1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại việt nam

194 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết là nghiên cứu của Lu và cộng sự 2006 về ảnh hưởng của MTĐT đến ý định đầu tư của các doanh nghiệp, sự khác biệt trong cách tiếp cận Lu và cộng sự 2006 là sự hình thành nhóm các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TỚI QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: KINH TẾ ĐẦU TƯ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2019

Người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh

PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt Nguyễn Mạnh Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trân trọng gửi tới Ban Giám hiệu, Viện SĐH cùng tập thể giảng viên, các nhà khoa học khoa Đầu tư trường đại học Kinh tế quốc dân lời cảm ơn sâu sắc bởi đã cho nghiên cứu sinh được trải nghiệm một môi trường nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, hết sức trách nhiệm và nghiêm túc

Tác giả xin dành sự tri ân chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt,

TS Đỗ Thị Thủy, những nhà khoa học đã hy sinh thời gian, tâm sức để chỉ dẫn, động viên tôi trong từng bước đi để hoàn thành luận án

Cảm ơn sự hỗ trợ quý giá của các cá nhân và tổ chức trong quá trình điều tra, khảo sát

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ trong công việc, thời gian phù hợp cũng như động viên và khích lệ rất lớn của tập thể lãnh đạo trường đại học Công nghiệp Hà Nội, các thầy cô giáo đồng nghiệp và người thân trong gia đình Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu 6

1.1.1 Tổng quan về môi trường đầu tư 6

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài về ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 10

1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam về ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 19

1.1.4 Đánh giá chung và khoảng trống nghiên cứu 22

1.2 Phương pháp nghiên cứu 24

1.2.1 Quy trình nghiên cứu 24

1.2.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 25

1.2.3 Thang đo 27

1.2.4 Mẫu và phương pháp nghiên cứu 31

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TỚI QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 40

2.1 Môi trường đầu tư và sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư 40

2.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư 40

2.1.2 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư 42

2.1.3 Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư 43

2.2 Quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 46

2.2.1 Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 46

2.2.2 Một số lý thuyết về quá trình ra quyết định đầu tư 51

Trang 6

2.2.3 Quyết định đầu tư và đặc điểm khác biệt trong việc ra quyết định đầu tư của

doanh nghiệp nhỏ và vừa 53

2.3 Ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 61

2.3.1 Chính trị - pháp luật 61

2.3.2 Cơ sở hạ tầng 65

2.3.3 Chi phí 66

2.3.4 Thị trường 67

2.3.5 Văn hóa xã hội 68

2.4 Kinh nghiệm thực tiễn và bài học cho Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư thúc đẩy đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 69

2.4.1 Thực tiễn tại một số quốc gia 69

2.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 75

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TỚI QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 78

3.1 Khái quát về các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn 2006-2017 78

3.2 Thực trạng môi trường đầu tư và ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 82

3.2.1 Môi trường đầu tư tại Việt Nam 82

3.2.2 Tình hình đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 91

3.2.3 Ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 98

3.3 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 105

3.3.1 Kết quả nghiên cứu định tính 105

3.3.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 107

3.3.3 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức 109

3.4 Bình luận kết quả nghiên cứu 119

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 124

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 125

4.1 Định hướng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 125

Trang 7

4.2 Một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm thúc đẩy đầu tư của

các DNNVV tại Việt Nam 128

4.2.1 Về chính trị - pháp luật 128

4.2.2 Nâng cao hiệu quả quản trị, thực hiện cam kết của chính quyền 132

4.2.3 Về tiếp cận cơ sở hạ tầng và một số nguồn lực đầu vào khác 134

4.2.4 Về chi phí 139

4.2.5 Về thị trường 141

4.2.6 Về văn hóa, xã hội 145

4.2.7 Một số đề xuất đối với các DNNVV 145

4.3 Hạn chế của luận án 147

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 148

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 158

Phụ lục 1 Một số kết quả tổng quan nghiên cứu 159

Phụ lục 2 Thông tin phỏng vấn sâu 161

Phụ lục 3 Phiếu khảo sát doanh nghiệp 165

Phụ lục 4 Khả năng khả năng tiếp cận và chi phí vay vốn của doanh nghiệp 170

Phụ lục 5 Tình hình đầu tư của các DNNVV giai đoạn 2006-2017 171

Phụ lục 6 Mã hóa thang đo (thang đo nháp 2) 173

Phụ lục 7 Thống kê khảo sát đánh giá của DNNVV về MTĐT 175

Phụ lục 8 Kết quả phân tích khám phá nhân tố lần 1 và lần 2 176

Phụ lục 9 Kết quả kiểm định 180

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Thứ tự Từ viết tắt Viết/nghĩa đầy đủ

1 ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

2 ĐKQLKD Đăng ký quản lý kinh doanh

3 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

4 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

6 PTDN Phát triển doanh nghiệp

8 VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các yếu tố cấu thành MTĐT 9

Bảng 1.2 Tóm tắt các biến trong mô hình 29

Bảng 1.3 Mô tả mẫu nghiên cứu định lượng 35

Bảng 3.1 Quy mô các DNNVV Việt Nam 79

Bảng 3.2 Chi phí lao động trong một số ngành nghề 88

Bảng 3.3 So sánh giá điện tại một số quốc gia 89

Bảng 3.4 Chi phí về thuế của một số quốc gia Châu Á năm 2017 90

Bảng 3.5 Quy mô vốn đầu tư hàng năm của các DNNVV giai đoạn 2006-2017 91

Bảng 3.6 Tỷ lệ tăng vốn đầu tư của DNNVV từ năm 2012 đến năm 2017 92

Bảng 3.7 Tình hình vốn đầu tư của các DNNVV phân bổ theo lĩnh vực 95

Bảng 3.8 Vốn đầu tư của DNNVV của một số địa phương 96

Bảng 3.9 Cơ cầu nguồn vốn của các DNNVV 97

Bảng 3.10 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo nháp 2 108

Bảng 3.11 Mô tả mẫu nghiên cứu 109

Bảng 3.12 Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo hoàn chỉnh 111

Bảng 3.13 Ma trận xoay nhân tố - EFA lần 2 114

Bảng 3.14 Kết quả kiểm định các mô hình nghiên cứu 117

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu Ảnh hưởng của MTĐT tới ý định đầu tư của doanh

nghiệp trong khu vực logistics quốc tế 8

Hình 1.2 Quy trình nghiên cứu của luận án 25

Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 26

Hình 3.1 Thực trạng DNNVV thành lập mới giai đoạn 2013-2017 78

Hình 3.2 Xu hướng quy mô vốn và quy mô lao động bình quân 80

Hình 3.3 Tỷ lệ thua lỗ tính theo quy mô doanh nghiệp giai đoạn 2007-2015 81

Hình 3.4 Số lượng DNNVV đăng ký thành lập và ngừng hoạt động giai đoạn 2012-2016 81

Hình 3.5 Đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam 85

Hình 3.6 Vốn đầu tư phân theo loại hình DNNVV 93

Hình 3.7 Kết quả hồi quy tổng thể 118

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Quyết định đầu tư là sự khởi nguồn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, giảm đói nghèo và cải thiện phúc lợi Chính vì vậy, các quốc gia luôn nỗ lực tìm cách thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư mạnh

mẽ, mà một trong các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu chính là cải thiện MTĐT Tuy nhiên, do tính đặc thù, mỗi loại hình doanh nghiệp lại có những động cơ và kỳ vọng khác nhau khi quyết định đầu tư, điều này làm cho việc cải thiện MTĐT trở nên phức tạp

và đầy thách thức khi vừa phải tính tới các yếu tố tổng thể chung, vừa phải thỏa mãn sự khác biệt giữa các đối tượng doanh nghiệp Với loại hình DNNVV, số lượng doanh nghiệp luôn áp đảo, xuất hiện ở hầu hết mọi khu vực địa lý, trong mọi lĩnh vực kinh doanh

và là chủ thể có đóng góp quan trọng với mọi nền kinh tế Do đó, trong quá trình cải thiện MTĐT hiện nay, các quốc gia đều quan tâm tới việc thúc đẩy đầu tư của DNNVV, gia tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này

Như một vấn đề nổi bật hiện nay, MTĐT tại các nước đang phát triển bị ảnh hưởng bởi cơ chế quản lý nhà nước chưa hoàn thiện, thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và cùng với đó là các chính sách, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu ổn định và rất khó dự đoán (Kinda và cộng sự, 2011; Dollar và cộng sự, 2005) Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào bối cảnh MTĐT tại một khu vực hay một nhóm các quốc gia, tìm kiếm

và giải thích các yếu tố nào có thể hấp dẫn và khiến một quốc gia nào đó trở thành nơi lựa chọn, triển khai các QĐĐT của doanh nghiệp đa quốc gia Các nghiên cứu này đã

có đóng góp được thừa nhận rộng rãi, thậm chí mang lại những thông tin cốt lõi giúp các quốc gia tạo lập một MTĐT hấp dẫn, tuy nhiên những thay đổi nhằm tác động tới các nhà đầu tư nước ngoài chưa hẳn đã thích hợp với các doanh nghiệp khác, nhất là đối tượng DNNVV có nhiều đặc trưng khác biệt Từ đó, việc cải thiện MTĐT ở cấp độ quốc gia, địa phương để phát triển kinh tế là thực sự cần thiết, nhưng đồng thời việc kiến tạo các điều kiện thuận lợi thúc đẩy đầu tư cần phải phù hợp với những đối tượng doanh nghiệp cụ thể mới có thể mang tới những hiệu quả thiết thực, kích thích đầu tư, giải phóng tiềm năng kinh tế Đối với các DNNVV cũng vậy, những điều kiện đầu tư phù hợp và thuận lợi là điều kiện thiết yếu để nâng cấp năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp cũng như của quốc gia (Altenburg và Stamm, 2008)

Tại Việt Nam, DNNVV chiếm xấp xỉ 97% tổng số doanh nghiệp cả nước, đầu

tư của DNNVV đang phát huy tốt vai trò thu hút các nguồn lực nhàn rỗi, tạo ra nhiều việc làm giúp kiểm soát thất nghiệp, cải thiện thu nhập người dân Dù cho hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư cho DNNVV từng bước được hoàn thiện, phần nào khiến

Trang 12

các doanh nghiệp có động lực, sự kỳ vọng để xây dựng và triển khai các QĐĐT ngày càng mạnh mẽ Minh chứng rõ ràng nhất là lượng vốn đầu tư và số lượng DNNVV gia tăng không ngừng mỗi năm Tuy nhiên, song song với đó, tỷ lệ DNNVV gặp khó khăn trong đầu tư kinh doanh, phải dừng hoạt động cũng rất cao, chiếm khoảng 2/3 các doanh nghiệp ra đời hàng năm Điều đó chứng tỏ rằng, DNNVV hiện nay còn phải đối diện với nhiều thách thức và trở ngại, đe dọa đến sự tồn tại và khả năng phát triển bền vững, ổn định Hiện trạng này nếu không được giải quyết, nó hoàn toàn có thể tạo ra hiệu ứng cảnh báo tới QĐĐT của các DNNVV Mặc dù chưa đề cập trực tiếp đến DNNVV, nhưng một số kết quả điều tra, nghiên cứu gần đây đã gợi mở về nguyên nhân của hiện trạng nói trên, mà MTĐT thiếu hoàn thiện là một trong số đó Tuyen T.Q & cộng sự (2016); Viet P.H (2013), Thuy & Dijk (2008) hay báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm của VCCI Việt Nam bước đầu đã chỉ rõ MTĐT còn nhiều khía cạnh tồn tại như hành lang chính sách pháp luật chưa hoàn thiện, chi phí không chính thức cao hay những vướng mắc trong tiếp cận đất đai, nguồn vốn, công nghệ và thị trường đầu ra Những hạn chế, tồn tại đó đang làm cho đầu tư của doanh nghiệp thiếu hiệu quả, gặp bất lợi về năng lực cạnh tranh (Phan Nhật Thanh, 2011)

MTĐT có thể ảnh hưởng quan trọng tới đầu tư của các DNNVV, nhưng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn thiếu những bằng chứng khoa học cụ thể Vấn đề cải thiện MTĐT nếu chỉ xét trên góc độ khác biệt giữa các quốc gia, hoặc xét chung cho tất

cả các loại hình doanh nghiệp sẽ rất khó để tạo ra một cơ chế hỗ trợ hiệu quả dành riêng cho các DNNVV với nhiều đặc trưng khác biệt Quan trọng hơn là làm rõ những mối quan hệ của các biến số trong MTĐT có ảnh hưởng thế nào tới quyết định đầu tư của các DNNVV trong phạm vi một quốc gia cụ thể như Việt Nam Qua đó mới có thể điều chỉnh chính xác và có hiệu quả các chính sách kiến tạo một MTĐT tốt hơn cho các doanh nghiệp này Đây là vấn đề không những quan trọng mà đang ngày càng trở nên bức thiết hơn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam

Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của

doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam” nhằm xem xét quyết định đầu tư các của

DNNVV có thực sự chịu ảnh hưởng bởi MTĐT không và ảnh hưởng cụ thể là gì sẽ có

ý nghĩa trên phương diện lý luận và thực tiễn trong bối cảnh tại Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Luận án khám phá các yếu tố MTĐT, làm rõ sự ảnh hưởng của môi trường đầu tới quyết định đầu tư của DNNVV tại Việt Nam Cụ thể là:

- Khám phá và xác định rõ các yếu tố cấu thành MTĐT: Chính trị-pháp luật; hiệu quả quản trị hành chính; cơ sở hạ tầng; chi phí; thị trường và văn hóa xã hội;

Trang 13

- Đánh giá thực trạng MTĐT, tình hình đầu tư của các DNNVV tại Việt Nam;

- Đo lường và phân tích ảnh hưởng của các yếu tố MTĐT đến quyết định đầu tư của DNNVV;

- Đề xuất giải pháp về MTĐT hướng tới thúc đẩy đầu tư của DNNVV tại Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

1 Những yếu tố nào của MTĐT có thể ảnh hưởng đến QĐĐT của DNNVV?

2 Thực trạng MTĐT và tình hình đầu tư của các DNNVV tại Việt Nam hiện nay thế nào?

3 MTĐT có ảnh hưởng như thế nào tới QĐĐT của các DNNVV tại Việt Nam?

Cụ thể là yếu tố nào đóng vai trò thúc đẩy và yếu tố nào cản trở?

4 Từ kết quả nghiên cứu, MTĐT cần cải thiện như thế nào để thúc đẩy các DNNVV tại Việt Nam đầu tư mạnh mẽ hơn?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận án tiếp cận và thực hiện các mục tiêu nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp Các đối tượng nghiên cứu chính bao gồm:

có vốn đầu tư nước ngoài

- Về không gian: Đối tượng khảo sát là giám đốc/phó giám đốc các DNNVV tại

05 tỉnh, thành tại Việt Nam Các tỉnh thành được chọn sẽ bao gồm cả đại diện của nhóm có sự phát triển kinh tế và có năng lực cạnh tranh từ cao đến trung bình và thấp

- Về thời gian: Luận án được thực hiện trong từ năm 2014 đến năm 2017, trong

đó, các nghiên cứu định tính và định lượng được triển khai trong 2 năm, năm 2016 và năm 2017

Trang 14

4 Khái quát về phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng (1) Nghiên cứu định tính được triển khai với hai nhiệm vụ chính Thứ nhất là kiểm nghiệm và hoàn thiện việc đo lường các khái niệm nghiên cứu Sau khi thực hiện tổng quan tài liệu để xây dựng mô hình và các thang đo, nghiên cứu thực hiện bước phỏng vấn sâu để tiếp tục thiện mô hình lý thuyết và thang đo này Nhiệm vụ chính là điều chỉnh các biến quan sát dự kiến hoặc khám phá, bổ sung các biến quan sát mới cho phù hợp với các khái niệm nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu này, nghiên cứu vận dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu 10 Giám đốc các DNNVV trên địa bàn Hà Nội, Hải Dương và 05 chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư Thứ hai, là phân tích, tổng hợp thực trạng MTĐT, thực trạng đầu tư của các DNNVV và đánh giá ảnh hưởng từ MTĐT đến đầu tư của DNNVV Mục tiêu này đạt được qua việc phân tích, tổng hợp và đánh giá các thông tin, số liệu thứ cấp

(2) Luận án tiến hành bước nghiên cứu định lượng theo hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định lượng sơ bộ để hoàn thiện thang đo và nghiên cứu định lượng chính thức để phân tích, trả lời câu hỏi nghiên cứu Trong cả hai giai đoạn này, phương pháp khảo sát để thu thập dữ liệu đều được sử dụng

Nội dung cụ thể của mỗi phương pháp sẽ được đề cập chi tiết trong phần phương nghiên cứu ở chương 1

5 Những đóng góp mới của luận án

Về mặt lý thuyết: Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nội hàm của MTĐT,

từ mỗi yếu tố thành phần đã được nhận diện luận án chỉ rõ khả năng ảnh hưởng của chúng tới tới quyết định đầu tư của DNNVV Kết quả nghiên cứu thực nghiệm góp phần củng cố lại lý thuyết cũng như đã có những phát hiện mới: Thứ nhất, việc phát hiện và hình thành thang đo biến độc lập mới là “hiệu quả quản trị hành chính” của các cấp chính quyền đã nói nên rằng, MTĐT với quyết định đầu tư của DNNVV được xem xét bởi 6 khái niệm thành phần thay vì 5 khái niệm như dự kiến ban đầu Thứ hai, luận

án đánh giá được mức độ ảnh hưởng từng yếu tố thành phần MTĐT tới quyết định đầu

tư của DNNVV tại Việt Nam

Về thực tiễn: Ngoài mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án còn có ý

nghĩa về mặt thực tiễn trong việc cải thiện MTĐT để thúc đẩy đầu tư của các DNNVV tại Việt Nam:

Thứ nhất, luận án đã tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng MTĐT và đầu

tư của các DNNVV tại Việt Nam Những thành quả, hạn chế trong việc cải thiện

Trang 15

MTĐT được phân tích rõ và liên hệ với sự biến đổi về đầu tư của các DNNVV Kết quả này cũng cung cấp các định hướng, cảnh báo những vấn đề chính yếu cần giải quyết trong việc xây dựng hay cải thiện MTĐT hiệu quả, giúp DNNVV vượt qua khó khăn, rào cản và tiếp tục gia tăng đầu tư

Thứ hai, chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố MTĐT tới quyết định đầu tư của DNNVV tại Việt Nam đã được xác lập rõ ràng sau khi nghiên cứu thực nghiệm được hoàn thành Điều này cung cấp các thông tin, căn cứ khoa học giúp cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng, cải thiện MTĐT thúc đẩy đầu

tư hiệu quả hơn, hiện thực hóa mục tiêu kinh tế quốc gia và các tỉnh, thành phố trong

cả nước

Thứ ba, luận án đề xuất được các giải pháp cải thiện MTĐT nhằm thúc đẩy đầu

tư của các DNNVV tại Việt Nam

6 Bố cục của luận án

Toàn bộ nội dung nghiên cứu của luận án bao gồm 04 chương:

Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2 Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của MTĐT tới quyết định đầu tư của DNNVV Chương 3 Thực trạng ảnh hưởng của MTĐT tới quyết định đầu tư của DNNVV tại Việt Nam

Chương 4 Giải pháp cải thiện MTĐT nhằm thúc đẩy đầu tư của các DNNVV tại Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về môi trường đầu tư

Việc kiến tạo một MTĐT thuận lợi, thúc đẩy đầu tư không chỉ là chìa khóa tạo

ra thành công dưới góc độ doanh nghiệp mà còn là nền tảng trong việc nâng tầm cạnh tranh, tiếp thêm sức mạnh thúc đẩy tăng trưởng một nền kinh tế Theo cách hiểu khái quát, MTĐT sẽ bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Do đó, MTĐT tốt phải đảm bảo cho việc tiến hành tất cả các công đoạn của một QĐĐT thuận lợi, quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hóa được diễn ra suôn sẻ và cuối cùng là dẫn đến lợi nhuận

Một số nghiên cứu xem xét MTĐT là một tập hợp đa yếu tố độc lập phản ánh toàn diện về môi trường đầu như: Kinda và cộng sự (2011); Dollar và cộng sự (2004),

M Phillips (2006) và một số nghiên cứu khác Các nghiên cứu chú trọng thảo luận về vai trò của MTĐT với tăng trưởng kinh tế, khả năng cạnh tranh, giảm nghèo của các quốc gia, qua đó đề xuất giải pháp cải thiện MTĐT trong bối cảnh các quốc gia đang phải đối diện với áp lực ngày càng lớn hơn của toàn cầu hóa Cách tiếp cận này giúp các tác giả xem xét chi tiết từng nội dung cũng như đánh giá các ảnh hưởng của chúng tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, tới nền kinh tế

Ở góc độ tiếp cận khác, một số nghiên cứu đã tiến hành kết hợp các biến số về MTĐT thành các nhóm chỉ số thành phần, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan tới hành vi QĐĐT của doanh nghiệp Li và Li (1999), khi nghiên ảnh hưởng của MTĐT tới việc thu hút FDI đã tiếp cận MTĐT theo hai nhóm là các yếu tố “cứng” và các yếu tố “mềm” Các yếu tố “cứng” hàm ý một môi trường vật chất bao gồm các yếu tố như tài nguyên thiên nhiên và năng lượng, hạ tầng viễn thông Các yếu tố “mềm” phản ánh các yếu tố phi vật chất như kinh tế, chính trị và pháp lý, quản lý và các vấn

đề văn hóa Cách tiếp cận, phân chia này dựa theo bản chất vật lý của các yếu tố thành phần MTĐT

Theo Stern (2002), MTĐT được xác định bởi chính sách, thể chế và các hành

vi của chính quyền cả trong hiện tại và dự kiến có ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi

ro hoạt động đầu tư Từ đó, Stern (2002) quan niệm rằng MTĐT bao gồm 3 nhóm yếu tố lớn là:

Trang 17

1) Kinh tế chính trị, bao gồm sự ổn định xã hội và chính trị, sự ổn định kinh tế

vĩ mô, tính mở của nền kinh tế và tính cạnh tranh của thị trường

2) Tính hiệu quả của hệ thống quản trị như sự minh bạch và hiệu quả trong việc thực thi hệ thống pháp luật, các quy định về thuế hay lĩnh vực tài chính Ngoài ra nó cũng bao gồm việc đảm bảo có một thị trường lao động linh hoạt, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận lao động chất lượng, có tay nghề cao

3) Cơ sở hạ tầng: Gồm nhiều lĩnh vực như giao thông vận tải, viễn thông, điện

và nước

Theo cách tiếp cận này, ngoài các thành phần “cứng” và “mềm” như nghiên cứu của Li và Li (1999), Stern (2002) đã tách riêng yếu tố hiệu quả quản trị hành chính của chính quyền ra khỏi nhóm các yếu tố “mềm” Cách tiếp cận này phân biệt

và chú trọng tới tính hiệu quả trong việc thực thi hệ thống pháp luật, chính sách của mỗi quốc gia, địa phương Đây cũng là vấn đề được quan tâm bởi khá nhiều nghiên cứu, nhất là tại các nước đang phát triển với nhiều vấn đề đặt ra về năng lực điều hành nền kinh tế

Trong nỗ lực nhận diện cụ thể hơn sự ảnh hưởng của MTĐT, một số nghiên cứu khi xem xét khả năng doanh nghiệp đưa ra lựa chọn và QĐĐT đã làm rõ sự hiện diện của một số yếu tố khác, ví dụ như nghiên cứu của Lu và cộng sự (2006), Jose và cộng sự (2007)

Trước hết là nghiên cứu của Lu và cộng sự (2006) về ảnh hưởng của MTĐT đến ý định đầu tư của các doanh nghiệp, sự khác biệt trong cách tiếp cận Lu và cộng

sự (2006) là sự hình thành nhóm các yếu tố về chi phí (Hình 1.1) Trên góc độ ra QĐĐT, chi phí sẽ là một trong rào cản đầu tiên mà chủ thể đầu tư phải xem xét và vượt qua Một cơ hội đầu tư tốt là chưa đủ để ra quyết định thực hiện khi doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng được khoản chi phí đầu tư dự kiến, cho dù các yếu tố khác của MTĐT là rất thuận lợi Cách tiếp cận của Lu và cộng sự tạo điều kiện xem xét phản ứng của nhà đầu tư trong bối cảnh có sự tác động của mỗi yếu tố kể trên, qua đó đánh giá sát thực sự ảnh hưởng của chúng tới hành vi đầu tư dự kiến của doanh nghiệp Khi đánh giá các cơ hội và ra QĐĐT, ngoài các yếu tố nội bộ như chiến lược, khả năng về nguồn lực thì còn các yếu tố khác trực tiếp ảnh hưởng đến đầu vào, đầu ra có liên quan trực tiếp đến khả năng thành công của công cuộc đầu tư nên chúng cũng cần được xem xét cụ thể Nhóm yếu tố về chính trị vẫn tương tự như nhóm yếu tố “mềm” trong nghiên cứu Li và Li (1999), nhóm này quy định các

Trang 18

khuôn khổ, hành vi bắt buộc nhà đầu tư phải tuân thủ, được coi như luật chơi của các nhà đầu tư Các yếu tố còn lại cũng cần được xem xét như: nhóm các yếu tố về hạ tầng

có ảnh hưởng tới cả đầu vào và đầu ra, nhóm yếu tố chi phí quy định đầu vào và nhóm yếu tố thị trường tương ứng với đầu ra

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu Ảnh hưởng của MTĐT tới ý định đầu tư của doanh

nghiệp trong khu vực logistics quốc tế

Nguồn: Chin-Shan Lu và cộng sự, 2006

Với Jose và cộng sự (2007), cách tiếp cận về MTĐT khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới QĐĐT của các doanh nghiệp đa quốc gia là khá tương đồng với Lu và cộng sự (2006) Lu và cộng sự (2006) đã quan niệm và thiết lập MTĐT bởi 4 nhóm yếu tố chính với 14 yếu tố thành phần, trong khi đó, Jose và cộng sự (2007) xác lập 5 yếu tố với gồm 20 yếu tố thành phần (Bảng 1.1)

Như vậy, với Jose và cộng sự (2007), MTĐT được thiết lập không chỉ bởi 4 yếu tố cấu thành như Lu và cộng sự (2006) mà nghiên cứu này đã chứng minh sự tồn tại của các yếu tố về văn hóa xã hội như một khái niệm riêng trong MTĐT Jose

và cộng sự (2007) xác lập 5 yếu tố của MTĐT giải thích QĐĐT các doanh nghiệp

đa quốc gia: Chi phí; Thị trường; Hạ tầng; Chính trị và văn hóa xã hội Trong đó, yếu tố văn hóa xã hội đã được tách ra và xem xét cụ thể thông qua đánh giá của doanh nghiệp về tiêu chuẩn sinh hoạt và dịch vụ công cộng, cùng với thái độ của cộng đồng với doanh nghiệp và sự tương đồng về văn hóa Thực chất thì cả 5 yếu

tố này đều được các nghiên cứu đề cập ở một góc độ nào đó, nhưng Jose và cộng sự (2007) đã làm rõ thêm rằng đó là các yếu tố quan trọng cấu thành nên MTĐT, khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc trong suốt hành trình tìm kiếm cơ hội, triển khai thực hiện đầu tư

Trang 19

Bảng 1.1 Các yếu tố cấu thành MTĐT

Các biến

số MTĐT

Các quan sát Chin-Shan Lu và cộng sự, 2006 Galan và cộng sự, 2007

Chính trị

Chính sách hỗ trợ, đảm bảo cho nhà

Hạ tầng

hợp tác

chuyên môn

cụm công nghiệp phát triển…)

Chi phí

Chi phí vận chuyển / hậu cần thấp

Thị

trường

Mức độ cạnh tranh trong thị trường thấp

Văn hóa

xã hội

Tiêu chuẩn sinh hoạt và dịch vụ công cộng Thái độ của cộng đồng với doanh nghiệp

Sự tương đồng về văn hóa

Nguồn: Tổng hợp theo Chin-Shan Lu và cộng sự, 2006; Galan và cộng sự, 2007

Nhìn chung, việc xác lập các yếu tố cấu thành nên MTĐT là rất đa dạng, tùy vào mục đích và bối cảnh của các nghiên cứu Trong khi việc chỉ rõ và cụ thể hóa cao

có thể thuận lợi cho việc nhìn nhận chi tiết về MTĐT, tuy vậy nó cũng có những hạn chế là dễ bỏ sót các yếu tố, đồng thời việc đưa một lượng lớn các biến số có thể dẫn

Trang 20

đến việc phân tích MTĐT bị phân tán, đặc biệt nếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ gặp vấn đề đa cộng tuyến và làm cho các phân tích kinh tế gặp nhiều khó khăn (Escribano và Hacihasanoglu, 2012) Trong khi đó việc phân nhóm các yếu

tố theo phạm trù đặc trưng chẳng hạn như của Galan và cộng sự (2007) có thể giúp các nghiên cứu thảo luận hiệu quả hơn về vai trò của chúng, việc xây dựng các chính sách cải thiện MTĐT cũng do đó mà thuận lợi và thiết thực hơn Từ đó, nghiên cứu sẽ tiếp cận MTĐT dưới 5 nhóm yếu tố chính bao gồm: 1) Chính trị - pháp luật; 2) Cơ sở hạ tầng; 3) Chi phí; 4) Thị trường; 5) Văn hóa xã hội

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài về ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhiều công trình khoa học trước đây gồm có các lý thuyết như lý thuyết chiết trung, lý thuyết thể chế, lý thuyết marketing địa phương cùng nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã góp phần làm rõ nhiều khía cạnh ảnh hưởng của MTĐT tới QĐĐT của các doanh nghiệp Trong các công trình này, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định xem yếu tố nào ảnh hưởng đến QĐĐT và ảnh hưởng ở mức

độ nào Trong khi một số nghiên cứu dựa trên các số liệu thứ cấp (Liu và Pang, 2009) hoặc nghiên cứu điển hình, phỏng vấn cá nhân (Ekanem 2005; Newell và Seabrook 2006) thì cũng có nhiều nghiên cứu dựa trên số liệu khảo sát như: Bialowolski 2009; Enoma và Mustapha 2010; Gill và cộng sự 2012 và nhiều nghiên cứu khác Các mô hình nghiên cứu được tìm thấy cũng khá đa dạng, Newell và Seabrook (2006) sử dụng mô hình ra quyết định đa tiêu chí để đánh giá các trọng số gắn liền với mỗi yếu tố ảnh hưởng đến việc ra QĐĐT, ưu điểm của mô hình này là tập trung vào hành vi ra QĐĐT, cho phép xem xét tất cả các yếu tố môi bên trong, bên ngoài của chủ thể ra quyết định, kể cả đặc điểm cá nhân nhà đầu tư Trong khi đó các nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của MTĐT thường sử dụng các mô hình phân tích các thành phần chính của MTĐT trong mối quan hệ với các việc ra quyết định của các doanh nghiệp (Chẳng hạn như Enoma và Mustapha, 2010; Gill và cộng sự, 2012; Galan và cộng sự, 2007; Bialowolski, 2013) Với những cách tiếp cận và phương pháp khác nhau các nghiên cứu trước đây đã cung cấp nhiều cơ sở về MTĐT

có thể ảnh hưởng tới QĐĐT của doanh nghiệp

1.1.2.1 Chính trị - pháp luật

Nhiều nghiên cứu đã bàn thảo về ảnh hưởng của yếu tố này ở những khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau:

Trang 21

Kaufmann và cộng sự (2008) cho rằng thể chế chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến việc thiết lập, duy trì hệ thống pháp lý ổn định và do đó có ảnh hưởng cùng chiều đến việc các doanh nghiệp QĐĐT Thậm chí, so với các yếu tố về kinh tế, Schneider và Frey (1985) đánh giá thể chế chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến QĐĐT của doanh nghiệp Henisz (2000) cho rằng, các tập đoàn đa quốc gia nhìn nhận sự bất ổn thể chế chính là một loại rủi ro, và do đó mà các tập đoàn sẽ QĐĐT tại một nơi không chỉ dựa trên sự giàu có với một dân số lớn mà còn dựa trên việc ở quốc gia đó có những nguyên tắc chính trị đáng tin cậy hay không Nói chung, khi thể chế chính trị tại một quốc gia vững mạnh thì mới có khả năng duy trì tính ổn định các cam kết với doanh nghiệp và nhà đầu tư, kể cả các vấn đề về pháp luật và các chính sách ưu đãi Trong trường hợp đó, nó cho phép các nhà đầu tư dự báo được những lợi ích và rủi ro đối với hoạt động đầu tư của mình, ngược lại nó sẽ tạo ra sự bất trắc và cản trở các QĐĐT Nghiên cứu của Hallward-Driemeier và cộng sự (2006) nhấn mạnh thêm điều này khi chỉ ra rằng sự ổn định chính trị cùng với sự linh hoạt trong chính sách của chính phủ là hai yếu tố quan trọng với QĐĐT hơn các yếu tố khác

Về pháp luật, theo Seyoum và Lin (2015); Khadarool và Seetanah (2010); Jose (2007); Dollar và cộng sự (2005) cùng nhiều nhà nghiên cứu khác, một hệ thống luật pháp đủ mạnh sẽ mang lại sự yên tâm về các quyền sở hữu, an toàn tài sản và do đó sẽ

là yếu tố kích thích các doanh nghiệp QĐĐT Tất cả các vấn đề không chắc chắn tiềm

ẩn trong môi trường pháp lý sẽ làm cho các nhà đầu tư tiềm năng cảnh giác Chẳng hạn như khi họ không tin rằng hệ thống tòa án có thể đảm bảo sự công bằng hoặc họ thiếu niềm tin về việc hệ thống tư pháp của một quốc gia sẽ thực thi các quyền hợp đồng và tài sản của họ, tất cả những điều đó tạo ra sự bất trắc ngăn chặn hoạt động đầu

tư tiềm năng bởi chúng làm tăng rủi ro và chi phí kinh doanh của họ (ADB, 2005)

Ở một khía cạnh khác, việc lựa chọn hình thức đầu tư của doanh nghiệp cũng

có thể chịu sự ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị, pháp luật Về cơ bản, các nghiên cứu cho thấy môi trường quản trị với hệ thống pháp luật mạnh sẽ có lợi cho FDI Chẳng hạn như Globerman và Shapiro (2003) lập luận rằng cơ sở hạ tầng quản trị tốt có thể bao gồm một hệ thống pháp lý hiệu quả, công bằng và minh bạch trong việc bảo vệ tài sản và quyền của nhà đầu tư, đó chính là điều kiện khuyến khích FDI Kết quả nghiên cứu của Shaomin Li và Larry Filer (2007) lại cho thấy rằng, ở các quốc gia có các quy tắc pháp luật còn yếu, các nhà đầu tư sẽ dành sự ưu tiên cho các khoản đầu tư trực tiếp hơn là đầu tư gián tiếp Tác giả cho rằng đối với đầu tư trực tiếp, do nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý nên khi nhà nước không thể cung cấp và thực thi các điều khoản pháp luật vô tư và hiệu quả thì với hình thức đầu tư này họ vẫn có thể bảo vệ hiệu quả

Trang 22

khoản đầu tư của mình Ngược lại, các nhà đầu tư có xu hướng tránh thực hiện các khoản đầu tư gián tiếp bởi rủi ro sẽ tăng cao khi chính phủ không duy trì được các chuẩn mực chung như thiếu thông tin công cộng đáng tin cậy, chuẩn mực kế toán và kiểm toán thấp, hoạt động của các công ty niêm yết công khai kém minh bạch và thông tin tài chính dễ dàng bị thay đổi bởi những người trong cuộc Điều này đặt các cổ đông thiểu số như các nhà đầu tư đầu tư gián tiếp vào một vị trí bất lợi do thiếu các biện pháp bảo vệ cần thiết khi có tranh chấp trước các hành vi gian lận hoặc cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, lập luận của Shaomin Li và Larry Filer (2007) đối mặt với nhiều vấn đề trên thực tế, họ chưa luận giải được tại sao trên thực tế nhiều nước có

hệ thống pháp luật mạnh vẫn thu hút đầu tư trực tiếp mạnh mẽ hơn, hay nếu có tranh chấp thì làm thế nào mà các nhà đầu tư có thể tự bảo vệ lợi ích của mình chỉ bằng việc chủ động phát triển và sử dụng các công cụ kiểm soát rủi ro khi mà thiếu đi sự can thiệp của một hệ thống pháp luật mạnh Chính vì vậy, về cơ bản các nghiên cứu trước đây ủng hộ quan điểm hệ thống pháp luật tốt sẽ thúc đẩy đầu tư

Ngoài khía cạnh thể chế chính trị và luật pháp, các nghiên cứu cũng quan tâm thảo luận tới các chính sách ưu đãi đầu tư S.Ayele (2006) cho rằng, chính sách ưu đãi

có thể ảnh hưởng tích cực trong việc gia tăng quy mô và định hướng ngành nghề đầu tư của doanh nghiệp Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào mức độ ưu đãi trong các chính sách, khoảng thời gian được hưởng và nhận thức của doanh nghiệp về các chính sách Tuy nhiên, S.Ayele (2006) cũng lưu ý rằng, ưu đãi đầu tư là công cụ chính sách có sức ảnh hưởng yếu, do đó các nước đang phát triển cần thận trọng khi ban hành các văn bản này Một vài nghiên cứu khác cũng có quan điểm tương tự, cụ thể như:

Nghiên cứu của Jensen (2003) cho thấy, việc chính phủ triển khai các chính sách nới lỏng các quy định chẳng hạn giảm các tiêu chuẩn, quy định về môi trường, trong sử dụng lao động để kích thích đầu tư trong ngắn hạn không phải là cách làm có hiệu quả Jensen (2003) lập luận rằng, ở các nước phát triển mặc dù các tiêu chuẩn đó là rất nghiêm ngặt so với các nước đang phát triển, họ vẫn thu hút đầu tư hiệu quả Tương

tự, Chen (2007, dẫn theo Xianming Yang) đã chứng minh, một số chính sách ưu đãi, ví

dụ ưu đãi về thuế không thể bù đắp được sự thiếu hụt, yếu kém của các khía cạnh còn lại trong MTĐT Chỉ khi các yếu tố khác, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng, chi phí vận chuyển,

và sự ổn định chính trị và kinh tế được đảm bảo và có sự đồng đều tương đối giữa các địa phương, chính sách thuế mới tác động đáng kể vào quyết định của nhà đầu tư Không những vậy, trong những trường hợp đặc biệt chính sách thuế của chính phủ không hẳn có tác động nhiều đến động lực đầu tư, chẳng hạn như trường hợp doanh nghiệp có khả năng thực hiện các hành vi chuyển giá dễ dàng ở một quốc gia nào đó

Trang 23

Christian (2009) cho rằng ở cấp độ địa phương, các chính sách thúc đẩy đầu tư giống như một cuộc chạy đua tăng cường khả năng cạnh tranh lãnh thổ, nó giống như

“săn trộm đầu tư” hay “bần cùng hóa địa phương láng giềng” Bởi vì, khi các địa phương

cố gắng cải thiện các chính sách càng làm cho các nhà đầu tư dễ dàng thay đổi QĐĐT sang các địa phương khác nhau để tận dụng lợi thế mới Đây là một cuộc chạy đua lãng phí và đồng thời chúng không có tác động hoặc tác động không đáng kể đến kết quả thu hút, thúc đẩy đầu tư (Markusen và Nesse, 2007; M Rogerson, 2009) Trong trường hợp

đó, chính phủ cần áp dụng các chính sách kiểm soát và hạn chế cạnh tranh giữa các địa phương, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và coi trọng trách nhiệm giải trình Các chính sách đầu tư tại mỗi địa phương cũng phải được xây dựng có tính liên thông và chạy song song với chiến lược phát triển của các địa phương khác Tức là phải gắn cải thiện MTĐT địa phương trong bối cảnh môi trường chung, nhằm giải quyết tắc nghẽn nguồn vốn của nhà đầu tư khu vực tư nhân trong nước

Ngoài ra, khi bàn tới nhóm yếu tố chính trị-pháp luật, các nghiên cứu cũng quan tâm tới hiệu quả điều hành, thực hiện cam kết của chính phủ, các cơ quan hành chính Nổi bật nhất trong phạm trù hiệu quả điều hành, thực hiện cam kết của các cấp chính quyền là quan liêu và tham nhũng Wei (2000) đã chứng minh sự tồn tại của mối quan

hệ tiêu cực giữa mức độ tham nhũng với dòng vốn FDI Tại một quốc gia đang phát triển, nghiên cứu của ADB (2005), Hallward và cộng sự (2007) cũng cho thấy các doanh nghiệp coi tham nhũng, quan liêu là hạn chế đặc biệt nghiêm trọng, làm tăng chi phí, gia tăng thời gian và sự bất trắc trong việc áp dụng các quy định của chính phủ, và

do đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiên cứu đều cho rằng tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư Nghiên cứu của Dollar và cộng sự (2005) về MTĐT của các nước đang phát triển cho thấy, tham nhũng không tạo ra sự khác biệt trong thu hút đầu tư giữa các quốc gia hoặc giữa các địa phương trong một quốc gia, thực tế là các quốc gia đang phát triển đang song hành với nạn tham nhũng vẫn thu hút đầu tư rất mạnh mẽ

Ngoài tham nhũng, vấn đề công bằng, minh bạch và thời gian thực thi các chính sách cũng được đặt ra trong điều hành của các tổ chức chính quyền Oum và Park (2004) đã chứng minh rằng đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài tại Hàn Quốc bị hạn chế vì sự phân biệt so với doanh nghiệp trong nước Nếu chính quyền gần gũi hơn với doanh nghiệp, duy trì được sự công bằng và tính minh bạch sẽ là động lực thúc đẩy đầu tư Đồng thời, nếu thời gian thực hiện các thủ tục hành chính và cung cấp các dịch

vụ công bị trì hoãn, kéo dài sẽ làm giảm sự tăng trưởng của các khoản đầu tư (ADB, 2005; Hallward-Driemeier và cộng sự, 2007)

Trang 24

1.1.2.2 Cơ sở hạ tầng

Có khá nhiều nghiên cứu thừa nhận cơ sở hạ tầng có vai trò lớn trong việc thúc đẩy doanh nghiệp QĐĐT như Root và Ahmed (1979), Wheeler và Mody (1992), Dunning (1981, 1988,1993), Lu và cộng sự (2006), Dollar và cộng sự (2005), Ching-Chiao Yang (2006), Mary Hallward-Driemeier (2006), Khalid Sekkat (2007), A.J.Khadarool và B Seetanah (2010) và nhiều nghiên cứu khác

Root và Ahmed (1979) và Wheeler và Mody (1992) là hai trong những nghiên cứu đầu tiên khẳng định cơ sở hạ tầng có khả năng tác động lớn với QĐĐT của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài QĐĐT sẽ được đưa ra khi họ được thỏa mãn và thấy được rằng nơi đầu tư dự kiến có được ưu thế nhất định về cơ sở hạ tầng hơn các địa điểm khác Đó là lợi thế quan trọng mà các doanh nghiệp nước ngoài mong muốn tìm kiếm trước khi vận hành hoạt động đầu tư của mình (Dunning, 1981; 1988; 1993) Haughwout (2001) chỉ rõ, ngay cả khi cơ sở hạ tầng không có vai trò trực tiếp trong cơ cấu chi phí và năng suất của các công ty tư nhân, vẫn có nhiều bằng chứng về sự ảnh hưởng gián tiếp từ cơ sở hạ tầng giúp doanh nghiệp hạ thấp chi phí, cải thiện hiệu quả đầu tư Tương tự, nghiên cứu của Dollar và cộng sự (2005), Hallward-Driemeier và Wallsten (2006) thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn các doanh nghiệp để xem xét các chỉ

số MTĐT cho thấy cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua các chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp, hiệu suất đầu tư, tăng trưởng việc làm Lu và Yang (2006) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa cơ sở hạ tầng và ý định phát động đầu tư của doanh nghiệp trong khu vực hậu cần quốc tế Nếu một khu vực tăng cường cơ sở hạ tầng bao gồm cả cơ sở hạ tầng cứng như thông tin liên lạc và cung cấp năng lượng và cơ sở hạ tầng mềm như các thông tin và kỹ năng lao động, các nhà đầu tư tiềm năng sẽ sẵn sàng để đầu tư vào khu vực đó Thêm vào đó là của Jose và cộng sự (2007), dựa trên phân tích mẫu với 103 doanh nghiệp đa quốc gia Tây Ban Nha trong QĐĐT của họ tại các nước Mỹ La Tinh và Liên Minh Châu Âu, kết quả cho thấy các nhà quản lý doanh nghiệp gán một vai trò trung tâm đối với yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ khi họ QĐĐT tại các quốc gia thuộc khối Châu Âu Các doanh nghiệp đặc biệt coi trọng sự sẵn có và chất lượng của cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển cao của công nghệ và các nhà cung cấp đáng tin cậy

Ý nghĩa của cơ sở hạ tầng càng trở nên rõ ràng hơn khi xét tới các quốc gia đang phát triển Ở đó, tính sẵn có của cơ sở hạ tầng được coi là vấn đề cấp thiết để tạo dựng MTĐT hấp dẫn và hỗ trợ tích cực cho đầu tư tư nhân (Wheeler và Mody, 1992) Dollar và cộng sự (2005); Hallward-Driemeier và Wallsten (2006) nhấn mạnh thêm rằng, sự thiếu

Trang 25

hụt cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển hiện nay là một hạn chế đáng kể cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của các quốc gia này

Có một số ít nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất với quan điểm trên Chẳng hạn như ADB (2005), Quazi (2005), Commander và Svejnar (2007) cho rằng cơ sở hạ tầng có vai trò mờ nhạt hoặc không có mối quan hệ đáng kể tới việc QĐĐT của doanh nghiệp so với các yếu tố khác như sự ổn định kinh tế, tham nhũng và các quy định về lao động Điều này cũng trở nên phức tạp hơn khi một số học giả đưa ra những luận điểm khác biệt về vai trò của các yếu tố thành phần trong cơ sở hạ tầng Trong khi Dollar và cộng sự (2005) khẳng định yếu tố của cơ sở hạ tầng vật lý, đặc biệt là năng lượng có ảnh hưởng quan trọng nhất thì ngược lại, Mary Hallward-Driemeier (2006) lại khẳng định vai trò của cơ sở hạ tầng vật lý như năng lượng, giao thông là khá hạn chế, yếu tố có ảnh hưởng tích cực nhất là cơ sở hạ tầng công nghệ và tính linh hoạt của thị trường lao động Điều này cũng đặt ra vấn đề rằng, vai trò của cơ sở hạ tầng cũng bị phụ thuộc vào động cơ đầu tư của doanh nghiệp hay họ đang ưu tiên tìm kiếm và thỏa mãn điều gì Nó hoàn toàn có thể xuất phát từ tình trạng, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp cũng như sự khác biệt từ bối cảnh MTĐT tại nơi doanh nghiệp xuất phát và nơi dự kiến

sẽ QĐĐT

Như vậy, về tổng thể chung, các nghiên cứu cho thấy QĐĐT sẽ được thúc đẩy trong điều kiện sẵn có của cơ sở hạ tầng với chất lượng tốt, vận hành trơn tru Giống như Wei (2000) đã kết luận "một địa điểm với cơ sở hạ tầng tốt luôn hấp dẫn hơn những nơi khác”

1.1.2.3 Chi phí

Trong hoạt các động kinh tế thì chi phí luôn giữ vai trò tiên quyết, điều này càng đúng hơn với các hoạt động đầu tư, bởi suy đến cùng thì mục tiêu quan trọng nhất của các doanh nghiệp chính là lợi nhuận Vì vậy, việc cân nhắc tới chi phí là tất yếu với mọi doanh nghiệp trước khi đưa ra QĐĐT

Theo Dunning (1973, 1977) đã khẳng định lợi thế vị trí, trong đó bao hàm yếu tố chi phí là một trong ba yếu tố then chốt quyết định việc doanh nghiệp có QĐĐT vào một quốc gia nào đó hay không Nghĩa là nếu quốc gia nào đó có tiềm năng về các đầu vào giá rẻ như nguồn nhân lực, đất đai, nguyên vật liệu,…thì quốc gia đó sẽ trở thành địa điểm ưu tiên trong QĐĐT của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu sau này cũng cung cấp thêm bằng chứng hỗ trợ quan điểm trên Nghiên cứu của M.Seyoum và J.Lin (2015) cho rằng, giá cả của lao động cũng một số yếu tố đầu vào khác như năng lượng, nguyên liệu, đất đai, vận tải có ảnh hưởng quan trọng trong việc doanh nghiệp quyết định có đầu

tư hay không Điều này cũng đúng với các công ty đa quốc gia, Oum và Park (2004) đã

Trang 26

chứng minh rằng chi phí lao động, đất đai và các chi phí đầu vào khác rất quan trọng đối với các công ty này trong việc QĐĐT các trung tâm phân phối của họ Lu và cộng sự (2007) đã kiểm chứng lại điều này khi nghiên cứu ý định đầu tư của doanh nghiệp vào khu vực hậu cần quốc tế, kết quả nghiên cứu này đã ủng hộ giả thuyết “có sự tác động của yếu tố chi phí đối với ý định đầu tư của doanh nghiệp”, các nhà quản trị khu vực hậu cần nên cung cấp đất đai và lao động với chi phí thấp cùng với ưu đãi thuế nếu muốn thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các khu vực hậu cần quốc tế

Trong các nghiên cứu trước đây, có một luồng quan điểm đáng chú ý về mức độ ảnh hưởng của chi phí có thể phụ thuộc bởi tương quan trình độ phát triển kinh tế giữa địa điểm mà doanh nghiệp đang hoạt động với địa điểm đầu tư dự kiến Cụ thể, theo Galan và cộng sự (2007), khi các doanh nghiệp đa quốc gia Tây Ban Nha muốn đầu tư tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn Tây Ban Nha (cụ thể là ở nhóm các nước Liên minh châu Âu) họ chủ yếu quan tâm xem xét đến nhóm các yếu tố liên quan đến chiến lược tài sản trục lợi mà nhóm các yếu tố chi phí không có vai trò quan trọng Nhưng ngược lại, khi điểm đầu tư dự kiến là các nước kém phát triển hơn Tây Ban Nha (các nước Mỹ La Tinh), thì chi phí cao có ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể tới các QĐĐT Cũng theo luồng quan điểm này còn có Buckley và cộng sự (2007) và gần đây hơn là M.Seyoum và J.Lin (2015) nghiên cứu về đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc, theo

đó động cơ tìm kiếm các tài nguyên giá rẻ không đóng vai trò quan trọng khi các doanh nghiệp ra QĐĐT ra nước ngoài, mà quan trọng nhất phải là lợi thế cụ thể của doanh nghiệp, tiếp theo là doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường và ưu đãi của địa phương hay không Họ luận giải rằng, tại Trung Quốc nguồn cung lao động và các đầu vào khác với mức chi phí thấp là rất dồi dào, do đó nó không còn là mục tiêu quan trọng mà các doanh nghiệp theo đuổi và tìm kiếm ở nơi đầu tư dự kiến nữa Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa giải thích được rằng, nếu phải lựa chọn một quốc gia trong cùng một nhóm các quốc gia (phát triển hơn hoặc kém phát triển hơn) thì chi phí đóng vai trò như thế nào

Các nền kinh tế đang ngày càng phát triển và việc khan hiếm các nguồn lực giá rẻ cũng theo đó mà trở nên nghiêm trọng hơn Dù doanh nghiệp xuất phát ở nền kinh tế phát triển hơn hay kém phát triển hơn thì họ vẫn mong chờ và ưu tiên đầu tư tại nơi có chi phí nguồn lực đầu vào rẻ hơn để đạt được mục tiêu lợi nhuận Do đó, luồng quan điểm Galan

và cộng sự (2007), Buckley và cộng sự (2007) M.Seyoum và J.Lin (2015) hướng tới việc

so sánh trình độ phát triển kinh tế của hai nhóm quốc gia kể trên không hề mâu thuẫn và cũng không phủ nhận vai trò của chi phí của các nghiên cứu trước khác

Như vậy, có thể khẳng định rằng, chi phí luôn là một chủ đề quan trọng, có thể ảnh hưởng quan trọng tới khả năng thành công của một công cuộc đầu tư

Trang 27

1.1.2.4 Thị trường

Theo nhiều nghiên cứu trước đây, các yếu tố thị trường như kích thước thị trường, tiềm năng phát triển, mức độ cạnh tranh mạnh hay yếu và cả sự tăng trưởng kinh tế tại nơi đầu tư đóng vai trò tích cực hấp dẫn đầu tư Trước tiên là Ekrem và Keith (1998), khi nghiên cứu đầu tư của các hãng đa quốc gia tại Thổ Nhĩ Kỳ đã kết luận rằng các yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất bao gồm cả kích thước thị trường và tăng trưởng kinh tế Bổ sung cho luận điểm này, nghiên cứu của Oum và Park (2004)

về tầm quan trọng của các yếu tố QĐĐT của các doanh nghiệp Châu Âu và Bắc Mỹ tại các thành phố của Hàn Quốc cho thấy rằng thị trường hay cụ thể hơn là quy mô thị trường, tiềm năng tăng trưởng, vị trí địa lý và khả năng tiếp cận thị trường, đóng vai trò tích cực Trong đó quy mô thị trường là một yếu tố quyết định quan trọng và là một động lực lớn cho các doanh nghiệp Gần đây hơn là nghiên cứu của Lu và cộng sự (2006), nghiên cứu đã minh chứng cho sự tồn tại mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố thị trường và ý định đầu tư của các doanh nghiệp vào khu hậu cần quốc tế Tương tự, khi xem xét hành vi đầu tư của các doanh nghiệp đa quốc gia Trung Quốc ra nước ngoài, nghiên cứu của Buckley và cộng sự (2007) cũng tái khẳng định quy mô thị trường của nước tiếp nhận đầu tư là một yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp chú trọng, thu nhập quốc nội (GDP) của nước sở tại cũng có ảnh hưởng tích cực và mạnh

mẽ tới động lực đầu tư của doanh nghiệp

Vai trò của yếu tố tăng trưởng kinh tế so với các yếu tố khác của MTĐT đã được Bialowolski và Weziak-Bialowolska (2013) thảo luận khi phân tích quá trình

ra QĐĐT dưới góc độ quy mô và ngành nghề hoạt động của các doanh nghiệp Kết quả cho thấy, các yếu tố pháp lý có tầm quan trọng như nhau cho tất cả các công ty bất kể quy mô của các doanh nghiệp Đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô (bao gồm cả

tỷ lệ tăng trưởng kinh tế) quá trình ra QĐĐT bị tác động nhiều hơn với các doanh nghiệp với quy mô trung bình (từ 10-49 lao động) so với các doanh nghiệp có quy

mô lao động thấp hoặc cao hơn Xét theo ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp, Bialowolski và Weziak-Bialowolska (2013) cho rằng, nếu xét tổng thể thì cả môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý có ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng hơn các ngành dịch vụ khác Nếu xét độc lập hai môi trường này thì, môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn nhất vào quá trình ra QĐĐT đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính và ít ảnh hưởng nhất tới các doanh nghiệp nông nghiệp

Trang 28

Một số ít các nghiên cứu về các DNNVV cũng đưa ra quan điểm tương tự M.Seyoum và J.Lin (2015) cho rằng, tiếp cận thị trường là yếu tố quan trọng mà các DNNVV tư nhân Trung Quốc theo đuổi khi QĐĐT tại Ethiopia Nghiên cứu Christos Georgiou và cộng sự (2015) về quá trình quốc tế hóa của các DNNVV của Hy Lạp, kết quả cho thấy lợi thế về quy mô của các thị trường nước ngoài là rất quan trọng cho các doanh nghiệp Hy Lạp khi kích hoạt quá trình đầu tư tại các khu vực Balkan và Tây Âu Phát hiện này được Christos Georgiou giải thích là, các công ty có thể đầu tư, kinh doanh ra thị trường nước ngoài là để có người tiêu dùng mới đối với hàng hoá và dịch

vụ của họ, đặc biệt là khi các nhà quản lý doanh nghiệp tin rằng sản phẩm của họ vượt trội so với các đối thủ trong thị trường nước ngoài hoặc thị trường trong nước đang bão hòa Khi các khoản đầu tư ra nước ngoài dự kiến tạo ra lợi nhuận cao hơn, các doanh nghiệp chắc chắn sẽ tìm kiếm và ưu tiên các địa điểm đầu tư có kích thước thị trường lớn hơn

Trong khi phần lớn các nghiên cứu thừa nhận vai trò của yếu tố thị trường đối với QĐĐT của các doanh nghiệp, vẫn có một số nghiên cứu có sự phát hiện khá khác biệt Một trong số đó là nghiên cứu thực nghiệm điều tra tại 200 thành phố tại Trung Quốc của He và cộng sự (2011), với phương pháp phân tích dữ liệu mảng để loại bỏ các yếu tố nội sinh, kết quả đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế không có tác động đáng kể đối vị trí của dòng vốn FDI, điều này hàm ý rằng các tỉnh, thành phố tăng trưởng cao không có khả năng thu hút dòng vốn đầu tư lớn hơn Qua đó, He và cộng

sự (2011) kết luận rằng tăng trưởng kinh tế là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của dòng vốn đầu tư, tuy vậy, He và cộng sự (2011) không tìm thấy bằng chứng đủ mạnh cho kết luận đó

1.1.2.5 Văn hóa xã hội

Theo Jose và cộng sự (2007), cùng với các yếu tố khác của MTĐT như cơ sở hạ tầng, chi phí, công nghệ, thì các yếu tố văn hóa xã hội trong đó bao gồm: 1) Tiêu chuẩn sống và dịch vụ công cộng; 2) Thái độ cộng đồng dành cho các doanh nghiệp; 3) Sự tương đồng về văn hóa có sự ảnh hưởng đáng kể đến việc một doanh nghiệp quyết định có đầu tư tại một địa phương hay không Sự gần gũi về văn hóa xã hội là một lợi thế so với doanh nghiệp khác trên địa bàn đầu tư dự kiến Nó là có thể tạo ra những thuận lợi nhất định cho doanh nghiệp có điều kiện đẩy nhanh và hợp lý hoá việc chuyển giao, đồng hóa các hệ thống công nghệ, kiến thức và quản lý để doanh nghiệp thực hiện đầu tư

Trang 29

1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam về ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Không có nhiều nghiên cứu trong nước thảo luận trực tiếp tới QĐĐT của loại hình DNNVV bị ảnh hưởng như thế nào bởi MTĐT, phần lớn các nghiên cứu hướng tới tổng thể doanh nghiệp nói chung hoặc tập trung vào doanh nghiệp FDI Dù vậy, qua các nghiên cứu này cũng có thể thấy rất rõ rằng việc cải thiện MTĐT là cần thiết

để kích hoạt các QĐĐT của doanh nghiệp

Gần đây, ngày càng có nhiều tổ chức nghiên cứu và đưa ra báo cáo về môi trường kinh doanh tại Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới, với những góc

độ tiếp cận khác nhau Chẳng hạn như: ”Báo cáo Môi trường Kinh doanh toàn cầu” của WB; ”Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp toàn cầu” của Hiệp hội các nhà nghiên cứu kinh doanh toàn cầu; ”Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu” của Diễn đàn Kinh

tế thế giới Các báo cáo đã phần nào phản ảnh được thực trạng và sự biến đổi trong MTĐT kinh doanh của Việt Nam Về cơ bản, mục tiêu chính của các báo cáo là dựa trên những bộ chỉ số chung để so sánh và đánh giá MTĐT giữa các quốc gia trên thế giới, lấy đó như là thước đo về năng lực cạnh tranh, nhấn mạnh khả năng thu hút các nhà đầu tư quốc tế của một quốc gia Theo đó, các nghiên cứu này đã có những đóng góp đáng kể, kết quả đánh giá theo bộ tiêu chí chung có vị trí quan trọng đối với chính phủ trong việc cải thiện hình ảnh quốc gia Nhưng cũng chính

vì vậy, rất ít nội dung của các báo cáo quan tâm đến sự tồn tại những điểm tương đồng và khác biệt về một điều kiện đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước đặc biệt là DNNVV so với các nhà đầu tư nước ngoài Nói cách khác, việc cải thiện các tiêu chí này liệu có khả năng kích thích đầu tư của DNNVV trong nước như thế nào chưa được trả lời đầy đủ

Một số nghiên cứu đã dành sự quan tâm phân tích và đánh giá MTĐT tại các địa phương Từ năm 2005 đến nay, hàng năm VCCI thực hiện báo cáo về ”năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” của 63 tỉnh, thành phố tại Việt Nam, nghiên cứu dựa trên số liệu khảo sát ngẫu nhiên khoảng 10 nghìn doanh nghiệp dân doanh mỗi năm Báo cáo tập trung đánh giá, xếp hạng giá mười nội dung về chất lượng điều hành của chính quyền cấp tỉnh bằng bộ chỉ tiêu với 10 tiêu chí khác nhau Báo cáo phản ánh quan điểm, cảm nhận của các doanh nghiệp dân doanh về MTĐT tại địa phương, là thông tin đánh giá tiềm năng đầu tư để các doanh nghiệp cân nhắc địa điểm đầu tư Việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của các tỉnh thành đã và đang tạo ra động lực mạnh mẽ trong việc cải cách MTĐT

Trang 30

Kế thừa hướng tiếp cận đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, một số nghiên cứu đã tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực và địa phương cụ thể Khi nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương, Phan Nhật Thanh (2011) dựa trên bộ chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cùng kết quả khảo sát thái độ của doanh nghiệp với cơ quan đơn vị công quyền và thái độ làm việc của công chức nhà nước đối với doanh nghiệp Luận án đã triển khai đánh giá khả năng cạnh tranh của tỉnh Hải Dương, đồng thời phân tích so sánh chỉ số cạnh tranh với các tỉnh lân cận, các tỉnh có điều kiện tương đồng để làm rõ hơn những mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh Đóng góp chính của luận án là đánh giá nguyên nhân và giải pháp cải thiện năng lực cạnh tranh, trong đó đáng chú ý là tính công khai, minh bạch

và tiếp cận đất đai là hai yếu tố được xem là vấn đề lớn nhất cần cải thiện Luận án chưa quan tâm đến mối liên hệ giữa các chỉ số cạnh tranh với khả năng đầu tư của các doanh nghiệp trên địa bàn Nghiên cứu của Tuyến T.Q và cộng sự (2016) cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của chất lượng tổ chức chính quyền cấp tỉnh và tham nhũng với hoạt động của các công ty tại Việt Nam Kết quả cho thấy rằng cường độ hối lộ có

sự tác động tiêu cực đến năng suất của các doanh nghiệp Ngoài ra một số yếu tố thể chế của tỉnh như: chi phí thời gian và việc cung cấp các hoạt động hỗ trợ cho khu vực

tư nhân ảnh hưởng tích cực liên quan đến năng suất công ty Qua đó, Tuyến T.Q và cộng sự (2016) cho rằng một khung pháp lý minh bạch và hiệu quả cần được thúc đẩy

để hạn chế tham nhũng và mức độ tham nhũng Tương tự là nghiên cứu của Hoa & Lin (2016) đã chứng minh tính minh bạch cùng với khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và chi phí thời gian cho các thủ tục đầu tư kinh doanh có liên quan chặt chẽ với thu hút đầu tư tại các địa phương của Việt Nam Viet, P.H (2013), xem xét sự thay đổi thể chế (cải cách quản trị) ở cấp tỉnh ảnh hưởng đến khu vực doanh nghiệp bằng cách sử dụng một cơ sở dữ liệu bảng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2006-2010 Kết quả cho thấy có một mối quan hệ tích cực tồn tại giữa các yếu tố: (1) cải thiện các dịch vụ hỗ trợ tư nhân, (2) ủng hộ cho hoạt động của lãnh đạo tỉnh trong việc giải quyết vấn đề cho các doanh nghiệp, (3) tiếp cận đất đai dễ dàng hơn và (4) giảm chi phí không chính thức (đại diện cho tham nhũng ít hơn) với hiệu quả của khu vực doanh nghiệp địa phương Tuy nhiên, Viet, P.H (2013), nhấn mạnh rằng, trong số bốn thay đổi về quản trị cấp tỉnh, các tác động của tiếp cận đất đai và giảm chi phí không chính thức là rất nhỏ so với các yếu tố còn lại

Cũng nghiên cứu về tham nhũng và quản lý nhà nước tại Việt Nam, Thuy & Dijk (2008) tập trung vào sự khác biệt giữa các doanh nghiệp Nhà nước với doanh

Trang 31

nghiệp tư nhân Thuy & Dijk đã chứng minh một nghịch lý đáng bàn luận và suy xét

đó là, xuất phát từ mối quan hệ đặc biệt với các công chức nên tham nhũng hầu như không có hại cho khu vực doanh nghiệp nhà nước trong khi khu vực này lại có hiệu quả thấp kém Ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân mà chủ yếu là các DNNVV vốn rất năng động và đạt lợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước lại chịu tác động tiêu cực đáng kể từ tham nhũng

Hồ Sỹ Ngọc (2015) nghiên cứu đánh MTĐT trong điều kiện hội nhập tại Nghệ

An, sau khi xác định và phân tích các yếu tố cấu thành MTĐT, luận án đi sâu tìm hiểu các yếu tố tác động tới MTĐT như chính trị - văn hóa, điều kiện tự nhiên, hội nhập tại tỉnh Nghệ An Từ bộ số liệu được thu thập qua bước khảo sát các doanh nghiệp và bộ phận thực thi chính sách, tác giả làm rõ những yếu tố hạn chế với các mức độ/vai trò khác nhau và đề xuất một số hướng cải thiện MTĐT tại Nghệ An Những vấn đề quan trọng cần hoàn thiện bao gồm việc tạo lập cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, phát triển

cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ chế thực thi chính sách hiệu quả, theo tác giả điều này là quan trọng trong điều kiện hội nhập

Với mục tiêu khám phá và đề xuất giải pháp đẩy mạnh khả năng thu hút vốn đầu tư tại khu vực trung du miền núi phía Bắc, Đỗ Hải Hồ (2011) đã nghiên cứu thực nghiệm dựa trên số liệu về các cải cách yếu tố thành phần MTĐT (cứng, mềm) Tác giả kiểm định mối quan hệ tới kết quả thu hút vốn tăng trưởng kinh tế Kết quả cho thấy, sự đồng thuận, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực ảnh hưởng tới kết quả thu hút vốn đầu tư Dựa trên thống kê mô tả về kết quả cải thiện MTĐT tác giả đề phân tích các hạn chế cốt yếu cần cải thiện gồm: Chính sách, hạ tầng, nguồn lực con người

Đánh giá ảnh hưởng của MTĐT tới thu hút FDI, Nguyễn Thị Ái Liên (2011) tập trung vào các yếu tố có ảnh hưởng tới dòng FDI vào Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009 Các số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp qua khảo sát được sử dụng để kiểm tra, đánh giá thực trạng MTĐT Qua phương pháp Pareto luận án đã chỉ rõ những hạn chế trong thu hút FDI và đề xuất các hướng cải thiện MTĐT Theo đó, các yếu tố thúc đẩy thu hút FDI cần được cải thiện bao gồm: Ổn định chính sách vĩ mô, pháp luật, quy hoạch, thủ tục hành chính, tính minh bạch, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và xúc tiến đầu tư

Ngoài các nghiên cứu trên, đã có một vài nghiên thảo luận về ảnh hưởng của MTĐT tới QĐĐT của doanh nghiệp, trong đó một số ít nghiên cứu về DNNVV

Trang 32

Lê Hoàng Bá Huyền (2012) nghiên cứu QĐĐT của các doanh nghiệp nước ngoài tại Thanh Hóa, giải pháp được đề xuất cho tỉnh Thanh Hóa thu hút thêm đầu tư dựa trên luận điểm khẳng định cơ sở hạ tầng cùng với kinh tế thị trường là có vai trò tác động tích cực và quan trọng đến QĐĐT, tác giả cũng nhận định rằng văn hóa xã hội và tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng mờ nhạt hơn Lê Thế Phiệt (2012), đánh giá tổng thể cả các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự phát triển các DNNVV tại tỉnh Đắc Lắc, kết quả đo lường được sắp xếp theo thứ tự về tầm quan trọng của các nhân tố lần lượt là: (1) Khoa học kỹ thuật, (2) Năng lực chủ doanh nghiệp và trình độ lao động, (3) Vốn, (4) Chính sách của Nhà nước, (5) Thủ tục hành chính và dịch vụ hỗ trợ, (6) Thị trường

Hoa & Lin (2016) đã làm rõ vai trò của văn hóa xã hội trong QĐĐT khi khẳng định rằng, chính sự bất đồng về văn hóa kinh doanh, ngôn ngữ, cách ứng xử là bất lợi và gây ra khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận các thông tin Từ đó, Hoa & Lin (2016) cũng cho rằng, sự đa dạng và khác biệt về văn hóa tại các tỉnh thành của Việt Nam

có ảnh hưởng đến việc thực hiện đầu tư các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài

Gần đây hơn là nghiên cứu của Lê Thị Lan (2017), nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng các yếu tố bên trong và bên ngoài đến đến QĐĐT của doanh nhiệp vào các khu kinh tế tại Thanh Hóa Tác giả đã chứng minh rằng, việc doanh nghiệp QĐĐT chịu ảnh hưởng bởi cả 2 nhóm yếu tố này Cụ thể, tác giả cho rằng trong khi các yếu tố gồm môi trường sống và truyền thông có mối quan hệ ngược chiều thì vị trí của khu kinh tế, chính sách ưu đãi, các loại chi phí đầu vào, thể chế tại địa phương có quan hệ cùng chiều với việc ra QĐĐT Nghiên cứu này còn cho rằng, không có đủ cơ sở để khẳng định nguồn nhân lực tại địa phương và cơ sở hạ tầng của khu kinh tế ảnh hưởng đến QĐĐT Hạn chế của các nghiên cứu này chính là việc xác định phạm vi nghiên cứu về là trên một tỉnh, tính đại diện không cao

1.1.4 Đánh giá chung và khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu đã đề cập, thảo luận về MTĐT cũng như QĐĐT của doanh nghiệp đồng thời có sự đồng thuận cao về sự tồn tại mối quan hệ giữa MTĐT và việc

ra QĐĐT của doanh nghiệp Tuy nhiên, có nhiều khía cạnh mà nếu vận dụng vào đối tượng DNVVV tại Việt Nam sẽ cần phải được làm rõ thêm Cụ thể là:

Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây phần lớn tập trung xem xét MTĐT của các quốc gia trong một khu vực hoặc một nhóm các quốc gia để đánh giá ảnh hưởng của chúng tới việc doanh nghiệp sẽ QĐĐT tại quốc gia nào Những kết quả nghiên cứu đó

Trang 33

có thể là các thông tin hữu hiệu giúp các quốc gia cải thiện MTĐT để thu hút thêm được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, nó chưa cung cấp nhiều kết quả cụ thể

để nhận thức khía cạnh của MTĐT nào có vai trò quan trọng với QĐĐT của doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia

Thứ hai, các nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến đối tượng doanh nghiệp FDI hoặc tổng thể doanh nghiệp nói chung Doanh nghiệp trong nước, nhất là các DNNVV

là đối tượng có nhiều nét đặc trưng vì vậy việc vận dụng các kết quả nghiên cứu nói trên vào thực tế có thể không hoàn toàn phù hợp, mà thực tế DNNVV vẫn luôn gặp những khó khăn, rào cản lớn trong đầu tư, phát triển ở các quốc gia là một minh chứng Với ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế đã được khẳng định, việc xem xét cụ thể ảnh hưởng của MTĐT tới QĐĐT của các DNNVV là vấn đề cần thiết để tiếp tục nghiên cứu bởi nó sẽ đóng góp những thông tin, căn cứ khoa học đáng tin cậy cho các chính sách tích cực hóa QĐĐT của họ

Thứ ba, một số ít các nghiên cứu về việc ra QĐĐT của DNNVV mới dừng lại ở một hay một số khía cạnh của MTĐT Chẳng hạn như nghiên cứu của của S.Ayele (2006) chỉ đặt trọng tâm chính là chính sách khuyến khích đầu tư, hay tại Việt Nam có nghiên cứu của Huy & Dijk (2008); Tuyến T.Q & cộng sự (2016) mới tập trung thảo luận về vai trò của hiệu quả quản trị hành chính của cấp chính quyền địa phương Điều này là chưa đủ để đưa ra kết luận tổng thể về vai trò và ảnh hưởng của MTĐT tới việc

ra QĐĐT của DNNVV

Thứ tư, quá trình tổng quan đã cho thấy còn tồn tại những quan điểm khác khác biệt về vai trò của các yếu tố MTĐT tới QĐĐT của doanh nghiệp Chẳng hạn như kết luận về vai trò của cơ sở hạ tầng, chính trị pháp luật, thị trường…Sự khác biệt này có thể gây ra những vướng mắc, thiếu hiệu quả vận dụng vào thực tiễn tại Việt Nam

Thứ năm, các nghiên cứu tại Việt Nam nhìn chung chưa chú trọng xem xét QĐĐT của doanh nghiệp, ngoại trừ nghiên cứu của Lê Thị Lan (2017) về QĐĐT vào khu kinh tế Việc sử dụng các bằng chứng từ các nghiên cứu tại các quốc gia khác có thể không phản ánh chính xác khi xem xét trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, một quốc gia đang phát triển cùng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Do đó, việc tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của MTĐT tới QĐĐT của DNNVV tại Việt Nam là cần thiết và sẽ góp phần bù đắp vào các khoảng trống nghiên cứu nói trên

Trang 34

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Quy trình nghiên cứu

Các bước công việc chính để thực hiện mục tiêu của luận án bao gồm: Xác định các nhóm yếu tố MTĐT, xây dựng thang đo, nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng và cuối cùng là đề xuất giải pháp Cụ thể:

Bước 1: Tổng quan nghiên cứu

Việc tìm hiểu, đánh giá các nghiên cứu liên quan trước đây giúp tác giả đã tìm

ra khoảng trống và đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến Đồng thời, trên cơ sở này, một tập thang đo nháp được đề xuất để đo lường các khái niệm nghiên cứu Các nội dung này được đề cập chi tiết tại chương 1 và chương 2

Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ

Dựa trên số liệu thứ cấp về MTĐT, đầu tư của các DNNVV, tác giả đánh giá thực trạng và đánh giá sơ bộ ảnh hưởng từ MTĐT tới QĐĐT của DNNVV tại Việt Nam giai đoạn 2006-2017

Bước 3: Nghiên cứu định tính

Thực hiện phỏng vấn sâu: Việt Nam có sự khác biệt về hệ thống thể chế, trình

độ phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hóa xã hội, do đó các thang đo đã được thiết lập dựa trên sự kế thừa từ một số lý thuyết về đầu tư cùng với một số nghiên cứu quốc

tế có thể chưa thực sự phù hợp với MTĐT tại Việt Nam Thông qua phỏng vấn sâu sẽ giúp sàng lọc, kiểm tra thang đo các biến và xác làm rõ thêm các mối liên hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu dự kiến

Bước 4: Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng sơ bộ

Thang đo các biến sau nghiên cứu định tính được đánh giá thông qua nghiên cứu định lượng sơ bộ với kích thước mẫu thu được gồm 72 DNNVV Các thang đo này sẽ được hiệu chỉnh căn cứ theo kết quả phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Nghiên cứu định lượng chính thức

Với mẫu nghiên cứu gồm 231 Giám đốc/Phó giám đốc các DNNVV, nghiên cứu tiến hành kiểm định các giả thuyết bằng mô hình hồi quy đa biến với sự hỗ trợ của công cụ SPSS

Bước 5 Khuyến nghị giải pháp

Từ các căn cứ khoa học được rút ra, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện MTĐT tốt hơn cho việc thúc đẩy đầu tư của các DNNVV tại Việt Nam

Trang 35

Các bước nghiên cứu trong quy trình được minh họa như sau:

Hình 1.2 Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Minh họa của tác giả

1.2.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu

Việc QĐĐT có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong phạm vi nghiên cứu này, MTĐT tập trung vào nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Từ các lý thuyết và các nghiên cứu khác có liên quan, để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của MTĐT đến

Nghiên cứu định

tính (n = 15)

Các yếu tố cấu thành MTĐT

Thang đo MTĐT hoàn chỉnh

EFA

Cronbach Alpha

đầu tư của DNNVV

Kiểm định giả thuyết

Multi Regression

Giải pháp thúc đẩy đầu tư các DNNVV

Trang 36

QĐĐT của các DNNVV trong bối cảnh tại Việt Nam, tác giả đã dự kiến mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là QĐĐT của doanh nghiệp dưới sự ảnh hưởng của MTĐT được biểu diễn qua 05 biến độc lập gồm: Chính trị-pháp luật; Cơ sở hạ tầng; Chi phí; Thị Trường và Văn hóa xã hội Ngoài ra, các biến kiểm soát được lựa chọn và hoàn thiện dựa theo các nghiên cứu trước đây bao gồm: thời gian hoạt động, loại hình doanh nghiệp, quy mô vốn doanh nghiệp

Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Tổng quan nghiên cứu của tác giả

Giả thuyết nghiên cứu: Từ tổng quan nghiên cứu, tác giả đề xuất 05 giả thuyết

về ảnh hưởng của của MTĐT đến QĐĐT của doanh nghiệp như sau:

Với chính trị-pháp luật: Theo Sun và cộng sự (2002); Dollar và cộng sự (2005) Lu và cộng sự (2006), sự ổn định chính trị cùng với hệ thống luật pháp đủ mạnh là cơ sở để các doanh nghiệp có thể hoạt động ổn định, được đối xử công bằng, bình đẳng, được bảo vệ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp Ngoài ra, chính sách ưu đãi và các dịch vụ công về đầu tư được xây dựng với mục đích là gia tăng các lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư, nó giúp giảm các chi phí đầu tư lúc khởi động và làm tăng lợi nhuận tiềm năng của họ (Globerman và Shapiro, 2003; S.Ayele, 2006)

Do đó, khi chính trị-pháp luật được cải thiện khiến doanh nghiệp hài lòng hơn thì khả năng ra QĐĐT của họ cũng tăng lên (Kaufmann và cộng sự, 2008) Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H01: Chính trị - pháp luật ảnh hưởng tích cực tới QĐĐT của DNNVV

Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng với chất lượng tốt, vận hành trơn tru là lợi thế quan trọng mà các doanh nghiệp tìm kiếm trước khi vận hành hoạt động đầu tư của

Các biến kiểm soát

Số năm hoạt động Loại hình doanh nghiệp Quy mô vốn doanh nghiệp

Trang 37

mình (Dunning, 1981; 1988; 1993) Root và Ahmed (1979) và Wheeler và Mody (1992) và nhiều nghiên cứu khác chỉ rõ cơ sở hạ tầng có thể giúp doanh nghiệp hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả đầu tư Wei (2000) nhận định rằng "một địa điểm với cơ sở

hạ tầng tốt luôn hấp dẫn hơn những nơi khác” Có thể nhận định rằng doanh nghiệp sẽ QĐĐT khi họ được thỏa mãn và thấy được rằng nơi đầu tư dự kiến có ưu thế về cơ sở

hạ tầng hơn các địa điểm khác Nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H02: Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng tích cực tới QĐĐT của DNNVV

Chi phí: Đầu tư của các doanh nghiệp được thúc đẩy bởi nhu cầu tìm kiếm các yếu tố sản xuất đầu vào với giá rẻ và an toàn Dunning (1980, 1988, 1993) Wu và Strange (2000), Oum và Park (2004) đã chứng minh chi phí cao có thể làm giảm khả năng hạ thấp giá thành, sản phẩm khó cạnh tranh nên có ảnh hưởng tiêu cực tới việc QĐĐT Vì vậy chi phí cao sẽ là bất lợi để các chính quyền thúc đẩy doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư

Nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H03: Chi phí cao ảnh hưởng tiêu cực tới QĐĐT của DNNVV

Thị trường: Theo Sun và cộng sự (2002); Lu và cộng sự, 2006; Galan và cộng sự (2007) thị trường ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận dự kiến của doanh nghiệp và đóng vai trò tích cực, hấp dẫn các nhà đầu tư Nói cách khác các yếu tố thị trường giữ vai trò hấp dẫn, kích thích các khoản đầu tư của doanh nghiệp Nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H04: Thị trường ảnh hưởng tích cực tới QĐĐT của các DNNVV

Về văn hóa xã hội: Sự hòa hợp, gần gũi về các yếu tố văn hóa sẽ là một lợi thế kinh doanh dành cho chủ đầu tư, bởi vì đó chính là điều kiện giúp đẩy nhanh quá trình việc đổi mới chuyển giao công nghệ, cập nhật các kiến thức quản lý (Galan và cộng sự, 2007) hay tạo ra những thuận lợi cho doanh nghiệp như là tiếp cận thông tin phục vụ các mục tiêu kinh doanh (Hoa & Lin, 2016) Nhìn chung, có thể giả định rằng các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng tích cực đến QĐĐT của doanh nghiệp Nghiên cứu đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H05: Văn hóa xã hội ảnh hưởng tích cực tới QĐĐT của DNNVV 1.2.3 Thang đo

Chính trị-pháp luật: Biến chính trị-pháp luật trong MTĐT phản ảnh các yếu tố liên quan đến sự hình thành, duy trì và khả năng thực thi những khuôn khổ chung,

Trang 38

mang tính bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư Theo đó nó sẽ bao gồm cả tình hình thể chế chính trị, hệ thống pháp luật và các chính sách ưu đãi đầu tư Lu và cộng sự (2006) cho rằng chính trị sẽ được phản ánh qua tình hình chính trị ổn định, an ninh an toàn, hiệu quả điều hành, hệ thống quản trị và chính sách hỗ trợ, đảm bảo cho nhà đầu tư Sun và cộng sự (2002); Dollar và cộng sự (2005) và một số nghiên cứu khác đã làm rõ thêm về “hiệu quả điều hành” và “hệ thống quản trị”, trong đó “hiệu quả điều hành” được thể hiện qua các khía cạnh: Các thủ tục đầu

tư kinh doanh được thực hiện nhanh chóng; Thái độ của chính quyền, công chức địa phương với doanh nghiệp; Các thông tin liên quan đến đầu tư, kinh doanh được cung cấp đầy đủ, kịp thời và minh bạch; Các doanh nghiệp được đối xử bình đẳng; Chi phí không chính thức thấp Còn “hệ thống quản trị” có thể bao gồm: Hệ thống pháp luật

về đầu tư, kinh doanh; Hệ thống tòa án hoạt động hiệu quả; Quyền về tài sản của doanh nghiệp được đảm bảo Tập hợp lại, thang đo Chính trị- pháp luật sẽ bao gồm

12 biến quan sát (Bảng 1.2)

Cơ sở hạ tầng: Dưới góc độ tiếp cận đây là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nó đóng vai trò nền tảng trong hoạt động đầu tư kinh doanh, phản ánh điều kiện doanh nghiệp có thể tiếp cận đầu vào, thị trường đầu ra và khả năng vận hành sản xuất Theo đó, cơ sở

hạ tầng kỹ thuật như được đề cập trong nghiên cứu của Galan và cộng sự (2007); Lu

và cộng sự (2006) cùng một số nghiên cứu khác như Sun và cộng sự (2002) sẽ được

đo lường bởi 5 biến quan sát: Công nghệ, kỹ thuật; Hiệu quả của hệ thống cảng; Hệ thống liên kết giao thông, vận tải; Cung cấp năng lượng hiệu quả, tin cậy và Tính tập trung sản xuất (khu công nghiệp, cụm công nghiệp)

Chi phí: Là yếu tố phản ánh chi phí tiếp cận và sử dụng các nguồn lực đầu vào chính của doanh nghiệp Theo cách hiểu này thì chi phí tiếp cận và sử dụng vốn cũng

sẽ được đề cập như nhiều nghiên cứu đã nêu ra, đồng thời các ưu đãi về thuế mà Lu và cộng sự (2006) đề cập đã được tách riêng và đưa vào nhóm chính sách ưu đãi đầu tư trong các yếu tố chính trị pháp luật Như vậy, chi phí có thể được đo lường bởi 5 quan sát gồm: Chi phí đất đai; Chi phí lao động; Chi phí vận chuyển; Chi phí sử dụng vốn; Chi phí năng lượng, nước sạch và nguyên liệu

Thị trường: Là yếu tố thể hiện khả năng và tiềm năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra, liên quan trực tiếp đến thị trường mục tiêu của doanh nghiệp Theo Galan và cộng sự (2007) thị trường của doanh nghiệp được phản ánh bởi quy mô; mức tăng trưởng tiềm năng và mức độ cạnh tranh trong thị trường Ngoài ra, Sun và cộng sự (2002) và Ekrem

và Keith (1998) đã cho thấy tăng trưởng kinh tế và khả năng tiếp cận thị trường mục

Trang 39

tiêu cũng là những vấn đề quan trọng với QĐĐT của doanh nghiệp Do đó, biến thị trường được dự kiến đo bởi 5 quan sát: Quy mô của thị trường; Mức tăng trưởng tiềm năng; Mức độ cạnh tranh trong thị trường; Tăng trưởng kinh tế và khả năng tiếp cận các thị trường mục tiêu

Văn hóa xã hội: Phản ảnh khả năng thích nghi của doanh nghiệp với văn hóa tại nơi mà doanh nghiệp đầu tư Sự gần gũi về văn hóa xã hội giúp các doanh nghiệp giảm thời gian, khả năng thu nhận thông tin, nguồn lực hay thực hiện các thủ tục (Galan và cộng sự, 2007) Biến văn hóa xã hội có thể được đo lường bằng 3 quan sát: Tiêu chuẩn sinh hoạt và dịch vụ công cộng; Thái độ của cộng đồng đối với các doanh nghiệp và

Sự tương đồng về văn hóa

Các biến quan sát được sử dụng để đo lường các yếu tố được tổng hợp lại như sau:

Bảng 1.2 Tóm tắt các biến trong mô hình

1.2 Hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh hoạt động tốt

1.3 Bảo vệ được quyền về tài sản của doanh nghiệp

1.4 Hệ thống tòa án hoạt động hiệu quả

1.5 Chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn

1.6 Doanh nghiệp được miễn, giảm thuế

1.7

Dịch vụ công hỗ trợ tốt cho hoạt động của doanh nghiệp như: dịch vụ đào tạo lao động, tư vấn pháp lý, quảng bá sản phẩm, tư vấn và cung cấp tiếp cận đất đai…

1.8 Các thủ tục đầu tư, kinh doanh được thực hiện nhanh chóng

việc hỗ trợ doanh nghiệp

cung cấp đầy đủ, kịp thời và minh bạch 1.11 Các doanh nghiệp được đối xử bình đẳng

sinh chi phí không chính thức

2 Cơ sở

hạ tầng

(2006); Jose.I Galan và cộng sự 2.2 Hệ thống cung cấp năng lượng hiệu quả, tin cậy

2.3 Hệ thống cung cấp, thoát nước hoạt động tốt, ổn định

Trang 40

Tên biến Các biến quan sát/giải thích Các nghiên cứu

trước

cộng sự (2002); Dollar và cộng sự (2005);

nghiệp phát triển)

3 Chi phí

(2006), Oum và Park (2004); Galan

và cộng sự (2007) Sun và cộng sự (2002

3.2 Chi phí năng lượng, nước sạch và nguyên liệu cao

3.3 Chi phí sử dụng vốn cao

3.4 Chi phí sử dụng đất đai cao

3.5 Doanh nghiệp phải sử dụng lao động với chi phí cao

Ekrem và Keith (1998)

4.2 Mức tăng trưởng tiềm năng của thị trường cao

4.3 Mức độ cạnh tranh trong thị trường thấp

4.4 Tăng trưởng kinh tế ổn định

4.5 Dễ dàng tiếp cận các thị trường mục tiêu

5 Văn

hóa xã hội

5.1 Tiêu chuẩn sinh hoạt và dịch vụ công cộng tốt

Galan và cộng sự (2007)

5.2 Cộng đồng có thái độ tốt đối với các doanh nghiệp

5.3 Sự tương đồng về văn hóa giữa doanh nghiệp và địa phương

Nguồn: Tổng quan nghiên cứu của tác giả Đối với biến phụ thuộc, QĐĐT của DNNVV: Ngoài các nghiên cứu đo lường QĐĐT qua sự thay đổi của vốn trong giai đoạn hiện tại so với vốn trong giai đoạn trước, một số nghiên cứu khi tiến hành điều tra trực tiếp xem xét QĐĐT như một biến nhị phân với các giá trị “1”: Quyết định đầu tư, “0”: Quyết định không đầu tư chẳng hạn như Jose

I Galan, 2007 Nhiều nghiên cứu sử dụng thang đo Likekert 5 cấp độ như Bialowolski, (2009); Lu và Ching-Chiao Yang (2007) Trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, Lê Thị Lan (2017) cũng sử dụng thang đo này với 4 quan sát đại diện do QĐĐT của doanh nghiệp Dựa trên các nghiên cứu này, để đo lường QĐĐT của các doanh nghiệp luận án

sử dụng bộ thang đo 4 quan sát bao gồm: (1) “Đầu tư tại địa phương là một quyết định đúng đắn”; (2) “Doanh nghiệp sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tại địa phương hiện nay”; 3)

“Chúng tôi sẵn sàng giới thiệu địa phương cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp khác”; 4)

“Chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư dài hạn tại địa phương.”

Ngày đăng: 31/05/2019, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. M. Alcántara and M. Woolcock (2014), ‘Integrating Qualitative Methods into Investment Climate Impact Evaluations Subtitle’, Policy Research Working Paper, WPS7145, WB Group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Research Working Paper
Tác giả: A. M. Alcántara and M. Woolcock
Năm: 2014
2. Altenburg, Tilman; Hubert Schmitz and Andreas Stamm (2008), ‘Breakthrough China's and India's Transition from Production to Innovation’, World Development, Vol 36, Issue 2, PP 325-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Development
Tác giả: Altenburg, Tilman; Hubert Schmitz and Andreas Stamm
Năm: 2008
3. Cao Sỹ Kiêm (2013), ‘Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Thực trạng và giải pháp hỗ trợ năm 2013’, Tạp chí Tài chính, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Cao Sỹ Kiêm
Năm: 2013
4. Chetan Ghate, Quan Vu Le and Paul J. Zak (2002), Optimal Fiscal Policy in an Economy Facing Socio-Political Instability, Discussion Papers, German Institute for Economic Research, No.308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Optimal Fiscal Policy in an Economy Facing Socio-Political Instability
Tác giả: Chetan Ghate, Quan Vu Le and Paul J. Zak
Năm: 2002
6. Chính phủ (2009), Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, “Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP," “"Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
7. Chin-Shan Lu and Ching-Chiao Yang (2007), ‘An evaluation of the investment environment in international logistics zones, A Taiwanese manufacturer’s perspective’, Int. J. Production Economics, Vol. 107, issue 1, P 279-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int. J. Production Economics
Tác giả: Chin-Shan Lu and Ching-Chiao Yang
Năm: 2007
8. Christian M Rogerson and Jayne M Rogerson (2010), ‘Improving the local business environment of Johannesburg’, Development Southern Africa. Vol.27(4), pp. 577-593 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development Southern Africa
Tác giả: Christian M Rogerson and Jayne M Rogerson
Năm: 2010
9. Christian M. Rogerson (2009), ‘Local Investment Incentives for Urban Economic Development: Recent Debates in South African Cities’, Urban Forum, Vol. 4, pp 481-495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban Forum
Tác giả: Christian M. Rogerson
Năm: 2009
10. Christian Von Luebke Christian von Luebke et al (2009), ‘Heterodox Reform Symbioses_ Them Political Economy of investment Climate Reforms in Solo, Indonesia’, Asian Economic Journal 2009, Vol.3, PP 269-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Asian Economic Journal 2009
Tác giả: Christian Von Luebke Christian von Luebke et al
Năm: 2009
11. Christos Georgiou, Lida P. Kyrgidoub, Fragiskos Archontakis & Eugenia Petridou (2015), ‘The Role of Location as a Selection Criterion in FDI: The Case of SMEs in Greece’, Journal of East-West Business, Vol.8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of East-West Business
Tác giả: Christos Georgiou, Lida P. Kyrgidoub, Fragiskos Archontakis & Eugenia Petridou
Năm: 2015
12. Clifford J. Shultz, II và các cộng sự (2000), ‘The Evolving Investment Climate in Vietnam and Subsequent Challenges to Foreign Investors’, Thunderbird International Business Review, Voi. 42(6), pp.735-753 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thunderbird International Business Review
Tác giả: Clifford J. Shultz, II và các cộng sự
Năm: 2000
14. Curran, J. & Blackburn, RA (2001), ‘Researching the small Enterprise’, London: SAGE Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: London
Tác giả: Curran, J. & Blackburn, RA
Năm: 2001
16. Daniel Kaufmann, Aart Kraay, Massimo Mastruzzi (2008), ‘Governance Matters VII: Aggregate and Individual Governance Indicators 1996-2007’, The World Bank, Vol. 4978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Bank
Tác giả: Daniel Kaufmann, Aart Kraay, Massimo Mastruzzi
Năm: 2008
17. Daniel Kaufmann, Aart Kraay, Pablo Zoido-Lobaton, (1999); ‘Aggregating governance indicators’, Policy Research Working Paper, Vol. 2, 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Research Working Paper
18. David Dollar, Mary Hallward‐Driemeier, Taye Mengistae (2005) ‘Investment Climate and Firm Performance in Developing Economies’, Economic Development and Cultural Change, 54(1), pp. 1-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Development and Cultural Change
20. Đỗ Hải Hồ (2011), Cải thiện MTĐT ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, Luận án tiến sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện MTĐT ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hải Hồ
Năm: 2011
22. Dunning, J.H. (1973), ‘The Determinants of International Production’, Oxford Economic Papers, Vol. 25, Issue 3, 289-336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Economic Papers
Tác giả: Dunning, J.H
Năm: 1973
24. Galan, Benito and Vincente (2007), ‘Factors determining the location decisions of Spanish MNEs: an analysis based on the investment development path’, Journal of International Business Studies, Vol.38, No.6, pp. 975-997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Business Studies
Tác giả: Galan, Benito and Vincente
Năm: 2007
25. Gentrit and Justina (2015), ‘Defining Small and Medium Enterprises: a critical review’, Academic Journal of Business, Administration, Law and Social Sciences, Vol. 1, No. 1 March 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Academic Journal of Business, Administration, Law and Social Sciences
Tác giả: Gentrit and Justina
Năm: 2015
29. Hana Scholleova et al (2010), ‘Investment decision making criterions in practice’, Economics and Management, ISSN 1822-6515 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics and Management
Tác giả: Hana Scholleova et al
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w