ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp đỡ của quý thầy, cô giáo Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là PGS.TS Ngô Thị Thanh Vân,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN THÁI DIỄN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN NHƠN LÝ, THÀNH PHỐ QUY NHƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NINH THUẬN, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN THÁI DIỄN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN NHƠN LÝ, THÀNH PHỐ QUY NHƠN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ : 60.58.03.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS NGÔ THỊ THANH VÂN
NINH THUẬN, NĂM 2018
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu
và kết quả trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc
Ninh Thuận, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Diễn
Trang 5ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự giúp
đỡ của quý thầy, cô giáo Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là PGS.TS Ngô Thị Thanh Vân, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, nhà quản lý, bạn bè, đồng nghiệp cùng
với sự nỗ lực của bản thân; Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Quản lý xây dựng, với đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn”
Các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn là những đóng góp nhỏ về mặt khoa học Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và ý kiến đánh giá của quý thầy, cô giáo cũng như các bạn đồng nghiệp
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Thị Thanh Vân, người đã hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp một số kiến thức khoa học cần thiết; Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo thuộc Khoa Công trình, phòng Đào tạo đại học và sau đại học của Trường Đại học Thủy lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ của mình
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, khích lệ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Ninh Thuận, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Diễn
Trang 6iii
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI
CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 4
1.1.1 Dự án đầu tư xây dựng 4
1.1.2 Nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chủ đầu tư trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng 5
1.1.3 Quản lý dự án và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 7
1.2 Tình hình chung về quản lý thi công xây dựng 10
1.2.1 Quản lý thi công và nội dung quản lý thi công xây dựng công trình 10
1.2.2 Tình hình chung về quản lý chất lượng xây dựng công trình 13
1.3 Thực trạng chung về chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình 15
1.3.1 Thực trạng chung về công tác giám sát thi công xây dựng công trình 15
1.3.2 Thực trạng về chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình 18
1.4 Tổng quan những kinh nghiệm, nghiên cứu liên quan đến đề tài 25
1.4.1 Tổng quan những kinh nghiệm trong công tác giám sát thi công xây dựng công trình 25
1.4.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 29
2.1 Quy định về giám sát thi công xây dựng công trình 29
2.1.1 Văn bản quy định của Nhà nước 29
2.1.2 Nội dung giám sát thi công xây dựng công trình 30
2.1.3 Vai trò của Chủ đầu tư, Ban QLDA đối với công tác giám sát thi công xây dựng công trình 31
2.1.4 Vai trò của Tư vấn giám sát đối với công tác giám sát thi công xây dựng công trình 32
2.1.5 Vai trò của nhà thầu thi công đối với công tác giám sát thi công xây dựng công trình 33
2.2 Đánh giá chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình 34
2.2.1 Khái niệm chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình 34
Trang 7iv
2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công
trình 35
2.2.3 Trình tự và phương pháp thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình 36
2.2.4 Nội dung đánh giá chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình 53
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển 54
2.3.1 Nhân tố khách quan 54
2.3.2 Nhân tố chủ quan 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ BIỂN NHƠN LÝ, THÀNH PHỐ QUY NHƠN 58
3.1 Giới thiệu công trình Đê biển Nhơn Lý 58
3.1.1 Tổng quan 58
3.1.2 Tóm tắt các chỉ tiêu chính của dự án: 59
3.2 Thực trạng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý
64
3.2.1 Tình hình thực hiện công tác giám sát thi công xây dựng đối với các công trình Đê biển đã hoàn thành 64
3.2.2 Đánh giá chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý 71
3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý 72
3.3.1 Nguyên nhân chủ quan 72
3.3.2 Nguyên nhân khách quan 72
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý 73
3.4.1 Năng lực giám sát thi công của Ban QLDA 73
3.4.2 Tập trung quản lý chất lượng hồ sơ dự án đầu tư 75
3.4.3 Tăng cường quản lý hợp đồng tư vấn giám sát thi công 76
3.4.4 Tích cực kiểm tra, đôn đốc tình hình thi công xây dựng công trình 77
3.4.5 Chú trọng nâng cao năng lực quản lý của Ban QLDA 78
Trang 8v
3.4.6 Đề xuất quy trình kiểm soát và đánh giá chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý 793.4.7 Ứng dụng khoa học tiến bộ để nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình 80TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 9vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1: Đê Lý Hòa và Lý Chánh, Nhơn Lý 62
Hình 3.2: Công trình Đê biển gặp sự cố do việc chọn tần suất thiết kế chưa phù hợp 64 Hình 3.3: Xâm thực, ăn mòn bê tông kè bờ biển 66
Hình 3.4: Mái kè bị lún sụt 66
Hình 3.5: Mái kè bị trượt 66
Hình 3.6: Cấu kiện bị bong tróc 67
Hình 3.7: Mái đê phía biển bị phá hủy 67
Hình 3.8: Cấu kiện bị đẩy trồi 67
Hình 3.9: Cấu kiện bị sụt do mất đất 67
Hình 3.10: Mái đê Lý Hòa và Lý Chánh bị sụt lún 69
Hình 3.11 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Ban QLDA 74
Hình 3.12: Giám sát thi công móng chân kè 77
Hình 3.13: Thi công cốt thép tường chắn sóng 78
Hình 3.14: Tuyến đê Lý Hưng và Lý Lương, Nhơn Lý 79
Trang 10vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Các dự án không đảm bảo chất lượng thi công xây dựng 68Bảng 3.2: Thực trạng về công tác quản lý tiến độ các công trình 70
Trang 11viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT CĐT Chủ đầu tư
CLCT Chất lượng công trình
ĐTXD Đầu tư xây dựng
GSKT Giám sát kiểm tra
KCS Kiểm tra chất lượng sản phẩm
QLDA Quản lý dự án
TKBVTC Thiết kế bản vẽ thi công
TVGS Tư vấn giám sát
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu
tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước Để đạt được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng mà công tác quản lý chất lượng giám sát thi công được xem là một trong những yếu tố cơ bản nhất và có ý nghĩa quyết định
Giám sát thi công xây dựng công trình là một trong những hoạt động giám sát xây dựng
để theo dõi, kiểm tra về chất lượng, khối lượng, tiến độ xây dựng, an toàn lao động và
vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng công trình theo đúng hợp đồng kinh tế, thiết
kế được duyệt và các quy chuẩn, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, các điều kiện
kỹ thuật của công trình Giám sát thi công xây dựng giúp phòng ngừa các sai sót dẫn đến hư hỏng hay sự cố Giám sát thi công xây dựng công trình có nhiệm vụ theo dõi - kiểm tra - xử lý - nghiệm thu - báo cáo các công việc liên quan tại công trường
Quản lý chất lượng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý thi công xây dựng, bên cạnh các lĩnh vực quản lý về khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và vệ sinh môi trường Sau khi thực hiện xong công tác lựa chọn nhà thầu, các bên tiến hành thương thảo, ký kết hợp đồng và công trình được triển khai thi công Do đó, chất lượng thi công xây dựng công trình được quyết định bỡi một khâu thiết yếu là giám sát thi công Thực trạng công tác giám sát thi công xây dựng các công trình đê biển trên địa bàn thành phố Quy Nhơn còn nhiều bất cập Tư vấn giám sát chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp
lý, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án; chưa giúp Chủ đầu tư kiểm tra điều kiện năng lực thực tế của các nhà thầu so với Hồ sơ
dự thầu; việc ghi chép Nhật ký giám sát chưa thể hiện được đầy đủ công tác quản lý chất lượng của chủ đầu tư, không nhận xét hoặc không thường xuyên đánh giá chất lượng sau mỗi ngày hoặc mỗi ca làm việc trong nhật ký công trình, không kiểm tra kiểm soát các tài liệu làm căn cứ nghiệm thu, dẫn đến các Biên bản nghiệm thu không đảm bảo
Trang 132
quy định hiện hành; Một số đơn vị tư vấn giám sát bố trí cán bộ giám sát có chuyên ngành không phù hợp, chưa có chứng chỉ hành nghề giám sát, bố trí một người đồng thời giám sát nhiều công trình trong cùng một thời điểm, cán bộ giám sát không phải là hợp đồng lao động dài hạn của đơn vị Ngoài ra, những hạn chế của nhà thầu thi công trong công tác quản lý chất lượng, nghiệm thu nội bộ, chất lượng hồ sơ thiết kế-dự toán chưa cao, sự thiếu tích cực trong quá trình giám sát tác giả của tư vấn thiết kế; những bất cập về nhiệm vụ, quyền hạn được giao, việc xây dựng và tổ chức thực hiện theo quy trình của Ban QLDA cũng như sự phối hợp thiếu chặt chẽ, đồng bộ giữa các chủ thể có liên quan đã làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình
Công trình Đê biển Nhơn Lý được xây dựng trên địa bàn xã Nhơn Lý, nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 20km về hướng Đông Bắc Công trình có tổng mức đầu tư 32.410.619.000 đồng, với 01 gói thầu xây lắp và thời gian thực hiện dự án là năm 2016-2018
Với những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn”
để làm luận văn thạc sỹ của mình là có tính cấp thiết và có ý nghĩa khoa học thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác giám sát thi công xây dựng công trình, áp dụng cho
công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn
- Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề được tập trung nghiên cứu giới hạn với vai trò của
Chủ đầu tư-Ban QLDA, áp dụng cụ thể cho công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, thời gian từ năm 2016 đến năm 2018
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Trang 143
Tiếp cận cơ sở lý luận về chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình, đồng thời nghiên cứu các quy định của Nhà nước để áp dụng phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay
Đề tài áp dụng những phương pháp nghiên cứu: phương pháp định tính kết hợp phương pháp phân tích định lượng, phương pháp phân tích tổng hợp kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề của luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Những kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu các vấn đề quản lý công tác giám sát thi công xây dựng công trình
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và các giải pháp đề xuất
được đưa ra trong đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích, khả thi trong công tác quản lý
giám sát thi công xây dựng công trình
6 Dự kiến kết quả đạt được:
- Tổng quan về chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình
- Hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý về công tác giám sát thi công xây dựng công trình
- Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn
7 Nội dung của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, Luận văn bao gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình Chương 2: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác giám sát thi công xây dựng công
trình
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công
xây dựng công trình Đê biển Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn
Trang 151.1.1 Dự án đầu tư xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm về xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản có thể hiểu là những hoạt động xây dựng bao gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với mặt đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác [1]
Công trường xây dựng là phạm vi khu vực diễn ra các hoạt động xây dựng đã được sự cho phép của chính quyền Các thành phần cơ bản hình thành một công trường xây dựng là: Khu lán trại dành cho cán bộ, công nhân, khu vực tập kết vật tư vật liệu, khu vực mà công trình xây dựng được xây dựng trực tiếp trên đó Thi công xây dựng công trình bao gồm: xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình
1.1.1.2 Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến
Trang 165
hành các hoạt động xây dựng cơ bản, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
ra các tài sản cố định trong nền kinh tế Do vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ
sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản
cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị), kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định
1.1.1.3 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm, phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí nhất định [1] Dự án xây dựng thông thường gồm phần thuyết minh dự án và bản vẽ thiết kế cơ sở Đây chính là các căn cứ để triển khai thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công sau này Tổng mức đầu tư của dự án chính là giá trị đầu tư xây dựng của dự án
Không phải bất cứ công trình xây dựng nào cũng phải lập dự án Các dự án thường được chia thành các nhóm như: dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C, tùy theo lĩnh vực đầu tư và tổng mức đầu tư của dự án
1.1.2 Nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chủ đầu tư trong giai đoạn thực hiện dự án
đầu tư xây dựng
1.1.2.1 Khái niệm Chủ đầu tư
Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu
tư xây dựng [1]
Trang 176
1.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Chủ đầu tư
Chủ đầu tư có các quyền: Lập, quản lý dự án khi có đủ điều kiện năng lực theo quy định; Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu về lập, quản lý dự án; Lựa chọn, ký kết hợp đồng với nhà thầu tư vấn để lập, quản lý dự án; Tổ chức QLDA, quyết định thành lập, giải thể Ban QLDA ĐTXD một dự án theo thẩm quyền và các quyền khác theo quy định của pháp luật [1]
Chủ đầu tư có các nghĩa vụ: Xác định yêu cầu, nội dung nhiệm vụ lập dự án; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết trong trường hợp thuê tư vấn lập dự án; tổ chức nghiệm thu kết quả lập dự án và lưu trữ hồ sơ dự án đầu tư xây dựng; Lựa chọn tổ chức tư vấn lập
dự án có đủ điều kiện năng lực theo quy định; Chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý, tính chính xác của các thông tin, tài liệu được cung cấp cho tư vấn khi lập dự án; trình dự án với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; Lựa chọn tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ năng lực, kinh nghiệm để thẩm tra dự án theo yêu cầu của cơ quan,
tổ chức thẩm định dự án và của người quyết định đầu tư; Tổ chức quản lý thực hiện dự
án theo quy định; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án; định kỳ báo cáo việc thực hiện dự án với người quyết định đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; Thu hồi vốn, trả nợ vốn vay đối với dự án có yêu cầu về thu hồi vốn, trả nợ vốn vay và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật [1]
1.1.2.3 Sơ đồ tổ chức
Quan hệ chỉ đạo Quan hệ phối hợp
CHỦ ĐẦU TƯ UBND THÀNH PHỐ QUY NHƠN
PHÒNG
TÀI CHÍNH
KẾ HOẠCH
BAN QUẢN
LÝ DỰ
ÁN ĐTXD
PHÒNG QUẢN
LÝ ĐÔ THỊ
Trang 187
1.1.3 Quản lý dự án và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.1.3.1 Khái niệm về dự án
Theo Bách khoa toàn thư, từ “Project - Dự án” được hiểu là “Điều có ý định làm” hay
“Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động” Như vậy, dự án có khái niệm vừa là
ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển động hành động Chính vì lẽ đó mà
có khá nhiều khái niệm về thuật ngữ này, cụ thể như:
Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc
về yêu cầu và nguồn lực đã định Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ
mà bạn mong muốn
Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định, dựa trên nguồn vốn xác định của dự án
Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng, bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế
về thời gian, chi phí và nguồn lực, nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu
cụ thể đã được lựa chọn kỹ lưỡng khi lập dự án
Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang tính chất 1 lần (có mục tiêu rõ ràng, trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng), yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vượt qua dự toán đó
1.1.3.2 Khái niệm về quản lý
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý
Trang 198
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý học Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản
lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức
xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Dưới cái nhìn của các học giả và nhà kỹ thuật, quản lý được xem là một kỷ luật, một nghề, một chuyên môn, một hệ thống, một kỹ thuật và cũng là một quá trình Quản lý được xây dựng trên cơ sở giáo dục (có kỷ luật), các chương trình bậc đại học và sau đại học rất phổ biến ở các trường Đối với xã hội, giám đốc được xem như tầng lớp chuyên gia, người thuộc về các nghiệp đoàn cao cấp và các hiệp hội chuyên gia, vì lợi ích và phát huy hình tượng bản thân họ Ở khía cạnh khác, quản lý còn được xem là hệ thống tiếp nhận (tài nguyên và các nhân tố sản xuất), quá trình sản xuất (nhiệm vụ và hoạt động quản lý) và đầu ra (cho sản phẩm và các dịch vụ dưới hình thức lợi nhuận) Trên thực tế chúng ta không thiếu những lý thuyết và quan niệm về quản lý Thật vậy, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều định nghĩa khác nhau về nó và nếu nói không quá khoa trương thì lý thuyết về quản lý thực sự như một khu rừng rậm Trong lĩnh vực dành riêng cho kỹ sư và quản lý xây dựng vấn đề phức tạp cũng không phải là ngoại lệ
Sự nhầm lẫn giữa các khái niệm được bàn nhiều trong phát triển quản lý và học thuật chuyên ngành, ở đó chúng ta nhấn mạnh vấn đề lý thuyết nhằm trang bị kiến thức cho người quản lý chứ không hướng đến mục đích áp dụng
Đến đây chúng ta có thể hiểu quản lý là cái gì: quản lý là một quá trình thực hiện công việc thông qua sử dụng nhân lực Quan điểm này hơi thực dụng: quản lý là một nhiệm
vụ hay hoạt động trong đó cần thể hiện vài chức năng thông qua các tiến trình khác nhau, với các kỹ năng riêng biệt Điểm trọng tâm ở đây là các chức năng quản lý được thực hiện thông qua người khác Vì vậy, công tác quản lý là việc của giám đốc điều hành mọi người thực hiện công việc cho suông sẻ
Trang 209
Vậy chính xác thì các nhiệm vụ của công tác quản lý là gì? Chúng ta cần chỉ ra 3 điểm
cơ bản:
1 Công tác quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau: lên kế hoạch,
tổ chức, định hướng và kiểm soát Vấn đề cốt lõi của quản lý là phải thực hành những điểm này Nếu không thực hiện chúng thì bạn không phải nhà quản lý mà chỉ đơn thuần
là kỹ thuật viên, chuyên viên, chuyên gia hoặc tư vấn viên, có chức năng đưa ra lời khuyên
2 Kết quả cuối cùng của quản lý là đạt được một mục đích Quá trình quản lý là một quá trình có định hướng Quản lý là phương tiện để đạt được mục đích cần thiết (lợi nhuận hay phát triển …)
3 Giám đốc phải chịu trách nhiệm cho việc làm của các nhân viên Họ được trả lương không chỉ cho những gì họ làm mà còn cho những gì nhân viên đã làm Lấy ví dụ giám đốc kỹ thuật phải có trách nhiệm tạo động lực cho các kỹ sư, nhà khoa học và kỹ thuật viên hoàn thành công việc, đồng thời kiểm soát được sự phát triển của kỹ sư và công tác nghiên cứu & phát triển của công ty Mức độ công việc mà giám đốc phải tự làm chính
là mức độ thất bại của anh ta
1.1.3.3 Khái niệm về quản lý dự án
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, theo dõi và quản lý các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đặt ra với nhiều ràng buộc về thời gian, chi phí
và các nguồn tài nguyên có thể đưa vào sử dụng khi khởi động dự án
Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án
Trang 2110
1.2 Tình hình chung về quản lý thi công xây dựng
1.2.1 Quản lý thi công và nội dung quản lý thi công xây dựng công trình
1.2.1.1 Khái niệm quản lý thi công xây dựng
Quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình; Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình; Quản lý an toàn lao động trên công trình xây dựng; Quản lý môi trường trong quá trình thi công xây dựng
1.2.1.2 Nội dung quản lý thi công xây dựng công trình
- Quản lý chất lượng công trình xây dựng: là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định số 46/2015/NĐ-CP và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình, nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình
- Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình: là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP, bao gồm việc lập kế hoạch tiến độ; theo dõi, giám sát và kiểm soát tiến độ thực hiện thi công xây dựng công trình
Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng Tiến
độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án được duyệt Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm
Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tổng tiến độ của dự án
Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong
Trang 2211
trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án
Khuyến khích đẩy nhanh tiến độ xây dựng trên cơ sở bảo đảm chất lượng công trình
- Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình: là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP, bao gồm việc lập kế hoạch tiến độ; theo dõi, giám sát và kiểm soát tiến độ thực hiện thi công xây dựng công trình
Việc thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của thiết kế được duyệt
Khối lượng thi công xây dựng được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải xem xét để xử lý Riêng đối với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình làm vượt tổng mức đầu tư thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư để xem xét, quyết định
Khối lượng phát sinh được chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh toán, quyết toán công trình
Nghiêm cấm việc khai khống, khai tăng khối lượng hoặc thông đồng giữa các bên tham gia dẫn đến làm sai khối lượng thanh toán
- Quản lý an toàn lao động trên công trình xây dựng:
Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây dựng Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận
Trang 2312
Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường phải
bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn
Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường Khi phát hiện có vi phạm về an toàn lao động thì phải đình chỉ thi công xây dựng Người để xảy ra vi phạm về an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về an toàn lao động Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động phải có giấy chứng nhận đào tạo an toàn lao động Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động
Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường Khi có sự cố về an toàn lao động, nhà thầu thi công xây dựng và các bên có liên quan
có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao động theo quy định của pháp luật đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm an toàn lao động gây ra
- Quản lý môi trường trong quá trình thi công xây dựng:
Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, bao gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường Đối với những công trình xây dựng trong khu vực đô thị, phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến đúng nơi quy định
Trong quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng, phế thải phải có biện pháp che chắn bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường
Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư phải có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản
Trang 241.2.2 Tình hình chung về quản lý chất lượng xây dựng công trình
Trong những năm vừa qua, các nguồn lực dành cho đầu tư xây dựng cơ bản được tăng cao, các công trình xây dựng đưa vào sử dụng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhìn chung, chất lượng công trình tại các dự án đầu
tư khi đưa vào khai thác đã đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên cũng có không ít dự án khi vừa mới đưa vào sử dụng đã xuất hiện những hư hỏng tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình, kể cả trong quá trình xây dựng, gây bức xúc trong nhân dân
Trong phạm vi luận văn, tôi xin đánh giá thực trạng về công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình ở địa phương như sau:
- Về công tác khảo sát: Hiện tượng không lập nhiệm vụ khảo sát diễn ra khá phổ biến,
hồ sơ khảo sát của nhiều công trình không có nhật ký khảo sát, nhiệm vụ và phương án khảo sát chưa được chủ đầu tư phê duyệt Một số công trình khảo sát địa chất chưa phù hợp về vị trí hố khoan, số lượng hố khoan và chiều sâu khoan Các số liệu thí nghiệm, phân tích chỉ tiêu cơ lý một số công trình không do phòng thí nghiệm hợp chuẩn thực hiện, số liệu khảo sát chưa phù hợp với thực tế, chủ trì khảo sát chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của Nghị định 59/2015/NĐ-CP
- Về công tác thiết kế: Phần thuyết minh tính toán kết cấu còn mang tính hình thức
(không tính toán nội lực, không khảo sát đánh giá lưu lượng xe và tải trọng xe khi thiết
kế đường, cầu; thực hiện không đúng hoặc không đủ các điều kiện địa chất thủy văn khi thiết kế các công trình cầu, tràn, đê, đập) Nhiệm vụ thiết kế chưa được chủ đầu tư phê duyệt; chưa lập quy trình bảo trì cho công trình, đơn vị thiết kế không thực hiện giám
Trang 2514
sát tác giả theo quy định; Chủ trì thiết kế một số công trình chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của Nghị định 59/2015/NĐ-CP
- Về công tác thẩm tra thiết kế, dự toán: Công tác thẩm tra thiết kế dự toán do các đơn
vị tư vấn thực hiện, nhưng trách nhiệm của tư vấn thẩm tra chưa cao Những sai sót trong thiết kế, tư vấn thẩm tra không phát hiện được Tư vấn ký kết hợp đồng với chủ đầu tư thẩm tra toàn bộ từ khâu thiết kế bản vẽ thi công đến dự toán công trình, nhưng thực tế chỉ thẩm tra phần dự toán, không có hoặc nêu không đẩy đủ các nội dung thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công Một số công trình, chủ trì thẩm tra không đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định; thực hiện công tác thẩm tra chỉ mang tính thủ tục, hình thức; các Chủ đầu tư chưa kiểm tra chặt chẽ điều kiện năng lực của đơn vị tư vấn thẩm tra Công tác kiểm tra, kiểm soát về lĩnh vực này đối với cơ quan quản lý chưa được quan tâm đúng mức
- Về công tác thi công xây lắp: Các nhà thầu xây lắp đã có cố gắng nhiều trong việc tổ
chức bộ máy cán bộ và đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất; tuy nhiên, trong một số trường hợp năng lực hoạt động của cán bộ thi công còn hạn chế, công nhân kỹ thuật hầu hết là hợp đồng thời vụ, chưa được đào tạo bài bản, máy móc thiết bị thi công chưa đảm bảo được so với hồ sơ dự thầu Hệ thống quản lý chất lượng ở một số doanh nghiệp chưa
có hoặc có thành lập cũng chỉ là hình thức, chất lượng chưa cao Nhiều doanh nghiệp
bố trí chỉ huy trưởng công trình và cán bộ kỹ thuật thi công chưa đúng với hồ sơ dự thầu, chưa thực hiện nghiêm túc các cam kết trong hợp đồng xây lắp Việc lập hồ sơ quản lý chất lượng còn mang tính đối phó như: Ghi chép nhật ký công trình chưa đảm bảo quy định Công tác nghiệm thu nội bộ còn mang tính hình thức Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng còn mang tính đối phó Không lập bản vẽ hoàn công hoặc lập bản vẽ hoàn công không đúng quy định
- Về công tác tư vấn giám sát: Đội ngũ tư vấn giám sát trên địa bàn thành phố còn yếu
về năng lực, hiểu biết về pháp luật xây dựng còn hạn chế; Chưa bám vào nhiệm vụ giám sát và hợp đồng giám sát để thực hiện công tác giám sát thi công Chưa giúp Chủ đầu tư kiểm tra điều kiện năng lực của các nhà thầu so với hồ sơ dự thầu; Chưa kiểm tra, kiểm soát được Hồ sơ quản lý chất lượng; Ghi chép Nhật ký giám sát chưa thể hiện được đầy
đủ công tác quản lý chất lượng của chủ đầu tư; Không nhận xét hoặc không thường
Trang 2615
xuyên đánh giá chất lượng sau mỗi ngày hoặc mỗi ca làm việc trong nhật ký công trình; không kiểm tra kiểm soát các tài liệu làm căn cứ nghiệm thu dẫn đến các Biên bản nghiệm thu không đảm bảo quy định hiện hành
- Về lĩnh vực thí nghiệm: Hầu hết các phòng thí nghiệm được kiểm tra chưa thực hiện
nghiêm túc công tác quản lý theo quy định như: Chưa áp dụng kịp thời các Tiêu chuẩn
kỹ thuật về thí nghiệm vật liệu xây dựng Một số phòng thí nghiệm không tổ chức lấy mẫu thí nghiệm tại hiện trường, không có mẫu lưu tại phòng thí nghiệm Bố trí cán bộ thí nghiệm chưa qua các lớp đào tạo thí nghiệm viên, cá biệt còn có đơn vị Trưởng phòng thí nghiệm chưa được đào tạo qua lớp quản lý phòng thí nghiệm
- Về trách nhiệm của Chủ đầu tư: Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm toàn bộ về chất
lượng công trình xây dựng Chủ đầu tư có trách nhiệm lựa chọn các Nhà thầu, ký kết hợp đồng kinh tế, giám sát và nghiệm thu chất lượng công trình từ khâu Lập dự án, Khảo sát, Thiết kế, Thi công đến nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng
và thanh quyết toán công trình
Hầu hết các chủ đầu tư đều thành lập các Ban QLDA, các Ban QLDA đều có đủ số lượng đảm bảo đủ điều kiện, năng lực Tuy nhiên số lượng cán bộ của các Ban QLDA hiểu biết về công tác quản lý chất lượng xây dựng còn nhiều hạn chế Mặt khác, khi lựa chọn nhà thầu các chủ đầu tư chưa kiểm tra, kiểm soát đầy đủ thông tin về năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu đủ năng lực thực sự và có kinh nghiệm tham gia thực hiện
dự án Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư của dự án Một số công trình việc tổ chức đấu thầu chỉ mang tính chất hình thức, thủ tục
1.3 Thực trạng chung về chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình
1.3.1 Thực trạng chung về công tác giám sát thi công xây dựng công trình
Tư vấn giám sát (TVGS) chất lượng công trình xây dựng có nhiệm vụ chính là giúp chủ đầu tư giám sát về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng công trình theo nhiệm vụ thỏa thuận với chủ đầu tư trong
Trang 2716
hợp đồng kinh tế Chủ thể TVGS không trực tiếp làm ra sản phẩm công trình xây dựng, nhưng lại là một nhân tố quan trọng quyết định việc kiểm soát chất lượng của một công trình xây dựng
Thực trạng công tác TVGS trong nước hiện nay đang còn tồn tại nhiều bất cập ở các khâu đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề, mức thu nhập, năng lực chuyên môn, quyền hạn
và trách nhiệm trong công việc, xử lý vi phạm đối với các hành vi tiêu cực
Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của đội ngũ TVGS chưa đồng đều, nhất là kiến thức chuyên môn đối với các hạng mục công việc có tính chất kỹ thuật phức tạp Công tác đào tạo trong việc hành nghề hoạt động xây dựng nói chung hiện nay tại một số tổ chức chưa tốt, hoạt động mang tính hình thức còn nặng về lợi nhuận, không chú trọng vào công tác chất lượng đào tạo Công tác cấp chứng chỉ hành nghề TVGS được giao cho các địa phương thực hiện, tuy nhiên việc quy định điều kiện để cấp chứng chỉ còn hình thức, chưa có cơ chế sát hạch, kiểm tra để đảm bảo người được cấp chứng chỉ có năng lực phù hợp với lĩnh vực được cấp chứng chỉ hành nghề Hệ thống đăng tải thông tin về
tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS mặc dù đã được xây dựng nhưng chưa vận hành hiệu quả
Việc đào tạo, sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề giám sát chưa được kiểm soát chặt chẽ Do đó, trong nhiều trường hợp TVGS chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm
vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án
Một số tổ chức, cá nhân TVGS chưa thực hiện đúng nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định,
cá biệt có trường hợp còn phụ thuộc vào chủ đầu tư và nhà thầu dẫn đến không thể nâng cao vai trò trách nhiệm trong công việc
Mức thu nhập thực nhận đối với những cá nhân tham gia công tác TVGS đang còn thấp, chưa tương xứng khi làm việc trong lĩnh vực “nhạy cảm” này Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến một bộ phận đội ngũ TVGS vi phạm đạo đức nghề nghiệp,
ở một số trường hợp còn có hành vi tiêu cực, thông đồng, thỏa thuận với nhà thầu thi công làm ảnh hưởng đến chất lượng thi công và xây dựng công trình
Trang 2817
Chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân TVGS chưa được quy định cụ thể, gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong xử lý khi phát hiện các hành vi vi phạm, do đó làm giảm tính răn đe và hiệu lực quản lý của pháp luật đối với hoạt động TVGS
Để hạn chế những tồn tại, bất cập nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước với hoạt động TVGS
1 Cơ quản quản lý nhà nước cần hoàn thiện và đưa vào vận hành trang thông tin điện
tử quản lý cơ sở dữ liệu về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TVGS,
kể cả nhà thầu và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm thông tin về chữ ký cá nhân, hồ sơ lý lịch, quá trình học tập và công tác, vi phạm pháp luật, kỷ luật, khen thưởng của cá nhân hành nghề TVGS; thông tin về năng lực của tổ chức hành nghề TVGS ) Yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải bắt buộc đăng ký trước khi tham gia hành nghề TVGS Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để các chủ đầu tư căn cứ kiểm tra thông tin và lựa chọn được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực phù hợp thực hiện công tác TVGS
2 Cần quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS, từ đó ban hành chế tài xử lý vi phạm cụ thể, trong đó quy định rõ các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt đủ mạnh (bao gồm phạt tiền, cấm hành nghề, các trường hợp xử lý hình sự đối với tổ chức, cá nhân TVGS) và có biện pháp tổ chức thực hiện nghiêm để đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát công trình xây dựng
3 Có cơ chế thích hợp như khen thưởng, ưu tiên nhận thầu để khuyến khích các tổ chức, cá nhân TVGS thực hiện tốt quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình; thực hiện giám sát các công trình đạt chất lượng cao
4 Tăng cường rà soát, kiểm tra công tác đào tạo TVGS Đổi mới việc cấp chứng chỉ hành nghề theo hướng tổ chức sát hạch để công tác cấp chứng chỉ hành nghề đảm bảo thực chất và tránh tiêu cực
5 Tổ chức các lớp học tư vấn giám sát để đạo tạo ra đội ngũ TVGS có chất lượng
Trang 2918
1.3.2 Thực trạng về chất lượng giám sát thi công xây dựng công trình
Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hoá đặc biệt, phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người Hàng năm, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, của doanh nghiệp và người dân dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 25 - 30% GDP Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người
Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng giám sát thi công xây dựng - yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng công trình xây dựng - đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh đội ngũ
kỹ sư tư vấn xây dựng, với việc ứng dụng công nghệ mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi… góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; xây dựng hàng chục triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hoá, thể thao… thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít các công trình
có chất lượng kém, không đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong bộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư
1.3.2.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Đặc biệt, ở nước
ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng Vì vậy, để tăng cường
Trang 30- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng
- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định
- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn ISO 9001 -
2000, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành
Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản
lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần thiết phải sửa đổi bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là:
- Những quy định về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa yếu tố chất lượng và giá dự thầu Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định về chất lượng công trình Đặc biệt là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự thầu
Trang 3120
thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án
- Những quy định chế tài xử lý, phân rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong quản
lý chất lượng còn thiếu cụ thể Chế tài chưa đủ mạnh để răn đe phòng ngừa:
+ Đối với giai đoạn lập dự án, thiết kế, khảo sát đó là những quy định chế tài đối với chủ đầu tư khi vi phạm trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng, đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thẩm định là những quy định chế tài khi họ vi phạm các quy định về quản lý chất lượng
+ Đối với giai đoạn xây dựng đó là những điều quy định chế tài đối với các chủ thể về quản lý chất lượng trong quá trình đấu thầu, xây dựng bảo hành, bảo trì
Cần có chế tài cụ thể vi phạm điều nào, điểm nào thì xử lý thế nào? Phạt bao nhiêu tiền, bao nhiêu % giá trị hợp đồng, đưa vào danh sách “đen”, cấm có thời hạn, vi phạm thế nào thì thu hồi giấy phép kinh doanh, gây hậu quả mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự…
Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, đến tài sản Các doanh nghiệp hoạt động xây dựng phải là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện Vì vậy, cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp công trình
Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, đặc biệt là đội ngũ đốc công, thợ
cả Công tác đào tạo cán bộ quản lý dự án, chủ đầu tư chưa được coi trọng thường xuyên, nhiều chủ đầu tư, ban quản lý dự án làm trái ngành trái nghề, không đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức quản lý dự án
Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong phạm vi cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế
Trang 3221
1.3.2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia
xây dựng công trình
Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là
3 chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh rằng
dự án, công trình nào mà 3 chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy
đủ các quy định hiện nay của Nhà nước, tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, đặc biệt trong trường hợp các tổ chức này độc lập, chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu quả
a Chủ đầu tư - Ban quản lý
Chủ đầu tư là người chủ động vốn bỏ ra hoặc được giao quản lý vốn để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng
Đối với chủ đầu tư là vốn của tư nhân, của nước ngoài (nhà tư bản) đồng tiền bỏ ra từ túi tiền riêng của họ nên việc quản lý dự án nói chung cũng như quản lý chất lượng nói riêng của cả quá trình được hết sức quan tâm, từ quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết
kế đến cả giai đoạn thi công xây lắp, bảo trì Trừ công trình nhỏ lẻ họ tự quản lý còn đa
số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp thực hiện quản lý chất lượng công trình thông qua các hình thức: Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát độc lập để kiểm tra chất lượng công trình suốt vòng đời của dự án
Trường hợp vốn đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất chủ đầu tư được Nhà nước uỷ nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ đầu tư “thực sự”, được thành lập thông qua quyết định hành chính Thực trạng hiện nay nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế
Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng nên tách chức năng chủ đầu tư là ông chủ đồng vốn nhà nước, đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn quản lý dự án
Trang 3322
(là đơn vị làm thuê) thông qua hợp đồng kinh tế Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập (trừ các dự án có quy mô nhỏ, đơn giản)
b Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế
Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ Mặt khác, kinh phí cho công việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa cao, còn nhiều sai sót
b.1 Đối với giai đoạn lập dự án
- Khảo sát chưa kỹ, lập dự án theo chủ quan của chủ đầu tư
- Khâu thẩm định dự án chưa được coi trọng Các ngành tham gia còn hình thức, trình
độ năng lực của cán bộ thẩm định còn hạn chế
b.2 Đối với lĩnh vực khảo sát, thiết kế
- Khảo sát phục vụ thiết kế còn sơ sài, thiếu độ tin cậy
- Hệ thống kiểm tra nội bộ của tổ chức khảo sát thiết kế chưa đủ, chưa tốt còn tình trạng khoán trắng cho cá nhân, tổ đội
- Công tác thẩm định còn sơ sài, hình thức
c Tổ chức tư vấn giám sát (của chủ đầu tư hoặc thuê tổ chức tư vấn giám sát độc lập)
Là người thay mặt cho chủ đầu tư trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong suốt quá trình xây dựng thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp, độc lập Các cán bộ làm vịêc trong tổ chức tư vấn giám sát này thường
Trang 34Tuy nhiên, do tốc độ phát triển xây dựng rất nhanh, lớn trong khi chưa có các công ty
tư vấn giám sát chuyên nghiệp, tình trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung thêm nhiệm vụ này, đã thế lực lượng cán bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít được bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ đãi ngộ hạn chế, do phí quản lý giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư vấn giám sát
d Nhà thầu thi công xây lắp
Đây là chủ thể quan trọng, quyết định đến việc quản lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng
Thời gian qua, các nhà thầu trong nước đã phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng và thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường, nên nhiều Tổng Công
ty, công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế
Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng gây lún sụt, sập đổ nhiều công trình thấm, dột, bong bộp, nứt vỡ, xuống cấp rất nhanh
mà nguyên nhân của nó là:
- Còn khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong thực
tế nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ cán bộ giám sát nội
bộ, thậm chí còn khoán trắng cho các đội thi công và phó mặc cho giám sát của chủ đầu
tư
Trang 3524
- Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc biệt đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng nhiều công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã bảo đảm phần rất quan trọng để quản lý chất lượng công trình Rất tiếc rằng thời gian qua công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm, sự cố công trình (ví dụ biện pháp thi công cầu Cần Thơ, thi công đầm lăn Thuỷ điện Sơn La, hầm Thủ Thiêm…)
- Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là ở văn phòng công ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng
- Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn Nhiều đơn vị sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công nhân thời vụ, đã thế việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế
- Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau, đã hạ giá thầu một cách thiếu căn
cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ (tiêu cực) cho đối tác hoặc bản thân dính tiêu cực, tư túi cá nhân… nên đã tìm cách “hạ chất lượng sản phẩm”
để bù đắp
e Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn bảo trì
Công tác bảo trì công trình qua các công đoạn duy tu, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và lớn nhằm đảm bảo chất lượng công trình trong giai đoạn sử dụng đến hết niên hạn hoặc kéo dài niên hạn sử dụng Đó là công việc có ý nghĩa rất lớn
Hiện nay, công tác này được thực hiện chủ yếu ở các công trình giao thông, đập lớn, một số công trình công nghiệp, do đó đã kịp thời sửa chữa các khuyết tật Công việc duy
tu, sửa chữa định kỳ đã được thực hiện bởi các lực lượng chuyên nghiệp nhằm bảo vệ gìn giữ công trình có được chất lượng sử dụng tốt nhất đảm bảo sử công trình đúng niên hạn tuổi thọ theo thiết kế Nhiều nhà khoa học đã tổng kết: Đầu tư 1 đồng vốn cho bảo
Trang 36đê đập bị sụt lở, nhà cửa bị thấm dột, hư hại thép chịu lực) thậm chí nhiều công trình không có kế hoạch, nguồn vốn để thực hiện duy tu bảo trì, điển hình là các nhà chung
cư, công trình phúc lợi xã hội công cộng (trường học, bệnh viện…) dẫn đến công trình xuống cấp, tuổi thọ rất ngắn hỏng trước thời hạn, gây lãng phí tiền của rất lớn mà chẳng
ai chịu trách nhiệm
1.4 Tổng quan những kinh nghiệm, nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.4.1 Tổng quan những kinh nghiệm trong công tác giám sát thi công xây dựng
công trình
Trong xây dựng, giám sát thi công đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và tiến độ của công trình Tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí giám sát thường là gia chủ hoặc người thân, nhưng kiến thức chuyên môn về xây dựng và thời gian của họ
sẽ bị hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình
a Giám sát hiệu quả phải bắt đầu ngay từ khâu thiết kế
Vai trò giám sát trong giai đoạn này là đảm bảo tất cả những yêu cầu của bạn đều được thể hiện trên hồ sơ thiết kế và mọi chi phí dự toán đều khớp với ngân sách Thực tế có hai bản vẽ quan trọng nhất bạn phải nắm rõ: Hồ sơ thiết kế và Hồ sơ kỹ thuật
- Hồ sơ thiết kế là bản vẽ thể hiện chi tiết các mặt đứng, mặt cắt và phối cảnh 3D của ngôi nhà Nên yêu cầu Kiến trúc sư cung cấp mô hình 3D để hình dung rõ ràng về những hạng mục sẽ xây dựng
- Hồ sơ kỹ thuật là bản vẽ hoàn chỉnh nhất, thể hiện chi tiết các hạng mục xây dựng (bao gồm nguồn gốc, chủng loại, khối lượng, đơn giá….) dùng để xác định giá trị dự toán của ngôi nhà Phải cẩn thận kiểm tra mục này vì chỉ cần sai sót một chút về các yếu tố trên thì đơn giá vật tư đã thay đổi khác biệt Tham khảo nhà thầu và đơn giá từ những
Trang 3726
nhà cung cấp tại địa phương để chọn vật liệu phù hợp với yêu cầu thiết kế và giá cả hợp
lý nhất Nếu kỹ lưỡng trong giai đoạn này thì việc quản lý chi phí sẽ nằm trong tầm tay người quản lý
b Giám sát và nghiệm thu từng công đoạn theo tiến độ thi công phần thô
Phần thô được xem là phần quan trọng bậc nhất vì là hạng mục tiền đề, cốt lõi cho tất
cả các hạng mục kế tiếp Giám sát trong giai đoạn này bao gồm theo dõi tiến độ từng công đoạn, kiểm tra tất cả vật liệu có đúng khối lượng, đúng chủng loại và từng hạng mục thi công có đúng theo thiết kế và đảm chất lượng hay không… Đây cũng là giai đoạn xảy ra nhiều mâu thuẫn giữa thiết kế và nhà thầu do chưa có tiếng nói chung giữa
kế hoạch và thực tế Để hạn chế điều này, chủ đầu tư cần tạo ra sự ràng buộc giữa các bên và thông tin minh bạch trong suốt quá trình từ thiết kế đến thi công cho tới khi nghiệm thu
Trong quá trình xây dựng, sẽ có những tác động khiến bạn muốn thay đổi một phần nào
đó của thiết kế nhưng lời khuyên là hãy kiên định với những thứ ban đầu và đầu tư vào phần trang trí Nếu có những lý do khách quan buộc phải thay đổi, hãy trao đổi với thiết
kế và nhà thầu để cùng nhau tìm ra giải pháp hiệu quả nhất căn cứ vào tình hình thực tế
c Giám sát các công tác hoàn thiện phối hợp theo đúng trình tự
Phần hoàn thiện tuy nhẹ nhàng hơn nhưng sẽ quyết định mỹ quan của công trình Chủ đầu tư giám sát khâu chuẩn bị kỹ lưỡng, đảm bảo nếu đã tiến hành hoàn thiện thì không còn bất kì công tác thi công, đục đẽo nào làm hư hỏng hoặc cản trở phần hoàn thiện nữa Như với nhà cao tầng thì phần hoàn thiện nên làm từ tầng trên xuống tầng dưới vì đã hoàn thiện rồi thì không đi qua lại tránh làm ảnh hưởng tới chất lượng nơi đã hoàn thiện Trên một mặt bằng thì chỉ được thi công một công tác hoàn thiện Quá trình hoàn thiện ngôi nhà được thực hiện lần lượt theo quy trình các bước: từ trát bả tường, láng sàn; ốp lát gạch; sơn, vôi tường; đến lắp đặt hệ thống kỹ thuật điện và cuối cùng là lắp đặt nội thất
Trang 3827
1.4.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1 Nghiên cứu công tác giám sát chất lượng thi công phần cơ điện trong công trình xây dựng tòa Nhà Xanh một liên hợp quốc - 304 Kim Mã Tác giả: Đỗ Mạnh Hưởng-Khóa 20QLXD21
2 Giám sát thi công và nghiệm thu công trình cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Tác giả: Đỗ Văn Quý-Khóa 20QLXD22
3 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giám sát thi công công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Nam Định Tác giả: Phạm Hồng Dương-Khóa 19QLXD
4 Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng tư vấn thiết kế và tư vấn giám sát thi công công trình xây dựng công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Tác giả: Nguyễn Quý Biên-Khóa 20QLXD11-CS2
5 Giám sát thi công và nghiệm thu nền móng công trình trụ sở cơ quan đại diện tổng cục cảnh sát Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng Tác giả: Dương Xuân Hòa-Khóa 20QLXD11
6 Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý của tư vấn giám sát để quản lý hoạt động của nhà thầu áp dụng cho dự án TIMES SQUARE - TP Hồ Chí Minh Tác giả: Trần Minh Hải-Khóa 20QLXD21 - CS2
Trang 3928
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công tác giám sát thi công xây dựng công trình trong hoạt động xây dựng có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, ngăn ngừa những thất thoát trong xây dựng, ngăn chặn được các sự cố đáng tiếc xảy ra, tạo nên sự
ổn định chính trị, an sinh xã hội và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước Nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các cấp, các ngành và của các nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nội dung chủ yếu của công tác giám sát thi công xây dựng: Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình; Quản lý khối thi công xây dựng công trình; Quản lý an toàn lao động trên công trình xây dựng; Quản lý môi trường trong quá trình thi công xây dựng
Chương 1, tác giả đã khái quát được tổng quan chung về công tác quản lý thi công xây dựng, công tác giám sát thi công xây dựng công trình, thực trạng của công tác giám sát thi công xây dựng, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công xây dựng công trình Những kết quả của chương 1 là tiền đề để đưa ra những cơ sở khoa học, nhằm nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công xây dựng công trình ở chương 3 của luận văn
Trang 4029
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1 Quy định về giám sát thi công xây dựng công trình
2.1.1 Văn bản quy định của Nhà nước
Luật Xây dựng ngày 18 tháng 6 năm 2014;
Luật Đầu tư công ngày 18 tháng 6 năm 2014;
Luật Đấu thầu ngày 26 tháng 11 năm 2013;
Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu
Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng
Thông tư số 06/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn xác định
và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Thông tư số 07/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng
Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng