1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KIỂM NGHIỆM mô HÌNH CHUYỂN HOÁ RỪNG TRỒNG mỡ (MANGLIETIA GLAUCA DANDY) cấp TUỔI III và IV (5 7 và 7 9 TUỔI) CUNG cấp gỗ NHỎ THÀNH RỪNG CUNG

22 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 255 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực chất của chuyển hoá rừng là chặt nuôi dưỡng rừng áp dụng đối vớicác lâm phần còn non và đã có trữ lượng với mục đích nâng cao sinh trưởng lâmphần và chất lượng gỗ.. Chặt nuôi dưỡng

Trang 1

Tên khoá luận:

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS.Vũ Nhâm

Sinh viên thực hiện: Phan Văn Lực

Lớp: 50C – Lâm Học

Hà Nội 2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐỀ CƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

KIỂM NGHIỆM MÔ HÌNH CHUYỂN HOÁ RỪNG TRỒNG MỠ

(MANGLIETIA GLAUCA DANDY) CẤP TUỔI III VÀ IV (5 -<7 VÀ 7-<9 TUỔI) CUNG CẤP GỖ NHỎ THÀNH RỪNG CUNG CẤP GỖ LỚN TRÊN

CƠ SỞ NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC RỪNG

TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG

Trang 2

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Mỡ (Manglietia glauca Dandy) với đặc điểm sinh trưởng nhanh, tỉa cành

tự nhiên tốt, tái sinh chồi mạnh trong 20 đến 25 năm đầu, có thể kinh doanh một,hai luân kỳ tiếp theo với năng suất cao Là một trong những loài cây gỗ có nhiềucông dụng, gỗ Mỡ dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp gỗ dán lạng, nguyênliệu giấy, gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, gỗ trụ mỏ…Chính vì vậy, đã từ lâu Mỡ đượcchọn là một trong những loài cây trồng chính ở hầu hết các tỉnh miền Bắc nướcta

Trong những năm gần đây cùng với các loài cây trồng khác, Mỡ đượctrồng tập trung ở các tỉnh thuộc vùng Trung tâm ẩm miền Bắc Việt Nam nhưLào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ với mục đích kinh doanhchủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy sợi

Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nướcnói chung, sự phát triển của Ngành Lâm nghiệp nói riêng, trong khi rừng tựnhiên đã cạn kiệt, không còn khả năng khai thác, nhu cầu về cung cấp gỗ đặcbiệt là gỗ lớn phục vụ công nghiệp chế biến ngày càng gia tăng thì việc nghiêncứu, xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp loại gỗ này lâu dài là hết sức cần thiết,không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu Tuynhiên, nếu tiến hành trồng mới từ bây giờ thì ít nhất 20 - 25 năm sau mới có thểcho khai thác gỗ lớn phục vụ công nghiệp chế biến

Hiện nay, tại Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn – Tuyên Quang có diện tíchrừng Mỡ rất lớn, được trồng với mật độ khá dày với mục đích cung cấp gỗ nhỏ.Nếu được chuyển hóa các loại rừng này thành rừng cung cấp gỗ lớn phục vụcông nghệ chế biến thì chỉ trong 5 - 10 năm tới chúng ta sẽ có nguồn cung cấploại gỗ này Không những làm tăng sản lượng gỗ đáp ứng nhu cầu gỗ ngày càngcao, giảm được chi phí trồng ban đầu, giảm quá trình xói mòn đất mà còn có thểtạo nguồn thu nhập lớn nhằm tái tạo rừng, tăng khả năng hấp thụ khí CO2 trongkhông khí, đạt hiệu quả cao về môi trường và góp phần nâng cao đời sống củangười dân

Trang 3

Năm 2007 một nhóm sinh viên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Nhâm

đã thực hiện đề tài “Quy hoạch chuyển hoá rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca

Dandy) cấp tuổi III và IV (5-<7 và 7-<9) cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn tại Lâm trường Yên Sơn - Huyện Yên Sơn – Tuyên Quang” Cho

đến nay cùng với sự thay đổi của thời gian, của khí hậu, thì các mô hình chuyển hoá đó phát triển như thế nào; có đi đúng hướng chuyển hoá hay không? cấu trúc có gì thay đổi thì chưa có một nghiên cứu nào về kiểm nghiệm các mô hình chuyển hoá rừng Mỡ ở Công ty Lâm Nghiệp Yên Sơn- Tuyên Quang Xuất phát

từ thực tế đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Kiểm nghiệm mô hình

chuyển hoá rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca Dandy) tuổi III và IV (5 - <7

và 7 - < 9 tuổi) cung cấp gỗ nhỏ thành rùng cung cấp gỗ lớn trên cơ sở

nghiên cứu cấu trúc rừng tại Công ty Lâm Nghiệp Yên Sơn – Tuyên Quang”.

Phần II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Một số nhận thức về loài Mỡ (Manglietia glauca Dandy), phân chia cấp tuổi và chuyển hoá rừng.

2.1.1 Một số đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị kinh tế của loài cây Mỡ.

Loài Mỡ có tên khoa học là Manglietia glauca Dandy, phân bố tự nhiên ởViệt Nam, Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan Ở nước ta, Mỡ phân bố nhiều ở cáctỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang Ngoài ra Mỡ còn phân bố ở các tỉnh khácnhư Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hoá Nghệ

An, Hà Tĩnh

Mỡ là loài cây ưa sáng, nhưng giai đoạn tuổi nhỏ biểu thị trung tính Cây

Mỡ có thân thẳng và tròn, chiều cao tới trên 20m, đường kính có thể đạt tới trên60cm, sinh trưởng nhanh ở giai đoạn 15 - 20 năm đầu Tán hình tháp, vỏ nhẵnmàu xanh xám, không nứt, lớp vỏ trong màu trắng ngà, thơm nhẹ Cành nonmọc gần thẳng góc với thân chính, màu xanh nhạt Lá đơn mọc cách, hình trứngngược hoặc trái xoan Phiến lá dài 15-20cm, rộng 4-6cm Hai mặt lá nhẵn, mặttrên là màu lục sẫm, mặt dưới nhạt hơn, gân lá nổi rõ Hoa màu trắng, mọc lẻ ởđầu cành, dài 6-8cm Bao hoa 9 cánh, 3 cánh bên ngoài có màu phớt xanh Nhị

Trang 4

nhiều, chỉ nhị ngắn Nhị và nhuỵ xếp sát nhau trên đế hoa hình trụ Nhuỵ cónhiều lá noãn rời xếp xoắn ốc tạo thành khối hình trứng, vòi nhuỵ ngắn Quả đạikép, nứt bung Mỗi đại mang 5-6 hạt Hạt nhẵn vỏ hạt đỏ thơm nồng.

Cây Mỡ sinh trưởng thích hợp ở những vùng có nhiệt độ trung bình hàngnăm khoảng từ 220C đến 240C, chịu được nhiệt độ tối cao là 420C và tối thấptuyệt đối là -10C, thích hợp với độ ẩm không khí hàng năm khoảng trên 80%,lượng mưa trung bình hàng năm từ 1400 - 2000mm Cây Mỡ mọc tốt ở nhữngvùng địa hình đồi thấp, đồi bát úp xen kẽ ruộng, độ cao so với mặt biển thườngdưới 400m Đất trồng Mỡ thích hợp nhất là đất feralit đỏ - vàng hoặc vàng - đỏphát triển trên phiến thạch sét hoặc phiến thạch mica, tầng đất sâu, ẩm, thoátnước, tơi xốp, nhiều mùn, thành phần cơ giới từ thịt đến sét nhẹ

Giá trị kinh tế: Gỗ Mỡ mềm, nhẹ, thớ thẳng, mịn, ít co rút, chịu được mưanắng, ít bị mối mọt, giác gỗ có màu trắng xám, lõi gỗ màu vàng nhạt hơi có ánhbạc Gỗ Mỡ thường được dùng làm nhà cửa, đóng đồ gia dụng, gỗ nguyên liệugiấy, gỗ trụ mỏ, gỗ dán, lạng, bút chì…

Mỡ trồng thành rừng ở Yên Bái vào năm 1932 Đến nay, Mỡ đã trở thànhloài cây quen thuộc được trồng thành rừng từ Hà Tĩnh trở ra Bắc Sau khi khaithác có thể kinh doanh rừng chồi Rừng Mỡ trồng thuần loài sau 20 tuổi tốc độsinh trưởng chậm rõ rệt

2.1.2 Phân chia cấp tuổi

Có nhiều cách phân chia cấp tuổi như: Phân chia cấp tuổi tự nhiên, phânchia cấp tuổi nhân tạo và phân chia cấp tuổi kinh doanh

Để tổ chức các biện pháp kinh doanh rừng người ta phân chia rừng theocấp tuổi nhân tạo, nghĩa là phân chia 3 năm, 5 năm hay 10 năm một cấp tuổi phụthuộc vào chu kỳ kinh doanh và tốc độ sinh trưởng của cây Việc phân chia cấptuổi này có ý nghĩa lớn trong tính lượng khai thác và đề xuất biện pháp kỹ thuậttác động vào nó

Số năm trong một cấp tuổi phụ thuộc vào từng loại cây nhưng không đượcquá nhỏ hoặc quá lớn mà phải đánh giá được tốc độ sinh trưởng của cây và có

Trang 5

biện pháp tác động nhằm thu được giá trị lớn nhất, phù hựp nhất với mục đíchkinh doanh và chu kỳ kinh doanh.

Mỡ là cây sinh trưởng nhanh, mỗi năm đường kính có thể tăng 1.4 – 1.6

cm Dựa vào đặc điểm sinh trưởng của loài Mỡ chúng tôi phân chia 3 năm mộtcấp tuổi Như vậy vừa đảm bảo phù hợp với mục đích kinh doanh và chu kỳkinh doanh

2.1.3 Chuyển hoá rừng

Chuyển hoá rừng là những tác động vào lâm phần hiện tại để chuyển hoá

nó thành những lâm phần đã được ấn định trước trong tương lai nhằm đạt đượcmục đích kinh doanh

Thực chất của chuyển hoá rừng là chặt nuôi dưỡng rừng áp dụng đối vớicác lâm phần còn non và đã có trữ lượng với mục đích nâng cao sinh trưởng lâmphần và chất lượng gỗ Điểm khác biệt giữa chặt nuôi dưỡng và chặt chuyển hoá

là trong chặt chuyển hoá người ta tiến hành chặt cả những cây có đường kínhnhỏ, cong keo sâu bệnh, mà vẫn đảm bảo được không gian dinh dưỡng lại đápúng được mục đích cung cấp gỗ lớn

2.2 Các nghiên cứu trên Thế giới về chặt nuôi dưỡng và cấu trúc rừng

2.2.1 Chặt nuôi dưỡng

Chặt nuôi dưỡng rừng là một khâu quan trọng trong việc điều khiển quátrình hình thành rừng và là biện pháp thay đổi định hướng phát triển của câyrừng và lâm phần trước khi thu hoạch nhưng không thay thế nó bằng một lâm

phần mới (K Wenger 1984) Như vậy, “chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính để nuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo điều kiện cho những cây phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng hình thân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng cao các chức năng

có lợi khác của rừng”.

Chặt nuôi dưỡng là một khái niệm tổng quát, bao gồm mọi biện pháp nhằmloại bỏ một cách có chọn lọc một số cây rừng hoặc một bộ phận cây rừng để mởrộng tán lá và phạm vi phân bố của hệ rễ cho các cây được giữ lại trong giaiđoạn nuôi dưỡng rừng Ở giai đoạn trước khi rừng thành thục, chặt nuôi dưỡngkhông chỉ hoàn thành chức năng chủ yếu của mình theo mục đích kinh doanh

Trang 6

mà trong nhiều trường hợp còn tạo ra những tiền đề thuận lợi cho quá trình táisinh phục hồi rừng và khai thác chính sau này Chặt nuôi dưỡng không đặt mụctiêu tái sinh rừng và thu hoạch sản phẩm trước mắt làm mục đích chính mà mục

tiêu có tính chiến lược là: “nuôi dưỡng những cây tốt nhất thuộc nhóm mục đích kinh doanh”.

Trên thế giới, nhiều nước đều quan tâm đến chặt nuôi dưỡng Chủng loại

và phương pháp chặt rất khác nhau, tên gọi cũng không giống nhau, nhưng ýtưởng là như nhau, nội dung tương tự nhau

Các nhà lâm nghiệp Mỹ (1925) cho rằng chặt nuôi dưỡng là quá trình ápdụng các nguyên tắc kỹ thuật lâm sinh và phương pháp kinh doanh để đạt đượcmục đích kinh doanh Nước Mỹ chia chặt nuôi dưỡng ra làm 5 loại:

(1) Chặt loại trừ, chặt những cây chèn ép, không dùng, thứ yếu

(2) Chặt tự do chặt bỏ những cây gỗ tầng trên;

(3) Chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng;

(4) Chặt chỉnh lý, chặt các loài cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởngkém;

(5) Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại

Năm 1950 Trung quốc đã ban hành quy trình chặt nuôi dưỡng chủ yếu làdựa vào các giai đoạn tuổi của lâm phần, đưa ra nhiệm vụ và quy định thời kỳchặt và phương pháp chặt nuôi dưỡng Thời kỳ phát triển khác nhau thì cây rừng

có những đặc điểm sinh trưởng khác nhau và do đó nhiệm vụ chặt nuôi dưỡngcũng ở mức độ khác

Phương pháp chặt nuôi dưỡng của Nhật bản thường chia làm 2 loại: Loạithứ nhất căn cứ vào ngoại hình cây rừng chia ra 5 cấp để tiến hành chặt nuôidưỡng; nhưng do kỹ thuật của mỗi người khác nhau nên khó đạt được mộttiêu chuẩn nhật định Loại thứ hai chia ra 3 cấp gỗ tốt, gỗ vừa và gỗ xấu vàyêu cầu phải có cùng đường kính trong không gian như nhau Phương phápnày đơn giản dễ thực hiện Ngoài ra năm 1970 áp dụng phương pháp cây ưuthế Phương pháp này đơn giản dễ làm, chủ yếu dựa vào giá trị sản xuất và lợiích hiện tại Ở Nhật Bản, người ta rất coi trọng chặt nuôi dưỡng, từ năm 1981

Trang 7

đến nay chặt nuôi dưỡng trở thành chính sách lớn nhất của Lâm nghiệp NhậtBản

Tuy nhiên áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chặt chuyển hoá cần phải quantâm đến điều kiện thực tế của lâm phần, nghĩa là chặt chuyển hoá là chặt nuôidưỡng nhưng cần phải bài chặt cả những cây có đủ không gian dinh dưỡngnhưng không có khả năng sinh trưởng thành gỗ lớn đồng thời chặt chọn ởnhững khoảng phân bố cụm

Các nhà lâm học Trung Quốc cho rằng: Trong khi rừng chưa thành thục đểtạo điều kiện cho cây gỗ còn lại sinh trưởng phát triển tốt, cần phải chặt bớt mộtphần cây gỗ Ngoài ra thông qua chặt bớt một phần cây gỗ mà thu được mộtphần lợi nhuận nên còn được gọi là “Chặt lợi dụng trung gian” (Chặt trunggian)

Như vậy, chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính để nuôi dưỡng rừng bằngcách chắt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo điều kiện cho những cây phẩm chấttốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng hình thân, tạo tán, tăng lượng sinhtrưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng cao các chức năng có lợi khác của rừng.Mục đích của chặt nuôi dưỡng đối với rừng trồng thuần loài là: Cải thiệnđiều kiện sinh trưởng của cây rừng; xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rút ngắn chu

kỳ chăm sóc cây rừng; loại bỏ được cây gỗ xấu nâng cao chất lượng lâm phần.Theo quy định chặt nuôi dưỡng rừng của Trung Quốc năm 1957, chặt nuôidưỡng chia làm 4 loại là: Chặt thấu quang, chặt loại trừ, chặt tỉa thưa và chặtsinh trưởng (Chất lượng gỗ chia làm 3 cấp)

Một số yếu tố kỷ thuật của chặt nuôi dưỡng gồm:

+ Các phương pháp chặt nuôi dưỡng:

Các nghiên cứu cho thấy phân bố số cây theo cấp kính đều theo phấn bốParabol hoặc gần Parabol Căn cứ vào độ lệch của đỉnh Parabol làm cơ sở xâydựng các phương pháp chặt nuôi dưỡng Phương pháp áp dụng có 3 loại: Chặtnuôi dưỡng tầng dưới, chặt nuôi dưỡng chọn lọc và chặt nuôi dưỡng cơ giới.+ Để tiến hành nưôi dưỡng trước hết phải phân cấp cây rừng Hiện nay chủyếu theo phân cấp của Kraff (1984) (Phương pháp này chia làm 5 cấp)

Trang 8

+ Xác định thời kỳ bắt đầu chặt nuôi dưỡng:

Để xác định kỳ bắt đầu chặt nuôi dưỡng cần phải tổng hợp tất cả các yếu tốnhư: Đặc tính sinh vật học của cây; điều kiện lập địa; mật độ lâm phận; tình hìnhsinh trưởng; giao thông vận chuyển; nhân lực và khả năng tiêu thụ gỗ nhỏ Từgóc độ sinh vật học, việc xác định kỳ bắt đầu chặt nuôi dưỡng thường dựa vàocác yếu tố sau:

- Mức độ phân hoá cây rừng: Việc xác định có thể dựa vào một số tiêu chísau: Phân cấp cây rừng; độ phân tán của đường kính lâm phần, tỷ lệ số cây lâmphần theo cấp kính

- Hình thái bên ngoài của lâm phần: Có thể căn cứ động thái hình tán hay

độ cao tỉa cành tự nhiên

+ Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng:

Cường độ chặt nuôi dưỡng là chặt bao nhiêu cây, để lại bao nhiêu cây cũng

là vấn đề thông qua việc chặt nuôi dưỡng điều chỉnh độ dày của lâm phần Xácđịnh được cường độ chặt nuôi dưỡng hợp lý trong kinh doanh rừng có một ýnghĩa rất lớn

* Thể hiện cường độ chặt nuôi dưỡng: Có 2 phương pháp

- Tính theo tỷ lệ thể tích gỗ cây chặt chiếm trong thể tích gỗ toàn lâm phầncủa mỗi lần chặt: Pv = v\V*100% (v là thể tích của cây chặt, V là sản lượng củalâm phần, Pv là cường độ chặt)

- Dựa vào tỷ lệ số cây mỗi lần chặt chiếm trong tổng số cây toàn lâm phần:

Pn = n\N*100% (Trong đó: n là số cây cần chặt, N là tổng số cây của lâm phần,

Pn là cường độ chặt)

* Xác định cường độ chặt nuôi dưỡng: Có 2 phương pháp

- Phương pháp định tính: Thường căn cứ vào phân cấp cây rừng, độ tàn chehay độ đầy của lâm phần để xác định cường độ chặt nuôi dưỡng

- Phương pháp định lượng: Căn cứ vào sinh trưởng của lâm phần và mốiquan hệ giữa các loài cây đứng trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Căn

Trang 9

cứ vào mật độ hợp lý mà xác định số lượng cây chặt hoặc bảo lưu Thường xácđịnh theo quy luật tương quan giữa đường kính chiều cao và tán cây.

+ Xác định cây chặt: Cần đào thải cây có phẩm chất xấu và sinh trưởngkém, để lại những cây sinh trưởng mạnh, cao lớn, tròn thẳng

+ Xác định kỳ giãn cách – Chu kỳ chặt nuôi dưỡng:

Kỳ giãn cách dài hay ngắn cần xem xét tốc độ khép tán và lượng sinhtrưởng hàng năm, cường độ chặt nuôi dưỡng càng lớn thì kỳ giãn cách càng dài

Kỳ giãn cách ở một số nước xác định từ 5 – 10 năm

2.2.2 Định lượng các quy luật cấu trúc lâm phần

Cấu trúc quần xã hợp lý là cơ sở quan trọng phát huy tối ưu hiệu ích củarừng Cấu trúc rừng bao gồm: Cấu trúc tầng thứ, cấu trúc nằm ngang, cấu trúcthẳng đứng và cấu trúc tuổi Cấu trúc rừng trồng có thể thông qua con người đểkhống chể đầy đủ

Trên thế giới ngay từ những năm đầu thế kỷ 20 đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về cấu trúc rừng nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh của conngười

Những nghiên cứu về cấu trúc rừng phát triển từ thấp đến cao, từ chỗnghiên cứu chủ yếu là mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng Chúng ta cóthể điểm qua một số công trình nghiên cứu trên thế giới như sau:

Catinot R và Plaudyi biểu diễn cấu trúc rừng bằng các phẫu đồ ngang vàđứng, Rollet 1971 đã đưa ra hàng loạt các phẫu đồ mô tả cấu trúc hình thái rừngmưa trong đó nghiên cứu tương quan giữa chiều cao và đường kính ngang ngực,tương quan đường kính tán và đường kính ngang ngực theo các hàm hồi quy.Richards PW 1952 phân biệt tổ thành thực vật thành 2 loại rừng mưa hỗn hợp vàrừng đơn ưu

- Phân bố D1.3-N.

(D1.3 : Đường kính thân cây ở vị trí 1.3m, N số cây)Reineke (1933) đã phát hiện đường kính tương quan với mật độ mà khôngliên quan tới điều kiện lập địa, theo phương trình:

Trang 10

LogN = -1,605 log D + k ( k là hằng số thích ứng của một cây nàođó).

Giữa Dg và N luôn tồn tại mối quan hệ mật thiết và thường được biểu thịdưới dạng N= a.Dlogb

Một số kết quả thực nghiệm của Smelko 1990 xác định mối quan hệ giữa

N và Dg cho một số loại sau:

Thực tiễn điều tra rừng cho thấy có thể dựa trên quan hệ H/D xác địnhchiều cao cho từng cỡ kính mà không cần đo toàn bộ

Trên thế giới mối quan hệ này được biểu thị rất phong phú theo các tácgiả Hohenald, Krenn, Michailoff, Naslund…

H= ao + a1D + a2D2

H -1.3 =D2/(D+ b.D2)H= a.Db

- Các mô hình chặt nuôi dưỡng trên thế giới đã hoàn thiện

- Chúng ta vận dụng các nghiên cứu đó vào chặt chuyển hoá rừng ở Việt Nam

Trang 11

2.3 Các nghiên cứu ở trong nước về chặt nuôi dưỡng và cấu trúc rừng.

2.3.1 Chặt nuôi dưỡng

Chặt nuôi dưỡng ở Việt Nam còn tương đối mới mẻ và phần lớn chủ yếunghiên cứu cho chặt nuôi dưỡng ở rừng thuần loài đều tuổi, tuy vậy các kếtquả bước đầu nghiên cứu đã giúp từng bước xây dựng thành công hệ thốngcác biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho chặt nuôi dưỡng rừng ở nước ta Một số

kỹ thuật chặt nuôi dưỡng cho rừng trồng đã được kiểm nghiệm trong thực tiễnsản xuất và được công nhận là tiêu chuẩn ngành như: Chặt tỉa thưa rừngThông nhựa, chặt tỉa thưa rừng Thông đuôi ngựa, chặt tỉa thưa rừng Mỡ…Một số kỹ thuật chặt nuôi dưỡng cho rừng trồng đã được kiểm nghiệm trongthực tiễn sản xuất và được công nhận là tiêu chuẩn ngành như: Chặt tỉa thưarừng Thông nhựa, chặt tỉa thưa rừng Thông đuôi ngựa, chặt tỉa thưa rừngMỡ…

Một số nhận định:

Chuyển hoá rừng là một khái niệm còn tương đối mới mẻ Thực chấtchuyển hoá rừng chính là chặt nuôi dưỡng và quá trình tỉa thưa đã được cácnước trên thế giới nghiên cứu trong một thời gian khá dài Tuy nhiên, do đặctính sinh vật học mỗi loài cây rừng khác nhau, cấu trúc rừng khác nhau, mật độrừng khác nhau và mục đích kinh doanh khác nhau mà cần có các biện pháp kỹthuật chuyển hoá khác nhau Ở Việt Nam, chuyển hoá rừng đã từng bước đượctiến hành ở một số đối tượng như; chuyển hoá rừng giống, chuyển hoá rừngthuần loài thành hỗn loài, chuyển hoá rừng trồng Keo lai nguyên liệu giấy thànhrừng gỗ công nghiệp[27]…Tuy nhiên, việc áp dụng vẫn còn hạn chế do gặp rấtnhiều khó khăn về kỹ thuật, vốn…Trong giai đoạn tới, quá trình tiến tới toàn cầuhoá sẽ làm cho tính cạnh tranh ngày càng cao, nhu cầu về lâm sản ngày càng giatăng đặc biệt đối với nhu cầu về gỗ lớn Vì vậy, việc chuyển hoá nhanh rừngcung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn là việc làm tiên quyết không nhữnggiúp cho ngành chế biến xuất khẩu gỗ nói riêng mà còn cho cả ngành LâmNghiệp nói chung

Ngày đăng: 31/05/2019, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w