1.1. Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh Đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng đến nguồn lực con người, nhất là vai trò của giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo con người có đạo đức, tri thức, kỹ năng,.. được coi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững [21]. Trong thời kỳ đổi mới bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối đổi mới đã đem lại những kết quả to lớn và quan trọng trong tất cả các mặt hoạt động của xã hội, đất nước ta trong từng gia đình, từng con người. Không những thế, mục tiêu của Đại hội này còn quán triệt tư tưởng coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người chủ nhân tương lai của đất nước vừa “hồng” vừa “chuyên”. Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh trường trung học cơ sở nói riêng là rất cần thiết. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đưa ra mục tiêu “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống”[29, Tr3]. Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [ 29, Tr5]. Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm cho các quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hóa sự cạnh tranh và hợp tác toàn cầu. “Kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin” đang dần dần hình thành trên cơ sở phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia với mức độ khác nhau, tuỳ thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị của hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, đầu tư vào giáo dục - đào tạo luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của bất cứ quốc gia nào với hi vọng quốc gia mình sẽ sở hữu một nguồn nhân lực giàu tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo. Nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế và bắt kịp xu thế chung của nhân loại, tại Việt Nam, trong những năm cuối thể kỉ XX và hơn mười năm đầu thế kỉ XXI chính sách phát triển Giáo dục và đào tạo đã có nhiều thay đổi, vấn đề này được thể hiện rõ trong việc Đảng và nhà nước ta xác định mục tiêu của nền giáo dục, tại Điều 2 Luật giáo dục được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Để thực hiện mục tiêu nêu trên, hệ thống giáo dục đào tạo ở nước ta đã được hình thành với nhiều bậc học, cấp học có nội dung phù hợp với lứa tuổi và khả năng của người học với những mục đích cụ thể. Trong đó: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống (Theo khoản 3 Điều 27 Luật giáo dục năm 2005). Sự phát triển nhân cách của học sinh hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng giáo dục toàn diện ở mỗi cấp học, bậc học. Trung học cơ sở là cấp học cho học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi, đây là lứa tuổi trẻ có sự định hình nhân cách và bộc lộ khả năng cũng như những sở thích, khao khát trong cuộc sống một cách rõ nét nhất. Do đó, nếu các em không được giáo dục một cách hợp lý, đầy đủ và đạt kết quả giáo dục tốt ở trung học cơ sở thì chắc chắn cũng khó tiến bộ được trong những cấp học tiếp theo. Để giúp học sinh phát triển toàn diện hình thành nhân cách con người trong một quốc gia phát triển theo định hướng XHCN như Việt Nam, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động dạy học nhằm truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản và có hệ thống còn phải đẩy mạnh hoạt động giáo dục nhằm hình thành cho học sinh về ý thức và niềm tin, về thái độ ứng xử đúng đắn trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi và các kỹ năng hoạt động, tạo cơ sở để học sinh bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp. 1.2. Thực tiễn giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở Nhờ đổi mới kinh tế- xã hội mà đất nước ta có sự cải thiện về mức sống vật chất đầy ấn tượng. Tuy nhiên, nhân cách thế hệ trẻ của nước ta đang bị giao thoa bởi ba hệ giá trị: Hệ giá trị do quá trình lạc hậu của giáo dục từ trước tác động, hệ giá trị do hệ lụy nền giáo dục chịu ảnh hưởng kinh tế bao cấp tác động, hệ giá trị do nền giáo dục nhúng vào nền kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh đã tạo nên tiêu cực tác động vào dạy học. Trước sự phát triển quá nhanh, có một bộ phận thế hệ trẻ khi cái lõi nhân cách chưa đủ vững bền đã đứt gãy về đạo đức, về lối sống. Làn sóng tiêu thụ vật chất đang tràn vào, không thể không lo ngại khi có một số người chỉ số IQ (thông minh trí tuệ) thì cao song chỉ số EQ (thông minh cảm xúc) lại sa sút đến mức thảm hại. Không thể không lo ngại khi có một lớp người, quần áo thì bảnh bao, sinh hoạt thì sành điệu, ăn nói thì lưu loát mà con tim thì vô cảm trước các số phận không may của cộng đồng. Họ không có lòng trắc ẩn, không có sự xấu hổ, không biết tôn trọng phục tùng, không biết phân biệt phải trái. Họ thấm nhuần chưa sâu sắc những thông điệp về sống có “Lễ - Nghĩa - Liêm - Sỉ”[8, Tr145]. Hơn nữa, trước những biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức của học sinh, sinh viên do tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường với hàng loạt sự kiện diễn ra khiến dư luận hết sức quan tâm, từ chuyện đánh nhau trong trường, ngoài đường phố, vi phạm thuần phong mỹ tục trong lời ăn, tiếng nói; cách ăn mặc,… dẫn đến thực trạng đạo đức ở học sinh có những biểu hiện ngày càng xuống cấp. Vì sao lại như vậy, ngoài tất cả những nguyên nhân khác thì một nguyên nhân rất quan trọng đó là các em còn thiếu kỹ năng sống, chưa được quan tâm giáo dục đạo đức. Đối với học sinh trung học cơ sở thì việc giáo dục đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong thực tế đã có những biểu hiện như ở tỷ lệ HS nói dối cha mẹ tăng dần cùng lứa tuổi. Một khảo sát của Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam cho thấy, tỷ lệ học sinh tiểu học nói dối cha mẹ là 22%, THCS 50% và lên đến cấp THPT thì tỷ lệ này lên tới 64%. Ở trường, hành vi này cũng được thể hiện qua tỷ lệ quay cóp: ở tiểu học là 8%, ở THCS là 55%, ở cấp THPT là 60%. Năm 2004, chỉ có 600 HS, SV nghiện ma túy thì đến năm 2007, con số này đã ở mức 1.234 HS, SV. Các thông tin mà Vụ Công tác HS, SV, Bộ GD-ĐT đưa ra rất đáng lưu ý. Một cuộc thăm dò đối với 500 học sinh THCS ở TPHồ Chí Minh cho thấy 32,2% HS có thái độ vô lễ với thầy, cô giáo; 38% thường xuyên nói tục; nhiều HS chỉ chào hỏi thầy cô ở trong trường, còn khi gặp ở ngoài trường thì cứ như không quen biết... Đứng trước thực trạng đó, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã chỉ đạo và triển khai tiến hành lồng ghép giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống vào các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở các nhà trường trong phạm vi toàn quốc bắt đầu từ năm 2010 -2011 nhằm trang bị cho các em những năng lực cần thiết để nâng cao giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở được đưa vào thông qua hai hoạt động đó là: - Hoạt động ngoài giờ lên lớp - Lồng ghép vào các môn học. Để giáo dục đạo đức cho học sinh đạt hiệu quả cao thì không thể không kể đến vai trò của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, nó góp phần phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Song thực tế, công tác này ở các trường nói chung và các trường trung học cơ sở nói riêng còn nhiều bất cập và chưa thực sự có hiệu quả, đặc biệt là những yếu kém trong quản lý. Các trường chỉ chú trọng đến việc trang bị những kiến thức chuyên môn mà chưa quan tâm đến GDĐĐ cho học sinh đúng như yêu cầu. Có thể thấy, ở các trường học chưa có những giải pháp quản lý nhằm phát huy sự gương mẫu của thầy và ý thức tự rèn luyện của học sinh, chưa phát huy được sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh. Tuy nhiên trong thực tế việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng chưa được quan tâm đúng mức. Trong những năm qua, ngành giáo dục nói chung của thành phố Hà Nội đã đạt được rất nhiều thành tích đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm bất cập đặc biệt là hiện tượng ở một số trường trung học cơ sở vẫn còn xem nhẹ công tác giáo dục đạo đức. Thực tiễn trong những năm học gần cho thấy, ở các trường có chất lượng giáo dục tốt đều là những trường thực hiện tốt giáo dục toàn diện, không chỉ chăm lo hoạt động dạy chữ mà còn quan tâm tổ chức quản lý có hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Do điều kiện còn hạn chế nên các trường trung học cơ sở hiện nay chủ yếu vẫn chỉ cung cấp tri thức để hình thành nhận thức, thái độ, chưa coi trọng đúng mức đến việc rèn luyện kỹ năng, trau dồi những cảm xúc, tình cảm, phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ. Phạm Minh Hạc đánh giá: “Ngành giáo dục Việt Nam có phần lệch về dạy chữ, ít dạy nghề, không chú trọng dạy người”.Việc dạy người mới thật là cơ bản cho tương lai của dân tộc. Bởi vì không coi trọng “dạy người” sẽ làm cho một bộ phận học sinh giảm sút về đạo đức, nhân cách, bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng và các tệ nạn xã hội. Với những cơ sở phân tích trên cần phải có nghiên cứu chuyên sâu hơn, hệ thống hơn và tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” làm luận án nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở (THCS) và đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Trang 1QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, các số liệu kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực theo thực tế nghiên cứu, chưa từng được bất cứ tác giả nào khác nghiên cứu và công bố.
Tác giả luận án
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 6
4 Giả thuyết khoa học 6
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
8 Đóng góp mới của luận án 9
9 Luận điểm khoa học bảo vệ 10
10 Cấu trúc luận án 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 11
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh 11
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về QLGDĐĐ cho học sinh 14
1.2 Các khái niệm cơ bản 17
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý 17
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 22
1.2.3 Đạo đức 23
1.2.4 Giáo dục đạo đức 26
1.2.5 Quản lý giáo dục đạo đức 27
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 28
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 28
1.3.2 Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 29
1.4 Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 36
1.4.1 Tiếp cận CIPO trong quản lý giáo dục đạo đức 36
1.4.2 Vận dụng mô hình CIPO trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 38
1.5 Kinh nghiệm quản lý GD đạo đức cho học sinh ở một số nước trên thế giới 53
1.5.1 Quản lý giáo dục đạo đức ở Nhật Bản 53
Trang 41.5.2 Quản lý giáo dục đạo đức ở Trung Quốc 54
1.5.3 Quản lý giáo dục đạo đức ở Singapore 55
1.5.4 Quản lý giáo dục đạo đức ở Mỹ 55
1.5.5 Quản lý giáo dục đạo đức ở Thái Lan 55
Kết luận chương 1 57
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 58
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục trung học cơ sở của thành phố Hà Nội 58
2.1.1 Số lượng trường lớp và quy mô học sinh 58
2.1.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục 58
2.1.3 Thực trạng chất lượng giáo dục 59
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội 60
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 60
2.2.2 Nội dung khảo sát 60
2.2.3 Phương pháp khảo sát 60
2.3 Thực trạng đạo đức của học sinh trường trung học cơ sở 62
2.3.1 Thực trạng nhận thức về các chuẩn mực đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 62
2.3.2 Thực trạng thái độ của học sinh đối với những quan niệm đạo đức xã hội hiện nay 68
2.3.3 Thực trạng hành vi đạo đức của học sinh trường trung học cơ sở 71
2.4 Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 75
2.4.1 Thực trạng nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 75
2.4.2 Thực trạng về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh đang thực hiện trong các trường THCS 77
2.4.3 Thực trạng các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 79
2.4.4 Thực trạng các giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 81
2.5 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội 83
Trang 52.5.1 Quản lý các yếu tố đầu vào của giáo dục đạo đức cho học sinh
trường trung học cơ sở 83
2.5.2 Quản lý quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục 91
2.5.3 Quản lý đầu ra của giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 103
2.5.4 Các yếu tố bối cảnh tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học cơ sở 104
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thành phố Hà Nội 107
2.6.1 Điểm mạnh 107
2.6.2 Điểm yếu 108
Kết luận chương 2 110
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 111
3.1 Các nguyên tắc xây dựng các giải pháp 111
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 111
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 111
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và phải dựa vào nhà trường và địa phương 112
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, tác động vào các khâu của quá trình rèn luyện của học sinh 112
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 112
3.2 Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thành phố Hà Nội 113
3.2.1 Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh trường trung học cơ sở phù hợp với chương trình giáo dục tổng thể 113
3.2.2 Giải pháp 2:Thiết lập bộ máy tổ chức và bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên để thực hiện tốt kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh 116
3.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 121 3.2.4 Giải pháp 4: Chỉ đạo triển khai kế hoạch GDĐĐ cho học sinh THCS theo hướng tích hợp và lồng ghép các hoạt động dạy học ngoại khóa và
Trang 6chính khóa 124
3.2.5 Giải pháp 5: Đa dạng hóa các loại hình hoạt động chuyên đề ngoại khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 127
3.2.6 Giải pháp 6 Xây dựng các điều kiện tinh thần và vật chất hỗ trợ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 130
3.2.7 Giải pháp 7: Xây dựng các tiêu chí thi đua khen thưởng, kiểm tra đánh giá xếp loại đạo đức của học sinh trường THCS 135
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 138
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp 141
3.4.1 Mục đích 141
3.4.2 Đối tượng thăm dò ý kiến 141
3.4.3 Cách thức tiến hành 141
Xây dựng các điều kiện tinh thần và vật chất hỗ trợ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 142
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 143
3.5 Tổ chức thử nghiệm 143
3.5.1 Mục đích thử nghiệm 144
3.5.2 Địa điểm thử nghiệm và mẫu thử nghiệm 144
3.5.3 Kế hoạch tổ chức thử nghiệm 145
3.5.4 Tiến hành thử nghiệm 146
Kết luận chương 3 155
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 156
1 Kết luận 156
2 Khuyến nghị 157
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
QLHĐNGLL: Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh hai quá trình QLDH và QLGDĐĐ 27Bảng 2.1 Chất lượng giáo dục THCS Hà Nội năm học 2014-2015 59Bảng 2.2: Những chuẩn mực đạo đức cần thiết cho học sinh trường THCS 62Bảng 2.3: Sự khác biệt về những chuẩn mực đạo đức cần thiết của học sinh
trường trung học cơ sở 64Bảng 2.4: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về nhận thức các phẩm chất đạo đức của học
sinh trường trung học cơ sở 65Bảng 2.5: Tỉ lệ ý kiến đánh giá về các quan niệm đạo đức của học sinh
trường trung học cơ sở 69Bảng 2.6: Tỷ lệ đánh giá của học sinh đối với các quan niệm đạo đức 70Bảng 2.7: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về hành vi đạo đức của học sinh trường
trung học cơ sở 71Bảng 2.8: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh
trường trung học cơ sở 76Bảng 2.9: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về việc thực hiện các nội dung giáo dục đạo
đức cho học sinh trường trung học cơ sở 77Bảng 2.10: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về việc sử dụng các hình thức giáo dục đạo
đức cho học sinh trường trung học cơ sở 79Bảng 2.11: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về việc sử dụng các giải pháp GDĐĐ cho
học sinh trường trung học cơ sở 81Bảng 2.12: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về việc xây dựng kế hoạch QLGDĐĐ cho
học sinh trường trung học cơ sở 83Bảng 2.13: Sự khác biệt trong việc sử dụng các hình thức triển khai giáo dục
đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 85Bảng 2.14 Tỷ lệ ý kiến đánh giá về việc triển khai kế hoạch quản lý GDĐĐ
cho học sinh trường trung học cơ sở 87Bảng 2.15 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tham gia
giảng dạy đạo đức cho học sinh 88Bảng 2.16 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý học sinh 89Bảng 2.17 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý cơ sở vật và tài chính
phục vụ giáo dục đạo đức cho học sinh 90
Trang 9Bảng 2.18 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của
giáo viên 91
Bảng 2.19 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý quá trình học tập, rèn luyện đạo đức của học sinh 93
Bảng 2.20 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh 94
Bảng 2.21: Sự khác biệt về sự đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 97
Bảng 2.22: Ảnh hưởng của các LLGD đến QLGDĐĐ cho học sinh trường trung học cơ sở 98
Bảng 2.23: Tỷ lệ ý kiến đánh giá về nội dung chỉ đạo phối hợp thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở 102
Bảng 2.24 Tỷ lệ ý kiến đánh giá thực trạng quản lý học sinh 103
Bảng 2.25 Tỷ lệ ý kiến đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bối cảnh 104
Bảng 3.1: Nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS 142
Bảng 3.2: Kết quả đánh giá trình độ đầu vào của nhóm thử nghiệm về mặt nhận thức đạo đức 146
Bảng 3.3: Kết quả đánh giá trình độ đầu vào của nhóm thử nghiệm về mặt thái độ đối với các biểu hiện đạo đức 147
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá trình độ đầu vào của nhóm thử nghiệm về mặt hành vi đạo đức 147
Bảng 3.5: Kết quả thử nghiệm nhận thức về giáo dục đạo đức 150
Bảng 3.6: Kết quả thử nghiệm về thái độ đối với nội dung GDĐĐ 151
Bảng 3.7: Kết quả thử nghiệm việc thực hiện hành vi giáo dục đạo đức 152
Bảng 3.8: Mối liên hệ giữa Nhận thức, Thái độ, Hành vi đạo đức ở các em học sinh trường Trung học cơ sở 152
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của 5 trường (Bảng hiện thị điểm trung bình) 65Biểu đồ 2.2: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các trường THCS năm
học 2012-2013 73Biểu đồ 2.3: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh trường THCS năm học
2013-2014 74Biểu đồ 2.4: Kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh các trường THCS năm
học 2014-2015 74Biểu đồ 2.5: Hình thức tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho học
sinh trường trung học cơ sở (Theo giá trị điểm trung bình) 84Biểu đồ 2.6: Đánh giá kết quả về các hình thức triển khai kế hoạch QLGDĐĐ
cho HS của lực lượng giáo dục (Theo giá trị điểm trung bình) 86Biểu đồ 2.7: Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức cho học sinh trường trung
học cơ sở 95Biểu đồ 2.8: Ảnh hưởng của các LLGD đến GDĐĐ cho học sinh 100Biểu đồ 2.9: Các lực lượng ít ảnh hưởng đến QLGDĐĐ cho HS 101Biểu đồ 2.10 Các yếu tố tác động lớn nhất đến GDĐĐ cho học sinh trường
trung học cơ sở 106
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quản lý giáo dục đạo đức theo quá trình CIPO 38
Sơ đồ 2.1: Mối tương quan giữa nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh
trường Trung học cơ sở 75
Sơ đồ 2.2: Mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức
cho học sinh 107
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học
sinh trường trung học cơ sở 140
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh
Đối với sự phát triển và hưng thịnh của mỗi quốc gia, yếu tố con người luôngiữ vai trò quyết định Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, Đảng
và Nhà nước ta hết sức chú trọng đến nguồn lực con người, nhất là vai trò của giáodục và đào tạo Giáo dục và đào tạo con người có đạo đức, tri thức, kỹ năng, đượccoi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để pháttriển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững [21]
Trong thời kỳ đổi mới bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản ViệtNam Đường lối đổi mới đã đem lại những kết quả to lớn và quan trọng trong tất cảcác mặt hoạt động của xã hội, đất nước ta trong từng gia đình, từng con người.Không những thế, mục tiêu của Đại hội này còn quán triệt tư tưởng coi giáo dục làquốc sách hàng đầu Mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người chủnhân tương lai của đất nước vừa “hồng” vừa “chuyên” Chính vì vậy, giáo dục đạođức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh trường trung học cơ sở nói riêng là rấtcần thiết
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI(Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đưa ramục tiêu “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hìnhthành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặcbiệt giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống”[29, Tr3]
Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới chương trìnhnhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạyngười, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiệnđại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận
Trang 13dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, trithức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa,truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhânvăn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [ 29, Tr5].
Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm cho cácquốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển phải cấu trúclại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hóa sự cạnh tranh và hợp táctoàn cầu “Kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin” đang dần dần hình thành trên cơ
sở phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả cácquốc gia với mức độ khác nhau, tuỳ thuộc phần lớn vào sự chuẩn bị của hệ thốnggiáo dục quốc dân Do đó, đầu tư vào giáo dục - đào tạo luôn là ưu tiên hàng đầutrong chính sách phát triển của bất cứ quốc gia nào với hi vọng quốc gia mình sẽ sởhữu một nguồn nhân lực giàu tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong laođộng sáng tạo
Nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế và bắt kịp xu thế chung của nhânloại, tại Việt Nam, trong những năm cuối thể kỉ XX và hơn mười năm đầu thế kỉXXI chính sách phát triển Giáo dục và đào tạo đã có nhiều thay đổi, vấn đề nàyđược thể hiện rõ trong việc Đảng và nhà nước ta xác định mục tiêu của nền giáodục, tại Điều 2 Luật giáo dục được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14 tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trungthành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); hình thành và bồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, hệ thống giáo dục đào tạo ở nước ta đã được hình thành với nhiều bậc học, cấp học có nội dung phù hợp với lứa tuổi và khả năng của người học với những mục đích cụ thể Trong đó: “Giáo dục trung học cơ
sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học;
có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và
Trang 14hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vàocuộc sống (Theo khoản 3 Điều 27 Luật giáo dục năm 2005) Sự phát triển nhâncách của học sinh hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng giáo dục toàn diện ở mỗi cấphọc, bậc học Trung học cơ sở là cấp học cho học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi,đây là lứa tuổi trẻ có sự định hình nhân cách và bộc lộ khả năng cũng như những sởthích, khao khát trong cuộc sống một cách rõ nét nhất Do đó, nếu các em khôngđược giáo dục một cách hợp lý, đầy đủ và đạt kết quả giáo dục tốt ở trung học cơ
sở thì chắc chắn cũng khó tiến bộ được trong những cấp học tiếp theo
Để giúp học sinh phát triển toàn diện hình thành nhân cách con người trongmột quốc gia phát triển theo định hướng XHCN như Việt Nam, ngoài việc đẩymạnh hoạt động dạy học nhằm truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học cơbản và có hệ thống còn phải đẩy mạnh hoạt động giáo dục nhằm hình thành chohọc sinh về ý thức và niềm tin, về thái độ ứng xử đúng đắn trong các quan hệ giaotiếp hàng ngày, về hành vi và các kỹ năng hoạt động, tạo cơ sở để học sinh bổ sung
và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp
1.2 Thực tiễn giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở
Nhờ đổi mới kinh tế- xã hội mà đất nước ta có sự cải thiện về mức sống vậtchất đầy ấn tượng Tuy nhiên, nhân cách thế hệ trẻ của nước ta đang bị giao thoabởi ba hệ giá trị: Hệ giá trị do quá trình lạc hậu của giáo dục từ trước tác động, hệgiá trị do hệ lụy nền giáo dục chịu ảnh hưởng kinh tế bao cấp tác động, hệ giá trị donền giáo dục nhúng vào nền kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh đã tạo nên tiêu cựctác động vào dạy học
Trước sự phát triển quá nhanh, có một bộ phận thế hệ trẻ khi cái lõi nhân cáchchưa đủ vững bền đã đứt gãy về đạo đức, về lối sống Làn sóng tiêu thụ vật chấtđang tràn vào, không thể không lo ngại khi có một số người chỉ số IQ (thông minhtrí tuệ) thì cao song chỉ số EQ (thông minh cảm xúc) lại sa sút đến mức thảm hại.Không thể không lo ngại khi có một lớp người, quần áo thì bảnh bao, sinh hoạt thìsành điệu, ăn nói thì lưu loát mà con tim thì vô cảm trước các số phận không maycủa cộng đồng Họ không có lòng trắc ẩn, không có sự xấu hổ, không biết tôn trọng
Trang 15phục tùng, không biết phân biệt phải trái Họ thấm nhuần chưa sâu sắc những thôngđiệp về sống có “Lễ - Nghĩa - Liêm - Sỉ”[8, Tr145].
Hơn nữa, trước những biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức của học sinh, sinhviên do tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường với hàng loạt sự kiệndiễn ra khiến dư luận hết sức quan tâm, từ chuyện đánh nhau trong trường, ngoàiđường phố, vi phạm thuần phong mỹ tục trong lời ăn, tiếng nói; cách ăn mặc,… dẫnđến thực trạng đạo đức ở học sinh có những biểu hiện ngày càng xuống cấp Vì sao lạinhư vậy, ngoài tất cả những nguyên nhân khác thì một nguyên nhân rất quan trọng đó
là các em còn thiếu kỹ năng sống, chưa được quan tâm giáo dục đạo đức Đối với họcsinh trung học cơ sở thì việc giáo dục đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trong thực tế đã có những biểu hiện như ở tỷ lệ HS nói dối cha mẹ tăng dầncùng lứa tuổi Một khảo sát của Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục ViệtNam cho thấy, tỷ lệ học sinh tiểu học nói dối cha mẹ là 22%, THCS 50% và lên đếncấp THPT thì tỷ lệ này lên tới 64% Ở trường, hành vi này cũng được thể hiện qua
tỷ lệ quay cóp: ở tiểu học là 8%, ở THCS là 55%, ở cấp THPT là 60% Năm 2004,chỉ có 600 HS, SV nghiện ma túy thì đến năm 2007, con số này đã ở mức 1.234 HS,
SV Các thông tin mà Vụ Công tác HS, SV, Bộ GD-ĐT đưa ra rất đáng lưu ý Mộtcuộc thăm dò đối với 500 học sinh THCS ở TPHồ Chí Minh cho thấy 32,2% HS cóthái độ vô lễ với thầy, cô giáo; 38% thường xuyên nói tục; nhiều HS chỉ chào hỏithầy cô ở trong trường, còn khi gặp ở ngoài trường thì cứ như không quen biết
Đứng trước thực trạng đó, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã chỉ đạo và triển khai tiếnhành lồng ghép giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống vào các môn học và hoạt độngngoài giờ lên lớp cho học sinh ở các nhà trường trong phạm vi toàn quốc bắt đầu từ năm
2010 -2011 nhằm trang bị cho các em những năng lực cần thiết để nâng cao giáo dụctoàn diện cho thế hệ trẻ Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ
sở được đưa vào thông qua hai hoạt động đó là:
- Hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Lồng ghép vào các môn học
Trang 16Để giáo dục đạo đức cho học sinh đạt hiệu quả cao thì không thể không kểđến vai trò của công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, nó gópphần phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Song thực tế, công tác này ở các trường nóichung và các trường trung học cơ sở nói riêng còn nhiều bất cập và chưa thực sự cóhiệu quả, đặc biệt là những yếu kém trong quản lý Các trường chỉ chú trọng đếnviệc trang bị những kiến thức chuyên môn mà chưa quan tâm đến GDĐĐ cho họcsinh đúng như yêu cầu Có thể thấy, ở các trường học chưa có những giải pháp quản
lý nhằm phát huy sự gương mẫu của thầy và ý thức tự rèn luyện của học sinh, chưaphát huy được sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác quản lý giáo dụcđạo đức cho học sinh Tuy nhiên trong thực tế việc quản lý hoạt động giáo dục đạođức cho học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng chưa được quantâm đúng mức
Trong những năm qua, ngành giáo dục nói chung của thành phố Hà Nội đã đạtđược rất nhiều thành tích đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm bất cập đặcbiệt là hiện tượng ở một số trường trung học cơ sở vẫn còn xem nhẹ công tác giáodục đạo đức Thực tiễn trong những năm học gần cho thấy, ở các trường có chấtlượng giáo dục tốt đều là những trường thực hiện tốt giáo dục toàn diện, không chỉchăm lo hoạt động dạy chữ mà còn quan tâm tổ chức quản lý có hiệu quả hoạt độnggiáo dục đạo đức cho học sinh
Do điều kiện còn hạn chế nên các trường trung học cơ sở hiện nay chủ yếu vẫnchỉ cung cấp tri thức để hình thành nhận thức, thái độ, chưa coi trọng đúng mứcđến việc rèn luyện kỹ năng, trau dồi những cảm xúc, tình cảm, phẩm chất đạo đức,
thẩm mỹ Phạm Minh Hạc đánh giá: “Ngành giáo dục Việt Nam có phần lệch về
dạy chữ, ít dạy nghề, không chú trọng dạy người”.Việc dạy người mới thật là cơ
bản cho tương lai của dân tộc Bởi vì không coi trọng “dạy người” sẽ làm cho một
bộ phận học sinh giảm sút về đạo đức, nhân cách, bị lôi cuốn vào lối sống thựcdụng và các tệ nạn xã hội Với những cơ sở phân tích trên cần phải có nghiên cứu
chuyên sâu hơn, hệ thống hơn và tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý giáo dục
đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” làm luận án nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng quản lý hoạt
Trang 17động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở (THCS) và đề xuất một
số giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thành phố HàNội trong bối cảnh đổi mới giáo dục
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung
học cơ sở tại thành phố Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý giáo dục đạo đức ở các trường trung học cơ sở
ở thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Dưới tác động của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, đạo đứctrong xã hội nói chung và ở thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh nói riêng, đang có nhữngbiến đổi thiếu tích cực Việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học
cơ sở hiện nay chưa được lãnh đạo nhà trường quan tâm đúng mức, hình thức tổchức và phương pháp giáo dục đạo đức còn nhiều hạn chế, công tác quản lý giáodục đạo đức của Ban Giám hiệu nhà trường chưa thực sự hiệu quả Nếu phân tíchlàm rõ bản chất của giáo dục đạo đức trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay,quản lý hoạt động giáo dục đạo đức theo tiếp cận CIPO, phối hợp chặt chẽ giáo dụcnhà trường- gia đình- xã hội, từ đó xây dựng được các giải pháp quản lý giáo dụcđạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở ở thành phố Hà Nội có căn cứ khoahọc, có tính đồng bộ và khả thi, tạo ra sự đổi mới ở các yếu tố như mục tiêu, nộidung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh và phát huy tính tíchcực của chủ thể tham gia vào công tác này thì sẽ góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục toàn diện cho học sinh trường THCS theoyêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay nói chung
Trang 185 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về giáo dục đạo đức
và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở
2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ởcác trường trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội, rút ra những kết quả đạt được,những hạn chế và nguyên nhân
3 Đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trườngtrung học cơ sở tại thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
4 Tổ chức khảo nghiệm và thử nghiệm các giải pháp quản lý đã đề xuất
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinhtrường THCS bao gồm nhiều chủ thể quản lý thuộc trong và ngoài nhà trường Chủthể quản lý chính trong luận án này là hiệu trưởng trường THCS
2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Hệ thống các trường THCS Hà Nội bao gồmcác trường công lập và ngoài công lập Luận án này giới hạn nghiên cứu hệ thốngtrường THCS công lập đại diện cho nội thành vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội
3 Giới hạn khách thể khảo sát: Luận án tập trung khảo sát các đối tượng sau:học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, cha mẹ học sinh và đại diện các lựclượng xã hội
6 Câu hỏi nghiên cứu
1 Vì sao lại nghiên cứu học sinh THCS? Và dựa trên cơ sở lý luận nào để tổchức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS có hiệu quả ?
2 Những yếu tố nào tác động đến quản lý giáo dục đạo đức cho học sinhtrường trung học cơ sở?
3 Giáo dục đạo đức ảnh hưởng như thế nào đến việc nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện cho học sinh ?
4 Thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trườngtrung học cơ sở ở Hà Nội hiện nay có những ưu điểm và hạn chế như thế nào?
5 Làm thế nào để quản lý tốt hơn hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinhtrường trung học cơ sở ở Hà Nội ?
Trang 197 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
7.1.1 Tiếp cận hệ thống: Giáo dục là một bộ phận của kinh tế - xã hội Do
vậy, nghiên cứu giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trườngtrung học cơ sở thì phải đặt các hoạt động này trong bối cảnh kinh tế- xã hội của đấtnước, của thời đại, cụ thể là yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của cả nước nóichung và của Hà Nội nói riêng trong tiến trình CNH, HĐH đất nước
Mặt khác, giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
cơ sở là một bộ phận của chương trình giáo dục tổng thể, có mối quan hệ với các mặtgiáo dục khác, với các chủ thể khác - ngoài nhà trường - trong xã hội Giáo dục đạođức cho học sinh phải được kết hợp trong mọi hoạt động của quá trình dạy học, phải
huy động sự tham gia của mọi thành phần trong nhà trường và ngoài nhà trường
7.1.2 Tiếp cận CIPO kết hợp với chức năng quản lý: Giáo dục đạo đức cho học
sinh trường trung học cơ sở là một quá trình diễn ra liên tục dưới sự tác động của các yếu
tố đầu vào (input), các yếu tố quá trình (process), các yếu tố đầu ra (output-outcome) vàcác yếu tố bối cảnh (context) Quản lý các yếu tố đầu vào, quá trình, đầu ra và bối cảnhthông qua thực hiện tốt 4 chức năng quản lý sẽ đảm bảo giáo dục đạo đức cho học sinhtrường trung học cơ sở đạt được chất lượng theo yêu cầu
7.1.3 Tiếp cận thực tiễn: Tiếp cận thực tiễn trong luận án được sử dụng
nhằm làm sáng tỏ thực trạng đạo đức hiện nay của học sinh, thực trạng giáo dục đạođức trong nhà trường và thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trườngtrung học cơ sở ở thành phố Hà Nội hiện nay như thế nào
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tri thức chủ yếu trong các công trìnhnghiên cứu, các tác phẩm kinh điển trong và ngoài nước, văn kiện của Đảng và Nhànước liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: quan sát thái độ, sự chú ý của học sinh trong cáchoạt động giáo dục đạo đức
Trang 20- Phương pháp điều tra: Xây dựng phiếu hỏi với các loại đối tượng cần thiết,liên quan đến đề luận án, đặc biệt là cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, học sinhnhằm khảo sát thực trạng đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp trò chuyện, điều tra sâu đối với một số đốitượng để có thông tin nhằm đánh giá định tính các hiện tượng đạo đức của học sinh
Ngoài ra, Luận án còn dùng phương pháp chuyên gia và phương pháp tổngkết kinh nghiệm
7.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu: Luận án sử dụng phương pháp phân tích định
tính là chủ yếu, trong đó bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, phương phápnghiên cứu từng trường hợp, phương pháp phân tích so sánh Luận án còn sử dụngphương pháp phân tích SWOT và phần mềm SPSS khi đánh giá thực trạng giáo dụcđạo đức cho học sinh
8 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã làm sáng tỏ thêm nội hàm khái niệm đạo đức, các đặc trưngbiểu hiện đạo đức trong bối cảnh kinh tế-xã hội chuyển đổi hiện nay, các giá trị mới
và các yếu tố tác động đến nhân cách nói chung và đạo đức nói riêng của học sinhtrung học cơ sở Luận án đã sử dụng cách tiếp cận CIPO trong quản lý giáo dục đạođức cho học sinh trung học cơ sở và đã chứng minh được tính ưu việt của cách tiếpcận này trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường trunghọc cơ sở
- Thông qua khảo sát và phân tích thực trạng, luận án đã chỉ ra được những bấtcập trong giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học
cơ sở ở thành phố Hà Nội hiện nay, tìm ra nguyên nhân của thực trạng này Đó là: thiếu
sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý thể hiện qua thiếu kế hoạch, thiếu chỉ đạo sátsao hoạt động giáo dục này; thiếu sự phối kết hợp giữa nhà trường- gia đình- xã hộitrong giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở
- Xây dựng các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trunghọc cơ sở nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng một cách hiệu quả và thuận tiệncho các nhà trường vận dụng
Trang 21- Xác định được vai trò và mối quan hệ của nhà trường, gia đình và xã hộitrong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở.
9 Luận điểm khoa học bảo vệ
Giáo dục đạo đức hiện nay nó không chỉ diễn ra trong nhà trường mà nó cònđược tích hợp với tất cả các môn học khác
Giáo dục đạo đức không chỉ ở trong nhà trường mà nó cần phải được kết hợpvới gia đình và xã hội
Chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở phụ thuộcvào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố có vai trò quyết định là công tác tổ chức quản lýgiáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường
Có thể xây dựng các giải pháp quản lý phù hợp giúp giáo dục đạo đức cho họcsinh trường trung học cơ sở có chất lượng và hiệu quả hơn
10 Cấu trúc luận án
Luận án gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Phần kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình của tác giả, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh
Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được
xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dụclớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có
“đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn” Ông
đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xemtrọng việc giáo dục đạo đức
Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 – 399 TCN) coi cái gốc của đạođức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sựhiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức [57]
Aristoste (384 -322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dânhoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được conngười hoàn thiện trong quan hệ đạo đức [57]
Petxtalôdi (1746 – 1827), một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷXIX, đã đánh giá rất cao vai trò của GDĐĐ Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm củagiáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về conngười Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị emrồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội
C.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, chorằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủnghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa nănglực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực,
Trang 23óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hộixảy ra chung quanh, ” [57].
Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.C Macarenco của Liên Xô với tác phẩm
“Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạmpháp và không gia đình) Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáodục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dụcbằng tập thể và thông qua tập thể
Các nhà nghiên cứu trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cầntập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thầntrách nhiệm, tinh thần hợp tác
Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốctế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khuvực Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dụcgiá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị:
1/ Nhóm giá trị liên quan đến Quyền con người;
2/ Nhóm giá trị liên quan đến Dân chủ;
3/ Nhóm giá trị liên quan đến Hợp tác và Hòa bình;
4/ Nhóm các giá trị liên quan đến Bảo vệ môi trường;
5/ Nhóm giá trị liên quan đến Bảo vệ di sản văn hóa;
6/ Nhóm các giá trị liên quan đến Bản thân và những người khác;
7/ Nhóm các giá trị liên quan đến Tính dân tộc;
8/ Nhóm liên quan đến Tâm linh
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam cũng đượccác nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu Điều này thể hiện ở các công trình như
"Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh – Nguyễn Thị Thọ; tác phẩm “Đạo nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn
hiếu-và Nguyễn Văn Phúc; “Phương pháp giáo dục cho trẻ em hư” của Phạm Công Sơn
– Tô Quốc Tuấn (1997),…
Trang 24Hội đồng lý luận Trung ương đã thực hiện đề tài nghiên cứu về "Con người
Việt Nam trong giai đoạn CNH, HĐH" Nghiên cứu này khẳng định một tư tưởng
chung là: hạt nhân cơ bản của thang giá trị, thước đo giá trị và nhân phẩm con ngườiViệt Nam ngày nay là các giá trị nhân văn truyền thống dân tộc như lòng tự hào dântộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trung với nước, hiếu với dân, nhân nghĩa, cần cù,thông minh, sáng tạo
Với định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời
kỳ công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), trong những năm gần đây có nhiều
công trình nghiên cứu được thực hiện theo hướng này, như: “Gia đình Việt Nam với
chức năng xã hội hóa” của Lê Ngọc Văn (1996); Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước
“Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” Do Ủy Ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em thực hiện năm 1999-2000 Tất
cả các công trình nghiên cứu này đều nói đến chức năng và vai trò rất quan trọngcủa gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em
Tại Hội thảo“Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay –
Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức tại
Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc phát biểu: “Yếu tố quyết định là ý thức tựgiáo dục thực sự nghiêm khắc – sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất làcủa học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,…kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội,GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụcấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội” Bài phátbiểu này của Phạm Minh Hạc cũng đã nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cho họcsinh, sinh viên trong đó có học sinh trường trung học cơ sở là một vấn đề nổi cộm
và cấp thiết trong xã hội hiện nay
Đề tài “Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho
học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân” của tác giả Phạm Tất Dong đã đi
sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướngnghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục
Trang 25tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đã mang lại nhiều nộidung mới về GDĐĐ, chính trị tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học nhữngnăm đầu 90
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số B2007.19.27 "Sự lựa chọn các giá trị
đạo đức nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một số trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Huỳnh Văn Sơn đã khảo
sát 874 sinh viên từ các trường đại học Từ số liệu khảo sát, đề tài đánh giá sự lựa chọncác giá trị đạo đức nhân văn của sinh viên chưa rõ ràng, còn dao động, tồn tại nhiều thái
độ tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ sinh viên và còn chưa thống nhất giữa nhận thứcvới thái độ, hành vi Đề tài cũng đề xuất một số yêu cầu như: cần xây dựng mô hình nhâncách chuẩn mực, một thang giá trị rõ ràng để định hướng cho sinh viên; chú trọng giáodục đạo đức nhân văn, thực hiện công tác giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau,…
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về QLGDĐĐ cho học sinh
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sựphát triển của xã hội loài người Việc giáo dục đạo đức luôn là vấn đề đặt ra từ xưađến nay và thay đổi theo sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp vớiđiều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước
Công trình nghiên cứu khoa học của Phạm Minh Hạc và các cộng sự: “Chiến
lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã phần nào cụ thể hóa được mục tiêu giáo dục trong các
nhà trường, trong đó có hệ thống các trường trung học cơ sở và đã cụ thể hóa đượccác hoạch định chiến lược giáo dục toàn diện cho học sinh trong việc thực hiệnnhiệm vụ đào tạo con người phát triển toàn diện để phục vụ cho công cuộc xâydựng CNH và HĐH đất nước và giúp cho nước ta trở thành một nước phát triển bềnvững Xuất phát từ đặc trưng tâm lý học, tác giả đã nêu ra các định hướng giá trịđạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH Từ thực trạng đạo đức củasinh viên, học sinh hiện nay, công trình nghiên cứu này đã nêu ra một số giải pháp ởtầm vĩ mô về giáo dục và đào tạo với các yêu cầu đặt ra như: tiếp tục đổi mới hình
Trang 26thức, nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố ý tưởnggiáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việcGDĐĐ cho mọi người,… Thành công ở công trình nghiên cứu này là đã đưa ra một
hệ thống giải pháp quản lý xã hội về giáo dục Trong đó có giải pháp “Tổ chứcphong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức và lối sống chotoàn dân trước hết là cán bộ đảng viên, cho thầy và trò các trường học”
Công trình này cũng khẳng định để đạt được hiệu quả trong việc QLHĐ giáodục đạo đức thì điều kiện then chốt, quyết định là cơ chế chỉ đạo thống nhất Muốn vậyphải có một tổ chức phụ trách từ Trung ương tới cơ sở, dưới sự lãnh đạo của cấp ủyĐảng, cần thiết phải thành lập một ủy ban quốc gia GDĐĐ để chỉ đạo, quản lý hoạtđộng giáo dục đạo đức cho toàn xã hội với các nhiệm vụ cụ thể như:
Thứ nhất, xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục đạo đức, quán triệt tư
tưởng cho toàn xã hội;
Thứ hai, thiết kế các hoạt động giáo dục đạo đức chung;
Thứ ba, soạn thảo các các chế độ, chính sách, các chuẩn mực đạo đức, quy
trình tổ chức giáo dục đạo đức;
Thứ tư, thanh kiểm tra, đánh giá thi đua khen thưởng, đề xuất các phong trào
thi đua khen thưởng, rèn luyện đạo đức [25]
Đề tài mã số C 2006 -29 -05 “Một số giải pháp chỉ đạo của hiệu trưởng nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị
Thanh Thủy đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác giáo dục đạo đứccho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS Trung Hưng vàmột số trường THCS thuộc địa bàn thành phố Sơn Tây từ đó đề xuất một số giải phápchỉ đạo thích hợp và khả thi về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường Trung học
cơ sở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đáp ứng mục tiêu giáodục của cấp trung học cơ sở và ngành giáo dục và đào tạo hiện nay
Đề tài mã số C2011-29-11, “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên
Học viện Quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy
Trang 27đã điều tra thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện Quản lý giáodục cho thấy: Đại đa số sinh viên có nhận thức tốt về vai trò và tầm quan trọng của côngtác giáo dục đạo đức Tuy nhiên, vẫn còn không ít sinh viên chưa nhận thức đúng về vaitrò và tầm quan trọng của giáo dục đạo đức Qua điều tra khảo sát và phân tích thựctrạng, kết hợp với nghiên cứu lý luận, đề tài đã đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nângcao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Học viện Quản lý giáo dục
Luận án tiến sĩ“Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại
thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của Đỗ Tuyết
Bảo (2001) đã đề cập đến vai trò giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển
nhân cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với giáo dục đạo đức cho học sinhtrường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đưa ra các giải phápnhư: Đổi mới về nhận thức giáo dục đạo đức; Đổi mới phương pháp giáo dục đạođức; Đổi mới hình thành tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức và xây dựng môitrường đạo đức; Tăng cường những đảm bảo cơ sở vật chất giáo dục đạo đức; lãnhđạo và quản lý công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục đạo đức cho học sinh
Luận án tiến sĩ : “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho
sinh viên các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Hoàng Anh
(2011) đã nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý công tácgiáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trong các trường đại học sư phạm – Đạihọc sư phạm Huế, trường đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, trường Đại họcĐồng Tháp nhằm đề xuất mô hình mới về quản lý công tác giáo dục đạo đức chosinh viên sư phạm và các giải pháp thực hiện mô hình
Luận án tiến sĩ , “Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường
cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ” của Nguyễn Thanh Phú (2014) đã làm rõ thêm
khái niệm đạo đức nghề nghiệp sư phạm, làm rõ ý nghĩa của quản lý giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm và vai trò của quản lý giáo dụcđạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các trường cao đẳng sư phạm; xác định cácyếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cáctrường cao đẳng sư phạm Trong luận án, tác giả còn điều tra khảo sát ba trường cao
Trang 28đẳng sư phạm tại khu vực miền Tây Nam Bộ và đề xuất một số giải pháp quản lýnhằm đổi mới và nâng cao kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cáctrường cao đẳng sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên cho cáctrường sư phạm Đó là những phạm trù phản ánh nội dung khách quan của đời sống
xã hội, nó liên hệ hữu cơ với tình cảm con người trong mối quan hệ giữa con ngườivới đời sống xã hội
Qua nghiên cứu những quan điểm về giáo dục đạo đức của các nước trên thếgiới và các luận án, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam,cho thấy những nét khái quát về đặc trưng, nhiệm vụ, phạm trù, chức năng của vấn đềgiáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên là rất cần thiết
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý
Lịch sử phát triển của loài người từ khi có sự phân công lao động đã xuấthiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt độnglao động theo những yêu cầu nhất định đó là hoạt động quản lý
Ngày nay, thuật ngữ “Quản lý” trở nên phổ biến, mọi hoạt động của tổ chức,
xã hội đều cần tới quản lý Quản lý là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực,mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Quản lý trở thành một khoa học, một nghệthuật và là một nghề trong xã hội hiện đại - nghề quản lý Chính vì vậy mà lý luận
về quản lý ngày càng phong phú và phát triển
Theo F.Taylor: “Quản lý là biết rõ ràng, chính xác điều bạn muốn ngườikhác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành tốt công việc như thế nào,bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [26, tr 89]
F Taylor cùng các cộng sự đã đưa ra 4 nguyên tắc quản lý mà cho đến ngàynay vẫn còn được nhiều tác giả nhắc đến:
+ Nhà quản lý phải lựa chọn nhân viên một cách khoa học, cho học hành để
họ phát triển hết khả năng của mình
+ Nhà quản lý phải am hiểu khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn) để đảm bảo bố trí lao động một cách khoa học
-+ Nhà quản lý phải cộng tác với nhân viên theo một nguyên tắc khoa học
Trang 29Công cụ
Phương pháp
Khách thể quản lý
Theo Mary Parker Pollet: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc đượcthực hiện thông qua người khác” [26, tr125]
Tiếp cận dưới góc độ hoạt động của một tổ chức: “Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý tới những người lao động nói chung là khách thểquản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [70]
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm
làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [25]. Như vậy, có thểhiểu: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch và
hệ thống của chủ thể quản lý đến khách thể quản lýdựa trên những thông tin về tìnhtrạng của đối tượng hình thành một môi trường phát huymột cách hiệu quả các tiềmnăng, các cơ hội của cá nhân và tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra
Sự tác động này được mô hình hóa như sau:
Trang 30Hoạt động của quản lý về bản chất là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chứcbằng cách thực hiện các chức năng quản lý Chức năng của quản lý là hình thứcbiểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý vàkhách thể quản lý Nhữngchức năng cơ bản của quản lý gồm:
- Lập kế hoạch: là công việc hoạch định, gồm xác định mục tiêu, mục đích
đối với thành tựu tương lai của tổ chức và xác định con đường, biện pháp, cách thức
và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Ba nội dung chủ yếu củachức năng này là:
+Xác định mục tiêu đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu
đã đề ra
+ Xác định những hoạt động cần thiết, tối ưu để đạt được mục tiêu kế hoạch
là nền tảngcủa quản lý Lập kế hoạch đòi hỏi phải nắm chắc thông tin với tư duy dựbáo tốt và sự tham gia dân chủ của mọi thành viên, bởi họ là người làm cho kếhoạch được thực hiện.Lập kế hoạch đi trước việc thực hiện toàn bộ chức năng quản
lý khác và các chức năng quản lý khác muốn đạt hiệu quả cũng đều phải lập kếhoạch Đặc biệt, lập kế hoạch và kiểm tra là những chức năng song sinh, không thểkiểm tra tốt nếu không có kế hoạch, không có kế hoạch tốt nếu như không có thôngtin kiểm tra Trong việc thiết lập một môi trường để các cá nhân làm việc với nhauthực hiện công việc hiệu quả, nhiệm vụ cốt yếu của người quản lý là biết rõ mọingười có hiểu đượcnhiệm vụ và các mục tiêu của nhóm và các phương pháp để đạtđược các mục tiêu đó hay không Để sự cố gắng của nhóm có hiệu quả, các cá nhânphải biết họ được yêu cầu hoàn thành cái gì Lập kế hoạch là lựa chọn một trongnhững phương án hành động tương lai cho toàn bộ và cho từng bộ phận trong một
cơ sở; bao gồm sự lựa chọn các mục tiêu của cơ sở và của từng bộ phận, xác địnhphương thức để đạt các mục tiêu Như vậy, kế hoạch cho ta một cách tiếp cận hợp
lý tới các mục tiêu chọn trước Việc lập kế hoạch cũng đòi hỏi sự đổi mới quản lýmột cách mạnh mẽ Lập kế hoạch là quyết định trước xem phải làm cái gì, làm nhưthế nào, khi nào làm và ai làm cái đó Kế hoạch là cái cầu bắc qua những khoảng
Trang 31trống để có thế đi đến đích Kế hoạch làm cho các sự việc có thể xảy ra, nếu khôngthì chúng không xảy ra Mặc dù, chúng ta ít khi tiên đoán được tương lai chính xác
và mặc dù những yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta có thể phá vỡ cảnhững kế hoạch tốt nhất đã có, nhưng nếu không có một kế hoạch, chúng ta có thể
để cho các sự kiện xảy ra một cách ngẫu nhiên Lập kế hoạch là một quá trình đòihỏi có tri thức Nó đòi hỏi rằng, chúng ta phải xác định các đường lối một cách có ýthức và đưa ra các quyết định của chúng ta trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết vànhững đánh giá thận trọng
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và nguồn
lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt đượccác mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhauđòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người quản lý cần lựa chọn cấutrúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có Chức năng của
tổ chức bao gồm trong nó việc lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và việc kiểm tra, nóxuyên suốt từ đầu đến cuối quá trình quản lý, gồm các công việc sau:
+ Tổ chức khai thác và tiếp nhận nguồn lực như: con người, cơ sở vật chấtngân quỹ, các mối quan hệ
+ Tổ chức thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy, lựa chọn, sắp xếp nhân sự bộmáy; quy định chức năng, quyền hạn và phân công nhiệm vụ cụ thể
+ Tổ chức triển khai kế hoạch đến những người thực hiện: thuyết phục độngviên mọi người chấp nhận kế hoạch
+ Xác định cơ chế phối hợp, tạo sự hợp tác, liên kết, giám sát thông tin, cácquan hệ ngang dọc
+ Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đánh giá, đề bạt đãi ngộ, phát triển vốn quýcủa tổ chức là nguồn lực con người
Xây dựng và duy trì những hệ thống các vai trò nhiệm vụ trong một tổ chức
là chức năng tổ chức trong quản lý Công tác tổ chức như là việc nhóm gộp các hoạtđộng, cần thiết để đạt được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một ngườiquản lý với quyền hạn cần thiết đề giám sát và là việc tạo điều kiện cho sự liên kết
Trang 32ngang và dọc trong cơ cấu của doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức cần phải đượcthiết kế để chỉ rõ ai sẽ làm việc gì và ai trách nhiệm về những kết quả nào, để loại
bỏ những trở ngại dối với việc thực hiện do sự nhầm lẫn và không chắc chắn trongviệc phân công công việc và tạo điều kiện cho việc ra quyết định, liên lạc, phản ánh
và hỗ trợ nhau thực hiện đạt mục tiêu của tổ chức
- Lãnh đạo, điều hành: Là quá trình tác động, huy động và giúp đỡ những
cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Lãnh đạo là quátrình tác động đến con người làm cho họ tự nguyện và nhiệt tình tự giác, nỗ lựcphấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức
+ Kích thích động viên
+ Thông tin hai chiều
+ Bảo đảm sự hợp tác trong thực tế Lãnh đạo được xác định như là sự tácđộng, như một nghệ thuật, hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ
tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức Một cách lýtưởng, mọi người cần được khuyến khích để phát triển không chỉ sự tự nguyện làmviệc mà còn tự nguyện làm việc với sự sốt sắng và tin tưởng
Sự sốt sắng là sự nhiệt tình, nghiêm chỉnh và chăm chú trong thực hiện côngviệc; sự tin tưởng thể hiện kinh nghiệm và khả năng kĩ thuật Do vậy, cơ sở để đảmbảo thực hiện sự lãnh đạo có hiệu quả là nhà lãnh đạo cần có những phẩm chất nhấtđịnh như: khả năng hiểu con người, nhất là hiểu về động cơ thúc đẩy họ làm việc;khả năng khích lệ con người để họ sử dụng toàn bộ năng lực làm việc, khả năng ứng
xử tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo là chỉ dẫn, điềukhiển, ra lệnh và đi trước Các nhà lãnh đạo hành động để giúp một nhóm đạt đượccác mục tiêu với sự vận dụng tối đa các khả năng của nhóm Lãnh đạo tạo điều kiện,động viên nhóm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức, giống người chỉ huy dàn nhạcgiao hưởng tạo ra được âm thanh hoà phối và nhịp điệu đúng thông qua sự cố gắngtổng hợp của các nhạc công Tuỳ theo chất lượng chỉ huy của nhạc trưởng, dàn nhạc
sẽ hưởng ứng lại
Trang 33Tóm lại, lãnh đạo là quá trình quản lý nhấn mạnh đến tính định hướng, chứcnăng hoạch định Còn trong quá trình quản lý thì lãnh đạo là một chức năng, ở đónhấn mạnh đến chức năng tổ chức thực hiện, chỉ đạo là hình thức của lãnh đạo.Khái niệm quản lý rộng hơn lãnh đạo nhưng khó có thể nói rằng lãnh đạo cao hơnquản lý, đó là hai khái niệm gắn bó mật thiết với nhau.
- Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, phát
hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho tổ chức vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra Đó
là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm xác định kết quả thực hiện kế hoạchtrên thực tế, tìm ra những mặt ưu điểm, mặt hạn chế, phát hiện những sai lệch, đề rabiện pháp điều chỉnh kịp thời
+ Xây dựng định mức và tiêu chuẩn
+ Chỉ số các công việc, phương pháp đánh giá
+ Rút kinh nghiệm và điều chỉnh
Kiểm tra không hẳn là giai đoạn cuối cùng của chu trình quản lý, bởi kiểmtra không chỉ diễn ra khi công việc đã hoàn thành có kết quả, mà nó diễn ra trongsuốt quá trình từ đầu đến cuối, từ lúc chuẩn bị xây dựng kế hoạch Kiểm tra phảidựa vào kế hoạch, tiêu chuẩn cụ thể và chế độ trách nhiệm của mỗi người, mỗi bộphận đã được xác định Kiểm tra cung cấp thông tin cho quản lý mà thông tin làchất liệu cho các quyết định trong quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành linh hoạt,thích ứng với thay đổi của môi trường Bởi vậy, quản lý- lãnh đạo mà thiếu kiểm trathì như không có quản lý hay lãnh đạo Nói tóm lại, các chức năng quản lý kế tiếp
và độc lập với nhau chỉ là tương đối mà các chức năng của quản lý mối quan hệbiện chứng chặt chẽ tùy theo thời điểm, nội dung mà một số chức năng có thể tiếnhành đồng thời, đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1) Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức vàhướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệthống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho người học
Trang 34trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như quyluật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý người học.
Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huyđộng tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát có hiệu quả các nguồn lực giáo dục đểphục vụ cho mục tiêu giáo dục
2) Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiếntạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội nói trên đạt đượccác mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạonày một cách tối ưu theo quan điểm của xã hội
Nhà trường là nơi tổ chức quản lý quá trình giáo dục Quá trình này gồm hoạtđộng của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhautựa vào nhau để thực hiện mục tiêu theo yêu cầu của xã hội Cụ thể, quản lý nhà trường
là hệ thống những tác động của hiệu trưởng đến giáo viên, cán bộ, nhân viên và họcsinh trong trường nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáodục, đạt được mục tiên giáo dục hợp với quy luật và quy chuẩn đề ra
Quản lý nhà trường được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thểquản lý đến tập thể giáo viên, tập thể học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xãhội trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dụcnhà trường
1.2.3 Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu nhưtriết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học Mỗi lĩnh vực có mộtcách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống quan niệm đạo đức rất phongphú và sâu sắc
Dưới góc độ triết học, người ta quan niệm rằng "Đạo đức là một trong nhữnghình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩnmực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác với cộng đồng
Trang 35Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi ngườibằng các quan hệ thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự" [42].
Dưới góc độ đạo đức học, "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệtbao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩnmực xã hội" [42]
Dưới góc độ giáo dục học, "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệtbao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của conngười với con người" [42]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, đạo đức là phép tắc về quan hệ giữa người vớingười, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội
Theo quan điểm Mác-Lê nin thì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, cónguồn gốc từ lao động, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống cộng đồng xã hội Đạođức phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Mỗi phương thức sản xuất lạilàm nảy sinh một dạng đạo đức tương ứng và do vậy đạo đức có tính lịch sử, tínhgiai cấp và tính dân tộc [33, Tr9]
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm, "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặcbiệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, yêu cầu,chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó conngười tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc củacon người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người,giữa cá nhân với xã hội" [42]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương, "Đạo đức làmột hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp vớihạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cánhân với xã hội"[42]
Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xửtrong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ conngười cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định những chuẩn mực ứng
Trang 36xử của con người với bản thân, với con người, với công việc, với thiên nhiên, vớimôi trường sống.
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chínhtrị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộmặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức được biểu hiện ởcuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý,
có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hộithì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hộicũng phản ánh ý thức chính trị của họ với các vấn đề đang tồn tại [33]
Chuẩn mực đạo đức là những phẩm chất đạo đức có tính chất chuẩn mực,được nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, làthước đo cần có của mỗi con người Những chuẩn mực đạo đức ấy được coi nhưmục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mọi người, nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngànhnghề Đồng thời, chuẩn mực đạo đức đó có giá trị định hướng, chi phối, chế ướcquá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, khái niệm đạođức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đứcmới Theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sựkết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ củathời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quêhương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp vàpháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát đạo đức là một hệthống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xửcủa con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích cánhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởitruyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội
Trang 371.2.4 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệthống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồidưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp vớiyêu cầu xã hội
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, "Giáo dục đạo đức là quá trình biến cácchuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thànhnhững đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của ngườiđược giáo dục" [57]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặttiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hóa những nhu cầu của
xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thựchiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đadạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một
vị trí đặc biệt quan trọng Giáo dục đạo đức là bộ phận hợp thành của hoạt độnggiáo dục con người đạt tới nhân cách hài hòa, toàn vẹn, bao gồm: Giáo dục kiếnthức đạo đức; Giáo dục thái độ đạo đức; Giáo dục kỹ năng - hành vi đạo đức
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáodục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tìnhcảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống,phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giaolưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển
Giáo dục đạo đức là bộ phận quan trọng có tính nền tảng của giáo dục, có nhiệm
vụ rèn luyện lý tưởng, ý thức, thói quen và hình thành ở người học các phẩm chất đạođức như lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng,dũng cảm,…GDĐĐ gắn chặt với giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục pháp luật, giáodục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động hướng nghiệp
Ngoài việc nâng cao nhận thức các giá trị đạo đức, giáo dục đạo đức còn gópphần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đứcmới, hình thành quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục Hơn nữa, giáodục đạo đức cũng góp phần khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch
Trang 38chuẩn các giá trị nhân cách, chống lại các hiện tượng phi đạo đức, vô văn hóa tạo ra cơchế phòng ngừa các phản giá trị đạo đức, phản văn hóa trong mỗi một con người Giáodục đạo đức còn có tác dụng trong việc truyền lại cho thế hệ sau những giá trị đạo đứctruyền thống mà từ đời này qua đời khác chúng ta đã dày công xây dựng và giữ gìn.Thông qua hoạt động giáo dục sẽ giúp cho họ nhận thức đầy đủ giá trị của truyền thốngđạo đức dân tộc, ý nghĩa to lớn của chúng trong đời sống hiện thực, lòng nhân ái vàtính nhân văn sâu sắc đã được lưu giữ, bảo tồn và lắng đọng trong cốt cách con người
và nền văn hóa Việt Nam
1.2.5 Quản lý giáo dục đạo đức
Quản lý giáo dục đạo đức được hiểu là một hệ thống những tác động tự giác
có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tập thểgiáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội trong và ngoàitrường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Quản lý giáo dục đạo đức có những đặc trưng riêng Nó là một mặt củaQLGD tổng thể Có thể so sánh điểm nổi trội của hai quá trình quản lý dạy học(QLDH) và QLGDĐĐ:
Bảng 1.1: So sánh hai quá trình QLDH và QLGDĐĐ Lĩnh vực quản lý Dạy học Giáo dục đạo đức
- Rèn luyện, phát triển hành vi,thói quen ĐĐ, lối sống XH
Đối tượng của hoạt
động Tri thức của lĩnh vực khoa học – kỹ thuật cụ
thể
Kinh nghiệm sống và kỹ nănghoạt động, HĐ nhiều lĩnh vực củađời sống XH
quản lý Quản lý điều kiện, phương tiện của một lĩnh
vực
Quản lý huy động tổng thể cácđiều kiện, phương tiện trong vàngoài nhà trường
Trang 39Như vậy, quản lý giáo dục đạo đức là sự tác động có tổ chức, có ý thức củachủ thể quản lý tới khách thể quản lý, đảm bảo phối hợp, huy động, điều chỉnh,giám sát,… một cách có hiệu quả các hoạt động cá nhân nhằm đưa hoạt động sưphạm của hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu đề ra một cách tốt nhất đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội.
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở
Mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường THCS là nhằm trang bị cho học sinhnhững tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hóa xã hội, tri thức về cuộc sống,giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội Thông qua hoạt động giáodục này để hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trongsáng đối với bản thân, mọi người xung quanh, hình thành thói quen tự giác thựchiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lựchọc tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đấtnước Cụ thể, mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS là:
- Trang bị cho học sinh THCS những hiểu biết nhất định về đạo đức của xãhội đối với cá nhân, các yêu cầu biểu thị dưới dạng các chuẩn mực đạo đức, các quytắc đạo đức, các khái niệm đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các lý tưởng đạođức để giúp cho học sinh ý thức được ý nghĩa, tính đúng đắn, giá trị của các hành
vi đạo đức phù hợp với các yêu cầu để ứng xử đúng đắn trong các tình huống đạođức
- Hình thành cho học sinh kinh nghiệm đạo đức, thói quen đạo đức thông quaviệc tổ chức cho các em tập dượt trong các hoạt động (học tập, lao động, công tác
xã hội, sinh hoạt tập thể, ) Thói quen hành vi đạo đức chỉ được hình thành và trởnên bền vững thông qua hoạt động, mối quan hệ đa dạng với những người khác, trẻ
em tự khẳng định, tự tin, đó là điều quan trọng trong việc ứng xử đạo đức
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ, hành vi đối với phẩm giá của conngười trong quan hệ đối với người khác
Trang 40Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS là chuyển hóa nhữngnguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh,hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện cácchuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các qui định của pháp luật Cụ thể như sau:
+ Về kiến thức: Giúp học sinh trường THCS biết về một số chuẩn mực hành
vi mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em vớibản thân, với mọi người, với công việc, với cộng đồng, với đất nước, với môitrường tự nhiên và hiểu được ý nghĩa của việc thực hiện theo các chuẩn mực đó
+ Về thái độ tình cảm: Giúp cho học sinh trường trung học cơ sở có thái
độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân; có trách nhiệm với hành độngcủa mình; yêu thương, tôn trọng con người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnhphúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái
ác, cái xấu Luôn luôn tự hoàn thiện nhân cách bản thân; tôn trọng những giá trịđạo đức truyền thống và giá trị nhân cách phù hợp với thời đại, tôn trọng nhữngqui định của nhà trường và pháp luật
+ Về hành vi: Giúp cho học sinh trường THCS tham gia tích cực các hoạt
động phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, tương thân, tương ái giúp đỡ nhaucùng tiến bộ của bản thân và phát triển của dân tộc; có nghị lực thực hiện những tưtưởng, quan điểm, những yêu cầu đạo đức và pháp luật, đồng thời không vi phạmnhững hành vi sai trái
+ Về kỹ năng: Hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân
và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; hình thành kỹ năng lựachọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan
hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống
Nói tóm lại, mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trườngTHCS là làm sao cho quá trình giáo dục đạo đức tác động trực tiếp đến người học
để hình thành ý thức tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được những thói quenhành vi đạo đức cho họ
1.3.2 Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS
1.3.2.1 Nội dung giáo dục đạo đức