1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất tại công ty cổ phần hà lan

63 338 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 253,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài luận văn, khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên khoa quản trị kinh doanh, quản trị marketing, quản trị doanh nghiệp. Công tác tổ chức sản xuất, sản xuất và thương mại, quản trị sản xuất.

Trang 1

Để hoàn tất nội dung Đề tài :”Hoàn thiện công tác Tổ chức sản xuất tại Chi

nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan” Em đã vận dụng rất

nhiều kiến thức mà trong suốt thời gian học tập tại, các Thầy Cô đã tận tâm truyền đạtcho em Nhân đây em xin gửi lời cảm ơn đến:

Quý Thầy Cô ở, đặt biệt là các Thầy Cô ở khoa Quản trị kinh doanh đã truyềnđạt cho em những kiến thức, và kinh nghiệm vô cùng quý báu làm nền tảng vững chắc

để em áp dụng vào công tác thực tế và tạo điều kiện cho em trong quá trình học tậpcũng như thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất

và Thương mại Hà Lan và các cán bộ công nhân viên đã giúp em tiếp cận được vớiquá trình sản xuất thực tế và rút ra rất nhiều bài học kinh nghiệm cho công việc củaminh sau này

Em xin cảm ơn Th.S đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, đóng góp ý kiến trongsuốt thời gian em thực hiện khóa luận

Hà Nội, tháng 6 năm 2015

Sinh viên

Trang 2

M C L C Ụ Ụ

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VE

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nước ta ra nhập WTO đã mở ra nhiều cơ hội pháttriển hơn cho nền kinh tế, tuy nhiên cũng tạo ra sự cạnh tranh khá gay gắt từ chính cácdoanh nghiệp trong nước và ngoài nước Điều này đặt ra thách thức đối với các nhàquản lý, phải làm sao để doanh nghiệp của mình có thể đứng vững và phát triển

Chi nhánh công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan cũng không tránhkhỏi sự cạnh tranh khốc liệt đó Để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường kinhdoanh mới, chi nhánh công ty cần phải đặc biệt chú trọng tới việc hoàn thiện và nângcao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Muốn hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao thì vấn đề cần được quan tâmhàng đầu đó là công tác tổ chức sản xuất – quyết định đến số lượng, chất lượng củasản phẩm Để cạnh tranh hiệu quả, lãnh đạo chi nhánh công ty phải đưa ra những biệnpháp nào để tổ chức sản xuất khoa học tạo ra dây chuyền sản xuất nhịp nhàng ăn khớp,giảm mọi chi phí không hợp lý, sắp xếp đào tạo nhân sự nhằm nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng suất lao động

Trong quá trình thực tập tại chi nhánh công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại

Hà Lan, được sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo cũng như các nhânviên trong chi nhánh công ty, đồng thời cũng nhận thức rõ được tầm quan trọng củacông tác tổ chức sản xuất đối với chi nhánh công ty nói riêng và các doanh nghiệp sản

xuất kinh doanh nói chung, sau khi kết thức khóa học em đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp hoàn thiện công tác Tổ chức sản xuất tại chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan” làm khóa luận tốt nghiệp với hy vọng áp dụng các

kiến thức đã học vào thực tế, từ đó đưa ra một số đề xuất để giúp đơn vị sản xuất kinhdoanh mang lại hiệu quả cao nhất

Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về công tác Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng công tác Tổ chức sản xuất tại chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan.

Chương 3: Biện pháp hoàn thiện công tác Tổ chức sản xuất tại chi nhánh Công ty

Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan.

Trong quá trình làm bài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong sẽ nhậnđược những ý kiến đóng góp từ thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC

SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là sự phối kết hợp chặt chẽ giữa sức laođộng và tư liệu sản xuất cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất

và công nghệ sản xuất đã định nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội với hiệu quả caotrên cơ sở quán triệt ba vấn đề kinh tế cơ bản của kinh tế thị trường: sản xuất cái gì?Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai?

1.1.2 Ý nghĩa của việc tổ chức sản xuất hợp lý trong doanh nghiệp

Về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy, tổ chức sản xuất hợp lý đem lại ýnghĩa lớn về nhiều mặt:

- Cho phép hoặc góp phần quan trọng vào việc sử dụng có hiệu quả nguyên, nhiên vậtliệu, thiết bị máy móc và sức lao động trong doanh nghiệp

- Góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, thực hiện được mục tiêu kinh tế tổng hợp của doanh nghiệp, tức là làm ăn cólãi

- Có tác dụng tốt đối với việc bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp (không gây ônhiễm, không gây độc hại)

1.1.3 Mục tiêu của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Sản xuất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp, cho nên tổchức sản xuất bị chi phối bởi mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh mục đích là lợi nhuận, đối với các doanh nghiệp công íchmục đích là phục vụ

Mỗi doanh nghiệp, để đạt được mục đích của mình lại đòi hỏi có những mụctiêu cụ thể khác nhau để thực hiện mục đích chung của doanh nghiệp Do đó, công tác

tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp cũng khác nhau Chẳng hạn như đối vớidoanh nghiệp sản xuât kinh doanh, để đạt được mục đích là lợi nhuận cần đảm bảo cácyêu cầu: chất lượng cao, giá thành thấp, đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng Tổchức sản xuất cần thực hiện được những mục tiêu sau:

- Đảm bảo chất lượng dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng

- Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra

- Rút ngắn thời gian sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ

- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao

Trang 7

Tuy nhiên cần lưu ý rằng các mục tiêu thường mâu thuẫn với nhau Vấn đề cầnthiết đặt ra là phải biết xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu để tạo thế cân bằng động,

đó là sự cân bằng tối ưu giữa chất lượng, tính linh hoạt của sản xuất, tốc độ cung cấp

và hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh môi trường trong từng thời kỳ cụ thể, tạo ra sứcmạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

1.1.4 Yêu cầu của công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Do tính phức tạp của tổ chức sản xuất cùng với những trở ngại về công nghệ, tổchức trong quá trình tổ chức sản xuất để thiết kế phương án tổ chức thích hợp với lĩnhvực kinh doanh và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp Chính vì thế, cần phải đảmbảo những yêu cầu sau:

- Tính hiệu quả của hoạt động sản xuất

- Thích hợp với đặc điểm thiết kế của sản phẩm và dịch vụ

- Phù hợp với khối lượng sản phẩm sản xuất

- Thích ứng với môi trường sản xuất bao gồm cả môi trường bên trong và bên ngoài củadoanh nghiệp

- Đáp ứng những đòi hỏi của công nghệ và phương pháp chế biến

1.2 Nội dung chủ yếu của tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

1.2.1 Lựa chọn cơ cấu tổ chức sản xuất

Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp luôn có hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau

đó là:

- Mặt vật chất – kỹ thuật của sản xuất, bao gồm sự tác động của sức lao động (lao độngcông nghệ, lao động quản lý, lao động phụ trợ) lên đối tượng lao động bằng các công

cụ lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm

- Mặt kinh tế - xã hội của sản xuất cho thấy quá trình sản xuất trong doanh nghiệp còn làquá trình củng cố mối quan hệ sản xuất, quá trình lao động sáng tạo hiệp tác của ngườilao động

Việc lựa chọn cơ cấu tổ chức sản xuất hợp lý là tiền đề cho quá trình tổ chức vàphân công lao động hợp lý

b) Xác định cơ cấu tổ chức sản xuất

Trang 8

Căn cứ vào chức năng và nội dung công việc để xác định cơ cấu của doanhnghiệp và thường gồm các bộ phận:

- Bộ phận lao động sản xuất là bộ phận tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinhdoanh như: bộ phận phân xưởng sản xuất, bộ phận thi công

- Bộ phận lao động quản lý thực hiện những tác động vào mối quan hệ giữa các bộphận, cá nhân nhằm thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh Bộ phận này lại gồm các

bộ phận lãnh đạo, bộ phận chuyên môn kỹ thuật – nghiệp vụ và bộ phận thừa hànhphục vụ

- Bộ phận lao động bổ trợ là bộ phận làm những công việc tác động vào quá trình chuẩn

bị, đảm bảo các điều kiện cho lao động sản xuất trực tiếp – bộ phận lao động côngnghệ

c) Những tiêu chuẩn đánh giá cơ cấu tổ chức sản xuất

Một cơ cấu tổ chức tốt, hợp lý, tối ưu phải đạt được một số tiêu chuẩn sau:

- Tinh giảm, gọn nhẹ: số lượng các bộ phận sản xuất phải giảm đến mức thấp nhất

- Không gây chồng chéo: các bộ phận khác nhau phải được phân công nhiệm vụ khácnhau Tránh tình trạng một bộ phận thực hiện hai nhiệm vụ cũng như hai bộ phận đượcgiao một nhiệm vụ Có như vậy mới dễ quản lý và các bộ phận sản xuất không gây cảntrở lẫn nhau

- Cơ cấu tổ chức sản xuất phải đảm bảo tính cân đối: đảm bảo quan hệ tỷ lệ giữa các bộphận về số lượng lao động, thiết bị, mặt bằng sản xuất

- Quy mô của các bộ phận sản xuất phải tương xứng với trình độ và năng lực của ngườiquản lý, người lao động

- Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo ổn định cả khi có những biến động về nhiệm vụ, hoàncảnh… do những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài gây ra

- Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo hiệu quả: chi phí sản xuất thấp nhưng hiệu quả kinh tếcao, tiết kiệm nguồn tài nguyên, môi trường cho xã hội

1.2.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất

Thực tiễn tại nhiều doanh nghiệp đã chỉ ra rằng có nhiều phương pháp tổ chứcsản xuất khác nhau Mỗi phương pháp phải thích ứng với những đặc điểm trình độ tổchức và kỹ thuật với từng loại hình sản xuất của doanh nghiệp Có một số phươngpháp tổ chức sản xuất cơ bản sau:

a) Phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền

Sản xuất dây chuyền là một hình thức tổ chức sản xuất liên tục lặp đi lặp lại màđối tượng lao động hoàn thành công việc theo tuyến công nghệ nhất định, thông quacác bộ phận sản xuất một cách thứ tự, đồng thời theo tốc độ sản xuất nhất định

Tổ chức sản xuất theo dây chuyền có hiệu quả nhất đối với loại hình sản xuấtlặp lại, thường được sử dụng để thiết lập luồng sản xuất sản phẩm thông suốt, nhịpnhàng, khối lượng lớn Mỗi đơn vị đầu ra đòi hỏi cùng một trình tự các thao tác từ đầu

Trang 9

đến cuối Các nơi làm việc và thiết bị thường được bố trí thành các dòng nhằm mụcđích thực hiện đúng trình tự các bước công việc đã được chuyên môn hóa và tiêuchuẩn hóa, có khả năng sắp xếp quá trình tương ứng với đòi hỏi về công nghệ chế biếnsản phẩm Máy móc, thiết bị có thể sắp đặt theo một đường cố định như các băng tải

để nối liền giữa các hoạt động tác nghiệp với nhau, hình thánh các dây chuyền Căn cứvào tính chất của quá trình sản xuất, đường di chuyển của nhiên liệu, bán thành sảnphẩm và sản phẩm, người ta chia thành dây chuyền sản xuất hoặc lắp ráp

Những ưu điểm của tô chức sản xuất theo dây chuyền:

- Tốc độ sản xuất sản phẩm nhanh

- Chi phí đơn vị sản phẩm thấp

- Chuyên môn hóa lao động, giảm chi phí, thời gian đào tạo và tăng năng suất

- Việc di chuyển của nguyên liệu và sản phẩm dễ dàng

- Mức độ sử dụng thiết bị và lao động cao

- Hình thành thói quen, kinh nghiệm và có kịch trình sản xuất khá ổn định

- Dễ dàng hơn trong hạch toán, kiểm tra chất lượng, dự trữ và khả năng kiểm soát hoạtđộng sản xuất cao

b) Phương pháp tổ chức sản xuất theo nhóm

Phương pháp tổ chức sản xuất theo nhóm được thể hiện ở chỗ không thiết kếquy trình công nghệ, bố trí máy móc, dụng cụ đề sản xuất từng loại chi tiết cá biệt màlàm chung cho cả nhóm, dựa vào các chi tiết tổng hợp đã lựa chọn Các chi tiết trongnhóm được gia công trong cùng một lần điều chỉnh máy

Phương pháp sản xuất theo nhóm không thiết kế quy trình công nghệ, bố tríthiết bị máy móc, dụng cụ để sản xuất từng loại chi tiết cá biệt mà làm chung cả nhóm,dựa vào các chi tiết tổng hợp đã lựa chọn Phương pháp này bao gồm những việc sau:

- Tất cả các chi tiết của các loại sản phẩm cần chế tạo, sau khi được tiêu chuẩn hóa,được phân loại thành từng nhóm, căn cứ vào kết cấu, công nghệ giống nhau, yêu cầumáy móc và đồ gá lắp cùng loại

- Lựa chọn chi tiết tổng hợp của nhóm Chi tiết tổng hợp là chi tiết phức tạp hơn và tổnghợp các yếu tố của các chi tiết khác trong nhóm

- Lập quy trình công nghệ cho nhóm hay là cho chi tiết tổng hợp đã lựa chọn

- Tiến hành xây dựng định mức thời gian các bước công việc của chi tiết tổng hợp

Trang 10

- Thiết kế, chuẩn bị dụng cụ, đồ gá lắp cho cả nhóm và bố trí thiết bị máy móc để sảnxuất.

Hiệu quả của phương pháp tổ chức sản xuất theo nhóm:

- Giảm bớt thời gian chuẩn bị về kỹ thuật

- Giảm nhẹ công tác xây dựng mức kinh tế - kỹ thuật, kế hoạch và điều độ sản xuất

- Tạo điều kiện nâng cao loại hình sản xuất

- Tạo điều kiện cải tổ chức lao động, nâng cao hệ số sử dụng đề gá lắp và nhờ đó giảmchi phí hao mòn máy móc, giảm giá thành sản phẩm

1.2.3 Tổ chức sản xuất theo không gian và thời gian

a) Tổ chức sản xuất theo không gian

Tổ chức sản xuất về không gian của quá trình sản xuất chính là sự định vịdoanh nghiệp trên một địa điểm nhất định, sự tổ chức, sắp xếp, định dạng về mặtkhông gian các phương tiện vật chất được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc cungcấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường Kết quả của công tác tổ chức về không giancủa quá trình sản xuất là hình thành các nơi làm việc, các phân xưởng, các bộ phậnphục vụ sản xuất hoặc dịch vụ

Trong thực tế hiện nay không có một phương pháp bố trí mặt bằng sẳn xuất tối

ưu nhất có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệmthử đúng sai để xác định phương án bố trí mặt bằng hợp lý

Công việc bố trí mặt bằng sẳn xuất được thực hiện khi thiết kế một nơi làm việcmới của một doanh nghiệp hoặc khi cải tiến hợp lý hóa quá trình sản xuất Trường hợp

bố trí mặt bằng sản xuất mới cho doanh nghiệp thường thuận lợi hơn việc bố trí lại mặtbằng sản xuất do khi bố trí mặt bằng sẳn xuất mới sẽ ưu tiên hàng đầu những yêu cầu

về bố trí mặt bằng sản xuất, trong khi bố trí lại mặt bằng sản xuất sẽ chịu sự chi phốibởi rất nhiều yếu tố: kiến trúc, cơ sở vật chất sẵn có…và thường phải đánh giá xem xét

kỹ các yếu tố để xác định thứ tự ưu tiên các yếu tố mà đôi khi các yêu cầu của bố trímặt bằng không được ưu tiên hàng đầu

Để bố trí mặt bằng sản xuất được hợp lý cần thu thập các thông tin: mục đíchsản xuất và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, khối lượng sản phẩm dịch vụ, cơ cấusản phẩm dịch vụ, cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các bộphận sản xuất, số lượng lao động của mỗi bộ phận, dây truyền sản xuất, diện tích sảnxuất, quan hệ giữa các phần diện tích hợp thành diện tích sản xuất… Trên cơ sở các

Trang 11

thông tin thu thập được cần tiến hành phân tích đánh giá để lựa chọn kiểu bố trí mặtbằng sản xuất cho phù hợp

Thông thường người ta sử dụng phương pháp lượng hóa cụ thể là tối thiểu hóachi phí hoặc thời gian, quãng đường vận chuyển Phương pháp này coi các yếu tố chiphí hoặc thời gian vận chuyển, quãng đường vận chuyển là tiêu chuẩn để chọn lựa

b) Tổ chức sản xuất theo thời gian

Tổ chức thời gian của quá trình sản xuất là tổ chức quá trình diễn biến của từngbước công việc sản xuất, ở từng nơi làm việc có liên quan đến thời gian tạo nên kếtcấu thời gian của quá trình sản xuất (chu kỳ sản xuấ)

- Tổ chức công việc trên các chỗ làm việc đã được phân bố nhất định, trong một sốlượng và yêu cầu về chất lượng nhất định, sao cho các thời hạn kế hoạch đã được thiếtlập giữ vững

- Các thiết bị sản xuất được sử dụng tốt nhất Tất cả các thời gian khai thác, kiểm tra,vận chuyển… là ngắn nhất

 Chu kỳ sản xuất và cách xác định chu kỳ sản xuất

 Khái niệm chu kỳ sản xuất:

Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian kể từ lúc đưa nguyên vật liệu vào sản xuấtcho đến lúc chế tạo xong Chu kỳ sản xuất được coi là một trong các chỉ tiêu kinh tế đểđánh giá trình độ sản xuất và trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp

Chu kỳ dản xuất có thể được xác định cho từng chi tiết, từng bộ phận hoặc chomột sản phẩm hoàn chỉnh

 Phân loại thời gian trong chu kỳ sản xuất:

- Thời gian hoàn thành các bước công việc theo quá trình công nghệ

- Thời gian kiểm tra kỹ thuật

- Thời gian gián đoạn do sản phẩm dở dang ngừng vận động, dừng lại tại nơi làm việc,kho trung gian, trong những ngày và ca không làm việc

- Thời gian quá trình tự nhiên tác động vào đối tượng lao động

 Rút ngắn chu kỳ sản xuất:

Rút ngắn chu kỳ sản xuất là một trong những mục tiêu quan trọng của tổ chứcsản xuất Bởi lẽ, độ dài của chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng sảnphẩm dở dang, đến việc sử dụng công suất của thiết bị, máy móc, diện tích sản xuất;đến tình hình luân chuyển vốn lưu động và đến việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất

Rút ngắn chu kỳ sản xuất có thể được thực hiện theo hai phương hướng hoặchai nhóm biện pháp sau:

- Cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quy trình hay phương pháp công nghệ, áp dụng kỹ thuậttiên tiến nhằm giảm thời gian quá trình công nghệ và thay thế quá trình tự nhiên bằngquá trình nhân tạo có thời gian ngắn hơn

Trang 12

- Nâng cao trình độ tổ chức sản xuất, hạn chế và xóa bỏ thời gian gián đoạn, tăng cườngcông tác kiểm tra, tiến hành sửa chữa thiết bị, máy móc trong những ca không sảnxuất, tăng cường công tác điều độ sản xuất nhằm xóa bỏ thời gian ngừng việc do thiếunguyên liệu hoặc do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận sản xuất Biện pháp

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở đây là lựa chọn hợp lý phương pháp phối hợp cácbước công việc nhằm rút ngắn thời gian công nghệ

 Các phương thức phối hợp các bước công việc

Phương thức phối hợp các bước công việc có ảnh hưởng lớn đến chu kỳ sảnxuất Chu kỳ sản xuất dài hay ngắn một phần tùy thuộc vào chỗ trong quá trình côngnghệ, một loại sản phẩm được chế biến đồng thời cùng một lúc trên tất cả các nơi làmviệc hoặc chế biến xong cả loại nơi làm việc rồi mới chuyển sang nơi làm việc khác

Trên góc độ của đối tượng lao động để xem xét ta thấy những phương thức phốihợp các bước công việc tương ứng với các hình thức vận động của đối tượng lao độngtrong quá trình sản xuất Trong thực tiễn, các doanh nghiệp thường sử dụng cácphương thức sau đây để rút ngắn thời gian công nghệ của kỳ sản xuất

- Phương thức tuần tự

Theo phương thức này, mỗi chi tiết trong mỗi đợt chế biến chờ toàn bộ chi tiếtcủa đợt được chế biến xong ở bước công việc trước mới chuyển sang bước công việcsau Như vậy, các bước công việc được tiến hành một cách tuần tự, kế tiếp nhau Khi

áp dụng phương thức này, lượng sản phẩm dở dang ở nơi làm việc sẽ lớn, chiếm nhiềudiện tích sản xuất, thời gian của quá trình công nghệ dài

Phương thức tuần tự thường được áp dụng ở những bộ phận sản xuất được phâncông chế biến nhiều loại sản phẩm Nói cách khác nó được sử dụng rộng rãi trong loạihình sản xuất đơn chiếc và hàng loạt nhỏ

- Phương thức song song

Theo phương thức này, việc sản xuất sản phẩm được thực hiện đồng thời trêntất cả các nơi làm việc nói cách khác là trong cùng thời điểm, loạt sản phẩm được chếbiến ở tất cả các nơi làm việc Mỗi chi tiết được chế biến ở bước công việc thứ nhấtđược chuyển ngay sang bước công việc thức hai lại chuyển sang bước công việc thứba… (không chờ đợt chế biến xong cả đợt ở mỗi bước công việc rồi mới chuyển)

Phương thức này có thời gian của các bước công việc có sự chện lệch đáng kểthì việc áp dụng phương pháp này sẽ sinh nhược điểm: xuất hiện những quãng thờigian tạm ngừng sản xuất Khi áp dụng phương thức này các thiết bị, máy móc phảiđược bố trí theo hình thức đối tượng

- Phương thức hỗn hợp

Trang 13

Phương thức hỗn hợp còn được gọi là phương thức song song – tuần tự, vì nókết hợp cả hai phương thức nêu trên Theo phương thức này, khi chuyển đối tượng laođộng từ bước công việc trước sang bước công việc sau mà thời gian bằng nhau hoặcthời gian bước công việc trước ngắn hơn bước công việc sau thì chuyển từng cái một(tức là theo phương thức song song) Trái lại, khi thời gian bước công việc trước dàihơn bước công việc sau thì chuyển theo cả đợt (tức là phương thức tuần tự).

Áp dụng phương thức này sẽ loại trừ được những trường hợp thiết bị, máy móc

và công nhân phải tạm ngừng sản xuất để chờ đối tượng lao động, nhờ đó mà tận dụngđược thời gian chưa sản xuất loại chi tiết này để sản xuất chi tiết khác Vì vậy, phươngthức này được sử dùng rộng rãi trong những đơn vị có loại hình sản xuất khối lượnglớn và linh hoạt (lớn và vừa) nhằm giải quyết có hiệu quả trong trường hợp quá trìnhcông nghệ bao gồm nhiều bước công việc có thời gian chênh lệch nhau nhiều

Thời gian quá trình công nghệ theo phương thức này tuy dài hơn thời gian quátrình công nghệ theo phương thức song song, nhưng lại ngắn hơn thời gian quá trìnhcông nghệ theo phương thức tuần tự

1.2.4 Tổ chức lao động trong doanh nghiệp

a) Tạo lập cơ cấu lao động tối ưu trong doanh nghiệp

 Vai trò của cơ cấu lao động tối ưu

Như chúng ta đều biết, muốn sản xuất ra của cải vật chất cần phải có 3 yếu tố:lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó, lao động là yếu tố quantrọng nhất Nếu không có lao động thì mọi hoạt động sản xuất bị ngừng trệ Tuy nhiênmuốn cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao, cần phải hình thành một cơ cấu laođộng tối ưu trong doanh nghiệp

Do đó cơ cấu lao động được coi là tối ưu khi lực lượng lao động đảm bảo đủ sốlượng, ngành nghề, chất lượng, giới tính, lứa tuổi, đồng thời được phân định rõ chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và các cá nhân vớinhau, đảm bảo mọi người đều có việc làm, mọi khâu, mọi bộ phận đều có người phụtrách và sự ăn khớp, đồng bộ trong từng đơn vị trên phạm vi toàn doanh nghiệp

Như vậy, cơ cấu lao động tối ưu là cơ sở đảm bảo cho quá trình sản xuất đượctiến hành cân đối nhịp nhàng và liên tục; là cơ sở để đảm bảo nâng cao hiệu quả củaquá trình sản xuất và của doanh nghiệp Ngoài ra cơ cấu lao động tối ưu còn là cơ sởcho việc phân công, bố trí lao động; là cơ sở cho công tác đào tạo và quy hoạch cánbộ; là cơ sở để khai thác triệt để các nguồn khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp.Bên cạnh những ý nghĩa mà chúng ta lượng hóa được, cơ cấu lao động tối ưu còn tạo

ra một môi trường một động lực (sức mạnh vô hình) để kích thích sản xuất phát triển

Trang 14

 Phương pháp xác định cơ cấu lao động tối ưu trong doanh nghiệp sản xuất

Để có được một cơ cấu lao động tối ưu, khi xây dựng phải dựa vào các căn cứsau:

- Quy trinh công nghệ chế tạo sản phẩm hay dịch vụ

- Cấp bậc kỹ thuật công việc

- Định mức thời gian lao động

- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ

Xuất phát từ các căn cứ trên, việc xác định cơ cấu lao động tối ưu được thựchiện qua các bước sau:

Bước 1: Xác định lao động cho từng nghề theo công thức

Trong đó:

Qi : là sản lượng sản phẩm loại i

ti : là định mức thời gian lao động nghề i cho 1 sản phẩm

Tn : là thời gian làm việc theo chế độ 1 năm cho 1 công nhân

b) Công tác định mức lao động

Đây là công tác thực tiễn về xây dựng và áp dụng mức lao động cho tất cả cácquá trình lao động Định mức lao động có hai loại cơ bản là mức sản lượng và mứcthời gian

Mức lao động là công cụ quan trọng trong tổ chức lao động, nó là cơ sở để tínhtoán lao động và phân công giao việc cũng như xác định kết quả sản xuất của ngườilao động… Do đó, để tổ chức sản xuất đạt hiệu quả cao doanh nghiệp phải thườngxuyên hoàn thiện định mức lao động trong tất cả các khâu: Xây dựng định mức, ápdụng định mức và quản lý định mức

Có hai nhóm phương pháp cơ bản để xây dựng định mức là: phương pháp tổnghợp và phương pháp phân tích Trong mỗi nhóm lại có những phương pháp cụ thể, mỗiphương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp với từng đơn vị sản xuất

Trang 15

khác nhau Do đó, người làm công tác định mức cần xem xét, đánh giá, lựa chọnphương pháp thích hợp.

c) Phân công lao động, hiệp tác lao động

 Phân công lao động

Là quá trình phân chia toàn bộ nhiệm vụ sản xuất thành những công việc nhỏtrao cho các lao động có nghề nghiệp và trình độ phù hợp

Nhiệm vụ sản xuất trong một xí nghiệp rất phức tạp thông thường được chiathành các nhiệm vụ chung cho một nhóm người trong một bộ phận sản xuất nhất định.Trên cơ sở nhiệm vụ chung cho một nhóm người lại chia nhỏ thành các nhiệm vụ sảnxuất cụ thể để trao cho từng cá nhân

Thường có hai hình thức phân công lao động cơ bản đó là:

- Phân công lao động chung: là phân công lao động giữa các nhóm lao động, giữa các

bộ phận sản xuất Vấn đề phân công lao động chung được giải quyết trong phần xâydựng và hình thành cơ cấu tổ chức sản xuất Hoàn thiện công lao động chung phảihoàn thiện cơ cấu tổ chức sản xuất

- Phân công lao động cá biệt: là phân công lao động giữa các cá nhân trong một bộ phậnsản xuất Có thể phân công cá biệt theo các hình thức sau: phân công lao động theochức năng, nhiệm vụ; phân công lao động theo công nghệ; phân công theo mức độphức tạp của công việc Để phân công lao động cho từng cá nhân phải tiến hành nhữngcông việc như sau: xác định số lượng công việc; mô tả chi tiết công việc; bố trí laođộng cho các cá nhân

 Hiệp tác lao động

Song song với quá trình phân công lao động là quá trình hiệp tác lao động Hiệptác lao động là sự phối hợp cá dạng lao động đã phân công thường có hiệp tác lao độngtheo thời gian và theo không gian

Hiệp tác lao động theo không gian bao gồm các hình thức hiệp tác lao độnggiữa các xí nghiệp, giữa các phân xưởng, giữa những người lao động với nhau trongmột bộ phận sản xuất

Hiệp tác lao động về mặt thời gian bao gồm việc tổ chức ca kíp, tổ chức chế độlàm việc cho người lao động

Đối với công tác vận chuyển và phát thư báo, song song với hình thức phâncông lao động theo chuyên môn đường thư, đoạn phát có các hình thức hợp tác laođộng theo không gian và như luân phiên thay đổi các Bưu tá hay hộ tống viên theovòng tròn hoặc theo nhóm tuyến đường, đoạn phát

Đối với công nhân khai thác thường phối hợp công việc theo thời gian bằngcách luân phiên nhau nghỉ lễ, nghỉ phép và luân phiên làm việc theo ca trong ngày,mùa, năm Ngoài ra, để tránh tình trạng nhàm chán do lặp đi lặp lại một số thao tác

Trang 16

trong một thời gian dài và tạo điều kiện để công nhân phát triển toàn diện người ta còn

bố trí lao động luân phiên nhau làm các công việc khác nhau trong cùng một bộ phận

d) Điều phối lao động

Điều phối lao động là bố trí ca – kíp, phân bổ lực lượng lao động theo tải trọng

Để điều phối lao động hiện nay có hai quan điểm khác nhau

 Quan điểm truyền thống:

Nguồn lao động được định biên là nguồn cứng, không co dãn hoặc không biếnđộng lớn Bố trí lao động làm việc tương ứng với sự lên xuống của tải trọng, người sửdụng lao động phải chấp nhận và chịu mọi tổn thất về sự lãng phí lao động Tương ứngvới sự doa động của tải trọng theo giờ, ngày, tháng… người ta thiết lập ba bài toán quyhoạch tuyến tính nhằm phục vụ cho mục đích tương ứng: phân bổ lực lượng lao độngtheo tải trọng giờ, theo ngày, theo tháng Trong mỗi bài toán, nhiệm vụ của mỗi bàitoán là khác nhau nhưng các tiến hành lại tương tự nhau:

- Bước 1: Tiến hành điều tra tải trọng của cơ sở sản xuất cần điều phối laođộng

- Bước 2: Quy đổi tải trọng của từng loại sản phẩm dịch vụ về đại lượngchung là cường độ tải trọng

- Bước 3: Tiến hành thiết lập các phương án có thể sử dụng

- Bước 4: Thiết lập bài toán và giải bài toán tìm ra phương án tối ưu

 Quan điểm thị trường:

Nguồn lao động là nguồn có thể co dãn được một cách tùy ý thông qua hợpđồng lao động Xã hội và bản thân người lao động phải chấp nhận và chịu tổn thất vềtình trạng lao động Do đó, để điều phối lao động theo quan điểm này người ta đi từbài toán phân bổ lao động theo tải trọng tháng

- Bước 1: Tìm tổng số lao động dài hạn của đơn vị là bao nhiêu dựa vào tảitrọng tháng

- Bước 2: Điều phối lao động dài hạn theo tải trọng tháng

- Bước 3: Điều phối lao động theo ngày, ca bằng cách bố trí bổ xung lao độngthiếu so với tải trọng bằng các lao động trong và ngoài doanh nghiệp

e) Tổ chức và phục vụ địa điểm làm việc

Sau khi đã phân công và hiệp tác lao động cần phải bố trí địa điểm làm việc chophù hợp và đảm bảo các yêu cầu: các trang thiết bị, công cụ phải đảm bảo dễ thấy, dễlấy, dễ sử dụng, ngăn nắp khoa học Ngoài ra khi bố trí địa điểm làm việc còn phải chú

ý đến các yếu tố văn hóa dân tộc, giới tính và phù hợp với đặc điểm khí hậu nhằm tạocho người lao động có cảm giác hứng thứ với công việc, làm việc với chất lượng cao

Phục vụ địa điểm làm việc có nhiệm vụ đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nơilàm việc như cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu, năng lượng cho sản xuất Tránh tìnhtrạng công nhân phải chờ việc hoặc chờ nguyên vật liệu, điện năng, đặc biệt là đối với

Trang 17

các địa điểm đã được cơ giới hóa, áp dụng công nghệ khai thác hiện đại Nội dung chủyếu của phục vụ sản xuất là chăm sóc bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị…

Khi tổ chức địa điểm làm việc cần phải lưu ý đến vấn đề môi trường lao độngnhư ánh sáng, vệ sinh, điều kiện khí hậu, chống bụi, tiếng ồn nơi sản xuất Đây lànhững yếu tố thuộc môi trường sản xuất nhưng có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng tớinăng suất lao động, sức khỏe của người lao động

1.2.5 Chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất và chế độ sửa chữa dự phòng theo kế

hoạch

a) Chuẩn bị kỹ thuật

Chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất là sự tổng hợp các phương án, các biện pháp cóliên quan đến mật thiết với nhau về cải tiến sản phẩm cũ, tự động hóa quá trình sảnxuất, áp dụng các phương pháp công nghệ và tổ chức sản xuất tiên tiến mang lại hiệuquả kinh tế cao

Công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất có ảnh hưởng to lớn đến quá trình sảnxuất, thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật quan trọng như các chỉ tiêu sản lượng,chất lượng, năng suất lao động, mức tiêu hao nguyên vật liệu

b) Chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch

 Ý nghĩa

Sửa chữa máy móc thiết bị có ý nghĩa lớn thể hiện trên các mặt sau:

- Máy móc thiết bị chiếm vị trí cơ bản trong tổng năng lực sản xuất của doanh nghiệp,ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra, đến yêucầu của tổ chức quá trình sản xuất cân đối, nhịp nhàng và liên tục

- Xét về mặt vốn, giá trị tài sản cố định nói chung và giá trị máy móc thiết bị nói riêngchiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn sản xuất của doanh nghiệp Bảo dưỡng, sửa chữa

và sử dụng hợp lý máy móc thiết bị làm giảm được hao mòn vô hình là doanh nghiệp

đã sử dụng hiệu quả phần vốn lớn của doanh nghiệp

- Bản thân các loại máy móc thiết bị, nhất là các máy móc thiết bị hiện đại, tự động hóacao, một bộ phận chi tiết hỏng sẽ làm cho toàn bộ dây truyền ngừng hoạt động

- Do đặc điểm kinh tế nước ta hiện nay, sản xuất thủ công thường xen lẫn với nửa cơkhí, máy móc lại nhiều loại, nhiều kiểu, do nhiều nước sản xuất, nhiều máy đã cũ kỹ,phụ tùng thay thế thiếu Vì vậy, việc bảo dưỡng, sửa chữa hợp lý là quan trọng và phứctạp

 Khái niệm chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch

Chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch là tổng hợp các biện pháp tổ chức, kỹthuật, phục vụ bảo dưỡng, kiểm tra và sửa chữa Những biện pháp tổ chức, kỹ thuật,phục vụ bảo dưỡng, kiểm tra và sửa chữa Những biện pháp đó được tiến hành theo kếhoạch nhằm đảm bảo hoạt động bình thường củ máy móc thiết bị

 Đặc điểm

Trang 18

- Đặc điểm cơ bản của chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch là lấy sửa chữa dựphòng làm chính, tức là không đợi máy hỏng mới sửa chữa mà sửa chữa trước khi máyhỏng.

- Người ta tính toán: máy móc hao mòn không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với thờigian sử dụng, mà đến điểm vượt giới hạn X nào đó máy móc sẽ hao mòn rất nhanh

- Một đặc điểm nữa của chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch là công việc sửa chữađược tiến hành theo kế hoạch (cứ đến ngày tháng quy định là đưa máy ra sửa chữa) vàxác định trước nội dung công tác sửa chữa trước khi sửa (đã biết rõ những bộ phận, chitiết nào cần sửa, cần thay)

 Nội dung của chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch

- Nội dung bao gồm: Bảo dưỡng, kiểm tra định kỳ và sửa chữa lớn, vừa và nhỏ

- Bảo dưỡng máy móc thiết bị bao gồm việc tra và thay dầu mỡ, giữ gìn máy móc sạch

sẽ, tránh ẩm, tôn trọng nội quy bảo quản, vận hành máy Trong quá trình sử dụng phảithường xuyên theo dõi máy móc, phát hiện những sự cố

- Nhiệm vụ bảo dưỡng trước hết và chủ yếu là do bản thân công nhân đứng máy

- Kiểm tra định kỳ: là căn cứ vào tiến độ kiểm tra đã được quy định trong kế hoạch vàđịnh kỳ xem xét máy Qua đó phát hiện ra những bộ phận hư hỏng cần sửa chữa, cầnthay thế trong kỳ sửa chữa tới, đặc biệt chú ý những chi tiết, bộ phận quan trọng dễ hưhỏng

- Nhiệm vụ kiểm tra định kỳ là do cán bộ kỹ thuật kết hợp với công nhân đứng máy thựchiện

- Sửa chữa máy móc thiết bị Việc sửa chữa máy móc thiết bị được chia làm 3 dạng: sửachữa nhỏ, vừa và lớn

1.2.6 Tổ chức cung ứng và sử dụng nguyên vật liệu

Toàn bộ nguyên vật liệu cần mua trong năm để phục vụ cho sản xuất được thểhiện thông qua kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu của các doanh nghiệp Nội dung của

kế hoạch này được thể hiện qua 3 chỉ tiêu sau:

- Lượng vật liệu cần dùng

- Lượng vật liệu cần dự trữ

- Lượng vật liệu cần mua sắm

 Xác định lượng vật liệu cần dùng

Lượng nguyên vật liệu cần dùng là lượng vật liệu được sử dụng một cách hợp

lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch (thông thường là trong một năm) Lượng vật liệu cầndùng phải đmả bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về hiện vật và giá trị,đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật liệu cho chế thử sản phẩm mới, tự trang, tựchế, sửa chữa máy móc thiết bị…

Trang 19

Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại, từng thứ theo quycách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho toàn doanhnghiệp Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho mộtsản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong kỳ kế hoạch.

Tùy thuộc vào từng loại nguyên vật liệu, từng sản phẩm (hoặc công việc), đặcđiểm kinh tế - kỹ thuật của doanh nghiệp mà vận dụng phương pháp tính toán thíchhợp

- Tính lượng nguyên vật liệu chính cần dùng (Vcd)

Để tính lượng nguyên vật liệu chính cần dùng, ta có thể dùng nhiều phươngpháp khác nhau Sau đây là phương pháp được sử dụng được sử dụng có tính phổ biếntrong các doanh nghiệp

Phương pháp tính căn cứ vào định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một sảnphẩm (còn gọi là phương pháp tính theo sản phẩm), công thức tính như sau:

Trong đó:

Vcd : Lượng vật liệu cần dùng

Si : Số lượng sản phẩm loại I kỳ kế hoạch

Dvi : Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm loại i

Pi : Số lượng phế phẩm cho phép của loại sản phẩm i kỳ kế hoạch

Pdi : Lượng phế liệu dùng lại của loại sản phẩm i

- Tính lượng nhiên liệu cần dùng

Lượng nhiên liệu cần dùng năm kế hoạch cũng dùng phương pháp tính trực tiếp(sản lượng nhân với định mức tiêu hao) Nhưng trong thực tế, các doanh nghiệp dùngnhiều loại nhiên liệu khác nhau (than, hơi đốt, xăng dầu…) mỗi loại có nhiệt lượngriêng nên phải quy về dạng nhiệt lượng tiêu chuẩn để tính toán (700 Kcal/kg) Do đó,

để xác định lượng nhiên liệu thực tế mà doanh nghiệp sử dụng cần phải xác định hệ sốtính đổi (K):

Trong đó:

N: là nhiệt lượng của loại nguyên liệu mà doanh nghiệp sử dụng

- Tính lượng nhiên liệu cần dùng cho quá trình công nghệ, áp dụng công thức:Trong đó:

NLcd : Lượng nhiên liệu cần dùng cho quá trình công nghệ

Trang 20

Dm : Định mức tiêu dùng nhiên liệu i cho sản phẩm

Si : Sản lượng sản phẩm loại i

Ki : Hệ số tính đổi loại nhiên liệu i

- Lượng nhiên liệu cần dùng để chạy máy

Khi tính phải dựa vào công suất của thiết bị, thời gian máy chạy và định mứctiêu hao nhiên liệu cho 1 đơn vị công suất trong một đơn vị thời gian

Công thức xác định:

Trong đó:

NLcd : Nhiên liệu (xăng, dầu) cần dùng

Cs : Công suất của máy móc thiết bị làm việc trong năm kế hoạch

Dns : Định mức sử dụng xăng (dầu) cho 1 đơn vị công suất trong 1 giờ

Ghd : Số giờ hoạt động của máy

Hn : Hệ số sử dụng nhiên liệu có ích

- Tính lượng điện, nước cần dùng

Lượng điện cần dùng có thể chia làm 2 loại: lượng điện cần dùng để chạy máy

và lượng điện cần dùng để thắp sáng phục vụ sản xuất

Lượng điện cần dùng để chạy máy được tính theo công thức:

Trong đó:

Dcd : Lượng điện cần dùng để chạy máy

Si : Số lượng sản phẩm loại i

Di : Định mức tiêu dùng điện cho 1 đơn vị sản phẩm loại i

Trong các doanh nghiệp nhu cầu về nước để sản xuất rất lớn, lượng nước cầndùng để sản xuất được tính theo công thức:

Trong đó:

Ncd : Khối lượng nước cần dùng

Si : Số lượng sản phẩm I cần dùng nước để sản xuất

Dmi : Định mức tiêu dùng nước cho một đơn vị sản phẩm loại i

 Xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ

Trang 21

Để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, đạt hiệu quả cao, đòihỏi phải vừa có một lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý Lượng nguyên vật liệu dự trữhợp lý vừa phải đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành liên tục, vừa không bị ứđọng vốn ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn.

Lượng nguyên vật liệu dự trữ là lượng nguyên vật liệu tồn kho cần thiết đượcquy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục

và bình thường

Căn cứ vào tính chất, công cụ, nguyên vật liệu dự trữ được chia làm 3 loại: dựtrữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và dự trữ theo mùa

- Xác định nguyên vật liệu thường xuyên (Vdx)

Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là nguyên vật liệu cần thiết tốithiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa 2 lần mua sắm nguyên vậtliệu

Công thức xác định:

Trong đó:

Vdx : Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên lớn nhất

Vn : Lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm

tn : Thời gian dự trữ thường xuyên

Lượng nguyên vật liệu dùng bình quân tùy thuộc vào quy mô của doanh nghiệp,còn thời gian dự trữ tùy thuộc vào thị trường mua… nguồn vốn lưu động và độ dài củachu kỳ sản xuất

Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên được minh họa qua sơ đồ:

Trang 22

Hình 1.1: Sơ đồ lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên

AB: Lượng dự trữ thường xuyên lớn nhất

AC: Số ngày cách nhau giữa 2 lần

BC: Mức dự trữ thường xuyên giảm dần

 Xác định lượng nguyên vật liệu cần mua sắm

Để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch vốn lưu động, đòi hỏi các doanhnghiệp phải tính toán chính xác lượng nguyên vật liệu cần mua trong năm phụ thuộcvào 3 yếu tố:

- Lượng nguyên vật liệu cần dùng

- Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ

- Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ

Công thức xác định:

Trong đó:

Vc : Lượng nguyên vật liệu cần mua

Vcd : Lượng nguyên vật liệu cần dùng

Vd1 : Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ

Vd2 : Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ

Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ tính theo công thức:

Trang 23

Trong đó:

Vk: Lượng nguyên vật liệu tồn kho ở thời điểm kiểm kê

Vnk: Lượng nhập kho từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáo

Vx: Lượng xuất cho các đơn sản xuất từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáoĐối với các doanh nghiêp không có dự trữ theo mùa, lượng nguyên vật liệu dựtrữ cuối năm kế hoạch chính là lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên và lượngnguyên vật liệu bảo hiểm

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản củacông tác quản trị doanh nghiệp Vì vậy, muốn có phương án tổ chức sản xuất hợp lý và

có hiệu quả, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu, phân tích sự tác động của cácnhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

1.3.1 Nguyên, nhiên vật liệu mà doanh nghiệp sử dụng

Nguyên, nhiên, vật liệu mà mỗi doanh nghiệp sử dụng rất phong phú và đa dạng

và chúng còn được gọi là đối tượng lao động một trong ba yếu tố cơ bản của quá trìnhsản xuất Vì vậy giữa nguyên, nhiên vật liệu và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp cómối quan hệ hữu cơ với nhau Sản xuất trong doanh nghiệp là một quá trình liên tụctác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Giá trị và giá trị

sử dụng của nguyên, nhiên vật liệu được gia tăng gấp bội khi chúng được chế biếntrong cá doanh nghiệp để tạo ra của cải vật chất cho xã hội

Chủng loại nguyên, nhiên vật liệu đơn giản hay phức tạp, chất lượng nguyên,nhiên vật liệu cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp.Ngược lại, tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp ở trình độ cao hay thấp: thủ công, cơkhí hóa, tự động hóa đều đòi hỏi việc cung ứng nguyên, nhiên vật liệu phải đáp ứngyêu cầu Nhìn chung, mối quan hệ giữa tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp vànguyên, nhiên, vật liệu thay đổi những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của mỗi doanhnghiệp Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp lý và có hiệu quả, mỗidoanh nghiệp cần phải chú ý và xác định cho được mức độ ảnh hưởng của nguyên,nhiên, vật liệu

1.3.2 Tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ sản xuất và thiết bị máy móc

Tiến bộ khoa học, kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản xuất trongdoanh nghiệp, tạo tiền đề vật chất – kỹ thuật cho tổ chức sản xuất trong doanh nghiệpđược hợp lý

Trang 24

Nhờ có tiến bộ khoa học, kỹ thuật mà ngày càng có nhiều công nghệ mới, thiết

bị, máy móc, nhiên, vật liệu mới Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp

lý, mỗi doanh nghiệp phải biết và xác định được cho mình nên mua công nghệ nào,thiết bị, máy móc với nguyên, nhiên, vật liệu nào là thích hợp

Tổ chức sản xuất trong mỗi doanh nghiệp nếu được ứng dụng nhanh chóng cáctiến bộ khoa học, kỹ thuật thì nó cho phép sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm nguyên,nhiên vật liệu, sử dụng hợp lý công suất của máy móc thiết bị và sức lao động nângcao năng suất, chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong tổ chức sản xuất của doanh nghiệp nếu có được công nghệ mới, thiết bịmáy móc hiện đại thì sẽ nâng cao được trình độ sản xuất, năng lực sản xuất tạo ra sảnphẩm chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường và xã hội.Ngoài ra, nếu đưa nhanh tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn giúp doanhnghiệp sử dụng được nguyên, nhiên vật liệu thay thế và sử dụng tổng hợp nguyên,nhiên vật liệu

Như vậy, tiến bộ khoa học, kỹ thuật và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp tuy

là hai vấn đề nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thúc đẩy nhaucùng phát triển Vì vậy, để có được phương án tổ chức sản xuất hợp lý, mỗi doanhnghiệp phải chú ý tới các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới và thiết bị, máymóc mới

1.3.3 Chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất

Do sự phân công lao động xã hội nên mỗi doanh nghiệp chỉ thực hiện một sốnhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định từ đó tự lập loại hình chuyên môn hóa thíchhợp

Chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình phân cônglao động giữa các doanh nghiệp để xác định nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chủ yếucủa doanh nghiệp vào những công việc cùng loại nhất định

Quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp càng sâu đòi hỏi hiệp tácháo giữa các doanh nghiệp càng phải chặt chẽ Hiệp tác hóa là quá trình tổ chức phốihợp hoạt động của các doanh nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp

Như vậy, giữa chuyên môn hóa và hiệp tác hóa sản xuất có mối quan hệ hữu cơvới nhau Chuyên môn hóa càng sâu, hiệp tác hóa càng phải chặt chẽ, tổ chức sản xuấttrong mỗi doanh nghiệp càng phải đơn giản Do đó, trong quá trình tổ chức và tổ chứclại sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải chú ý và coi trọng ảnh hưởng của yếu tố này, vì

Trang 25

mục tiêu cơ bản của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất của doanhnghiệp là nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinhdoanh của mình.

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC SẢN XUẤT

TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ

THƯƠNG MẠI HÀ LAN 2.1 Tổng quan về Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan 2.1.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan

Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan

2.1.2 Khái quát về Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan a) Thông tin chung về Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan

Tên giao dịch: Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan.Đơn vị quản lý: Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Hà Lan

Trụ sở chính: Khu công nghiệp Phố Nối – Dị Sử - Mỹ Hào – Hưng Yên

Điện thoại: 03213 944 090

Fax: 03213944157

Ngành nghề kinh doanh:

- Sản xuất, buôn bán các loại thức ăn gia sức, gia cầm và các vật nuôi khác

- Buôn bán nguyên vật liệu, phụ liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi

- Buôn bán thực phẩm, nông, lâm, thủy sản (trừ lâm sản nhà nước cấm)

Từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2003, Chi nhánh công ty cổ phần và sản xuấtthương mại Hà Lan đã khảo sát thiết kế, làm thủ tục nhập khẩu và chuyển giao công

Trang 27

nghệ dây chuyền thiết bị máy móc của Hà Lan, tiến hành san nền, xây dựng vănphòng, nhà xưởng và lắp đặt máy móc thiết bị…

Đầu tháng 6 năm 2003 nhà máy đã hoàn thành cơ bản và bắt đầu sản xuất thử,đưa sản phẩm thâm nhập vào thị trường các tỉnh miền Bắc

Tháng 1 năm 2004 sau khi đã qua thời gian sản xuất thử thành công nhà máychế biến thức ăn gia súc Hà Lan chính thức đi vào hoạt động

Đến nay, nhà máy chế biến thức ăn gia súc Hà Lan đã thành lập được 15 năm và

đã có nhiều thay đồi, gặt hái được nhiều thành công trong hoạt động sản xuất kinhdoanh

Sản lượng và doanh thu hàng năm đều tăng liên tục, năm sau cao hơn nămtrước

Vốn kinh doanh ban đầu 14.900.000.000 đồng, sau 2 năm hoạt động sản xuấtkinh doanh vốn đã lên đến 17 tỷ đồng

Với tình hình thị trường hiện nay, để cạnh tranh và phát triển được trên thịtrường thức ăn chăn nuôi chi nhánh công ty cổ phần sản xuất và thương mại Hà Lancũng có nhiều thay đổi phù hợp Chi nhánh công ty luôn đầu tư nâng cấp, mở rộng vàlắp đặt thêm thiết bị, dây truyền sản xuất hiện đại có công suất cao để phục vụ chohoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi Khai thác triệt để nguồn nhân lực, thế mạnhtrong và ngoài doanh nghiệp để ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường thức

ăn chăn nuôi phía Bắc, tạo đà tiến tới thị trường miền Nam

2.1.3 Cơ cấu tổ chức tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại

Hà Lan

Hình 2.2: Mô hình sơ đồ tổ chức chi nhánh công ty

Trang 28

Nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong chi nhánh công ty :

Phòng tài chính kế toán: Có chức năng tham mưu giúp cho giám đốc công ty

thực hiện quản lý về mặt tài chính kế toán của công ty theo quy định của nhà nước vàpháp luật

Công tác tổng hợp: thực hiện các quy chế về tài chính, thuế và hạch toán kếtoán Xây dựng và tổng hợp kế hoạch tài chính kế toán, phân tích các yếu tố tài chính

để tham mưu lãnh đạo định hướng hoạt động Xây dựng kế hoạch tài chính, giá thànhthực tế cho các yêu cầu sản xuất và triển khai thực hiện kế hoạch đó

Quản lý tài chính, thu nhận, xử lý các chứng từ, cung cấp thông tin về các hoạtđộng kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình kinh doanh của công ty

Các khoản tiền lương và chế độ bảo hiểm: Hàng tháng làm bảng tính lương,thanh toán tiền thưởng và các khoản phụ cấp công nhân viên đươc hưởng trong công

ty Trích nộp và thanh toán chế độ bảo hiểm cho người lao động theo đúng quy địnhcủa công ty và của nhà nước

Tổ chức quản lý và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, bảo toàn nguồn vốn chocông ty

Phòng tổ chức hành chính: tổ chức thực hiện và quản lý các công việc về hành

Phòng vật tư xuất nhập khẩu: lập kế hoạch vật tư hàng tháng, quý năm; cung

cấp vật tư theo đúng yêu cầu; tìm và ký hợp đồng mua bán vật tư trong và ngoài nước,thống kế và quản lý các kho

Phòng kinh doanh: là cơ quan tham mưu giúp giám đốc xác định phương

hướng, mục tiêu kinh doanh; nghiên cứu chiến lược kinh doanh trên các lĩnh vực: thịtrường, sản phẩm, khách hàng… trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các mục tiêunhiệm vụ về kinh doanh theo kế hoạch của công ty trong từng thời kỳ

Phòng thị trường: tiếp cận thị trường tìm hiểu thông tin để kịp thời điều chỉnh

sản xuất, trực tiếp tiếp xúc thị trường, giới thiệu và tiếp thị sản phẩm của công ty đếnkhách hàng Tăng cường công tác tiếp thị, không ngừng mở rộng phạm vi hoạt độngtrong địa bàn khu vực và trên toàn quốc Thông báo các chính sách, chế độ về giá cả,sản lượng và khuyến mại… tới các đại lý của công ty

Trang 29

Phòng kế hoạch bán hàng: theo dõi lượng bán hàng ngày, tháng, quý, năm; lập

kế hoạch sản lượng tiêu thụ sản xuất cho từng sản phẩm hàng tháng, hàng quý, năm đểcung cấp cho sản lượng tiêu thụ trên thị trường

Bộ phận sản xuất: bao gồm tổ nguyên vật liệu, tổ thành phẩm, tổ vận hành, tổ

sơ chế, tổ bốc xếp, tổ nồi hơi, kho bao bì, kho nguyên vật liệu, kho thành phẩm, khomix

Trong xưởng sản xuất các bộ phận được bố trí liên hoàn, thuận tiện cho việc dichuyển từ kho nguyên vật liệu tới bộ phận sản xuất và kho thành phẩm Việc bố trí nhàxưởng kho bãi hợp lý làm giảm được thời gian di chuyển của công nhân, tiện cho việcquản lý và nâng cao năng suất lao động Mặt khác kho bãi, nhà xưởng được bố trí caoráo thoáng mát đảm bảo cho bảo quản nguyên vật liệu, thành phẩm và điều kiện làmviệc của công nhân

Phòng kỹ thuật: quản lý sản xuất, nghiên cứu, thiết kế phát triển sản xuất Cải

tiến thiết kế và theo dõi quá trình sản xuất Biên soạn các yêu cầu kỹ thuật, tài liệu kỹthuật và các hướng dẫn, lập quy trình sản xuất sản phẩm, hướng dẫn về kỹ thuật sảnphẩm

Nghiên cứu, ban hành các quy định, hướng dẫn phương pháp kiểm tra sảnphẩm, các yêu cầu kiểm tra trong quá trình sản xuất ở từng công đoạn và trước khixuất xưởng Kiểm tra và thực hiện các quy định về bao gói, vận chuyển sản phẩm

Tư vấn và giải đáp thắc mắc, khiếu nại của khách hàng vè chất lượng sản phẩm,kiểm tra thử nghiệm sản phẩm, phát hiện những sai lệch so với yêu cầu và đề xuất giảipháp hành động khác phục

Ban ISO: có trách nhiệm thiết lập, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý chất

lượng toàn chi nhánh công ty; theo dõi dám sát các bộ phận; lập biên bản sử lý các viphạm trong chi nhánh công ty

Mối quan hệ giữa các phòng ban: các phòng ban trong chi nhánh công ty luôn

có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau trong các khâu từ ký hợp đồng, lên kế hoạchsản xuất đến tiêu thụ sản phẩm một cách thống nhất và khoa học

2.1.4 Đặc điểm sản phẩm của Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương

mại Hà Lan

Hiện nay chi nhánh công ty chủ yếu sản xuất các sản phẩm thức ăn chăn nuôicung cấp đầy đủ dinh dưỡng cần thiết cho gia súc, gia cầm và các loại cá Sản phẩmcủa chi nhánh công ty cung cấp dưới dạng viên nén loại và nên dễ dàng và thuận tiệncho việc sử dụng

Trang 30

Chỉ tiêu chất lượng : sản phẩm cám của chi nhánh công ty đảm bảo đúng theotiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Đặc điểm nhận diện : các sản phẩm cám của chi nhánh công ty đều có tên vàlogo của công ty cổ phần sản xuất và thương mại Hà Lan

Danh mục sản phẩm của công ty :

Bảng 2.1: Danh mục sản phẩm

Nguồn : Phòng vật tư xuất nhập khẩu

2.1.5 Đặc điểm khách hàng của Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và

Thương mại Hà Lan

Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là vùng nông thông các tỉnh miền Bắc vàkhách hàng có hai loại chính là các đại lý cám và chủ các trang trại

Với khách hàng là các đại lý phân phối cám là những khách hàng không trựctiếp tiêu thụ sản phẩm nên không khó trong việc lựa chọn sản phẩm Hiện nay Chinhánh công ty cổ phần sản xuất và thương mại Hà Lan có khoảng 168 Đại lý cấp Iđộc quyền bán sản phẩm thức ăn chăn nuôi của công ty trên các tỉnh phía Bắc Trong

đó thị trường chính là các vùng nông thôn như: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, BắcGiang, Bắc Ninh Bên canh các đại lý cấp I còn mở rộng thêm xuống các Đại lý cấp

II và cấp III Ngoài ra, chi nhánh công ty đang có hướng mở rộng cơ cấu thị trườngsang các tỉnh phía Nam; mở rộng kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm

Bên cạnh còn có nhóm khách hàng là các chủ trang trại chăn nuôi gia súc, giacầm, thủy hải sản đây là nhóm khách hàng tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm thức ănchăn nuôi và rất ổn định nên công ty luôn có những chính sách riêng phù hợp chonhóm khách hàng này

2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Sản xuất và

Thương mại Hà Lan

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 – 2014

Đơn vị: triệu đồng (trđ)

Trang 31

% %Doanh thu 201.300 235.000 255.200 116,74 109,60

Tổng doanh thu tăng qua các năm, từ năm 2012 là 201.300 (trđ) đến năm 2013

là 235.000 (trđ) tăng 33.700 (trđ) tương ứng tăng so vs năm 2012 là 116,74% Sangnăm 2014 doanh thu 255.200 (trđ) tăng so với năm 2013 là 20.200 (trđ) tương ứng109,60% Điều này chứng tỏ sản phẩm của công ty được tiêu thụ khá tốt, các kháchhàng tin tưởng vào sản phẩm, thương hiệu và hình ảnh của công ty đang trở nên quenthuộc với nhà nông

Lợi nhuận trước thuế tăng mạnh qua các năm, từ năm 2012 là 18.810 (trđ) đếnnăm 2013 tăng 5.960 (trđ) tương ứng tăng 131,67% Sang năm 2014 lợi nhuận sauthuế là 28.100(trđ) tăng 3.330 (trđ) so với năm 2013 tương ứng tăng 113,45%

Ngày đăng: 30/05/2019, 21:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w