1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề thi thật Agribank + Đáp án đầy đủ _tài liệu ôn thi Agribank 2019

23 132 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 34,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề thi thật Agribank + Đáp án đầy đủ – tài liệu ôn thiAgribank 2019 Liên hệ sđt /zalo: 0353.764.719 nếu muốn mua bằng thẻ điện thoại Đề thi thật Agribank + Đáp án đầy đủ – tài liệu ôn th

Trang 1

Đề thi thật Agribank + Đáp án đầy đủ – tài liệu ôn thi

Agribank 2019

(Liên hệ sđt /zalo: 0353.764.719 nếu muốn mua bằng thẻ điện thoại)

Đề thi thật Agribank + Đáp án đầy đủ – tài liệu ôn thi Agribank 2019: GIẢI ĐỀ THI AGRIBANK 2016 KHU VỰC 2 (15/11/2018)

1/ Khái niệm Ngân hàng thương mại

• Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn

bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật

• Các ngân hàng thương mại bao gồm:

1. Ngân hàng thương mại Nhà nước: là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ

Trang 2

2. Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng thương mại được tổ chức dướihình thức công ty cổ phầ

3. Ngân hàng thương mại liên doanh: là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doa Ngân hàng thương mại liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

4. Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ) Ngân hàng thương mại 100% vốn

nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viênhoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

2/ Văn bản pháp luật điều chỉnh Luật áp dụng:

• Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010

• Nghị định về Tổ chức hoạt động của Ngân hàng Thương mại số 59/2009

3/ Hoạt động của Ngân hàng Thương mại

Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại bao gồm các nghiệp vụ sau:

a/ Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác

b/ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài

c/ Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:

Trang 3

d/ Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.

Bên cạnh việc mở tài khoản thanh toán cho Khách hàng, Ngân hàng nhà nước quy định Ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ cơ bản liên quan đến Mở tài khoản thanh toán như sau:

• Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước

và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp hơn mức dựtrữ bắt buộc

• Ngân hàng thương mại được mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng khác

Trang 4

• Ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.

e/ Cung ứng các phương tiện thanh toán.

f/ Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây:

• Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi,nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;

• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán, Ngân hàng thương mại được phép:

+ Ngân hàng thương mại được tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia

+ Ngân hàng thương mại được tham gia hệ thống thanh toán quốc tế sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

+ Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định củaNgân hàng Nhà nước

g/ Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh

Ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm sau đây:

• Ngoại hối;

• Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác

h/ Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại

• Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảoquản tài sản, cho thuê tủ, két an toà

Trang 5

• Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư.

• Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp

• Dịch vụ môi giới tiền tệ

• Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bả

Câu 2 (20đ):

Tại sao khi cho vay cần có bảo đảm tín dụng? Nêu các hình thức bảo đảm tín dụng? Bảo đảm tín dụng có phải là mục tiêu cho vay của ngân hàng không? Tại sao?=> Đã nhắc nhở không dưới 3 lần trên lớp học là phải quan tâm đến vấn đề

Tài sản bảo đảm

1/ Tại sao khi cho vay cần có bảo đảm tín dụng?

Kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt vì đối tượng kinh doanh là tiền và thu nhập chủ yếu của ngân hàng được tạo ra từ hoạt động tín dụng Trong khi

đó bất kì một khoản cho vay nào cũng đều chứa đựng những rủi ro nhất định Một khi

có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải chịu tổn thất Để hạn chế rủi ro thì ngay từ đầu tất cảcác khoản cho vay phải có ít nhất hai nguồn trả nợ tách biệt

=> Do đó bảo đảm tín dụng là một tiêu chuẩn bổ sung những hạn chế của nhà quản trị ngân hàng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi

Việc ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích:

• Nếu người vay không trả được nợ thì ngân hàng có quyền bán tài sản cầm

cố, thế chấp để thu hồi nợ

• Nhận bảo đảm tín dụng tạo cho ngân hàng lợi thế về tâm lý so với người vay bởi vì một tài sản khi đã là vật đảm bảo thì buộc người đi vay phải có trách

Trang 6

nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khỏi phải gán những tài sản giá trị của mình.

NHẬN XÉT: Tóm lại tài sản đảm bảo tiền vay có thể:

• Nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên vay

• Phòng ngừa rủi ro khi phương án trả nợ dự kiến của bên vay không được thực hiện hoặc xảy ra các rủi ro không lường trước được

• Phòng ngừa gian lậ

Chính vì vậy đối với ngân hàng một khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản luôn chứa đựng ít rủi ro hơn một khoản cho vay có bảo đảm không bằng tài sản cho nên các ngânhàng thường ưa chuộng cho vay có bảo đảm bằng tài sản hơn Để đưa ra quyết định

về việc cho vay có bảo đảm không bằng tài sản hay cho vay có bảo đảm bằng tài sản các ngân hàng thương mại thường dựa vào các tiêu chuẩn như: tính hiệu quả của dự

án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của người đi vay, mục đích sử dụng tiền vay, số tiền vay…nhằm giảm thiểu tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra

+ Thế chấp công bằng: ngân hàng chỉ giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tàisản bảo đảm cho khoản vay Do đó ngân hàng muốn phát mãi tài sản phải chờ qua phán quyết của tòa án

Trang 7

• Căn cứ vào số lần thế chấp:

+ Thế chấp thứ nhất: Là tài sản đang thế chấp cho một món vay

+ Thế chấp thứ hai: tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất nhưng giá trị thế chấp còn thừa ra khách hàng đang thế chấp cho ngân hàng khác (hay ngân hàng đó) để vay thêm một món nợ nữa

2.2 Hình thức cầm cố

• Cầm cố là việc người đi vay tiến hành chuyển giao tài sản (động sản) thuộc

sở hữu của mình cho người cho vay cất giữ để làm vật bảo đảm cho số nợ vay trong thời gian nhất định

• Trong nghiệp vụ cho vay cầm cố gồm các bên:

+ Bên cầm cố (Là các pháp nhân hay thể nhân khi vay vốn ngân hàng buộc phải có tài sản cầm cố)

+ Bên nhận cầm cố (Là bên cho vay, có thể là ngân hàng thương mại, công ty tài chính hay hợp tác xã tín dụng)

Có các loại cầm cố:

• Cầm cố hàng hóa: Là hình thức đảm bảo có ưu thế hơn đảm bảo bằng bất động sản bởi nó giúp ngân hàng dễ bán để thu nợ hơn khi khách hàng vay không trả được nợ NgoàI ra, nó giúp khách hàng vay dự trữ vật tư hàng hoá đảm bảo ổn định sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường Điều kiện cầm cố hàng hoá là hàng hoá có giá trị ổn định, dễ tiêu thụ ở hiện tại và tương lai, và

là hàng hoá được phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh hànghoá đó

• Cầm cố chứng khoán: Bên đi vay chuyển giao các chứng khoán cầm cố tại

NH để nhận tiền vay Khi đáo hạn khách hàng trả nợ và nhận lại chứng khoá Các loại chứng khoán cầm cố như công trái, trái phiếu kho bạc, TP đô thị, TP

Trang 8

công ty, cổ phiếu và các giấy nợ khác Thông thường, trái phiếu nhà nước có

tỷ lệ cho vay cao hơn chứng khoán công ty vì mức rủi ro thấp

(3) Cầm cố các chứng chỉ tiền gửi: Chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn (nếu cầm cố tiền gửi thanh toán thì tài khoản tiền gửi thanh toán sẽ bị phong tỏa) Đây

là loại hình đảm bảo an toàn và ít tốn kém vì không cần phải định giá, việc xử lý thu hồi

nợ đơn giản, chi phí phát sinh trong quá trình bảo quản không đáng kể

(4) Cầm cố vàng, đá quý, ngọc quý…

(5) Bảo đảm bằng hợp đồng nhận thầu: Bên đi vay nhượng lại hợp đồng nhận thầu cho ngân hàng để được tài trợ vốn vì trong hợp đồng có cam kết trả tiền của bên nhận thầu Các công ty có hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp nếu thiếu vốn để thực hiện hợp đồng có thể nhượng lại hợp đồng đó cho ngân hàng để được tài trợ vốn

2.3 Hình thức bảo lãnh

Trong trường hợp người đi vay không có tài sản cầm cố, thế chấp đòi hỏi phải yêu cầu một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ Ngoài ra trong một số trường hợp, việc cầm cố, thế chấp tài sản đó không an toàn hay an toàn thấp, ngân hàng yêu cầu người đi vay phảI có bảo lãnh Bảo lãnh là việc một pháp nhân hay thể nhân đem tài sản, tiền bạc và uy tín của mình để bảo đảm và cam kết với người cho vay sẽ thực hiệnnghĩa vụ thay cho người đi vay nếu người đi vay không trả được nợ cho người cho vay khi đến hạn Trong nghiệp vụ bảo lãnh gồm các bên sau:

+ Bên bảo lãnh: Là pháp nhân hoặc thể nhân theo yêu cầu của người đi vay sẽ đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm và nhận trách nhiệm thay cho người đi vay nếungười đi vay không trả được nợ cho ngân hàng

+ Bên được bảo lãnh: Là công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế hay cá nhân có nhu cầu vayvốn ngân hàng nhưng không đủ năng lực tài chính và không có tài sản để bảo đảm cho

Trang 9

khoản vốn vay.

+ Bên nhận bảo lãnh: Đó là người cho vay (ngân hàng thương mại, công ty tài chính).Điều kiện đối với người bảo lãnh: Phải có đủ năng lực pháp lý và khả năng trả nợ thay cho khách hàng, có đủ năng lực tài chính, uy tín hay tài sản dùng để bảo đảm nợ vay

3/ Bảo đảm tín dụng có phải là mục tiêu cho vay của ngân hàng không? Tại sao?

Dựa vào lý thuyết ngân hàng hiện đại về thẩm định cho vay theo nguyên tắc 5C, chúng

ta có thể chia điều kiện cấp tín dụng thành 2 nhóm:

• Nhóm điều kiện cần là khách hàng cũng như phương án vay đã được Ngân hàng cho vay thẩm định và đánh giá là đáp ứng được các điều kiện về: tính cách người vay (Character); năng lực tài chính, khả năng trả nợ (Capacity); dòng tiền (Cash Flow); điều kiện môi trường (Conditions)

• Nhóm điều kiện đủ gồm tài sản thế chấp món vay (Collateral)

Nhóm điều kiện cần là điều kiện tiên quyết để xét duyệt món vay Nhóm điều kiện đủ là các điều kiện bổ sung, đảm bảo quá trình kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, là bảo đảm bằng tài sản để thu hồi nợ vay khi có rủi ro bất khả kháng mà không còn nguồn trả nợ

=> Như vậy, Có nghĩa là khi thẩm định xem xét cho vay, về nguyên tắc, các NH đều phải thẩm định, đánh giá đầy đủ các yếu tố chủ quan, nội tại của khách hàng như: nănglực pháp luật, năng lực hành vi, phương án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, hiệu quả sinh lời, các hệ số đòn bẩy, tài chính, đánh giá tính ổn định cũng như dự lường các rủi ro từ thị trường đầu vào – ra của phương án vay, thẩm định và kiểm soát được dòng tiền, thẩm định tính hiện thực của nguồn trả nợ, dòng tiền thu hồi để trả nợ… Khi xác định và yên tâm rằng khách hàng vay đáp ứng đủ các điều kiện cần trên thì đã có thể xem xét cấp tín dụng Còn biện pháp kiểm soát, TSBĐ là điều kiện bổ sung

Trang 10

Về nguyên tắc chung, bất kỳ NH nào khi cho vay cũng muốn thẩm định kỹ khách hàng vay và mong muốn khách hàng vay làm ăn có lãi để trả nợ vay cả gốc lẫn lãi chứ khôngtrông mong vào việc xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ Nếu NH chỉ quan tâm đến TSBĐ

mà coi nhẹ việc thẩm định các điều kiện cấp tín dụng thì chẳng khác nào biến Ngân hàng thành “tiệm cầm đồ”

Tuy nhiên trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay, môi trường pháp lý về chế độ kế toán, kiểm toán tài chính đang trong quá trình hoàn thiện, vì thế tính minh bạch, trung thực của báo cáo tài chính, các thông tin của khách hàng cung cấp nhiều khi chưa đủ tin cậy theo đúng qui chế cho vay Do vậy các điều kiện cần như thẩm định năng lực tài chính, năng lực trả nợ, việc kiểm soát dòng tiền, … đối với nhiều khách hàng vay hiện nay là các doanh nghiệp dân doanh (Công ty cổ phần, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể,…) rất khó xác định đúng nhu cầu để thuyết phục khách hàng chấp nhận Thực tế đã có trường hợp khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, Ngân hàng tiếp cận cho vay, thẩm định số liệu báo cáo tài chính, xác định mức cho vay vốn theo nhu cầu thực tế thấp hơn so với mức cho vay tối đa tính trên giá trị nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản thế chấp thì khách hàng bỏ đi vay ngân hàng khác Đó là một thách thức giữa việc tuân thủ quy chế nghiệp vụ và yêu cầu phát triển thị phần tín dụng

mà nguyên nhân là do môi trường pháp lý về kế toán, kiểm toán chưa hoàn thiện, sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc tìm kiếm khách hàng tốt

=> Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay khi các căn cứ thẩm định món vay như đã nói trên chưa thật sự yên tâm đối với NH thì điều kiện tài sản thế chấp lại chuyển sang nhóm điều kiện cần để bảo đảm an toàn Việc đánh giá TSBĐ cho món vay (bao gồm việc thẩm định điều kiện tài sản thế chấp, năng lực pháp lý của người thế chấp tài sản, định giá tài sản, tính thanh khoản của tài sản,…) là cần thiết trong tình hình hiện nay Như vậy, hơn lúc nào hết NHCV càng phải đề cao vai trò của TSBĐ từ việc tuân thủ tỷ lệ xácđịnh cho vay tối đa do Trụ sở chính qui định, chẳng hạn như: thẩm định vị trí, tính thanh

Trang 11

khoản của quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, hạn chế hoặc từ chối TSBĐ

là hàng hóa, máy móc thiết bị khó quản lý, thanh khoản thấp,…

Cũng đang có ý kiến phản biện rằng nếu siết chặt điều kiện TSBĐ thì làm sao phát triểnđược dư nợ? Tuy nhiên, với tình hình hiện nay để bảo đảm an toàn tín dụng, giải pháp siết chặt điều kiện TSBĐ là lựa chọn phù hợp nhất vì:

• Tình hình thị trường bất động sản đang trong giai đoạn biến động thất

thường, giá cả thay đổi liên tục, ảnh hưởng đến tính thanh khoản;

• Sử dụng điều kiện TSBĐ siết chặt như một “hàng rào” sàng lọc khách hàng xấu từ các NHTM khác, nhất là từ các ngân hàng yếu kém sang

Trước thực trạng bức tranh kinh tế hiện nay, các chủ trương lớn của Chính phủ về tái

cơ cấu ngành, doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu NHTM, chính sách tài chính tiền tệ thận trọng… sẽ tác động đến hoạt động tín dụng của các NHTM Dẫu trong tình huống nào thì các biện pháp an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng vẫn là tiêu chí quan trọng để tăng năng lực tài chính của NHTM Với nhận thức đó, biện pháp TSBĐ trong cho vay hiện nay cần được coi trọng và đánh giá đúng mức để phòng ngừa rủi ro tín dụng

Ngày đăng: 01/06/2019, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w