1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận đường lối CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP HIỆN NAY

22 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổilao động dân thành thị có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm,đăng ký tại cơ quan

Trang 1

TIỂU LUẬN NHÓM 4 Đề tài: Chính sách xã hội đối với thất nghiệp của sinh viên hiện nay.

I.Lời mở đầu:

Hiện nay, sinh viên ra trường thất nghiệp đang là vấn đề đáng báo động trong xã hội.Câu hỏi đặt ra ở đây là nguyên nhân của tình hình thất nghiệp sinh viên hiện nay là dođâu? Hậu quả để lại là gì? Vấn đề đó đã gây thiệt hại gì cho nền kinh tế nước nhà? Vàchúng ta phải làm gì để khắc phục tình trạng trên? Có rất nhiều câu hỏi và giải phápđược đặt ra, song vẫn chưa khắc phục triệt để được tình trạng thất nghiệp của sinh viênsau khi ra trường

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về thất nghiệp Theo Luật Bảo hiểm thất nghiệp (viết tắtBHTN) Cộng hòa Liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thờikhông có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”

Tại Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổilao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm,đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”

Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số ngườitrong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mứctiền lương thịnh hành”

Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế

cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường (kinh tế mở cửa) Vì vậy, tuychưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thấtnghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định Những nghiên cứu bước đầukhẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵnsàng làm việc

Vậy, nguyên nhân từ đâu dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp và chúng

ta cần phải làm gì để khắc phục tình trạng đó

Trang 2

II Nội dung:

1 Thực trạng nạn thất nghiệp hiện nay trên cả nước:

Đến quý 2 năm 2018, trong tổng lực lượng lao động cả nước có gần 743,8 nghìn laođộng thiếu việc làm và gần 1,1 triệu lao động thất nghiệp Thông thường, tình trạngthiếu việc làm luôn là vấn đề phổ biến ở khu vực nông thôn Theo kết quả quý 2 năm

2018, hiện có gần 84,4% lao động thiếu việc làm sinh sống ở khu vực này Khác biệtgiới về thị phần lao động thiếu việc là không đáng kể khoảng 5,7% (trong đó, namthiếu việc làm chiếm 52,8% và nữ thiếu việc làm là 47,2% trong tổng số lao độngthiếu việc làm cả nước) Trái lại, tình trạng thất nghiệp lại được quan tâm hơn ở khuvực thành thị Mặc dù, tỷ trọng lao động thất nghiệp thành thị hiện thấp hơn, chỉ chiếmkhoảng 47,6% tổng số lao động thất nghiệp cả nước Hơn nữa, kết quả điều tra laođộng việc làm quý 2 năm 2018 cũng cho thấy tình trạng thất nghiệp ở nữ là cần nhiềuquan tâm hơn, (chiếm tới 53,3% trong tổng số lao động thất nghiệp cả nước)

Nếu xem xét tình trạng thất nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật – CMKT đạtđược, trong quý 2 năm 2018, có tới hơn 26,7% số lao động thất nghiệp cản ước là laođộng đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên Trong đó, nhóm laođộng có trình độ từ đại học trở lên chiếm thị phần lớn nhất, khoảng 43,7% tổng số laođộng thất nghiệp nhóm này 6 nhóm ngành/nghề đào tạo hiện có tỷtrọng lao động thấtnghiệp có trình độ CMKT từ 3 tháng trở lên cao nhất theo thứ tự lần lượt là “Kinhdoanh và quản lý – 31,4%”, “Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên – 12,5%”, “Côngnghệ kỹ thuật – 11,9%”, “Sức khỏe – 11,2%”, “Dịch vụ vận tải – 7,2%” và “Máy tính

và công nghệ thông tin – 4,2%

Thanh niên được xem là một trong những nhóm lao động dễ bị ảnh hưởng nhất bởi cácbiến động trên thị trường lao động Vì vậy, thất nghiệp thanh niên luôn được xem làvấn đề quan tâm của xã hội Trong quý 2 năm 2018, số thất nghiệp thanh niên từ 15-24tuổi đã chiếm tới 46,5% tổng số lao động thất nghiệp cả nước Đáng lưu ý, số lao độngthanh niên thất nghiệp ở khu vực thành thị lại thấp hơn so với khu vực nông thôn (theotuần tự chiếm 41,6% và 58,4% trong tổng số lao động thất nghiệp thanh niên cả nước).Đây là kết quả của ưu thế hơn về cơ hội học tập cũng như việc làm ở khu vực thành

Trang 3

đào tạo CMKT từ 3 tháng trở lên của cả nước (tương đương khoảng 129,5 nghìnngười) là thanh niên Trong đó, thị phần vượt trội (khoảng 79,1%) là thuộc về nhómthanh niên có trình độ từ cao đẳng trở lên Bên cạnh đó, gần 20,8% (tương đương154,4 nghìn người) trong tổng số hơn 743,8 nghìn lao động thiếu việc làm của cả nước

là thanh niên từ 15 đến 24 tuổi

Biểu 1: Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo CMKT từ 3 tháng trở lên

chia theo trình độ đào tạo, quý 2 năm 2018

2 Nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp:

Tình trạng thất nghiệp của sinh viên mới ra trường gia tăng đáng kể Thậm chí, có một

số trường hợp sinh viên ra trường cả hai, ba năm vẫn không tìm được việc làm, chứđừng nói đến chuyện tìm được công việc đúng ngành nghề Vậy nguyên nhân dẫn đếntình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay là do các nguyên nhân sau:

2.1 Không có đinh hướng nghề nghiệp trước khi học

Ở Việt Nam, việc chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các bậc phụhuynh Với tâm lý luôn muốn che chở, bao bọc con, các bậc cha mẹthường thiên vềnhững ngành “an toàn”, mang lại danh tiếng, như kỹ sư, bác sĩ,… và con cái thì cũngthụ động, cha mẹ chọn ngành gì con học ngành đó Mặt khác, xu hướng thị trườngcũng là một điều đáng nói Một số bạn trẻ còn có xu hướng chạy theo các nghề “hot”

để theo kịp bạn bè, chứ không thực sự vì đam mê và đúng sở trường

Trang 4

Những thông tin trên như là một hồi chuông cảnh báo cho thực trạng định hướng nghềhiện nay khi mà các học sinh hầu như không có một định hướng nghề cho bản thân,không biết mình thích gì và có thể làm gì sau này, đâu là điểm mạnh và điểm yếu củabản thân? Không biết định hướng và lựa chọn cho mình ngành học phù hợp, sinh viên

sẽ dẫn đến tình trạng chán nản, kết quả học tập sút kèm, không có sự yêu thích và tâmhuyết,… Vì vậy, việc định hướng nghề nghiệp cho tương lại đóng vai trò hết sức quantrọng trong việc tạo dựng một sự nghiệp thành công

2.2 Sinh viên ra trường thiếu kỹ năng làm việc

Nhiều doanh nghiệp lớn cho biết:“Kỹ năng của sinh viên mới ra trường là chưa hìnhthành nếu không muốn nói là không có” Sinh viên ra trường hiện nay có kiến thứcnhưng thiếu kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng cần thiết để làm việc Một số bạn trẻ còncho rằng, các nhà tuyển dụng chỉ cần tuyển người có năng lực chuyên môn, vi tínhthành thạo, ngoại ngữ bằng A, B, C… Chính vì thế, các bạn đổ xô rủ nhau đi học bằngnày bằng kia, khóa học này khóa học kia, nhưng các bạn không hề biết rằng, các chủdoanh nghiệp và công ty, nhất là các công ty nước ngoài luôn chú trọng đến các kỹnăng làm việc, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng làm việc theo nhóm, khả năng lập

kế hoạch mục tiêu, xử lý nhanh những khó khăn trong tình huống bất ngờ…

Mặc dù, quá trình tìm việc cũng không phải dễ dàng gì Trừ một số bạn có mối quan

hệ rộng rãi hay được cha mẹ gửi gắm, số còn lại, đa phần các bạn còn quá thụ độngtrong quá trình tìm việc Các bạn chưa tự tin vào bản thân, thiếu nghị lực và dũng cảm

để đương đầu với những khó khăn, thậm chí có bạn còn chưa rõ mình thích làm gì,thích làm công việc như thế nào Các bạn không biết rằng, trong môi trường công việcđầy cạnh tranh và năng động, trang bị tốt cho mình các kỹ năng giao tiếp, đàm phán,thuyết trình, quản lý thời gian,… mới thực sự là yếu tố quyết định giúp bạn khác biệt

và làm việc hiệu quả

2.3 Chất lượng đào tạo chưa thực sự gắn với nhu cầu xã hội

Trong thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã đầu tư rất nhiều vào các trường đại họcquốc gia nhưng kết quả không có gì khả quan khi số lượng sinh viên ra trường vẫn thất

Trang 5

nghiệp Bên cạnh đó, với tiếp cận xã hội hóa giáo dục cho phép nhiều trường đại học

tư được mở ra rộng kích thích cạnh tranh giữa các trường nhà nước và trường tư.Tuy nhiên, chúng ta cũng chẳng mong đợi gì nhiều ở kết quả này, bởi các đại học tư vìlợi nhuận chỉ cấp bằng, họ không đào tạo “đúng và trúng” Cả hai cách cải tiến trênđều làm nảy sinh số người tốt nghiệp cao nhưng không có kỹ năng để làm việc trongcông nghiệp Bên cạnh đó, thành tích của các cấp học dưới đẩy lên các cấp học trên đãkhiến những người làm giáo dục bất chấp hậu quả mà chính người học và xã hội phảigánh là tạo ra những sản phẩm không đủ chất lượng, dẫn đến hậu quả đầu ra của độingũ nhân lực nước ta yếu và nền giáo dục Việt Nam ngày càng tụt hậu

Một nguyên nhân khác là do các trường đại học, cao đẳng còn xem nhẹ phần thựchành mà quá đặt nặng lý thuyết Ngoài ra, còn do chương trình đào tạo ở các trườngvẫn theo lối tư duy cũ, thiếu thực tế, cơ sở vật chất nghèo nàn…

Chúng ta chuyển dần từ giáo dục truyền thống, giáo dục thời đại công nghiệp sanggiáo dục thời đại thông tin Đây là hệ thống giáo dục mới tập trung phần lớn vào kiếnthức kỹ thuật và ứng dụng của công nghệ để giải quyết các vấn đề kinh doanh, sinhviên học chính thức nền tảng không chỉ trong nhà trường, mà còn tiếp tục trong cả đời

họ vì không ngại lúc nào cũng thay đổi

Ngoài ra, chúng ta cải tiến kỹ năng công nghiệp cho mọi người dân, tạo cho người dân

có trí thức sẵn có để làm việc, đây là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế của địaphương Đặc biệt, chúng ta thay đổi tư duy nên nhìn nhận các trường đại học như làmột doanh nghiệp, họ có thể đào tạo sinh viên đúng thực chất bằng việc cộng tác vớicông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường và cập nhật chương trình đào tạo tương ứng

2.4 Trình độ ngoại ngư vẫn còn nhiều hạn chế

Một trong các lý do tạo nên làn sóng “cử nhân thất nghiệp” chính là vấn đề tiếng Anh.Chúng ta đều biết tiếng Anh được xem như là tấm vé thông hành trong tất cả mọingành nghề trong thời kỳ hiện đại Thực ra, hầu hết sinh viên ở các trường đại học đềuđược học tiếng Anh, nhưng chính thái độ học thụ động, không áp dụng thực tế thì khi

ra trường, kỹ năng ngoại ngữ chỉ là con số 0 Chỉ có được động lực học, cách học phù

Trang 6

hợp, khoa học, áp dụng vào môi trường thực tế mới có thể nâng cao trình độ tiếngAnh, đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.

2.5 Luôn than trách và đổ lỗi cho số phận

Đó là điều mà sinh viên vẫn thường làm để che đậy sự lười nhác của bản thân Luôn

đổ lỗi cho không có chỉ tiêu rồi đào tạo nhưng không đảm bảo đầu ra Tốt nghiệp vàngồi chờ nhà tuyển dụng Luôn than trách không có việc làm, đó là điều càng khiếnsinh viên vùi mình sâu hơn vào nguy cơ thất nghiệp Đỗ lỗi cho không có cơ hội việclàm, đỗ lỗi cho chất lượng đào tạo của giáo dục…

Phải thừa nhận rằng, có quá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngàycàng lớn như hiện nay Nhưng trước khi mổ xẻ những nguyên nhân sâu xa, chúng tacần làm rõ nguyên nhân ngay trước mắt Đó là sự kém cỏi của sinh viên ngay trêngiảng đường Đừng chỉ tốt nghiệp với tấm bằng trên giấy mà hãy bước ra khỏi giảngđường với những kiến thức cần thiết cho tương lai

3 Các chính sách của xã hội để giải quyết nạn thất nghiệp của sinh viên hiện nay:

Đứng trước thực trạng về vấn đề thất nghiệp của nước ta hiện nay Nhà nước ta cần cónhững biện pháp và chính sách để giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống đến mức tối đa để đưađất nước ta phát triển hơn nữa

3.1 Chính sách tạo ra việc làm cho người lao động

3.1.1 Hệ thống chính sách việc làm:

a) Về hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động

Trong những năm đổi mới, nhất là từ giai đoạn 2001 đến nay, hệ thống pháp luật kinh

tế tiếp tục được hoàn thiện (Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợptác xã, Luật Thuế, Luật Phá sản ) đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiệncho thị trường lao động phát triển Bộ luật lao động, sửa đổi bổ sung năm 2002 và

2006, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài, các nghị định, thông tư liên quan tới lao động, thị trường lao động và

Trang 7

việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lao động phát triển, tăng cường

cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ lao động Các chế độ về tiền lương, thu nhập,trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thunhập của người lao động

Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của nước ta hiệnnay không còn phù hợp và khó thực hiện Các quy định chủ yếu điều chỉnh đối với laođộng có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như việc làm ở khu vực phi chínhthức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ thể Nhiều quy định mới chỉ được thểhiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hìnhthực tiễn Các chính sách còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể Còn thiếucác chính sách về bình đẳng việc làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy

đủ, việc làm bán thời gian; các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa đượcxác định rõ; các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầuthực tiễn gây khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vựcviệc làm

Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do cơ chế chồngchéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện Một số địa phương,doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được ban hành, ví dụ như: quyđịnh về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa phương; đảm bảo tỷ lệ lao động làngười tàn tật; việc thực hiện các chế độ đối với người lao động; triển khai chươngtrình, dự án gắn với quy hoạch nguồn nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm chongười lao động

Các dự án cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm chủ yếu là dự ántrong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm trên 60% Đối tượng vay là các cơ sở sản xuất kinhdoanh chiếm tỷ lệ thấp - dưới 10% nên chưa tạo thêm nhiều việc làm mới Một số dự

án cho vay sai mục đích, không đúng đối tượng; nhu cầu vay vốn lớn nhưng nguồnvốn chỉ đáp ứng được 30-35% nhu cầu của nhân dân Cơ chế quản lý, sử dụng nguồnvốn chưa hợp lý gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của quỹ…

b) Về kết nối cung cầu lao động

Trang 8

Hệ thống dịch vụ việc làm được phát triển từ năm 1992 qua Chương trình việc làmquốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992, đã tạo môi trườngpháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng cường cơ hội để ngườilao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc Đặc biệt, với việc sửaĐiều 18 của Bộ luật lao động năm 1995, Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005

và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 19/2005/NĐ-CP đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ việclàm Cùng với các trung tâm giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng đượcphép hoạt động giới thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài

c) Về hỗ trợ lao động di chuyển

Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế mới; hỗ trợ

di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm nghèo (thuộc nội dungcủa Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010) Cácchương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bổ nguồn lao động, đáp ứng nhucầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số

và bảo vệ an ninh quốc phòng

Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành phố lớn ngàycàng thông thoáng Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền cư trú của công dân,giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng hơn Các chính sách phát triển đô thị, cáckhu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng điểm cũng có tác động kíchthích di chuyển lao động, nhất là di chuyển nông thôn - đô thị, góp phần chuyển dịch

cơ cấu lao động, nâng cao điều kiện về việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn

d) Về tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh

Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế cho vaytín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà nước hỗ trợ vốn sảnxuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo, lao động nông thôn, lao

Trang 9

động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động vùng chuyển đổi sử dụng đấtnông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều lao động.

- Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: Chương trình Việc làm quốc gia được thànhlập theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992 có nội dung cung cấp cáckhoản vay với lãi suất ưu đãi để doanh nghiệp và hộ gia đình tạo việc làm và xuất khẩulao động

- Đối với người lao động: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tín dụng ưu đãi chongười nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên: hỗ trợ hộ nghèo vayvốn phát triển sản xuất thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo;Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 về việc cho vay vốn phát triển sảnxuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Quyết định số126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về vay vốn phát triển sản xuất cho hộ dân tộc;Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyệnnghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020

- Bên cạnh đó, nhiều chương trình hỗ trợ khác được triển khai trong thời kỳ suy giảmkinh tế từ 2007 đến nay nhằm giúp cho nhiều doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinhdoanh vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì sản xuất, trả lương và đóng bảo hiểm xãhội cho người lao động Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 về việc hỗtrợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảmkinh tế; Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 08/7/2009 về tín dụng đối với thươngnhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn Một số biện pháp hỗ trợ khác như:miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp, giãn thời gian nộp một số loại thuế (Nghị quyết số11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,

ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết số 08/2011/QH13 về banhành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cánhân; Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg ngày 06/4/2011 về gia hạn nộp thuế thu nhậpdoanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế ) Ngoài ra, còn có các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích xuấtkhẩu, ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau đã tác động

Trang 10

trực tiếp tới vấn đề duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động trong bối cảnh suygiảm kinh tế, người mất việc làm gia tăng.

e) Về đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm ngoài nước, xâydựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để hỗ trợ người lao động khi

về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo: Quyết định số NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc thành lập, quản lý Quỹ hỗtrợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt

365/2004/QĐ-Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bềnvững giai đoạn 2009 - 2020

f) Về cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viêncủa WTO, Chính phủ đã thực hiện mở cửa thị trường lao động Việt Nam đối với laođộng có kỹ thuật Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 quy định về tuyểndụng và quản lý người nước ngóài làm việc tại Việt Nam; Nghị định số 46/2011/NĐ-

CP ngày 17/6/2011 sửa đổi bổ sung Nghị định số 34/2008/NĐ-CP đã góp phần đápứng nhu cầu của thị trường trong nước đối với những vị trí làm việc đòi hỏi trình độchuyên môn cao

3.2.1 Đánh giá chính sách việc làm:

a) Những thành tựu

Thứ nhất, hệ thống chính sách được ban hành ngày càng đầy đủ và hoàn thiện

Các chính sách về việc làm đã được ban hành tương đối đầy đủ trong nhiều lĩnh vựckhác nhau như: Chính sách chung về việc làm (quyền và nghĩa vụ của người lao động

về việc làm, trách nhiệm của Nhà nước về việc làm, ); Chính sách hỗ trợ để tạo và tựtạo việc làm cho người lao động (Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dự áncho vay giải quyết việc làm ); Chính sách hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ờ

Trang 11

nước ngoài (cho vay tín dụng, bồi dưỡng kiến thức, nghề nghiệp trước khi đi lao động

ở nước ngoài, )

Với hệ thống chính sách việc làm như vậy đã tạođiều kiện thúc đẩy đa dạng hóa cáchình thức kết nối cung cầu lao động thông qua các trung tâm dịch vụviệc làm Đếnnay, đã có 150 trung tâm giới thiệuviệc làm được thành lập, bình quân mỗi năm tưvấncho trên 603 nghìn lượt người tìm việc làm Nhiều địa phương đã tổ chức sàn giaodịch việc làm có hiệu quả Việc phát triển thị trường lao động đã tạođiều kiện chongười dân di chuyển từ nông thôn rathành thị để tìm kiếm các cơ hội việc làm tốthơn.Ước tính mỗi năm có khoảng 200 nghìn lao độngnông thôn di cư tìm việc làm ở

đô thị và các khucông nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế

Thứ hai, thành tựu nổi bật của hệ thống chính sách việc làm là tạo ngày càng nhiềuviệc làm cho xã hội Cơ hội có việc làm của người lao động tănglên, giải tỏa sức ép vềviệc làm cho người lao độngtrong bối cảnh lực lượng tham gia lao động ngàycàngtăng

Giai đoạn 2000- 2010, quy mô lực lượng laođộng tăng mạnh, từ 39,3 triệu người năm

2000 lên 50,5 triệu người năm 2010, tốc độ tăng bình quân2,6%/năm, bằng 2 lần tốc

độ tăng dân số

Xét về giới tính, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cả nam và nữ đều có xu hướng tăng,tuy nhiên tốcđộ tăng của nam cao hơn của nữ Điều này nói lên chính sách việc làmcần phải chú ý đối với nữ giới

Số việc làm ở nước ta thời gian qua nhìn chung tăng tương đối cao Trước năm 2008,

số việc làmgia tăng hàng năm bình quân đạt từ 1,01-1,16 triệuviệc làm/năm Năm

2008, khủng hoảng kinh tế đãlàm cho số việc làm gia tăng chậm lại, cả nước chỉ tăngthêm 882.000 việc làm Trong bối cảnhsuy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009, dù tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009 không cao so với các năm trước đó nhưng nềnkinh tế vẫn tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động

Ngày đăng: 31/05/2019, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w