Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, k
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực
và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cám ơn
và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày .tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Khuyến
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Kinh tế và quản lý xây dựng trường Đại học Thủy lợi đã giúp đỡ về mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn Tác giả gửi lời cám ơn
các thầy, cô bộ môn Quản lý xây dựng trong Khoa Kinh tế và quản lý đã giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trình học và làm luận văn
Xin cám ơn Sở Lao động - TB&XH tỉnh Lạng Sơn, một số cơ quan có liên quan thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn; Phòng LĐTBXH, Trung tâm dạy nghề các huyện, thành phố và một số hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giúp đỡ tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tác giả hoàn thành Luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Văn Chính, người thầy đã trực tiếp tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tác hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các đồng chí, đồng nghiệp, bàn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, động viên khích lệ, đồng thời có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày .tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Khuyến
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 4
1.1 Khái niệm và vai trò của lao động nông thôn 4
1.1.1 Khái niệm lao động nông thôn 4
1.1.2 Vai trò của lao động nông thôn 5
1.2 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 7
1.2.1 Quan điểm về đào tạo nghề 7
1.2.2 Nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 8
1.3 Chỉ tiêu đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 15
1.3.1 Số lượng lao động đã được đào tạo 15
1.3.2 Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn 16
1.3.3 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của người lao động 17
1.3.4 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của các doanh nghiệp và người sử dụng lao động trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 20
1.4.1 Các nhân tố khách quan 20
1.4.2 Các nhân tố chủ quan 21
1.5 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 23
1.5.1 Kinh nghiệm trong nước 23
1.5.2 Kinh nghiệm ngoài nước 25
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Lạng Sơn 28
1.6 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 32
Trang 42.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn tỉnh Lạng Sơn 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 39
2.2 Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 44
2.2.1 Thực trạng tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm cho lao động nông thôn 44
2.2.2 Thực trạng triển khai các mô hình dạy nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn 47
2.2.3 Thực trạng hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề Tỉnh Lạng Sơn 53
2.2.4 Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước 58
2.2.5 Thực trạng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý 60
2.2.6 Thực trạng phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề 61
2.2.7 Thực trạng quản lý, giám sát 64
2.3 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn theo Đề án 1956 66
2.3.1 Nhu cầu đào tạo nghề 66
2.3.2 Kết quả đào tạo nghề 68
2.4 Phân tích đánh giá chung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 70
2.4.1 Những kết quả đạt được 70
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN 79
3.1 Định hướng phát triển của tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 79
3.1.1 Định hướng chung 79
3.1.2 Định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn 82
3.2 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn tới 87
3.2.1 Cơ hội 87
3.2.2 Thách thức 87
Trang 53.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
theo Đề án 1956 trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn 88
3.3.1 Nâng cao nhận thức đối với học nghề của người dân khu vực nông thôn 89 3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành đến từng người dân về vai trò, ý nghĩa của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với sự phát triển của xã hội 90
3.3.3 Đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập 91
3.3.4 Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề 92
3.3.5 Mở rộng mạng lưới đào tạo nghề, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên dạy nghề 94
3.3.6 Phát triển, đổi mới nội dung chương trình đào tạo 96
3.3.7 Phân luồng lao động theo nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghề đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển hiện nay của địa phương 97
3.3.8 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn 98
3.3.9 Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 108
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn 32
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình đất đai của tỉnh Lạng Sơn năm 2016 34 Bảng 2.2 Tình hình phát triển và cơ cấu kinh tế của Tỉnh Lạng Sơn 3 năm (2014-2016) 40 Bảng 2.3 Tình hình dân số và lao động của Tỉnh Lạng Sơn trong 3 năm (2014-2016) 43 Bảng 2.4 Ý kiến của các học viên về hoạt động tuyên truyền ĐTN tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh 46 Bảng 2.5 Kế hoạch triển khai các mô hình dạy nghề của người lao động trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 47 Bảng 2.6 Tình hình thực hiện các mô hình dạy nghề giai đoạn 2014-2016 48 Bảng 2.7.Danh mục các nghề đào tạo; nhu cầu học nghề và kết quả dạy nghề cho lao động nông thôn trong 3 năm 2014 – 2016 50 Bảng 2.8 Cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ sở đào tạo nghề tỉnh Lạng Sơn 53 Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá của các cơ sở ĐTN và học viên về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề 57 Bảng 2.10 Kinh phí thực hiện ĐTN theo Đề án 1956 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014-2016 59 Bảng 2.11 Số lượng giáo viên, giảng viên tham gia dạy nghề của tỉnh Lạng Sơn (Có mặt đến 31/12/2016) 60 Bảng 2.12 Đánh giá của người lao động về chương trình, giáo trình, giáo viên tham gia công tác dạy nghề 62 Bảng 2.13 Nhu cầu đào tạo của các ngành nghề 67 Bảng 2.14 Kết quả đào tạo nghề tại tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm 2014-2016 68 Bảng 2.15 Danh mục nghề đào tạo và kết quả giải quyết việc làm trong 3 năm 2014 –
2016 71 Bảng 2.16 Mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của lao động qua đào tạo 73
Trang 8LĐNT : Lao động nông thôn
LĐ-TB và XH : Lao động Thương binh và Xã hội
SXKD : Sản xuất kinh doanh
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
TTDN : Trung tâm dạy nghề
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lao động là một trong các nguồn lực quan trọng và có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nguồn lao động phải đáp ứng đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng Với đặc điểm về sự biến động của nguồn lao động, thường xuyên có bộ phận có trình
độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm lao động đã quá tuổi lao động ra khỏi độ tuổi lao động và bộ phận khác chưa có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm lao động bước vào
độ tuổi lao động Vì vậy đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động là việc làm thường xuyên và đóng vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt là những người lao động trong nguồn lao động nông thôn
Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, nông nghiệp nông thôn của nước ta đòi hỏi cần phải có nguồn lực có chất lượng Mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, có trình độ phát triển trung bình, tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 30% trong lao động xã hội Tuy nhiên Việt Nam hiện có 70,4% dân số sống ở nông thôn với 31,9 triệu lao động nông thôn (chiếm 73% lực lượng lao động của cả nước), lao động làm việc trong nhóm ngành Nông – lâm – ngư nghiệp là 21,7 triệu người, chiếm trên 68%, còn lại là lao động phi nông nghiệp Có thể thấy lao động nông thông đang trở thành lực lượng sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết định, then chốt trong các ngành kinh tế của đất
nước Do đó đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nhiệm vụ này đã được cụ thể hóa bằng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định 1956 ngày 27/11/2009 và đang được triển khai tích cực trên phạm vi toàn quốc
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng, nằm trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, có trên 220 km đường biên giới Quốc gia với nước Trung Quốc, 02 cửa khẩu quốc gia và 07 điểm chợ biên giới Đến năm 2020 tỉnh
Trang 10Lạng Sơn trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, kết nối, giao thương giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trên thế giới Trong tương lai Lạng Sơn sẽ là một cực của tứ giác kinh tế vùng Bắc Bộ của Việt Nam: Lạng Sơn –
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ngày càng cao, đặt ra nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong tỉnh, trong nước và quốc tế ngày càng lớn Thực trạng đó đặt ra cho Lạng Sơn bài toán về phát triển nguồn nhân lực một cách đồng bộ, nhất là lao động ở khu vực nông thôn
Từ những nhận thức trên, cùng với những kiến thức chuyên môn được học tập và nghiên cứu trong Nhà trường và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại địa
bàn nghiên cứu, tác giả lựa chọn đề tài với tên gọi: “Giải pháp nâng cao chất lượng
đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án
1956 trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn
Để giải quyết các vấn đề đã được đặt ra trong các chương của luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp phổ biến phù hợp với nội dung nghiên cứu, đó là: Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu thực tế; Phương pháp thống kê; Phương pháp hệ thống hóa; Phương pháp phân tích so sánh, phân tích tổng hợp; Phương pháp đối chiếu với
hệ thống văn bản pháp quy và một số phương pháp khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động đào tạo nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Phạm vi về mặt thời gian, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, thu thập và phân tích các
số liệu thực trạng liên quan đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn trong giai đoạn 2010 - 2016 và đề xuất các giải pháp tăng cường chất lượng công tác này trong thời gian tới
Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài các phần: mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 2956 trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1.1 Khá i niệm lao động nông thôn
Trước hết, chúng ta biết lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các
nhu cầu của đời sống xã hội
Theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, độ tuổi lao động của người Việt Nam được quy định như sau:
Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi
Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi [1]
Như vậy, chúng ta cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động Cả hai thuật ngữ đều giới hạn độ tuổi lao động theo quy định, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộ phân dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân như chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Do vậy, nguồn lao động là một bộ phận của dân
số trong độ tuổi lao động
Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
Từ năm 1996, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam ra quyết định tiến hành điều tra Lao động - Việc làm hàng năm ở khu vực thành thị và nông thôn trên phạm vi cả nước Trong các cuộc điều tra này, khái niệm lực lượng lao động được sử dụng như sau:
“Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm Lực lượng
Trang 13lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”
Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn được hiểu như sau:
Lao động nông thôn“sau đây gọi là LĐNT” gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc
khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lí do khác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, và những người thuộc tình trạng khác.[2]
Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội nông thôn
1.1.2 Vai trò của lao động nông thôn
Lao động là một trong ba nhân tố quan trọng của bất cứ một quá trình sản xuất nào
Trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem xét
là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, nó được thể hiện qua các mặt sau:
1.1.2.1 Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân
Trong giai đoạn đầu khi đất nước bắt đầu công nghiệp hóa, nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, năng suất lao động nông nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất dịch vụ Chúng ta có thể thấy hiện tượng này ở Việt Nam hiện nay có nhiều nông dân bỏ ruộng và đi làm việc phi nông nghiệp khác hoặc đi làm thuê với thu nhập cao hơn là làm nông nghiệp
Trang 14Ở giai đoạn tiếp theo nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được ngành khác thu hút hết Vì thế trong giai đoạn này số lượng lao động ở nông thôn giảm Chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, hy vọng sẽ nâng cao được năng suất lao động ở nông thôn, từ đó sẽ từng bước rút bớt được lao động ở nông thôn để tham gia vào các ngành sản xuất khác
Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời với dân số sống chủ yếu bằng nghề nông Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp
là rất đông đảo Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu
về lương thực – thực phẩm ngày càng gia tăng
Việc sản xuất lương thực – thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp và sức lao động để tạo ra lương thực – thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cung cấp
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hóa, thu nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực – thực phẩm ngày càng cao Để có thể đáp ứng đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn phải được nâng cao về trình độ dạy nghề và kinh nghiệp sản xuất
Hiện nay chất lượng nguồn lao động nông thôn ngày càng được nâng cao như: số lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, học vấn của người lao động ngày càng được nâng lên nên năng suất và sản lượng lương thực – thực phẩm ổn định cho nhu cầu trong nước mà hàng năm chúng ta đã xuất khẩu nông sản, thu được ngoại tệ đáng
kể cho đất nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện vật chất cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “sau đây gọi là CNH, HĐH” đất nước Để việc cung cấp lương thực – thực phẩm ổn định và chất lượng không ngừng được nâng cao thì nguồn lai động nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng
Trang 151.1.2.2 Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản
Công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản với các yếu tố đầu vào là các sản phẩm
mà người lao động nông thôn làm ra Trong thời kỳ CNH – HĐH thì phát triển công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp
1.1.2.3 Lao động nông thôn là thị trường tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác
LĐNT là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các ngành khác và của chính bản thân ngành nông nghiệp Tại thời điểm năm 2015, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 6 tháng đầu năm ước tính 37,45 triệu người chiếm 68,94% Với dân số gần
40 triệu người thì có thể nói nông thôn là một thị trường rộng lớn cần phải được khai thác triệt để.[3]
1.2.1 Quan điểm về đào tạo nghề
Đào tạo nghề “sau đây gọi là ĐTN” cho người lao động nông thôn là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả người đã có nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề chuyên môn khác Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): "Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm
vi một nghề hoặc nhóm nghề Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu" Như vậy, có thể hiểu, đào tạo nghề là hoạt động trang bị năng lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ) hành nghề cho người lao động để người lao động có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.[4] Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” thì “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích,
Trang 16huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn”.[5]
Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống;
Chuyển mạnhđào tạo nghềchoLĐNTtừ đào tạotheo năng lực sẵn có của cơ sởđào tạosangđào tạotheo nhu cầu học nghề của lao động nông thônvà yêu cầu của thị trường lao động; gắnđào tạonghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từngđịa phương;
Đổi mới và phát triểnđào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình; Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tạo sự chuyển biến sâu sắc
về mặt chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng; nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức, đủ trình độ, bản lĩnh lãnh đạo,
quản lý và thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở xã phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Nội dung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.2.2.1 Tuyên truyền tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn Phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dạy nghề nông thôn; thực hiện tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong những năm qua Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành được 8 năm và đang triển khai trong tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Việc triển khai hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào các nội dung chủ yếu như:
- Quán triệt nội dung Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến tận cơ
sở
- Các cơ quan phát thanh, truyền hình, các phương tiện báo chí ở địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; biến các phương tiện
Trang 17thông tin đại chúng trở thành những kênh thông tin quan trọng nâng cao nhận thực của các cấp, các ngành và của toàn xã hội về dạy nghề cho lao động nông thôn
- Biên soạn các tài liệu tuyên truyền đến từng người dân chủ trương của Đảng và Chính phủ, các kế hoạch, mục tiêu đào tạo nghề của địa phương đến từng cơ sở đào tạo nghề và đến từng lao động nông thôn
- Tuyên truyền các chính sách ưu đãi đối với lao động nông thôn tham gia đào tạo nghề
Trong thời gian qua các cơ quan truyền thông đã tích phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dạy nghề cho lao động nông thôn và tổ chức tuyên truyền sâu rộng về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên các phương tiện thông tin đại chúng Ngoài những tin tức cập nhật về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề, các báo, đài đều mở các chuyên trang, chuyên mục về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đây là kênh tuyên truyền Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tại các địa phương trong cả nước Đặc biệt, các cơ quan, đơn
vị truyền thông đã thường xuyên cập nhật, đăng tải các văn bản chỉ đạo của trung ương, của các địa phương, các tin, bài, phóng sự phản ánh tuyên truyền đào tạo nghề của các doanh nghiệp, các trung tâm đào tạo nghề; thông tin tuyển dụng lao động việc làm của các công ty, doanh nghiệp để người dân dễ dàng truy cập tiếp nhận thông tin; tuyên truyền biểu dương kịp thời những tập thể cá nhân, gương điển hình tiên tiến trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để xây dựng và nhân rộng mô hình, điển hình tiên
tiến; phối hợp chặt chẽ với các ngành Lao động - Thương binh và Xã hội “sau đây gọi là
LĐTBXH”, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân tổ
chức thông tin, tuyên truyền, phản ánh công tác đào tạo nghề ở các địa phương, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, trên cơ sở đó giúp các ngành chức năng có các biện pháp giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 18Công tác tuyên truyền đã được các đơn vị triển khai thực hiện tốt, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống, phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2.2.2 Thí điểm tổ chức, đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn
Trong những năm đầu triển khai thực hiện Đề án, các địa phương tập trung triển khai các điều kiện tiền đề thực hiện Đề án như: Tổ chức các hội nghị quán triệt Đề án tới các cán bộ chủ chốt các cấp (tỉnh, huyện, xã); tổ chức tập huấn đối với cán bộ cấp huyện, xã nhằm tạo chuyển biến nhận thức của cán bộ về mục đích, ý nghĩa về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; hướng dẫn, thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ban chỉ đạo Trung ương, Bộ LĐTBXH về công tác dạy nghề cho lao động nông thôn Về chỉ đạo thực hiện, tất cả các tỉnh, thành ủy đã ban hành Chỉ thị về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng trong triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh/thành phố nhiệm kỳ 2010-2015 để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện”
Các tỉnh, thành phố đã căn cứ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình và kết hợp điều kiện thực tế phát triển kinh tế trên địa bàn đã lựa chọn các nghề điểm trong các lĩnh vực để đảm bảo việc làm thông qua tự tạo việc làm, tăng thu nhập, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động của người lao động nông thôn, góp phần thay đổi phương thức sản xuất truyền thống, thúc đẩy đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế hộ, tăng thu nhập và giá trị sản phẩm hàng hóa ở khu vực nông thôn, đồng thời góp phần giảm nghèo bền vững Cụ thể sau 3 năm (2010-2013) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức nhân rộng mô hình thí điểm có hiệu quả tại
24 tỉnh, thành phố với 24 nghề tiểu thủ công nghiệp; 26 nghề đào tạo theo vị trí làm việc tại các doanh nghiệp; 2 nghề đào tạo cho ngư dân tàu đánh cá xa bờ Qua triển khai đã hoàn thiện, nhân rộng mô hình có hiệu quả, đã xây dựng được các quy trình dạy nghề cho lao động nông thôn để phổ biến cho các địa phương Các quy trình gồm:
Trang 19- Quy trình tổ chức lớp dạy nghề tiểu thủ công nghiệp cho lao động nông thôn tại các làng nghề
- Quy trình tổ chức lớp dạy nghề thuyền trưởng, máy trưởng cho ngư dân tàu đánh cá
xa bờ
- Quy trình tổ chức lớp dạy nghề theo vị trí việc làm tại doanh nghiệp cho lai động nông thôn
- Quy trình tổ chức lớp dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Với những nghề nói trên việc áp dụng vào quá trình phát triển kinh tế hộ phù hợp với điều kiện tại địa phương, đảm bảo trên 80% lao động sau đào tạo sử dụng đúng nghề,
áp dụng có hiệu quả sau đào tạo, sản phẩm tiêu thụ nhanh và đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giảm nghèo bền vững, nhiều hộ còn vươn lên thành hộ khá và giàu [6] Như vậy, cùng với các hoạt động triển khai thực hiện Đề án, việc triển khai thí điểm, hoàn thiện, nhân rộng và rút kinh nghiệm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn là một hoạt động cần thiết và mang lại hiệu quả thiết thực
1.2.2.3 Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị dạy nghề công lập
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị là một trong những nhân tố quan trọng tác động tích cực tới việc đảm bảo và nâng cao dạy và học tại các đơn vị dạy nghề công lập Chất lượng của cơ sở vật chất gắn chặt với chất lượng đào tạo, vì thế việc đầu tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất là đòi hỏi cần thiết nhằm giúp cho người học đáp ứng được yêu cầu của thực tế trong tình hình mới Nếu cơ sở dạy nghề có đầy đủ
cơ sở vật chất, phương tiện, máy móc, hệ thống giáo trình… phục vụ cho hoạt động đào tạo nghề thì chất lượng lao động được đào tạo tại cơ sở đó sẽ được đảm bảo và nâng cao
Hệ thống cơ sở vật chất là những điều kiện rất cần thiết cho hoạt động dạy nghề Dạy nghề là dạy và rèn kỹ năng lao động, dạy nghề cần có hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, nhất là các trang thiết bị phục vụ cho dạy nghề Kinh phí cho việc đầu tư các thiết bị thường rất lớn vì đó là các máy móc, thiết bị cho người học rèn tay nghề nên số lượng
Trang 20lớn và sử dụng thường xuyên, Vì vậy, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo nghề có vai trò hết sức quan trọng Tăng cường cơ sở vật chất có sự tham gia của các cấp quản lý vĩ mô với các hoạt động quan trọng như: quy hoạch hệ thống đào tạo nghề trên các phương diện cơ sở vật chất, cấp vốn cho các trường, các cơ sở đào tạo nghề và giám sát quá trình sử dụng vốn Vai trò này chủ yếu thuộc về Tổng cục dạy nghề với
tư cách là đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề, các bộ ngành, các địa phương có liên quan trong chức năng chủ quản của một số cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn thuộc ngành, địa phương
Việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các đơn vị dạy nghề công lập còn thuộc về chính các cơ sở đào tạo trong việc sử dụng nguồn vốn xã hội trong xây dựng
hệ thống cơ sở vật chất của mình Đặc biệt các đơn vị dạy nghề còn năng động trong việc huy động nguồn vốn từ các đơn vị sử dụng lao động, từ các tổ chức phi chính phủ theo phương châm “xã hội hóa” đào tạo nghề cho lao động nông thôn; trong việc quản
lý và sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất của từng cơ sở đào tạo nghề được xây dựng
1.2.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề
Đội ngũ cán bộ đào tạo nghề bao gồm các cán bộ quản lý ở cơ sở đào tạo nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề Đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề là những người trực tiếp truyền đạt các kiến thức cơ bản về nghề, đồng thời cũng là những người hướng dẫn nghề và rèn luyện tay nghề Vì vậy đội ngũ giáo viên dạy nghề phải là những người nắm vững lý thuyết, nhưng rất giỏi về thực hành Để có được đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng được yêu cầu, các cơ sở dạy nghề cần phải có chế độ tuyển dụng những người đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (có nền tảng lý thuyết vững và trình độ tay nghề giỏi), có lòng yêu nghề Không chỉ vậy, các cơ sở đào tạo nghề cần có chế độ thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và có chính sách sử dụng đội ngũ giáo viên theo hướng khuyến khích, tạo sự yên tâm với nghề, nhất là ở những nơi có sự cạnh tranh cao giữa các trường nghề với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp
Trang 211.2.2.5 Xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn
Các chương trình, giáo trình đào tạo dạy nghề là cơ sở để các cơ sở đào tạo nghề thực hiện các hoạt động dạy và đào tạo tay nghề Các chương trình, giáo trình phải rất cụ thể theo từng nghề và nhóm nghề Các chương trình, giáo trình hướng đến 2 mục tiêu
là trang bị cho người học những kiến thức cơ bản và rèn luyện kỹ năng nghề một cách
cụ thể Để xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, các cơ sở đào tạo nghề phải xác định được hệ thống ngành nghề, cơ sở sẽ tham gia đào tạo Cơ sở xác định hệ thống ngành nghề là phạm vi sản phẩm của các cơ sở đào tạo nghề sẽ cung ứng Vì vậy, căn cứ xác định hệ thống ngành nghề đào tạo nghề là nhu cầu của các địa phương, các cơ sở đào tạo cung ứng lao động đào tạo Xét trên khía cạnh này, mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hệ thống ngành nghề sẽ phát sinh là cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo Việc xác định nhu cầu ngành nghề đào tạo là sự kết hợp giữa các địa phương với các cơ sở đào tạo trên địa bàn các địa phương theo mức độ ảnh hưởng của các cơ sở đào tạo Vì vậy tổ chức xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình thuộc về chức năng của các trường dưới sự chỉ đạo, giám sát và phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước
Để có chương trình, giáo trình dạy nghề có chất lượng, nhà nước có thể tổ chức xây dựng chương trình, giáo trình chuẩn theo từng cấp dạy nghề để từng cơ sở dạy nghề bổ sung, lựa chọn phù hợp với điều kiện từng cơ sở và yêu cầu sử dụng lao động của từng vùng Chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn so với chương trình, giáo trình dạy nghề nói chung cần cụ thể và dễ hiểu hơn Thậm chí dạy nghề cho lao động nông thôn vùng sâu, vùng xa, cho các đồng bào dân tộc ít người cần theo phương thức cầm tay chỉ việc, hết sức cụ thể, không tách rời mà gắn lý thuyết với thực hành theo từng kỹ năng nghề Thời gian tổ chức các lớp dạy nghề thường ngắn, vào những thời điểm thích hợp, thường là thời gian nông nhàn
1.2.2.6 Hỗ trợ cho lao động nông thôn học nghề
Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tương ứng Ngược lại, nhu cầu
Trang 22đào tạo cũng có thể được tính toán từ việc xem xét các điều kiện vật chất và con người
có thể huy động cho đào tạo nghề với nhu cầu từ sự phát triển kinh tế xã hội
Tuy nhiên xem xét nhu cầu đào tạo nghề cần xem xét tới đối tượng của hoạt động dạy nghề, những người học nghề với nhu cầu học nghề thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề Nông dân là những người có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dưới dạng học phí thường sử dụng ngân sách hoặc qua các chương trình hỗ trợ Thậm chí có một số đối tượng như người nghèo, các đối tượng chính sách khác còn phải hỗ trợ kinh phí cho người học mới có thể tổ chức được Vì vậy, xã hội hóa đào tạo nghề, giảm bớt gánh nặng về kinh phí mới hy vọng nâng cao trình độ nghề cho lao động nông thôn, khu vực có số lượng người cần đào tạo nghề rất lớn
1.2.2.7 Hoạt động giám sát, đánh giá
Việc kiểm tra, giám sát hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn đóng một vai trò rất quan trọng Khi chưa có Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn trên phạm vi toàn quốc, vấn đề kiểm tra, giám sất hoạt động dạy nghề chủ yếu tập trung vào đăng ký hoạt động dạy nghề, kiểm định chất lượng dạy nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy nghề
Khi có Đề án dạy nghề dạy nghề cho lao động nông thôn với các mục tiêu, đặc biệt với nguồn kinh phí riêng đầu tư cho cơ sở dạy nghề, ưu đãi cho giáo viên và cho người học nghề thì công tác kiểm tra, giám sát hoạt động dạy nghề được dành riêng cho lao động nông thôn Việc kiểm tra, giám sát được tập trung vào các vấn đề như: xây dựng tiêu chí kiểm tra, giám sát, đánh giá Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn của từng vùng trong cả nước; Xây dựng phương pháp thu thập và xử lý thông tin, xây dựng phần mềm quản lý Đề án ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương có liên quan; Hoàn thành hoạt động điều tra, khảo sát, tổng hợp số liệu làm cơ sở xây dựng đề án dạy nghề cho lao động nông thôn ở các cấp;
Rà soát lại mạng lưới cơ sở đào tạo nghề; Tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đào tạo nghề cho lao động nông thôn hàng năm…Những nội dung trên được thực hiện tại tất cả các địa phương triển khai Đề án đào tạo nghề cho lao động
Trang 231.3 Chỉ tiêu đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956
1.3.1 Số lượng lao động đã được đào tạo
Với định hướng nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển kinh tế - xã hội; cùng với các hệ thống giáo dục, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn hướng đến các mục tiêu chủ yếu, quan trọng trong vấn đề đào tạo nhân lực cho khu vực kinh tế nông thôn, trong đó có yếu tố quan trọng là đáp ứng được số lượng lao động đã qua đào tạo có kiến thức, chuyên môn nhằm góp phần tăng sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế Từ đó nâng cao việc đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo, từng bước đưa kinh tế nước nhà lên một tầm cao mới
Từ những nhận định trên, ta có thể thấy sự đúng đắn cũng như phạm vi khá rộng của mục tiêu công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tuy nhiên, trong phạm vi hỗ trợ của Chính phủ, do nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn có hạn, Đề án
1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 chỉ tập trung giải quyết một số vấn đề chính như sau:
- Bình quân mỗi năm đào tạo nghề cho 15.000 người lao động nông thôn, phấn đấu đến hết giai đoạn đào tạo nghề cho 78.487 người, trong đó: Cao đẳng nghề 5.000 người; Trung cấp nghề 15.000 người; dạy nghề dưới 12 tháng 58.477 người
- Đa dạng hoá ngành nghề, trường lớp đào tạo, đảm bảo đến năm 2016 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 45% trở lên, năm 2020 đạt tỷ lệ trên 55%; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến năm 2016 đạt 35% và đến năm 2020 đạt trên 45%
- Đưa nhân lực trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có việc làm khoảng 97,6% và tỷ lệ lao động có việc làm phù hợp với nghề đào tạo đạt trên 80%
- Quy hoạch và nâng cao chất lượng hệ thống dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề
ở 100% huyện, thành phố
Mặc dù qua mỗi năm, lao động qua đào tạo nghề tăng lên về số lượng, tuy nhiên chất lượng thì chưa đáp ứng được cho thị trường lao động Đào tạo nghề ngắn hạn mặc dù được triển khai ở nhiều cơ sở đào tạo với số lượng đông nhưng nhìn mặt bằng chung
Trang 24thì số lượng còn khá khiêm tốn Nhiệm vụ chính của trung tâm dạy nghề là đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nhưng do điều kiện của các trung tâm còn hạn chế nên số lượng lao động được đào tạo tại các trung tâm còn khá thấp Các lao động được đào tạo nghề ngắn hạn ở đây chủ yếu được đào tạo tại các DN sản suất của địa phương
1.3.2 Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn
Lựa chọn ngành nghề đào tạo thật sự rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Nếu lựa chọn ngành nghề đào tạo một cách ồ ạt không những làm tốn kém tiền của của Nhà nước, của người học nghề mà còn làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của họ hạn chế Không những thế, ngành nghề đào tạo không phù hợp với nhu cầu thị trường sẽ dẫn đến tình trạng người lao động được đào tạo ra nhưng lại không tìm được việc làm
Trong 7 năm 2010 - 2016 tại các huyện, thành phố của Tỉnh Lạng Sơn: các trung tâm dạy nghề đã mở rất nhiều lớp với các các nghề đào tạo như kỹ thuật sửa chữa máy nông nghiệp, sửa chữa điện dân dụng, kỹ thuật lắp ráp máy công nghiệp, kỹ thuật
trồng rau an toàn, kỹ thuật trồng na, kỹ thuật chăn nuôi gà, lợn…Tuy nhiên do điều kiện khách quan của các trung tâm dạy nghề huyện nên hiện nay các ngành khác vẫn đang trong quá trình xây dựng môđun học, mở rộng các hình thức đào tạo nghề và tiến hành mua sắm thêm các trang thiết bị phục vụ cho học tập nên chưa mở rộng được nhiều các ngành phục vụ nhu cầu học nghề của LĐNT
Sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ, do đó những lúc nông nhàn những lao động tham gia sản xuất nông nghiệp muốn tìm kiếm thêm việc làm nhằm làm tăng thu nhập cho bản thân và gia đình Từ tình hình trên các lớp truyền nghề ở các làng nghề đã được hình thành và thu hút người lao động Các lớp truyền nghề ngoài việc đáp ứng nhu cầu LĐNT thì nó còn giúp cho các nghề truyền thống không bị mai một, và đặc biệt giúp cho bộ phận lao động có việc làm tại chỗ để tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho họ Tuy nhiên có một thực trạng đang diễn là các lớp học nghề đang ngày càng ít đi Nguyên nhân của vấn đề trên được xem xét đến từ 2 phía Thứ nhất, đó là do công tác truyền nghề tại các địa phương còn nhiều bất cập, chưa có nơi học với đầy đủ trang thiết bị phương tiện dạy và học, người dạy hay
Trang 25được người học Thứ hai, do xã hội ngày càng phát triển dẫn đến xuất hiện các ngành nghề mới với thu nhập cao hơn nên đã thu hút một lượng lớn lao động theo các ngành nghề đó nên lao động không gắn bó với việc học nghề ngay kể cả các lao động đã có tay nghề cũng bỏ nghề chuyển sang các nghề khác cho thu nhập cao hơn
Như vậy, với những ngành nghề được mở và với quy mô đào tạo và đầu tư khá lớn qua mỗi năm LĐNT ngày càng có thêm nhiều cơ hội học tập và tìm việc làm sau đào tạo nhằm cải thiện cuộc sống của mình với mức thu nhập cao và ổn định
1.3.3 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của người lao động
LĐNT hiện nay có nhu cầu học nghề ở các cơ sở, trung tâm dạy nghề với mục đích là sau khi học nghề xong họ sẽ có trong tay một nghề với trình độ tay nghề, chuyên môn vững vàng để có thể tự lập nghiệp và tìm kiếm cơ hội việc làm ở thị trường lao động
Do đó, chất lượng đào tạo nghề ở các cơ sở, trung tâm dạy nghề cũng được bộ phận lao động quan tâm trước khi lựa chọn ngành nghề và cơ sở học nghề
Một bộ phận không nhỏ người lao động không muốn đi học nghề vì họ cho rằng đào tạo nghề vẫn chưa gắn với việc làm hoặc nếu có thì thu nhập của họ sau khi được đào tạo vẫn chưa cao như họ mong muốn Mục đích của người lao động là sau khi tham gia vào lớp học nghề thì họ phải có việc làm với thu nhập cao và ổn định, đồng thời được nâng cao được trình độ Trong điều kiện thu nhập của bản thân hạn hẹp họ sẵn sàng không đi học nghề để sử dụng số tiền đó vào mục đích khác có lợi hơn
Một nguyên nhân chính khiến cho LĐNT không muốn đi học nghề đó là do chất lượng đào tạo nghề Rất nhiều lao động cho rằng chất lượng đào tạo nghề ở trung tâm dạy nghề và các cơ sở dạy nghề của các địa phương hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của họ, trong đó hai yếu tố được đánh giá ảnh hưởng nhất đến chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT trong thời gian nay đó là cơ sở vật chất của nơi học và trang thiết bị dạy học
Nếu ngành nghề đào tạo đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động thì người lao động sẵn sàng bỏ kinh phí để học, để kiếm cho mình một ngành nghề có thu nhập Ngược lại, nếu ngành nghề không đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động, không gắn với việc làm, chất lượng đào tạo nghề không đảm bảo thì sẽ không thu hút được
Trang 26người lao động muốn tham gia học nghề Do đó, muốn cho người lao động nhận thức được vai trò của việc học nghề cải thiện cuộc sống của chính họ và giá trị nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường; song song với việc phát triển các hình thức dạy nghề thì việc cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề là việc làm hết sức cần thiết Phần lớn các ý kiến đề xuất đều mong muốn đào tạo nghề cần phải gắn với việc làm, phát triển các hình thức, chương trình đào tạo phù hợp và không ngừng nâng
cao chất lượng đào tạo có như vậy mới thu hút được bộ phận LĐNT theo học nghề
Đồng thời nhiều ý kiến của người lao động cho rằng hình thức và nội dung chương trình đào tạo nghề hiện nay được triển khai là chưa phù hợp và cần bổ sung thêm để phù hợp với tình hình phát triển chung của toàn tỉnh và nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn cũng như địa bàn các tỉnh xung quanh
1.3.4 Chất lượng đào tạo nghề qua đánh giá của các doanh nghiệp và người sử dụng lao động trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn
Trong quá trình chỉ đạo nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta vẫn nhận định Nông nghiệp
là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, do đó chất lượng lao động nông thôn cũng được các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm Trong những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Đảng và Nhà nước ta triển khai một cách tích cực và thường xuyên, tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhờ đó làm tăng thu nhập cho họ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn gặp phải những hạn chế nhất định mà chúng ta cần phải tìm cách giải quyết một cách nhanh chóng, hợp lý Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với chất lượng cao
Và chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải đạt được qua các chỉ tiêu sau:
- Kiến thức chuyên môn mà người lao động nhận được sau quá trình đào tạo: trong quá trình học nghề, người học được đánh giá kết quả thông qua các bài kiểm tra bao gồm kiểm tra lý thuyết và thực hành Kết thúc khóa đào tạo, người học trải quả kỳ thi tốt nghiệp Tùy ngành học, nghề học, bài kiểm tra có thể có hình thức tự luận, hình thức trắc nghiệm hoặc thực hành nghề Tùy thuộc vào giá trị tích lũy về kiến thức và kỹ
Trang 27năng đặt được và biểu hiện qua kết quả kiểm tra và thi, người tốt nghiệp được xếp loại giỏi, khá, trung bình
- Kỹ năng (sự hoàn thiện) trong quá trình thực hiện công việc: quá trình sản xuất ra hàng hóa thông thường được kết thúc bằng việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, bảo đảm các thông số kỹ thuật, các yêu cầu chất lượng, mẫu mã và có thể lưu thông Sản phẩm của quá trình đào tạo nghề là con người được dùng vào quá trình sản xuất hàng hóa Những người này cần được trang bị đầy đủ các hiểu biết kiến thức và năng lực thực hành đầy đủ…Quá trình đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề cần được đảm bảo chắc chắn quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng đầy đủ, kiểm định (kiểm tra, thi cử) có chất lượng để có thể áp dụng linh hoạt các kiến thức đã học vào công việc
- Ý thức của người lao động: một số lao động không hằn là có tay nghề kém mà là họ chưa thực sự cố gắng phát huy hết khả năng cũng như chuyên môn của mình Nguyên nhân dẫn tới việc này là do việc thực hành ở các cơ sở đào tạo khác so với thực tế công việc đòi hỏi nên họ vẫn chưa quen và việc sử dụng các máy móc, thiết bị tại cơ sở làm việc còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế Ngoài ra, người lao động chưa thực sự coi trọng nghề nghiệp của mình và chưa thực sự muốn gắn bó với công việc mà họ đang làm dẫn đến tình trang một bộ phận nhỏ lao động không tuân thủ đầy đủ các nội quy của các cơ sở sản xuất kinh doanh
Đồng thời còn có nguyên nhân đó là một số lao động vẫn mang nặng tính chất lao động nông nghiệp, khả năng tiếp thu của họ chậm và nhận thức về nghề nghiệp của họ còn rất hạn chế, do đó ý thức kỷ luật về nghề nghiệp còn yếu Họ có mong muốn tìm được một công việc để tăng thêm thu nhập lúc nông nhàn nhưng họ lại không hiểu rõ giá trị nghề nghiệp mà mình đang làm, nên họ vẫn có tư tưởng coi thường nghề mà mình đã lựa chọn, dẫn đến tình trạng họ là việc không hăng say, ý thức chấp hành các nội quy, quy định của các đơn vị kém; điều này gây ảnh hưởng tới uy tín về công tác nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT
Trang 281.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956
1.4.1 Các nhân tố khách quan
* Tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ
ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động Điều này đòi hỏi cần phải đào tạo nghề cho người lao động đang hoạt động trong những lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp sang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp – thương mại – dịch vụ…Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế nước ta trong thời kỳ khủng hoảng (thập kỷ 80 của thế kỷ XX) nhu cầu công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ cũng giảm theo, đồng thời làm cho hệ thống các trường dạy nghề suy giảm Tuy nhiên, khi nền kinh tế dần phục hồi thì nhu cầu nhân lực về công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ tăng cả về số lượng, chất lượng, từ đó làm cho công tác đào tạo nghề phát triển theo Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề nảy sinh cần có cách nhìn nhận xác định đúng đắn đâu là vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết và nếu giải quyết rốt ráo sẽ mang lại chuỗi giá trị cho xã hội Đối với Việt Nam, là một nước nằm trong khu vực các quốc gia đang phát triển mạnh, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu ngành kinh tế, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế quốc gia Do vậy, đào tạo nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ, giảm dần tỷ trọng trong ngành nông nghiệp là việc làm có ý nghĩa quyết định đến sự
phát triển chung nền kinh tế ở hiện tại và tương lai Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế tác động trở lại đối với công tác đào tạo nghề theo hai hướng, một mặt thúc đẩy đào tạo nghề phát triển cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển nếu như có sự phù hợp
giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và công tác đào tạo nghề, mặt khác sẽ kìm hãm việc đào tạo nghề nếu như không phù hợp hoặc phát triển không tương ứng với nhu cầu thực tế đang đòi hỏi
* Cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế: Để
có thể cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, thì chất lượng nguồn lao động phải ngày càng nâng cao Chính vì vậy, chất lượng đào tạo nghề phải được nâng cao phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tiến trình phát triển Toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức cho toàn bộ các quốc gia, từ phát triển hay đang
Trang 29lao động nước ngoài, thu hút vốn đầu tư của các nước phát triển, tiếp thu trình độ khoa học – kỹ thuật tiên tiến…Đối với cơ hội xuất khẩu lao động nước ngoài làm việc, là giải pháp cần thiết trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, tạo cơ hội tăng thu nhập cá nhân và tỷ giá hối đoái cho quốc gia Người lao động có được cơ hội học hỏi nâng cao tay nghề, trình độ hiểu biết, hình thành lối văn hóa ứng xử theo hướng công nghiệp Sự tiếp thu nhanh chóng văn hóa sẽ đẩy nhanh quá trình hội nhập toàn cầu của người lao động nói riêng và của quốc gia, dân tộc nói chung Đối với cơ hội thu hút vốn đầu tư của nước ngoài cũng là cách hữu hiệu trong việc xây dựng cơ sở
hạ tầng hiện đại, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh trong nước nhằm thu hút
sự đầu tư ngày một tăng Các tập đoàn xuyên quốc gia luôn hướng tới việc đầu tư cho các nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới, mang lại lợi ích cho cả đôi bên Nguồn vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, có rất nhiều loại chẳng hạn như đầu
tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
* Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và phát triển dạy nghề:
Trong mỗi giai đoạn, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đúng và phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy công tác đào tạo nghề phát triển, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển kinh tế - xã hội Trong mấy năm vừa qua do đổi mới cơ chế quản lý, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và nhân tố mới đa dạng để các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở, các tổ chức xã hội và toàn dân chủ động tạo chỗ làm việc mới, đã giải quyết được một bước yêu cầu về việc làm và đời sống của người lao động, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội Kết quả đạt được trong tất cả lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội kể từ sau đổi mới, trước tiên phải nói đến tính đúng đắn trong việc đề ra những chính sách liên quan đến đào tạo nghề cho người lao động của Đảng và Nhà nước Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008, đã xác định rõ vai trò
và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân và nông thôn Theo đó, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được quan tâm và triển khai mạnh mẽ trên phạm vi cả nước Bên
cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về "Chương trình hành
Trang 30động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một bước cho người nông dân" Cụ thể, ngày
27/11/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg về phê duyệt đề
án“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án
1956) Đề án nêu rõ quan điểm: "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.[5] Bên cạnh đó, ngày 31/8/2012 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết
định số 1201/2012/QĐ-TTg về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012- 2015” Mục tiêu của Chương trình nêu rõ: “ Hỗ trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động và phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế nhất là ở khu vực nông thôn giai đoạn 2012-2015”.[7] Có thể nói, đây là
những căn cứ pháp lý quan trọng, đẩy mạnh phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay
* Thái độ xã hội nghề và công tác đào tạo nghề: Thái độ xã hội về nghề và công tác
đào tạo nghề có ảnh hưởng rất lớn tới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Bởi lẽ, toàn xã hội phải nhận thức đúng đắn ý nghĩa của công tác đào tạo nghề đối với
việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn, góp phần đẩy nhanh tiến trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội toàn diện Hơn nữa, bản thân người lao động cần nhận thức tầm quan trọng của đào tạo nghề, vừa
là cơ hội, quyền lợi của bản thân và trách nhiệm đối với xã hội, xác định nhu cầu học nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống…Có thể nói, yếu tố này ảnh hưởng lớn tới cả quy mô và chất lượng đào tạo nghề
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban chấp hành Trung ương khóa X của Đảng ta đã khẳng định phát triển nông nghiệp,nông thôn và nông dân (tam nông) là cơ sở để ổn định chính trị đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình hành động cụ thể, được nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân nông thôn đồng tình ủng hộ, tích cực đón
Trang 31nhận Nhiều chương trình, đề án, chính sách, nhất là các chương trình, đề án, chính sách liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, trong đó có đào tạo nghề cho nông dân sau khi ban hành đã được triển khai và đi vào cuộc sống Vì vậy, việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hết sức cần thiết, cấp bách
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề con người là vấn đề chủ chốt cần được quan tâm hàng đầu Một trong những công tác cốt yếu để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa đó chính là đào tạo
nghề cho lao động lao động nông thôn
1.5 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án
1956
1.5.1 Kinh nghiệm trong nước
* Kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa
Thực hiện Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Thanh Hóa đã sớm thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, xây dựng kế hoạch triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, lựa chọn huyện triển khai thí điểm, chỉ đạo việc tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của LĐNT, xử lý cung, cầu lao động và dạy nghề
Đến nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố đã và đang tích cực triển khai thực hiện đề án của tỉnh Trong đó có 4 mô hình dạy nghề hiệu quả có thể nhân rộng, đó là: mô hình dạy nghề kỹ thuật sản xuất lúa F1 tại huyện Yên Định, kỹ thuật trồng lúa cao sản tại xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân; mô hình dạy nghề thêu ren - đính cườm tại xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân; mô hình dạy nghề dệt chiếu cải tại Khu làng nghề thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn; mô hình dạy nghề mây giang xiên tại xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa
Theo đánh giá, sau khi được triển khai, các mô hình này đã mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội to lớn, thu nhập của người nông dân được nâng lên rõ rệt, bình quân người lao động thu nhập từ 40.000 đồng đến 90.000 đồng/người/ngày Thanh Hóa là 1 trong 2 tỉnh thực hiện thí điểm dạy nghề cho LĐNT theo hình thức cấp thẻ học nghề
Trang 32nông nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ dự án Tính đến hết tháng 11 - 2015 toàn tỉnh đã có 9.280 LĐNT được hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định
1956, trong đó tổ chức được 197 lớp đào tạo nghề cho 6.283 LĐNT theo đề án của tỉnh
* Kinh nghiệm của tỉnh An Giang
Trong 5 năm qua, tổng số LĐNT được học nghề là 125.890 lao động, trong đó số LĐNT được hỗ trợ học nghề theo chính sách Đề án 1956 là 70.984 lao động, chia theo từng đối tượng như sau: Người thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là 350 lao động, hộ nghèo là 7.960 lao động, người dân tộc thiểu số là 4.855 lao động, người bị thu hồi đất canh tác là 20 lao động, người tàn tật là 57 lao động, người thuộc hộ cận nghèo là 876 lao động, lao động nông thôn khác là 56.866 lao động; đạt 109,2% so với kết hoạch 05 năm (70.984 lao động/65.000 lao động); đạt 50,70% so với kế hoạch 11 năm thực hiện Đề án (70.984/140.000 lao động) Do vậy
để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho LĐNT, đòi hỏi các cấp các ngành trong toàn tỉnh phải có nhiều chương trình, kế hoạch thực hiện nghiêm túc, thực tế, khách quan;
có đề ra chỉ tiêu cụ thể, đồng thời phải có sơ kết, tổng kết, kịp thời rút ra kinh nghiệm
để thực hiện công tác đào tạo nghề ở địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, chất lượng
Với sự quan tâm của cấp ủy, sự chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên… công tác đào tạo nghề cho lao động ở tỉnh đã từng bước được triển khai đồng bộ, đúng hướng, mạng lưới dạy nghề phát triển và đạt được kết quả bước đầu, đã lan tỏa tới từng khóm, ấp, từng khu dân cư, đến mọi đối tượng lao động chưa có công ăn việc làm
Công tác đào tạo nghề cho LĐNT toàn tỉnh được triển khai theo hướng đa dạng các loại hình đào tạo nghề Dạy nghề tại cộng đồng theo nhu cầu lao động, dạy nghề theo địa chỉ, liên kết với một số trường dạy nghề Các chương trình đào tạo được biên soạn nội dung theo đúng quy định của Tổng cục dạy nghề và Bộ Lao động – Thương binh vàLĐ TB và XH, đáp ứng nhu cầu người học Qua đó, nâng cao trình độ tay nghề cho
Trang 33người lao động, đồng thời giải quyết việc làm ngay cho một số học sinh vừa tốt nghiệp THPT, các lao động là chủ hộ, chủ cơ sở, người lao động ở nông thôn
Một trong những hướng đào tạo của Trường Trung cấp nghề trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả, đó là: Trường phối hợp các đoàn thể tổ chức các buổi thông tin tư vấn về dạy nghề và giải quyết việc làm đến tận xã, phường Có nơi lồng ghép với các phong trào, kế hoạch vận động gia đình văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, xây dựng nông thôn mới, phòng chống tệ nạn xã hội… tuyên truyền vận động nhân dân từng bước nâng cao nhận thức về học nghề, gắn với tạo việc làm và giảm nghèo Những lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng nhóm đối tượng, từng địa phương, giúp người dân ngày càng nâng cao kiến thức trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình như: nuôi cá tra giống, nuôi lươn, nuôi cá tra thịt, cá lóc; trồng nấm các loại, hoa kiểng, làm vườn Hoặc các nhóm nghề phi nông nghiệp: Lái xe hạng B2, may công nghiệp, xây dựng, điện dân dụng, đan ghế giả mây xuất khẩu, kỹ thuật phục vụ quán ăn nông thôn, kỹ thuật phục vụ nhà hàng, khách sạn, bảo mẫu, quản gia…
Thực tế cho thấy, người lao động sau khi học nghề năng suất và hiệu quả sản xuất tăng lên rõ rệt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại chỗ, cũng như yêu cầu sử dụng lao động của một số DN trong và ngoài tỉnh Năm 2015, toàn tỉnh đã tuyển sinh đào tạo nghề theo Đề án 1956 là 13.650 LĐNT và giải quyết việc làm cho trên 35.525 lao động, đạt 101,5% kế hoạch năm Trong đó, lao động làm việc trong tỉnh là 27.225 người, ngoài tỉnh là 8.150 lao động và đi xuất khẩu lao động 143 người
1.5.2 Kinh nghiệm ngoài nước
* K inh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là con rồng Châu Á đã đạt được những thành tựu huyền diệu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Trong các năm 1960-1970, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, GNP bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7%/năm Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho Chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nông thôn để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ
Trang 34Có thể nói, Hàn Quốc là nước thành công trong việc kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn Thành tựu trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hàn Quốc phải kể tới vai trò của việc tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho mọi người dân, trong đó có dân cư khu vực nông thôn được giáo dục đào tạo với quy mô lớn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế
Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, Chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động nông thôn vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như dệt, may, giày da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng, … Các thời kì sau, công nghiệp phát triển mạnh mẽ , lao động nông thôn được đào tạo với quy mô lớn trong các lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, … Sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp xuất khẩu đã giải quyết được việc làm cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn tham gia học nghề ban đầu, để đảm bảo nguồn cung ứng cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh Chính phủ cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các khóa đào tạ học nghề, học đại học Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hướng vào phát triển các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn, Hàn Quốc đã có chính sách tăng cường quy mô giáo dục phổ thông kể cả ở nông thôn, để đảm bảo cơ sở cho đào tạo nhân lực trình độ cao, đáp ứng giai đoạn phát triển của các ngành kinh tế Trong đó đặc biệt là nhân lực ngành công nghệ thông tin, dược phẩm, chế tạo ôtô, điện tử cao cấp, viễn thông, chế tạo máy móc chính xác, tự động hóa, công nghệ sinh học….[2]
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc hiện nay là nước có nền kinh tế phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, các sản phẩm tung ra thị trường ngày càng phong phú đa
Trang 35dạng và có mặt trên khắp thị trường thế giới Với dân số đông nhất thế giới, lên tới hàng tỉ người, hàng năm có Trung Quốc có hàng chục triệu người bước vào độ tuổi lao động, một nửa trong số đó là lao động khu vực nông thôn Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, tại nhiều vùng nông thôn diện tích canh tác ngày càng thu hẹp, dẫn tới hàng trăm triệu lao động nông thôn không có việc làm Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng công tác đào tạo nghề cho nông thôn để tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay tại địa phương Chính sự thành công của nền kinh tế hiện nay của Trung Quốc là do rất nhiều nguyên nhân nhưng trong đó phải kể đến đó là vấn đề ĐTN nâng cao chất lượng lao động phục vụ nhu cầu của đất nước.Các kinh nghiệm chính của Trung Quốc trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn là:
- Trung Quốc đã mở rộng giáo dục nghề nghiệp ngay ở bậc trung học với tất cả các trường phổ thông trong cả nước Nguyên nhân là do sự thiếu hụt đội ngũ lao động có chuyên môn và tỷ lệ thất nghiệp cao và sức ép về vấn đề tuyển sinh đại học lớn Học sinh ở các trường nghề vẫn có thể thi đại học nhưng trên thực tế thì có rất ít học sinh ở các trường này dự thi đại học nên cũng giảm được áp lực khi thi đại học Chương trình học của các trường này thì bao gồm cả các môn phổ thông và các môn học nghề Nhưng kiến thức phổ thông thường ở mức thấp hơn so với các trường phổ thông Ở khu vực nông thôn, ĐTN rất linh hoạt cả về thời gian và nội dung, cách tổ chức các khóa học Khóa học được tổ chức tại các trường hoặc các doanh nghiệp tùy thuộc vào nội dung chương trình học Các khóa học được đưa ra dựa trên nhu cầu việc làm của địa phương Do chính sách lao động của nhà nước đòi hỏi các vị trí của người lao động phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật Chương trình ĐTN ở nông thôn nhằm mục đích phát triển nông thôn do có đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật làm tăng năng suất lao động Vì vậy ĐTN cho lao động nông thôn là cần thiết cho việc phát triển xã hội
- Chính phủ có các chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạy nghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô thị hóa nhanh để tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp FDI, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tế mở…đây là điều kiện để thu hút nguồn
Trang 36lao động nông thôn đến với các vùng đô thị hóa nhanh chóng và các ngành công nghiệp dịch vụ đang trên đà phát triển
- Hệ thống quản lý đào tạo nghề ở Trung Quốc được tổ chức theo hệ thống quản lý kinh tế của nước này Nó được sự quản lý các cấp chính quyền địa phương Các doanh nghiệp cũng trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý dạy nghề Các doanh nghiệp liên kết với các trường dạy nghề để đào tạo đội ngũ lao động cho mình Đồng thời cũng tạo tâm lý yên tâm cho người lao động khi ra trường sẽ có việc làm Bên cạnh đó thì các doanh nghiệp cũng có thể trực tiếp tổ chức mở các trường dạy nghề, khóa dạy nghề
- So với các nước khác, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì Trung Quốc
đã thực hiện chính sách kiểm soát được ở mức độ nhất định dòng di chuyển lao động đến các thành phố lớn, tuy nhiên hạn chế của chính sách này là làm giảm khả năng cạnh tranh lao động trên phạm vi lớn của thị trường lao động bao gồm cả thành thị và nông thôn Do đó, ở mức độ nhất định đã làm giảm tính kích thích lao động nông thôn tham gia đào tạo học nghề Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc có chính sách phát triển các đô thị loại vừa và nhỏ ở nông thôn để phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa Ngoài ra, Chính phủ còn có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nông thôn hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước để đào tạo lao động chuyên môn kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu đổi mới lao động trong các trường hợp tiếp nhận công nghệ sản xuất mới
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Lạng Sơn
Từ những căn cứ trên, kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các địa phương và các nước bạn cho thấy việc xác định đúng nhu cầu đào tạo cũng như đào tạo các nghề phù hợp với địa phương, và có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và người lao động là hướng đi hiệu quả trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong giai đoạn hiện nay Một số các vấn đề chính cần lưu ý, đó là:
- Cần có chính sách phát triển hệ thống đào tạo nghề tại các vùng nông thôn Các nghề phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động
Trang 37- Đào tạo nhân lực nông thôn đáp ứng cho các khu chế xuất, khu công nghiệp cần chú
ý tới các ngành nghề có hàm lượng tri thức cao, có giá trị gia tăng lớn
- Đào tạo nghề truyền thống để phát triển các làng nghề sẵn có
- Đào tạo nghề để đưa lao động đi xuất khẩu lao động
- Đào tạo nghề để lao động nông thôn nâng cao năng suất và hiệu quả lao động sản xuất
Đặc biệt, sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cấp chính quyền với cơ sở đào tạo, người lao động và doanh nghiệp cho thấy nhận thức đúng đắn của họ về ý nghĩa của công tác đào tạo nghề và sự nhiệt tình khi thực hiện công tác này một cách đầy nhiệt huyết và hiệu quả
Qua những phân tích trên, tác giả nhận thấy, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được đầu tư và quan tâm hơn nữa tới các yếu tố ban đầu như xác định nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu học tập của người lao động Đứng trước những yêu cầu của sự phát triển cũng như được sự chỉ đạo của cấp trên, tỉnh Lạng Sơn đang
mở rộng và triển khai nhiều chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tuy nhiên, công tác thực hiện còn chậm và hiệu quả chưa cao, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập Do vậy, tác giả nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Lạng Sơn, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này trong những năm tới
Chất lượng luôn là vấn đề nóng bỏng có tính thời sự của hệ thống giáo dục quốc dân trong đó có đào tạo nghề Chất lượng đào tạo nghề nói chung, chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 nói riêng đã và đang đứng trước những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Việt Nam là một nước đang phát triển và có sự hội nhập mạnh mẽ với thế giới Trong bối cảnh đó nước ta có những cơ hội để phát triển, đồng thời đang và sẽ gặp không ít những khó khăn, thách thức Hiện nước ta có gần 80% dân số sống ở khu vực nông thôn và trên 70% lao động nông nghiệp, nông thôn Trong đó đa phần có kỹ năng nghề
Trang 38rất thấp, sản xuất nông nghiệp mang nặng tính truyền thống Trong cơ cấu GDP, nông nghiệp vẫn chiếm 25% trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chỉ còn 3% Chính vì thế để bắt kịp với thế giới, Việt Nam cần phải nỗ lực rất nhiều đề tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ, trong đó quan trọng nhất là đầu tư nang cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông thôn Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nói chung và LĐNT nói riêng để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm chỉ đạo thông qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị như:
- Nghị quyết số 26/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/11/2009 về phê
duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhận được sự quan tâm của nhiều đề tài nghiên cứu trong cả nước Cụ thể:
Tác giả Tăng Minh Lộc - Phó Cục trưởng Cục kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, với bài viết: “Thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Điều chỉnh lại
cơ cấu lao động, cách dạy nghề”, đăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam Tác giả đã
đưa ra những mặt làm được, thành công của Đề án khi một năm đưa vào triển khai thực hiện, tuy nhiên việc thực hiện Đề án ở khắp các tỉnh, thành phố vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập cần được khắc phục, chấn chỉnh và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện Đề án trong giai đoạn tiếp theo.[8]
Tác giả Nguyễn Văn Đại (2012),Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Đại học
KTQD Tác giả đã đánh giá một cách khách quan thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời chỉ ra những giải pháp để giải quyết khó khăn, và đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong khu vực này [4]
Trang 39Trong thời gian tổ chức thực hiện đề án 1956, từ năm 2010 – 2016, đã có nhiều các cuộc hội thảo, đưa ra các báo cáo đánh giá tổng kết tình hình thực hiện đề án trong 7 năm vừa qua Tại các cuộc hội nghị, hội thảo này, các cơ quan quản lý Nhà nước đã tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm rất nhiều vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện Các địa phương thuộc diện được cấp chỉ tiêu đào tạo cũng có những báo cáo thường niên với cơ quan cấp trên về quá trình thực hiện đề án Tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá và có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nên tác
giả đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thô n theo đề án 1956 trên địa bàn Tỉnh Lạng Sơn” nhằm đánh giá đúng thực
trạng và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của tỉnh trong thời gian tới
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn không thể thiếu vai trò và quản lý của nhà nước về cơ sở vật chất đến hệ thống tổ chức dạy nghề và đặc biệt có chính sách hỗ trợ cho người lao động trong quá trình đào tạo Đồng thời cần xã hội hóa công tác đào tạo nghề cho lao động nông thông, trong đó có lựa chọn các tổ chức đào tạo phù hợp với yêu cầu và đặc điểm cụ thể của lao động nông thôn, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề tại chỗ của các tổ chức nông, lâm, ngư và các tổ chức đào tạo nghề ngay tại địa phương Cần đẩy mạnh tuyên truyên chủ trương, chính sách đào tạo nghề cho người LĐNT và kết hợp đào tạo nghề với giới thiệu việc làm, bảo đảm cho người học nghề có việc làm sau đào tạo, tạo
ra sức hấp dẫn cho người đi học nghề
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG
2.1.1.1 Vị trí địa lý - kinh tế
Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở Đông Bắc nước Việt Nam, Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp biên giới với Quảng Tây (Trung Quốc), phía Đông Nam giáp tỉnh