng riêng sau :
- Quá trình hoạt động tư vấn xây dựng là quá trình trao đổi thông tin liên tục giữa nhà
tư vấn và khách hàng cho đến khi đạt được hiệu quả và mục tiêu đề ra
- Nhiệm vụ của hoạt động tư vấn luôn được xác định cụ thể - theo đơn đặt hàng của khách hàng
- Sản phẩm của dịch vụ tư vấn là một loại sản phẩm đặc biệt - sản phẩm trí tuệ và nó
là loại sản phẩm vô hình vì không có hình thái vật chất rõ ràng
- Tư vấn xây dựng mang lại giải pháp về nội dung, phương pháp thực hiện cho người
ra quyết định và người thực hiện quyết định Kết quả của hoạt động tư vấn xây dựng
là các vấn đề khó khăn mà người cần tư vấn được giải quyết một cách hiệu quả nhất
Do đó, nhà tư vấn phải đưa ra các giải pháp, những phương án mang tính tổng hợp về chiến lược cho người ra quyết định, chỉ ra các biện pháp thực hiện, hướng dẫn chi tiết cho người thực hiện
- Sản phẩm của hoạt động tư vấn mang tính đơn chiếc Tùy thuộc vào đơn đặt hàng
mục đích thông tin, phương pháp xử lý thông tin của mỗi nhà tư vấn và môi trường xã
hội tại thời điểm mà khách hàng đặt hàng nên các sản phẩm tư vấn không giống nhau
Nhà tư vấn
Nhận và xứ lý thông tin, chỉ dẫn của
khách hàng theo yêu của khách hàng
Các phương thức, các công cụ khác nhau đề giải quyết các vấn đề mà
khách hàng yêu cầu tư vấn
Khách hàng
Cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà tư vấn và nhận các chỉ dẫn từ nhà tư vấn
Trang 146
- Hoạt động tư vấn là hoạt động cung cấp các loại dịch vụ tư vấn cho khách hàng Hoạt động tư vấn có đối tượng bao trùm mọi hoạt động kinh tế - xã hội từ chính trị, kinh tế, pháp luật đến cả lĩnh vực tâm lý tình cảm, sức khoẻ Thị trường sản phẩm
tư vấn là thị trường có phạm vi rộng và không dừng lại ở một loại sản phẩm cụ thể
- Hoạt động tư vấn mang tính chất kinh doanh, là một dạng dịch vụ nên hoạt động tư vấn dù tiến hành bởi cá nhân hay tổ chức nói chung đều thông qua hợp đồng giữa người sử dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ Vấn đề giá cả là nội dung quan trọng của hợp đồng và là một trong những tiêu chí khi xem xét hiệu quả tư vấn
- Kết quả của một dịch vụ tư vấn luôn là một kết quả "kép" đối với người sử dụng Ngoài kết quả trực tiếp giúp giải quyết các vấn đề đặt ra, người sử dụng tư vấn còn được nâng cao năng lực do có cơ hội tiếp cận các thông tin, kiến thức từ nhà tư vấn
b Sản phẩm và các loại hình hoạt động tư vấn xây dựng
Cũng như các loại hình tư vấn khác, sản phẩm của tư vấn xây dựng là các lời khuyên,
giải pháp, hướng dẫn cách giải quyết vấn đề cho cho khách hàng Những lời khuyên,
giải pháp đó được thể hiện trong hoạt động: lập báo cáo đầu tư, khảo sát, lập báo cáo kinh tế kỹ thuât, thiết kế thi công, giám sát chất lượng công trình, … nhằm đảo bảo kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng công trình, bảo vệ môi trường phù với mức đầu tư và thời
hạn xây dựng công trình
Hiện nay, trong lĩnh vực tư vấn xây dựng có các loại hình tư vấn chủ yếu sau :
- Tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công trình Lập dự án đầu tư là tài liệu cơ sở
chứng minh cho người quyết định đầu tư thấy được sự cần thiết, mục tiệu, hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn vốn của dự
- Tư vấn khảo sát xây dựng Khảo sát xây dựng là hoạt động thị sát, đo vẽ, thăm dò, thu thập và tổng hợp những tài liệu và số liệu về điều kiện tự nhiên của vùng, địa điểm xây dựng để phục vụ thiết kế
- Tư vấn thiết kế Thiết kế là một hoạt động thuộc lĩnh vực đầu tư và xây dựng mô tả hình dạng kiến trúc, nội dung kỹ thuật và tính kinh tế của các công trình xây dựng tương lai thích ứng với năng lực sản xuất sản phẩm hay dịch vụ và công dụng đã định
- Tư vấn thẩm tra thiết kế- dự toán Thẩm tra thiết kế kỹ thuật và dự toán là công việc
kiểm tra lại thiết kế hay tổng dự toán của tổ chức tư vấn xây dựng thực hiện theo các yêu cầu của chủ đầu tư đối với thiết kế hay tổng dự toán công trình do một tổ chức tư
vấn thiết kế khác lập
Trang 157
- Tư vấn lập hồ sơ mời thầu và phân tích đánh giá hồ sơ sự thầu Lập hồ sơ mời thầu
và phân tích đánh giá hồ sơ dự thầu là việc các tổ chức hay cá nhân tư vấn giúp chủ đầu tư đưa ra yêu cầu cho các nhà thầu tham dự đấu thầu
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị là hoạt động theo dõi thường xuyên, liên tục có hệ thống tại hiện trường của chủ đầu tư hay tổ chức được chủ đầu tư thuê để quản lý khối lượng, chất lượng, tiến độ các công tác xây lắp do đơn vi thi công xây lắp thực hiện theo hợp đồng giao nhận thầu xây dựng, theo thiết kế bản vẽ thi công hay thiết kế kỹ thuật thi công đã được phê duyệt, quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng
- Tư vấn quản lý dự án: Theo quy định hiện về xây dựng cơ, có hai hình thức thức
quản lý dự án:
+ Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là trường hợp chủ đầu tư thành lập ban quản lý dự
án Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư theo nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật
+ Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án là trường hợp của chủ đầu tư không có điều kiện năng lực để quản lý dự án thì có thể thuê tư vấn làm công tác quản lý dự án
- Tư vấn kiểm đinh chất lượng xây dựng
- Các hình thức tư vấn khác: ngoài các loại hình dịch vụ tư vấn trên, hiện nay còn có
một số loại hình dịch vụ tư vấn xây dựng khác như đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, thu xếp tài chính, điều hành thực hiện dự án và các công việc khác
Theo các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng có thể phân loại các hoạt động tư
vấn xây dựng theo bảng sau:
Bảng 1.1 Các hoạt động tư vấn theo giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng
Tư vấn chuẩn bị dự án - L- Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng ập báo cáo nghiên cứ khả thi đầu tư xây dựng
- Lập báo cáo kinh tế- kỹ thuật
Tư vấn thực hiện dự án
- Khảo sát
- Lập thiết kế và dự toán
- Thẩm tra thiết kế, dự toán
- Lập hồ sơ mời thầu
- Phân tích đánh giá hồ sơ dự thầu
- Giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị
Tư vấn khác - Qu- Điều hành thực hiện dự án ản lý dự án
- Đào tạo, chuyển giao công nghệ
(Ngu ồn công ty cổ phần quản lý và xây dựng Giao thông Lạng Sơn)
Trang 168
1.1.2 Doanh nghi ệp tư vấn xây dựng
1.1.2.1 Khái ni ệm về doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Doanh nghiệp là một trong các chủ thể kinh doanh chủ yếu của nền kinh tế có vai trò
to lớn trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào
Theo luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có
tr ụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
m ục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Doanh nghiệp tư vấn xây dựng là một dạng doanh nghiệp nói chung mà chức năng chính của nó là tư vấn xây dựng công trình
Với tư cách là nhà thầu tư vấn, doanh nghiệp tư vấn xây dựng thực hiện tư vấn theo đúng hợp đồng đã ký với chủ đầu tư, đảm bảo chất lượng và thời hạn tư vấn theo quy định
Doanh nghiệp tư vấn xây dựng bao gồm các loại hình: Doanh nghiệp nhà nước, công
ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân
1.1.2.2 Vai trò c ủa doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Tư vấn xây dựng là cầu nối giữa chủ đầu tư, các cơ quan, cá nhân có nhu cầu tư vấn
với nhà thầu xây lắp; là hoạt động đáp ứng nhu cầu của ngành xây dựng trong cơ chế
mới Lực lượng tư vấn tích cực tham gia giúp chủ đầu tư trong các dự án từ bước hình thành dự án đến thực hiện và vận hành; từ lập dự án đến khảo sát, thiết kế các công trình cho đến khâu giám sát nhà thầu thực hiện dự án, mua sắm thiết bị, nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng Hoạt động của doanh nghiệp tư vấn là hoạt động của trí tuệ, không chỉ
dựa vào khoa học- kỹ thuật - công nghệ mà còn là hoạt động tổng hợp chính trị- kinh tế-
xã hội đa dạng mang tính công đồng và xã hội
Chất lượng sản phẩm dịch vụ tư vấn xây dựng luôn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình và hiệu quả nguồn vốn đầu tư Trong thiết kế quy hoạch và lập dự án nếu đơn vị tư vấn lựa chọn vị trí, đề xuất quy mô xây dựng và đánh giá hiệu quả kinh tế
của dự án không hợp lý sẽ dẫn lãng phí vốn đầu tư
Trong giai đoạn thi công, vai trò của tư vấn giám sát rất rõ, nếu tư vấn thiếu năng lực chuyên môn, không hiểu trình tự, nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản… thì khó kiểm soát được chất lượng công trình Do đó đơn vị, cá nhân có đủ điều kiện năng
lực, được cấp chứng chỉ mới được hành nghề tư vấn xây dựng và người được cấp
Trang 179
chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, giám sát thi công … phải có trình
độ đại học, có đạo đức nghề nghiệp, có kinh nghiệm ít nhất là 5 năm…
1.2 C ạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng
1.2 1 Khái ni ệm chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.2.1.1 Khái ni ệm cạnh tranh
C ạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, không có
cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường khi vận hành
phải tuân theo những quy luật khách quan riêng của nó trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc, thiết
bị, công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để giành ưu thế so
với đối thủ của mình Doanh nghiệp nào giành được ưu thế thì doanh nghiệp đó sẽ tồn
Cạnh tranh xét về chất luôn được nhìn nhận trong trạng thái động và ràng buộc trong
mối quan hệ so sánh tương đối Vì vậy, mọi quan hệ giao tiếp mà các bên tham gia nỗ
lực tìm kiếm vị thế có lợi cho mình đều có thể diễn tả trong khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh được xét đầy đủ trên cả hai mặt: tích cực tạo động lực cho việc vươn tới một kết quả tốt nhất, nhưng một khi những kỹ năng này được thể hiện một cách cực đoan, nó có thể dẫn đến một thực trạng tiêu cực với kết quả trái ngược Trong
xu thế hội nhập và trào lưu tự do hóa thương mại, khái niệm cạnh tranh và năng lực
cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên quy mô toàn cầu, việc tiếp cận những khái niệm
đó cũng cần được xây dựng trên cơ sở logic, hệ thống
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) bằng các phương pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân
sự, tâm lý xã hội Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người
Trang 1810
có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có
khả năng cạnh tranh yếu Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức
cạnh tranh
1.2.1.2 Phân lo ại cạnh tranh
Phân loại theo chủ thể tham gia thị trường
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hóa của mình
với giá cao nhất còn người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên
- Cạnh tranh giữa người mua với người mua: mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan
hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở lên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên và người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa, dịch vụ mà họ cần
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh nhằm giành thị trường, kết quả là giá cả hàng hóa, dịch vụ giảm xuống có lợi cho người mua Cuộc
cạnh tranh này doanh nghiệp nào yếu hơn không chịu nổi sức ép phải rút lui khỏi thị trường nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn
Phân lọai theo phạm vi kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng
một ngành kinh tế với nhau, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ Kết quả
của cạnh tranh là làm cho kỹ thuật phát triển
- Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một các tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
Phân loại theo tính chất
- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường, trong đó không có người nào có đủ ưu thế để khống chế giá cả trên thị trường Các sản
phẩm, dịch vụ đều được người mua xem là đồng nhất, tức là không khác biệt nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc khác biệt sản phẩm so với các đối thủ khác
Trang 1911
- Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có sản
phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi loại sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau, cho nên để giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trọ bán hàng như quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ kèm theo …
- Cạnh tranh độc quyền trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản
phẩm hay dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường do người bán quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
Thị trường tư vấn xây dựng luôn luôn tồn tại ba loại quan hệ cạnh tranh
- Cạnh tranh giữa chủ đầu tư với doanh nghiệp tư vấn xây dựng là cuộc cạnh tranh
với những mục tiêu khác nhau tạo ra sự sôi động của thị trường tư vấn xây dựng Mục tiêu của chủ đầu tư là các dịch vụ có chất lượng cao và chi phí thấp nhất Còn mục tiêu
của doanh nghiệp tư vấn xây dựng là đảm bảo hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất
và ít rủi ro
- Cạnh tranh giữa các chủ đầu tư chỉ xảy ra khi có nhiều chủ đầu tư có công trình cần
tư vấn xây dựng nhưng chỉ có một số doanh nghiệp tư vấn xây dựng hoặc một ít tổ
chức tư vấn xây dựng tham gia dự thầu có khả năng công nghệ độc quyền để xây dựng
những công trình này Trường hợp này rất ít xảy ra trong nền kinh tế thị trường
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư vấn xây dựng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất trong thị trường tư vấn xây dựng
1.2.1.3 Khái ni ệm lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện một hoặc nhiều ưu thế của doanh nghiệp
so với các đối thủ cạnh tranh trong các cuộc cạnh tranh
Ưu thế cạnh tranh biểu thị lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là:
- Sự khác biệt của sản phẩm của doanh nghiệp so với các sản phẩm cạnh tranh;
- Giá thành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh
- Thương hiệu của doanh nghiệp nổi tiếng hơn được biết đến rộng rãi hơn so với thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh và vì thế sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng đánh giá cao hơn, sử dụng nhiều hơn và chấp nhận giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh
Trang 2012
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dù thể hiện ở khía cạnh nào đi chăng nữa cũng đều biểu thị tính vượt trội, hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp biểu thị thế mạnh tương đối của doanh nghiệp so
với các đối thủ trên thị trường Tuy nhiên điều ngược lại là không hiển nhiên, tức là
một thế mạnh nào đó của doanh nghiệp không đương nhiên trở thành lợi thế cạnh tranh
Về phương diện lý thuyết thị phần của doanh nghiệp có thể tính toán dự theo hai chỉ tiêu: thị phần tuyệt đối và thị phần tương đối
Thị phần
tuyệt đối =
Lượng hàng hóa (dịch vụ) tiêu thụ của doanh nghiệp
x100% (1.1) Tổng lượng hàng hóa (dịch vụ) tiêu thụ trên thị trường
Như vậy, nếu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là điều kiện cần thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là điều kiện đủ để doanh nghiệp tạo ra vị thế cạnh tranh vượt
trội và giành được lợi nhuận cao so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Mặt khác, khả năng duy trì và không ngừng nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường phản ánh rõ nét sự duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có hoặc tạo ra được lợi thế cạnh tranh mà không có năng
lực cạnh tranh thì các lợi thế cạnh tranh sẽ dần mất đi và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ trở lên xấu đi, doanh nghiệp khó có thể đứng vừng trên thị trường
Trang 2113
1.2.1.5 Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp biểu thị năng lực sản xuất và lợi thế của doanh nghiệp trong cạnh tranh , biểu thị khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối
thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Cạnh tranh xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, hiện nay vẫn cưa có một định nghĩa nào
về năng lực cạnh tranh được mọi người thống nhất Theo M.Porter - người từng làm
việc trong Hội đồng cố vấn bên cạnh tổng thống Mỹ: “không có định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến” OECD - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế đưa ra định nghĩa như sau: Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra
thu nh ập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghi ệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền
v ững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Hội đồng về sức cạnh tranh của Mỹ đề nghị định nghĩa: Sức cạnh tranh là năng lực
kinh t ế về hàng hóa và dịch vự của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nâng cao một cách
v ững chắc, lâu dài
Trong một từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: Sức cạnh tranh là năng lực của
một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế
Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt, năng lực cạnh tranh là “khả năng giành
thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng lại trên cùng một thị trường tiêu thụ”
Mặc dù có sự khác nhau giữa các định nghĩa trên, song hàm ý cơ bản là giống nhau,
tức là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện toàn bộ thực lực của
doanh nghi ệp để tạo ra lợi thế của mình so với các đối thủ khắc nhằm thỏa mãn đến
m ực tối đa các đòi hỏi của thị trường
1.2.2 Các hình th ức cạnh tranh và phương thức cạnh tranh của của doanh nghiệp
tư vấn xây dựng
1.2.2.1 Các hình th ức cạnh tranh
Các hình thức cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của thị trường và bản chất của nền kinh tế, nó bao gồm:
Trang 2214
a Canh tranh t ự do: Được hiểu như là một nền kinh tế phát triển một cách tự dom
không có sự can thiệp của Nhà nước, trong đó giá cả lên xuống theo sự chi phối của các quy luật thị trường Cùng với các quy luật kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật giá trị,
cạnh tranh tự do dẫn đến sự phân hóa hai cực giàu và nghèo rõ rệt
b C ạnh tranh hoàn hảo: hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy là hình thức cạnh tranh,
trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị trường; các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác; cho phí vận tải không đáng kể và không đề cập tới
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất một mặt hàng như nhau và sản lượng từng doanh nghiệp quá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại phải có các điều kiện:
- Tất cả các hãng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ
- Số lượng các hãng kinh doanh trong ngành đó phải rất nhiều
Trong điều kiện như vậy, không có doanh nghiệp nào đủ sức mạnh để có thể ảnh hưởng đến giá cả của các sản phẩm trên thị trường Sản phẩm của các hãng đưa ra trên
thị trường giống nhau tới mức cả người sản xuất và người tiêu thụ thụ đều rất khó phân
biệt
c C ạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà ở đó các cá nhân người bán
hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh để chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính chất độc quyền
Độc quyền nhóm tồn tại trong những ngành sản xuất mà ở đó chỉ một số ít người sản
xuất hoặc số người bán sản phẩm Sự thay đổi về giá của một doanh nghiệp gây ra
những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác và ngược lại Ở các nước phát triển, các ngành công nghiệp có độc quyền nhóm là những ngành như sản xuất ô tô, cao su, chế biến thép…
Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh mà ở đó những người bán có
thể ảnh hường đến những người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm mà mình
sản xuất ra về hình dáng, kích thước, chất lượng và nhãn hiệu Trong nhiều trường
hợp, người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ định ra Các doanh nghiệp thường cố gắng tạo ra các sản phẩm của họ phong phú, có nhiều điểm khác biệt với sản phẩm của đổi thủ cạnh tranh Trong ngành công nghiệp cạnh tranh
Trang 2315
kiểu này quy mô của các doanh nghiệp có thể là lớn, vừa, nhỏ vì vậy việc nhập và bỏ ngàng hàng dễ hơn
d C ạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh lý tưởng, thúc đẩy sản xuất phát
triển, thể hiện phẩm chất đạo đức trong kinh doanh không trái với các quy định của pháp luật và không đi ngược lại với lợi ích xã hội Việc tính toán thu lợi nhuận dựa trên cơ sở cải tiến, sáng tạo để sản xuất và cung cấp cho xã hội nhiều sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng
e C ạnh tranh không lành mạnh là hình thức cạnh tranh mà trong quá trình sản xuất và
kinh doanh các doanh nghiệp luôn có thái độ không trung thực, gian dối để giành ưu thế trong kinh doanh, vu khống về chất lượng sản phẩm hàng hóa của đối thủ cạnh tranh; tung ra thị trường sản phẩm kém chất lượng mang nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh; … Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong mọi lĩnh vực và được biểu hiện đa
dạng Ngoài các hành vị cạnh tranh không lành mạnh thuần túy còn xuất hiện các hành
vi lạm dụng thế mạnh về kinh tế, tài chính để cạnh tranh
f C ạnh tranh bất hợp pháp là những hành vi của các doanh nghiệp, nhà sản xuất thực
hiện cạnh tranh trái với quy định của pháp luật, đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán trong truyền thống của kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích xã hội, của người tiêu dùng và của các doanh nghiệp, người sản xuất khác
Cạnh tranh là môi trường tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường Không có cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sang tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh Song xã hội dần dẫn dẽ chỉ chấp nhận hành vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phương
thức sản xuất cà chu chuyển hàng hóa một cách khoa học, hiệu quả chứ không thừa
sản phẩm là sự đảm bảo cho thắng lợi trong cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Phương thức cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm trong tư vấn xây dựng có thể tiếp
cận theo hai góc độ:
Trang 24- Cạnh tranh bằng các công trình đã và đang thực hiện Đánh giá tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật của công trình, dự án mà doanh nghiệp đã tham gia đấu thầu tư vấn
- Đặc điểm cơ bản của thị trường tư vấn hiện này là chuyển từ cạnh tranh giá sang
cạnh tranh chất lượng Những hàng hóa chiếm ưu thế trên thị trường là của những hãng cung cấp những hàng hóa dịch vụ chất lượng cao, luôn đáp ứng được yêu cầu đa
dạng của khách hàng.Vì vậy vấn đề nâng cao chất lượng, hoàn thiện và cải tiến hàng hóa, dịch vụ với những khả năng tạo ra những sản phẩm xây dựng có kiến trúc độc đáo, hấp dẫn khách hàng hiện tại và tương lai, nắm bắt nhanh nhạy các xu hướng mới, các hình thức mới về xây dựng để chuyển hướng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng là sự yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp tư vấn xây dựng trong điều kiện hiện nay
b Canh tranh b ằng năng lực của đội ngũ nhân lực
Đội ngũ nhân lực của doanh nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp mạnh hay yếu thể hiện qua thông qua số lượng và chất lượng đội ngũ nhân lực Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp tư vấn vì sản phẩm của doanh nghiệp tư vấn là sản phẩm mang tính trí tuệ cao Doanh nghiệp cần cho khách hàng của mình thấy được doanh nghiệp có một đội ngũ nhân lực mạnh về số lượng, đảm bảo về chất lượng Trong đấu thầu tư vấn, doanh nghiệp luôn thể hiện điều đó thông qua hồ sơ dự thầu
Để cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác thì doanh nghiệp tư vấn xây dựng cần
có chiến lược về sử dụng và quản lý nhân lực Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
gồm hai phân cấp là quản lý và nhân viên Đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp gồm ban giám đốc có chức năng chỉ đạo toàn bộ hoạt động của tổ chức, thực hiện những quyền
hạn do luật pháp quy định và đánh giá những đề nghị của cấp quản lý chung bao gồm các nhà quản lý - những người lập các kế hoạch, tuyển chọn nhân viên và chỉ đạo các
tổ chức thực hiện mục tiêu đề ra Hoạt động của người lãnh đạo trong điều kiện cạnh tranh cần phải chuyển trọng tâm từ quản lý nội bộ sang việc giải quyết mối quan hệ
giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài (thị trường)
Trang 25chất lượng công việc họ làm
Nội dung quản lý đội ngũ nhân viên hiện này cần chuyển trọng tâm từ việc quy định cách thức thực hiện công việc sang tạo ra sự chủ động để mỗi nhóm, mỗi người lao động tự do lựa chọn cách thức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả nhất, giải quyết các xung đột trong nội bộ bằng những thương lượng, xây dựng tinh thần hợp tác, tin cậy
và đoàn kết, hướng tới thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Doanh nghiệp cũng nên
lập các chế độ thưởng, phạt vật chất nghiêm minh để khuyến khích các cá nhân, tập
thế có năng lực phấn đầu vì sự phát triển của doanh nghiệp
c C ạnh tranh bằng tiến độ tư vấn
Hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thì thời gian càng trở nên có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp, người kinh doanh Vì vậy các doanh nghiệp phải luôn tận dụng triệt để các nguồn lực để đảm bảo cho sản phẩm của mình hoàn thành đúng, vượt tiến độ với chất lượng cao nhất
Một dự án hay một công trình bao giờ cũng được thực hiện trong một thời gian nhất định đảm bảo sử dụng nguồn vốn hiệu quả, tránh gây lãng phí
Tiến độ không chỉ được chú trọng trong giai đoạn thi công xây lắp, nó còn phải được quán triệt ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, các bước lập báo cáo đầu tư, khảo sát, thiêt kế
d C ạnh tranh bằng công nghệ tư vấn
Cạnh tranh bằng công nghệ là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng đối với doanh nghiệp và nó mang tính chất đặc trưng của ngành xây dựng
Đối với các doanh nghiệp tư vấn xây dựng thì công nghệ là những máy móc, trang thiết bị văn phòng như máy tính, máy in, các phần mềm phục vụ công tác tư vấn, máy móc phục vụ công tác khảo sát, đo đạc…Tuy các thiết bị này không đòi hỏi vốn đầu tư
Trang 2618
quá lớn như máy móc, thiết bị của các đơn vị xây lắp nhưng nó cũng rất quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm tư vấn có chất lượng, tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp
1.3 Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghi ệp tư vấn xây dựng
1.3.1 Các nhân t ố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh c ủa doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh đều có vị trí nhất định Vì thế nếu
một doanh nghiệp tham giá thị trường mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng canh tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại được Việc duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một quá trình lâu dài trong suốt thời gian tồn tại, phát triển
của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh của doanh nghiệp, là nền tảng vững chắc cho việc đạt được
mục tiêu kinh doanh (lợi nhuận, thị phần…)
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một yếu tố khách quan Các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo quy luật cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp, canh tranh có tính hai mặt, nó làm cho điều kiện cạnh tranh ngày càng khó khăn hơn, tạo sức ép bất lợi cho doanh nghiệp; mặt khác nó là động lực buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến công nghệ giảm giá thành
sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm, tổ chức hệ thống phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn
Trong điều kiện hiện nay, các quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp đang ngày càng lớn hơn, và ngày càng phải đương đầu với môi trường kinh doanh
khốc liệt hơn, cạnh tranh gay gắt vì sự tồn tại, phát triển của chính mình Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thành hai nhóm, cụ thể như sau:
1.3.1.1 Các nhân t ố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
tư vấn
Các yếu tố bên trong - nhân tố chủ quan là các nhân tố phát sinh từ nội tại bản thân doanh nghiệp có hưởng tới việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sau đây là ảnh hưởng của một số nhân tố chính:
a Chất lượng nguồn nhân lực
Trang 2719
Nhân lực là yếu tố rất quan trọng vì nó chính là yếu tố chính tạo nên sản phẩm tư vấn Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là vốn quý nhất Chất lượng của nguồn nhân lực thể
hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của nhân viên, trình
độ tay nghề của công nhân Chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, điều này càng quan trọng hơn đối với các doanh nghiệp tư vấn
vì sản phẩm của tư vấn là là sản phẩm trí tuệ Sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ được chào đón nhiều hơn (đối với doanh nghiệp tư vấn thì sẽ có nhiều hợp đồng hơn),
với giá cao hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp ngày càng tăng Khách hàng dựa vào yếu tố chất lượng nguồn nhân lực
để đánh giá và xác định năng lực của nhà thầu Trong bộ tiêu chí đánh giá năng lực
của Công ty tư vấn, tùy theo từng gói thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của tiêu chí đánh giá trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của các đội ngũ nhân sự đề xuất thường chiếm tỷ trọng từ 0,4 đến 0,5 trong bộ tiêu chí đánh giá, tức là chiếm 40 đến 50 điểm trong thang điểm 100 của bộ tiêu chí
Chính sách nhân sự của doanh nghiệp: là việc sử dụng lao động đúng người đúng việc, đúng mục đích Luôn khuyến kích, tìm người tài có trình độ về làm việc là một trong
những chính sách hàng đầu của các doanh nghiệp Đội ngũ nhân sự có trình độ và kinh nghiệm là một chiến lược trong kinh doanh Chính sách phát triển nguồn nhân lực là một
tất yếu của doanh nghiệp nhằm nâng cao trình độ, tay nghề cũng như mở rộng khả năng
tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm cho cán bộ công nhân viên
Năng lực của lãnh đạo thể hiện trong trong việc đối nội và đối ngoại của người lãnh đạo Về hoạt động đối nội, năng lực này thể hiện ở việc phát huy sở trường của từng cá nhân và tiềm năng của tập thể doanh nghiệp Về quan hệ đối ngoại, người lãnh đạo có năng lực là người biết nhìn xa trông rộng, có óc quan sát và phân tích, phán đoán chính xác các cơ hội, nguy cơ từ môi trường, có khả năng xử lý tốt các mối quan hệ với các đối tượng hữu quan bên ngoài (nhà đầu tư, cơ quan Nhà nước, địa phương ) tận dụng được thời cơ và tránh nguy cơ cho doanh nghiệp
Bên cạnh năng lực chuyên môn, người kỹ sư tư vấn cần phải có những kỹ năng và hiểu
biết khác Đó là: khả năng trí tuệ, khả năng hiểu biết, khả năng cộng tác, khả năng giao
tiếp, thuyết phục và thúc đẩy, có niềm say mê sáng kiến cá nhân, có đạo đức và trung
Trang 28b Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị sản xuất sản phẩm tư vấn
Năng lực về máy móc thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp được thể hiện thông qua
tổng giá trị các tài sản là máy móc thiết bị, các phầm mềm chuyên ngành hiện có của doanh nghiệp về số lượng, chủng lọai cũng sự đồng bộ của nó Năng lực về thiết bị và công nghệ được doanh nghiệp giới thiệu trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, nó chứng minh cho chủ đầu tư biết khả năng đảm bảo việc thực hiện việc tư vấn đúng tiến độ và
chất lượng công trình Đối với các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các phầm mềm chiếm vị trí quan trọng quá trình tạo nên sản phẩm tư vấn Chính vì vậy mà doanh nghiệp tư vấn cần phải luôn luôn cập nhật các phần mềm chuyên ngành để đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm tư vấn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Các yếu tố xây dựng năng lực công nghệ: Khả năng đào tạo nhân lực; Khả năng tiến hành nghiên cứu cơ bản; Khả năng thử nghiệm các phương tiện kỹ thuật; Khả năng
tiếp nhận, thích nghi các công nghệ; Khả năng cung cấp, xử lý thông tin
Để đánh giá năng lực công nghệ dựa vào các yếu tố:
- Tổng giá trị các tài sản là máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp, số lượng, chủng loại và tính chất sở hữu
- Trình độ hiện đại về máy móc thiết bị công nghệ là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp đảm bảo chất lượng dịch vụ tư vấn Sự dẫn đầu về công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp tư vấn tạo ra những sản phẩm tư vấn có chất lượng, ưu việt hơn do đó doanh nghiệp sẽ chiếm được ưu thế trong đấu thầu tư vấn, ưu thế cạnh tranh với các doanh nghiệp
- Sự dẫn đầu về công nghệ, đó là những công nghệ, phần mềm mà chỉ có doanh nghiệp hoặc một số ít doanh nghiệp trong ngành có được Sự dẫn đầu về công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được các chiến lược ưu thế trong hoạt động tư vấn
Trang 2921
- Khả năng đổi mới công nghệ và chiến lược đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tư
vấn xây dựng Nó tạo điều kiện nghiên cứu và nâng cao chất lượng sản phẩm giúp cho doanh nghiệp giữ vững thị phần của mình tăng cường sức mạnh trong cạnh tranh Năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở khả năng trang bị công nghệ mà còn thể hiện
ở trình độ chuyên môn, kỹ năng của người lao động trong doanh nghiệp, đặc biệt là năng lực của các nhà quản lý tổ chức thiết kế công trình xây dựng Một doanh nghiệp
có trình độ trang thiết bị công nghệ cao nhưng nhưng không có đội ngũ lao động sử
dụng có hiệu quả công nghệ ấy thì không thể có khả năng cạnh tranh mạnh được Công nghệ thích hợp, hiện đại là điều kiện cần thiết để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh
c Năng lực Tài chính
Năng lực tài chính của doanh nghiệp xét trên phương diện quản lý và sử dụng vốn là
khả năng tạo lập, phát triển và quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp Trong cơ chế
thị trường doanh nghiệp muốn huy động vốn một cách thuận lợi, muốn tăng trưởng
vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh thì phải làm ăn có hiệu quả Xét trên phương
diện quan hệ kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì năng
lực tài chính là tổng hợp các đặc tính của quan hệ kinh tế trong tạo lập, phân phối các nguồn vốn đó tạo cho tài chính doanh nghiệp có khả năng thực hiện các mục tiêu của
sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao nhất trong khuôn khổ cho phép của pháp
luật
Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng như: huy động đảm bảo đầy đủ vốn và
kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức thực hiện vốn tiết
kiệm và hiệu quả, là đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh, giám sát kiểm tra chặt
chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Năng lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh hay yếu Tiềm lực của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp ổn định và có tiềm năng tài chính
mạnh mẽ có sức cạnh tranh cao hơn những doanh nghiệp có tiềm lực yếu về vốn đầu tư,
vốn để thực hiện những chiến lược quảng bá, phát triển …
d Ch ất lượng của sản phẩm dịch vụ tư vấn
Trang 30dựng thì điều đó lại càng đúng, bởi mỗi công trình ngoài yếu tố nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu, nó còn ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác như mục đích chính trị, an ninh,
quốc phòng, Một sản phẩm chất lượng không chỉ thể hiện ở mặt kỹ thuật mà nó còn
phải đảm bảo cả về mỹ thuật Sản phẩm của doanh nghiệp tư vấn xây dựng là dịch vụ
nó phải đảm bảo tiến độ, đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật công trình Sản phẩm của doanh nghiệp đảm bảo chất lượng có uy tín trên thị trường, từ đó mới tạo được lòng tin cho khách hàng
e H ệ thống tổ chức của doanh nghiệp
Tổ chức hệ thống của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng Nếu các yếu tố khác tốt, thuận lợi nhưng tổ chức hệ thống doanh nghiệp tồi thì hoạt động của doanh nghiệp không đạt được hiệu quả Doanh nghiệp cần có hệ thống tổ chức gọn nhẹ và hiện đại
để đảm bảo hoạt động hiệu quả
Hệ thống tổ chức gọn nhẹ là hệ thống tổ chức ít cấp, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao
Hệ thống tổ chức quản lý hiện đại thường là tổ chức theo ma trận nghĩa là phối hợp nhiệm vụ kế hoạch giữa các chức năng ngang và chức năng dọc Các phòng, ban chỉ
cần xem xét nhiệm vụ và kế hoạch của mình trong từng ô của ma trận để thực hiện
f Kh ả năng liên danh, liên kết
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh
Liên danh liên kết cũng là một cách thức để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đây là một giải pháp quan trong và phù hợp để đáp ứng các nhu cầu của các công trình có quy mô lớn và mức độ phức tạp cao Đồng thời qua việc liên danh liên
kết doanh nghiệp sẽ mở rộng được mối quan hệ với các doanh nghiệp trong ngành, thu
thập tìm kiếm được nhiều thông tin hơn, đào tạo cho đội ngũ cán bộ công nhân viên có
Trang 3123
kỹ năng làm việc phối hợp Một điều cũng rất quan trong nữa là qua liên danh liên kết doanh nghiệp có thể bổ sung, học hỏi được những kiến thức kinh nghiệm từ phía các đối tác, giúp cho doanh nghiệp ngày càng đứng vững hơn trên thị trường
g Kh ả năng về hoạt động Marketing
Đối với doanh nghiệp thì Marketing là công cụ quan trọng nhất giúp họ hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh, chiến lược thị trường và chiến lược cạnh tranh Với hệ
thống chính sách marketing của mình không chỉ giúp cho các nhà sản xuất kinh doanh
lựa chọn phương án đầu tư, tận dụng triệt để thời cơ kinh doanh mà còn giúp họ xây
dựng được chiến lược cạnh tranh và sử dụng vũ khí cạnh tranh có hiệu quả nhằm nâng cao uy tín, chinh phục khách hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nghiên cứu và tận dụng các kiến thức marketing cho phép các doanh nghiệp trong nước có khả năng đương dầu với những thách thức của việc mở cửa nền kinh tế trong xu thế hội nhập và sức ép cạnh tranh trên
thị trường ngày một gay gắt
Mục đích tổng quát của marketing trong doanh nghiệp tư vấn xây dựng là chiếm lĩnh
vị trí trong quá trình tái sản xuất và hạn chế hoặc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh cũng như các nhân tố khác gây trở ngại cho vị trí của doanh nghiệp tư vấn xây dựng Vì vậy marketing trở thành công cụ quan trọng để các doanh nghiệp tư vấn xây dưng duy trì
củng cố và phát triển địa vị của mình Mục tiêu quan trọng nhất của marketing doanh nghiệp tư vấn xây dựng là tìm kiếm được nhiều hợp đồng tư vấn, thắng thầu nhiều công trình tư vấn trên cơ sở đó tăng lợi nhuận, phát triển doanh nghiệp ngày càng vững
mạnh
Sản xuất xây dựng thường tiến hành theo đơn đặt hằng cụ thể (hợp đồng xây dựng)
phụ thuộc vào đặc điểm của địa phương nơi xây dựng công trình và yêu cầu của chủ đầu tư Trong nhiều ngành sản xuất khác, người ta có thể sản xuất trước sản phẩm hàng loạt, chưa cần biết cụ thế nơi và người sử dụng, rồi sau đó mới đem chào hàng Nhưng với những đặc điểm riêng biệt của mình, để xây dựng công trình thì phải dựa vào các hợp đồng xây dựng cụ thể, ngay đối với những công trình được thiết kế mẫu cũng phải luôn thay đổi ít nhiều khi đem áp dụng vào thực tế, do đó đòi hỏi hoạt động marketing của doanh nghiệp tư vấn xây dựng phải coi trọng công tác hợp đồng, phân
Trang 32- Khách hàng phần lớn được xác định từ trước khi sản xuất sản phẩm;
- Quá trình mua sản phẩm tư vấn xây dựng thường được kéo dài và phức tạp hơn;
Quá trình mua phức tạp quá nhiều giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự
án đến thực hiện dự án Trong quá trình mua có nhiều đơn vị tư vấn tham gia: cơ quan
kế hoạch, chủ đầu tư và các cơ quan khác có liên quan đến thực hiện đầu tư Các giai đoạn trên có vị trí khác nhau, nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi
phải thực hiện theo đúng trình tự
Điều cần nhấn mạnh rằng việc làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường và làm ảnh hưởng tích cực tới các điều kiện thị trường, là những hành vi marketing của doanh nghiệp, cũng có giá trị đối với doanh nghiệp xây dựng Đối với doanh nghiệp tư vấn xây dựng việc làm thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường được hiểu là tuân thủ thiết kế, đảm bảo sản phẩm tư vấn theo đúng các yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật của thiết
kế, đảm báo yêu về tiến độ tư vấn, chất lượng công trình xây dựng theo đúng các yêu
cầu trong các hợp đồng tư vấn đã được ký kết
h V ị thế, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nó mang tính tổng hợp các yếu tố đã trình bày ở trên Uy tín, vị thế của doanh nghiệp được hình thành không phải trong thời gian ngắn mà là cả một quá trình phấn đầu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược đúng đắn của mình
Uy tín, vị thế được xây dựng nên bằng con đường chất lượng: chất lượng của cả hệ
thống quản lý của doanh nghiệp, chất lượng của ban lãnh đạo, chất lượng của từng con người trong doanh nghiệp Chất lượng lực lượng lao động được hình thành qua quá trình giáo dục, đào tạo và rèn luyện; uy tín được xây dựng nên bằng chất lượng sản
phẩm mà doanh nghiệp tạo ra Chất lượng sản phẩm phải thường xuyên ổn định, thường xuyên được cải tiến, nâng cao và có sự khác biệt Có như vậy sản phẩm mới
Trang 3325
thường xuyên đáp ứng yêu cầu của khách hàng (chủ đầu tư), mới là sản phẩm có chất lượng
Uy tín, vị thế được xây đắp bằng sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển của
bền vững của nền kinh tế - xã hội
Uy tín, vị thế của doanh nghiệp tư vấn xây dựng là phải làm sao để cho khách hàng
biết đến mình, sản phẩm của mình thì doanh nghiệp phải chú ý đến hoạt động marketing và quảng cáo
1.3.1.2 Các y ếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp tư
v ấn
a Cơ chế chính sách của Nhà nước
Sự ổn định về chính trị, kinh tế và trật tự - an toàn xã hội là điều kiện cần thiết cho các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất kinh doah, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị, kinh tế và đảm bảo trật tư - an toàn xã
hội làm giảm rủi ro trong kinh doanh, hấp dẫn đầu tư nước ngoài
Hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán và ổn định cần hướng tới tạo lập môi trường
cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Với vai trò
là người điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần xác định
việc tạo lập môi trường pháp lý đồng bộ, thông thoáng và ổn định cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là một nhiệm vụ ưu tiên
Hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng nhằm hình thành đồng bộ và thông thoáng các loại thị trường (thị trường yếu tố đầu vào, thị trường đầu ra) làm tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có những điều kiện đặc thù riêng, có khả năng khai thác cơ hội khác nhau và có thể được hưởng lợi ở những mức độ không giống nhau từ
sự đồng bộ và thông thoáng của các loại thị trường
Hệ thống pháp luật của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong khuôn khổ của pháp
luật
Chủ trương của Nhà nước ta là hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Việt Nam
đã gia nhậpWTO đồng nghĩa với việc xóa bỏ dần hàng rào thuế quan và phí thuế quan, xóa bỏ sự bảo hộ của Nhà nước đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước
Trang 34Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý
và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư là cá nhân hay tổ chức trực
tiếp lựa chọn nhà thầu tư vấn hoặc chỉ định thầu tư vấn, là khách hàng đặc biệt sẽ mua
sản phẩm của doanh nghiệp tư vấn Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay
gắt giữa các doanh nghiệp, khách hàng được đặt ở vị trí “thượng đế” Doanh nghiệp luôn tìm cách tiêu thụ sản phẩm nhanh, phục vụ khách hàng tốt nhất Tư vấn quyết định phần lớn sự thành hay bại của một dự án Tư vấn không chỉ đơn thuần là đưa ra
lời khuyên, mà còn phải chỉ vẽ, hướng dẫn thực hiện lời khuyên đưa ra sao cho có thể đạt hiệu quả cao nhất Tư vấn phải giúp đỡ kỹ thuật trong việc soạn thảo và hoàn chỉnh các dự án, giúp đỡ trong giám sát thực hiện dự án Tư vấn phải tổ chức điều tra, khảo sát, nghiên cứu, soạn thảo các văn kiện, dự án, quy hoạch, thiết kế và quản lý các dự
án xây dựng cho khách hàng Yêu cầu của khách hàng đối với tư vấn ngày càng cao và
khắt khe hơn: chất lượng sản phẩm luôn phải tốt, giá thành vừa phải, phong cách phục
vụ khách hàng nhiệt tình Mặt khác năng lực của Chủ đầu tư rất quan trọng, nếu năng
lực của Chủ đầu tư tốt thì sẽ lựa chọn được đơn vị tư vấn có năng lực
c Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
nó trực tiếp ảnh hưởng đến thị phần của doanh nghiệp Để có chiến lược cạnh tranh
hiệu quả thì việc hiểu được đối thủ cạnh tranh là cực kỳ quan trọng
Nền kinh tế ngày càng phát triển, tiến trình tự do hóa ngày càng cao Mọi tổ chức và cá nhân càng dễ dàng tham giá thị trường, tức là không còn độc quyền hay đặc quyền
nữa Sự tự do hóa không chỉ diễn ra trong nước mà còn vượt ra ngoài biên giới Sức ép
của các đối thủ mới gia nhập (kể cả trong nước lẫn ngoài nước) với những lợi thế và công nghệ mới, phương pháp quản lý mới, đặc biệt lợi thế của các doanh nghiệp nước
Trang 3527
ngoài, các tập đoàn lớn trên thế giới sẽ gây bất lợi, khó khăn không chỉ cho doanh nghiệp mà cho toàn ngành
Trước tiên doanh nghiệp cần phải xác định được các đối thủ cạnh tranh của mình, kể
cả đối thủ hiện tại và đối thủ tiềm ẩn Đối với các doanh nghiệp hiện tại, thế và lực của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác là biểu hiện trực tiếp sức mạnh của doanh nghiệp trong ngành Sau đó đánh giá vị trí của đối thủ cạnh tranh, phân tích các đối thủ
cạnh tranh trong ngành nhằm nắm được các điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ, phát
hiện được những lĩnh vực mình có ưu thế cạnh tranh hay bất lợi trong cạnh tranh, từ
đó xác định đối sách của mình nhằm tạo được thế đứng vững mạnh trong môi trường ngành nói riêng cũng như trên thị trường nói chung Để có một vị trí vững chắc, mọi doanh nghiệp luôn tìm cách vươn lên và tìm mọi biện pháp để vượt lên đối thủ cạnh tranh trực tiếp của mình
d Tác động do sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ và kỹ thuật xây dựng
Ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và phần mềm thương mại điện tử nói riêng
đã trở thành một điều không thể thiếu trong các doanh nghiệp ngành xây dựng, trong
bối cảnh toàn cầu hóa với các xu hướng hội nhập ngày càng tăng việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như AFTA,WTO, ký kết các hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam với các nước nhằm mở rộng giao lưu thương mại và kinh tế càng thúc đẩy việc ứng dụng những công nghệ, kỹ thuật mới
hiện đại trong đó có công nghệ thông tin
Đối với các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, với mô hình hoạt động theo kiểu phòng
quản lý chất lượng kiểm soát các hoạt động thiết kế và giảm sát chất lượng sản phẩm thiết kế từ các xưởng, văn phòng thiết kế, việc ứng dụng phần mềm dùng chung sẽ đặc
biệt có hiệu quả và tiết kiệm
Chính vì thế yêu cầu đối với các công ty tư vấn xây dựng không chỉ đơn thuần cung
cấp cho xã hội các kỹ năng về kỹ thuật mà là các giải pháp tích hợp kỹ thuật, quản lý
đa chiều Các công ty tư vấn phải phấn đấu trở thành các trung tâm tích hợp kỹ thuật cao
Các nhà quản lý và kỹ sư luôn làm việc với khoa học, kỹ thuật và công nghệ Kỹ thuật
là cầu nối giữa khoa học và công nghệ Giải pháp kỹ thuật và công nghệ giao thông,
Trang 3628
địa kỹ thuật và môi trường cần đưa ra các câu trả lời và giải pháp kỹ thuật thích đáng cho một số nhu cầu xây dựng như:
- Quy hoạch hợp lý các vùng lãnh thổ, sử dụng hợp lý đất đai, tài nguyên
- Thiết kế, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công trình giao thông
- Công nghệ và vật liệu mới trong xây dựng đường ô tô, xây dựng cầu
- Bảo vệ và duy trì tính ổn định của mái dốc, bảo vệ chống sụt lở đất, sụt lở bờ sông,
bờ biển; xử lý nước, đường hầm trong đô thị
Nếu doanh nghiệp tư vấn nào không nắm được các công nghệ và kỹ thuật mới, tiên
tiến thì không những không thể đưa ra giải pháp tư vấn thích hợp nhất, tiết kiệm nhất
mà có khi còn xảy ra các tai nạn phải trả bằng sinh mạng con người Như vậy sẽ làm
giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
e S ự phát triển của các lực lượng lao động kỹ thuật
Sự phát triển của các lực lượng lao động kỹ thuật mang đến cho doanh nghiệp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến
tốt, họ có thế đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị sản
xuất của doanh nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm có tính năng cao, nâng cao năng
suất lao động làm chi phí sản xuất giảm … Đây có thể nói là cơ hội của các doanh nghiệp
Tuy nhiên đi cùng với thuận lợi là khó khăn và đi cùng với cơ hội thì doanh nghiệp sẽ
phải đối mặt với những thách thức từ sự phát triển của các lực lượng lao động này Đó
là doanh nghiệp phải biết cách quản lý, sắp xếp và sử dụng nguồn nhân lực này một cách khoa học và hiệu quả nhất Cung cấp cho họ một môi trường làm việc lành mạnh
và mang bản sắc riêng của doanh nghiệp
f Tác động của việc toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa được nói đến ở đây trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế Toàn
cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu
thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có
hợp tác vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho phát triển nhưng cũng vừa có
những thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát
Trang 37hiện tượng mới, bắt đầu bằng toàn cầu hóa về kinh tế, rồi dần dần lôi cuốn theo toàn
cầu hóa về một số lĩnh vực văn hóa và tác động mạnh mẽ đến chính trị
Các sản phẩm ngày nay có hàm lượng tri thức, trí tuệ cũng rất cao Tài sản sở hữu trí
tuệ đang dần trở thành tài sản phổ biến nhất Mặc dù các tài sản hữu hình như đất đai, lap động và tiền vốn từng được sử dụng làm thước đo sức mạnh kinh tế nhưng vai trò
của nó càng ngày càng đi xuống thế yếu
g Các nhân t ố khác
- Kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn xây dựng và vấn đề cạnh tranh Tư vấn xây dựng không có thần đồng, chất lượng tư vấn bao giờ cũng đi cùng với kinh nghiệm Một số
kiến trúc đặc thù chỉ những người được đào tạo thực sự bài bản mới có thể tham gia
Nếu một công ty chưa từng làm một công trình tương tự thì không thể có một đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm đối với loại công trình tương tự Chính vì vậy, khi xem xét
lựa chọn một nhà thầu tư vấn, chủ đầu tư thường rất quan tâm đến kinh nghiệm của doanh nghiệp trong các công trình tương tự Doanh nghiệp hoạt động lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong nhiều loại hình công trình là một lợi thế cạnh tranh
- Vấn đề liên danh liên kết giữa các tổ chức tư vấn trong nước và các tổ chức tư vấn nước ngoài Trong hoạt động kinh doanh, liên kết, liên danh là một yêu cầu tư nhiên để tăng năng suất lao động của mỗi doanh nghiệp Ngày nay, khi tham gia WTO, phần
lớn doanh nghiệp nước ta còn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì việc liên kết, liên danh để bổ sung năng lực, khắc phục yếu kém để tăng năng lực cạnh tranh lại càng cấp bách Việc liên kết không chỉ giúp doanh nghiệp giảm giá thành, tăng chất lượng sản
phẩm, còn có thể giúp cho doanh nghiệp nhận được những dự án lớn mà mỗi bản thân doanh nghiệp không thể đáp ứng, từ đó mở rộng thị trường, tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp trong tương lai Có rất nhiều phương thức liên kết, liên danh hết sức phong phú: giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa các doanh nghiệp nhỏ
với các doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp tư vấn với doanh nghiệp xây lắp, giữa
Trang 3830
doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả các tập
đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia…
1.3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tư vấn của doanh nghiệp được thể hiện theo sơ đồ sau:
Hình 1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
tư vấn xây dựng
1.3.2.1 Ngu ồn nhân lực
Đối với doanh nghiệp tư vấn xây dựng nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp bởi vì dịch vụ tư vấn xây dựng xét một cách tổng quát là
“dịch vụ trí tuệ” Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không
thể đạt được mục tiêu hoạt động Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược Trong điều kiện xã hội đang chuyển nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ,
Máy móc thiết bị công nghệ
Khả năng và kinh nghiệm
Hoạt động Marketing
Các chỉ tiêu khác
Khả năng liên danh, liên kết
Trang 3931
vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó Bên cách đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng Chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào khả năng, trình độ chuyên môn của các kỹ sư tư vấn xây dựng
Khi đánh giá nhân lực trong doanh nghiệp tư vấn xây dựng ta cần xem xét tất cả các khía cạnh của nhân lực doanh nghiệp:
- Số lượng lao động;
- Chất lượng - Trình độ chuyên môn
- Cơ cấu lao động (
(
Chính sách nhân s ự của doanh nghiệp được đánh giá trên các khía cạnh nhưng
chính sách tuyển dụng và tuyển chọn nhân sự, sử dụng nhân sự, chính sách động viên và đãi ngộ nhân viên
Chính sách phát tri ển nguồn nhân lực Chính sách này thể hiện trong các hoạt động
hoạch định nhu cầu nhân sự triển khai các dự án đào tạo, huấn luyện nhân viên và
thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực
Ti ềm năng nhân sự của doanh nghiệp thể hiện qua trình độ học vấn và tay nghề của độ
ngũ công nhân viên
1.3.2.2 Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền
hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiên ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời … đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh đoanh được tiến hành bình thường
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các yếu tố định lượng và các yếu tố định tính
Các yếu tố định lượng thế hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời …
Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực …
Để dễ dàng cho việc đánh giá, xem xét năng lực tài chính của một doanh nghiệp ta có
thể phân chia thành các nhóm chỉ tiêu như sau:
- Khả năng huy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 4032
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Khả năng sinh lời
Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn
- H ệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn =
Tổng tài sản ngắn hạn
(1.3)
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được bảo đảm bằng bao nhiêu tài sản ngắn
hạn Hệ số này quá nhỏ, doanh nghiệp có khả năng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nếu hệ số này quá cao, tức doạnh nghiệp đã đầu tư tài sản và tài sản lưu động quá nhiều, không mang lại hiệu quả lâu dài Mức hợp lý thường là bằng 2
- H ệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được bảo đảm bằng bao nhiêu tiền đang có
Hệ số này càng cao càng tốt Hệ số này cho biết tiền và các khoản tương đương tiền
của doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn hay không Đối với các doanh nghiệp hoạt động bình thường, hệ số này thường biến động từ 0,5
÷1, nếu gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ
- H ệ số khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số này cho thấy khả năng doanh nghiệp thanh toán được nợ ngắn hạn ngay Nếu hệ
số này cao, doanh nghiệp có khả năng toán lớn, nhưng nếu hệ số này quá cao thì không có hiệu quả, hệ số này hợp lý thường bằng 0,5
Nhóm các ch ỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn
- Ch ỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn
Tổng nguồn vốn