- Xác định cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu về quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS, gồm: thao tác hóa hệ thống khái niệm công cụ liên quan đến đề tài
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI –––––––––––––––––––––––
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội -
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đình Tấn
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Đức Vinh
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Chí Dũng
Phản biện 3: PGS.TS Hoàng Thu Hương
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội vào hồi … giờ … phút, ngày … Tháng… năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia Việt Nam
và Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA T C GIẢ
1 Tạ Thị Thảo (2017), Vai trò của gia đình trong việc hình thành, bảo lưu nhận thức về giới của trẻ em người Ê-đê hiện nay, Tạp
chí Giáo dục lý luận (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị khu vực I), Số 12/2017, trang 62-67
2 Tạ Thị Thảo (2018), Vai trò của phụ nữ Ê-đê trong quá trình xã hội hóa giới cho trẻ em dân tộc Ê-đê, Tạp chí Khoa học Chính
trị (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị khu vực II), Số 03/2018, trang 59-63
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình được xem là môi trường xã hội hóa quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Chức năng xã hội hoá của gia đình được biểu hiện qua nhiều nội dung, trong đó có giáo dục trong lao động - nghề nghiệp, giáo dục giới tính, xuyên suốt là sự phân biệt những phẩm chất mà nam giới và phụ nữ trong gia đình cần có được, trong mọi nội dung giáo dục đều nhắc đến vai trò của mỗi giới
Tác giả lựa chọn nghiên cứu xã hội hóa vai trò giới ở hai dân tộc
Ê Đê và Mông xuất phát từ lý do sau:
- Thứ nhất, các nghiên cứu về xã hội hóa giới trong cộng đồng DTTS hiện nay chưa có nhiều, nghiên cứu này đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn
- Thứ hai, dân tộc Mông là DTTS khá đông người tại Việt Nam (với tổng dân số là 1.251.040 người, đứng thứ 7 trên tổng số DTTS cả nước), có những đặc trưng văn hóa đặc sắc ở khu vực phía Bắc Dân tộc Mông thuộc nhóm dân tộc có quy mô hộ gia đình cao nhất trong tất cả các DTTS - trung bình có đến 5,6 thành viên/hộ cùng sinh sống Bên cạnh đó, dân tộc Mông nằm trong nhóm có thu nhập thấp nhất cả nước (thu nhập bình quân đầu người dưới 632.000 đồng/người/tháng); đời sống kinh tế khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 43%, là 1 trong
2 dân tộc có tỷ lệ nghèo đa chiều cao hơn 80% Xét về khía cạnh tổ chức đời sống xã hội, xã hội truyền thống của người Mông có cấu trúc khá thống nhất, đó là xã hội phụ quyền rất mạnh với sự đề cao vai trò, quyền lợi cũng như trách nhiệm của người đàn ông Cấu trúc xã hội ấy được xây dựng trên cơ sở của tế bào xã hội đó là gia đình Người đảm đương
vị trí “chủ nhà” luôn là người bố, khi người bố không còn, quyền chủ nhà được trao cho con trai lớn Trong khi người đàn ông có quyền quyết định mọi công việc đối nội – đối ngoại trong gia đình và luôn được coi trọng, thì phụ nữ hầu như không có quyền quyết định bất cứ công việc nào của gia đình, không được tham gia các công việc xã hội; có thể nói
vị trí và vai trò của phụ nữ ở dân tộc này quá chênh lệch so với đàn ông Thứ ba, dân tộc Ê Đê có tổng số dân là 367.890 người, đứng thứ
10 trên tổng số DTTS cả nước, là dân tộc có đặc điểm nổi bật là chế độ mẫu hệ điển hình, thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực: tổ chức xã hội, chế
độ hôn nhân, thừa kế tài sản, giáo dục, lao động xã hội… Nếu như trong gia đình phụ hệ người đàn ông là người quyết định mọi công việc trong gia đình, trong gia đình mẫu hệ Ê Đê, người phụ nữ cao tuổi, có uy tín
Trang 5nhất trong gia đình sẽ đứng ra quản lý tài sản, hướng dẫn mọi thành viên trong gia đình sản xuất, giải quyết những mối quan hệ trong gia đình; người đàn ông chỉ có vai trò bên ngoài cộng đồng
Với những đặc trưng văn hóa nêu trên, tác giả lựa chọn hai nhóm dân tộc Ê Đê và Mông để nghiên cứu, với mục đích phân tích bối cảnh
và những đặc trưng trong quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình 2 dân tộc hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông qua các nội dung - phương pháp xã hội hóa
và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về xã hội hóa và xã hội hóa vai
trò giới
- Xác định cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu về quá trình
xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS, gồm: thao tác hóa hệ thống khái niệm công cụ liên quan đến đề tài luận án, vận dụng các quan điểm
lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học để phân tích thực nghiệm quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS
- Mô tả và phân tích quan niệm, nội dung và phương pháp xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong
gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay qua các khía cạnh: nội dung xã
hội hóa, phương pháp xã hội hóa và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở
trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông ở các khía cạnh: quan niệm,
nội dung và phương pháp xã hội hóa vai trò giới
Trang 6Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu chính: đại diện hộ gia đình dân tộc Mông
(huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang) và hộ gia đình dân tộc Ê Đê (huyện Krông Buk - tỉnh Đắk Lắk), trẻ em dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê (từ 7-
15 tuổi)
Giới hạn về thời gian quan sát đối tượng nghiên cứu
- Quá trình khảo sát, thu thập thông tin định tính và định lượng phục vụ cho luận án được thực hiện từ tháng 5/2016 - 7/2017
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về chức năng xã hội hóa của gia đình hiện nay Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Do đó các sự vật, hiện tượng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Chúng ta chỉ có thể đánh giá bản chất của một con người cụ thể thông qua các mối liên hệ, sự tác động của con người
đó đối với người khác, đối với xã hội, thông qua hoạt động của chính con người ấy Sự vận động, biến đổi trong các hoạt động của con người diễn ra trong các điều kiện lịch sử cụ thể, nó chịu tác động bởi những quan hệ xã hội, tương tác xã hội tồn tại trong các thời kỳ phát triển khác nhau của xã hội Vận dụng vào luận án, xem xét quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông như là một bộ phận của cấu trúc xã hội, đặt nó trong bối cảnh xã hội cụ thể, trong sự tương quan với các yếu tố chủ quan và khách quan
- Luận án sử dụng lý thuyết xã hội học gồm lý thuyết: Lý thuyết xã hội hóa và xã hội hóa giới; Lý thuyết cấu trúc - chức năng; Thuyết tương tác biểu trưng; thuyết nữ quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Luận án thu thập những thông tin từ các tài liệu có sẵn để làm rõ các nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
- Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài luận án
- Vận dụng các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu
- Đặt câu hỏi nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Trang 7Các nguồn số liệu được thu thập từ:
- Số liệu thống kê của các cơ quan thống kê cấp Trung ương và địa phương (Báo cáo thống kê, niên giám thống kê,…)
- Báo cáo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của các địa phương tiến hành khảo sát
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Luận án tiến hành thu thập thông tin với 653 hộ gia đình ở 2 tỉnh
Hà Giang và Đắk Lắk Sử dụng các câu hỏi liên quan đến quá trình xã hội hóa vai trò giới qua các mặt như: phân công lao động trong gia đình, quan
hệ xã hội, những mong đợi về tính cách dành cho trẻ em trai và trẻ em gái
Nhóm được phỏng vấn gồm: chủ hộ gia đình, trẻ em trai, trẻ em gái dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê
Mẫu nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án là dân tộc Mông và dân tộc Ê
Đê, để đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu, địa phương được lựa chọn phải đại diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội và là nơi tập trung nhiều dân tộc Mông và dân tộc Ê
Đê Trong khuôn khổ luận án và khả năng nghiên cứu, tổng mẫu điều tra
ở cả 2 dân tộc là 653 hộ gia đình
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống trên cơ sở danh sách lấy mẫu gồm các hộ gia đình có từ 2-3 thế hệ cùng chung sống (danh sách được lọc từ danh sách nhân khẩu
do địa phương quản lý) Mẫu nghiên cứu được phân chia trên cơ cấu giới tính, độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp Ở 4 xã tiến hành khảo sát, tác giả lựa chọn cách thức chia đều một cách tương đối theo giới tính của chủ
hộ để đảm bảo tính khách quan trong các quan điểm Mẫu trẻ em cũng được lựa chọn ngay tại các hộ gia đình được khảo sát để đảm bảo có sự tương quan trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong quá trình
Trang 8khảo sát Tuy nhiên, trên thực tế tác giả chỉ tiến hành thu thập thông tin bằng bảng hỏi độc lập với 200 trẻ em thuộc 2 dân tộc Mông và Ê Đê Đây là số lượng trẻ có thể tham gia trả lời, thuộc nhóm tuổi chủ yếu từ 9-14 tuổi; những trẻ em dưới 9 tuổi tác giả tiến hành quan sát tại gia đình
và thông qua phỏng vấn cha mẹ
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu định lượng được phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Luận án sử dụng các phép phân tích thống kê dưới đây: phân tích
thống kê mô tả, phân tích thống kê suy luận (Phân tích so sánh và Phân tích tương quan)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Bằng phương pháp phân tích xã hội học, luận án có những đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào hệ
thống lý luận về xã hội hóa nói chung và xã hội hóa giới nói riêng
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu thực tiễn mô tả bức tranh
xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay trên các khía cạnh nội dung và phương pháp xã hội hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án “Xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc
Ê Đê và Mông hiện nay” đi sâu vào phân tích quá trình xã hội hóa vai
trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông thông qua nhận thức, nội dung và phương pháp xã hội hóa
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra những kiến giải về nhận thức, nội dung và phương pháp xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay Qua đó có thể thấy được những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới hiện nay, và sự thay đổi trong mô hình xã hội hóa vai trò giới truyền thống trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay
7 Cấu trúc của luận án
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG HIỆN NAY
Trang 9Chương 4: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH
XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG
KẾT LUẬN
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nội dung nghiên cứu về xã hội hóa vai trò giới
1.1.1 Quan niệm về vai trò giới
Các vai trò giới chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự phân công lao động theo giới, vì giới là một sản phẩm của xã hội, vừa có tính lịch sử, vừa
có tính phi lịch sử; vấn đề giới vận động một cách khách quan cùng sự vận động của xã hội, nó biến đổi theo thời gian và tùy thuộc vào mỗi nền văn hóa khác nhau Có không nhiều nghiên cứu chuyên biệt về vai trò giới, hầu hết đều đề cập đến vai trò giới dưới cách tiếp cận cấu trúc – chức năng
về sự phân công lao động theo giới Theo đó, các thành viên trong gia đình thừa nhận và thực hiện các vai trò của mình, chuyên môn hóa các vai trò,
đó là nền tảng của một gia đình ổn định Hầu hết các công trình đều chỉ ra rằng xét từ quan điểm bình đẳng giới, người phụ nữ dù trẻ hay già vẫn luôn là người gánh vác phần lớn công việc nội trợ trong gia đình, vai trò của người nam giới chỉ mang tính hỗ trợ Và sự phân công này được ưu tiên tiếp nối như một thói quen truyền thống, gắn với gia đình truyền thống Đồng thời sự phân công lao động nội trợ theo giới góp phần xã hội hóa vai trò giới truyền thống và định hình khuôn mẫu giới từ trong gia đình Giới là vấn đề vừa mang tính lịch sử vừa mang tính xã hội Vấn đề giới vận động và biến đổi cũng với sự biến đổi của xã hội, tuy nhiên sự biến đổi đó diễn ra rất chậm Điều này đã được các nghiên cứu chứng minh rằng mặc dù sự thay đổi của xã hội có tác động đến quan niệm và việc thực hiện các vai trò giới ở trong gia đình, như vai trò đóng góp kinh
tế của phụ nữ đối với gia đình được nâng lên, tuy nhiên những quan niệm về vai trò truyền thống của phụ nữ như: vai trò tái sản xuất (sinh con, chăm sóc gia đình: cả thể chất và tinh thần) thì dường như vẫn chưa
có sự thay đổi nhiều Phụ nữ vẫn là trụ cột trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con cái trong gia đình, mọi sinh hoạt bên ngoài xã hội đều dành cho người chồng
1.1.2 Phương pháp xã hội hóa vai trò giới
Hiệu quả của giáo dục không đơn thuần nằm ở nội dung, thái độ của người giáo dục - người tiếp thu mà còn phụ thuộc vào phương pháp giáo dục Việc giáo dục thông qua phương pháp truyền miệng, giải thích và nhắc
Trang 10đi nhắc lại nhiều lần được các gia đình coi trọng; thêm vào đó là phương pháp nêu gương, mỗi bậc cha mẹ là tấm gương về lối sống và lao động để con cái noi theo Các nghiên cứu chỉ ra rằng: Trong gia đình, để đảm bảo việc tuân thủ các nội dung giáo dục, gia đình Việt Nam truyền thống đặc biệt sử dụng quyền uy của chủ thể giáo dục Phương pháp giáo dục ở đây là buộc phải tuân theo, phải chấp hành chứ không được phép tranh luận, phân tích đúng sai Bên cạnh đó phương pháp nêu gương cũng được xem là phương pháp thường được các gia đình sử dụng, những tấm gương được hình thức hóa thông qua các câu chuyện kể, các câu châm ngôn, ca dao, tục ngữ, được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Giáo dục thông qua lao động và bằng lao động là phương pháp phổ biến, được đại đa số các gia đình sử dụng, với quan niệm dạy con nên người là phải dạy con biết tự lao động Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em trong các gia đình nông dân đã được hướng dẫn lao động và tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới
Môi trường xã hội hóa là nơi cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng gia đình là nơi
xã hội hóa vấn đề giới, truyền lại các kiến thức và kỹ năng về giới Do vậy, nhận thức về bình đẳng giới của các thế hệ đi trước trong gia đình như ông bà, cha mẹ… tác động rất lớn đến nhận thức của các thế hệ kế tiếp Trong gia đình, con người học những bài học đầu tiên về tôn ti trật
tự, về sự tuân thủ, sự phân biệt đối xử Con trai học cách quyết đoán và thống trị, con gái học sự phục tùng Gia đình chính là nơi tạo ra tôn ti trật tự Sự nhận thức không đúng đắn về giới và bình đẳng giới sẽ tạo ra những tôn ti trật tự trong đó làm giảm vị thế của phụ nữ, dẫn đến bất bình đẳng giới ngay trong gia đình Trong gia đình truyền thống, ông bà, cha mẹ truyền dạy cho cháu con những nguyên mẫu về các quan niệm và hành vi mong đợi được cho là thích hợp đối với mỗi giới và các kỳ vọng của xã hội đối với nam giới và phụ nữ
1.2 Về phương pháp nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về xã hội hóa vai trò giới, chủ yếu là các nghiên cứu có nội dung về chức năng giáo dục của gia đình, trong đó có lồng ghép nội dung giáo dục bản sắc giới tính Mặc dù không phải là vấn đề xã hội tế nhị hay nhạy cảm nhưng chủ đề này lại ít được nghiên cứu, có thể do xã hội nhìn nhận nó như hiện tượng phổ biến trong đời sống xã hội Các nguồn cung cấp thông tin thì cho rằng sự phân công lao động theo giới tính là phù hợp với vai trò của mỗi giới Với các nghiên cứu không thuộc chuyên ngành
Trang 11xã hội học, khi tiến hành thu thập thông tin về quan hệ giới trong gia đình, sự phân công lao động trong gia đình chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập tư liệu, phân tích và tổng hợp, thống kê so sánh các tư liệu sẵn có; một số sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học Phương pháp chọn mẫu chủ yếu được sử dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên Các lý thuyết được sử dụng để phân tích quá trình xã hội hóa giới trong nghiên cứu này chủ yếu là các lý thuyết tâm lý học như thuyết động thái tâm lý (lý thuyết phân tâm học của S.Freud; quan điểm của Nancy Chodorov); lý thuyết sinh học; lý thuyết học hỏi xã hội; thuyết phát triển nhận thức
Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu kể trên đều nhìn nhận về vấn đề xã hội hóa như một chức năng của thiết chế gia đình Nếu xem xét dưới góc độ giới, các công trình đưa lại bức tranh khá toàn cảnh về thực trạng bất bình đẳng giới nói chung, các nguyên nhân và hệ thống giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới Tuy nhiên, nhắc đến quá trình xã hội hóa vai trò giới, thực tế cho thấy có không nhiều các công trình, bài viết về chức năng này
ở các gia đình DTTS Dựa trên sự khuyết thiếu này, tác giả mạnh dạn lựa chọn giải quyết vấn đề xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay với mong muốn bổ sung vào hệ thống các công trình nghiên cứu ứng dụng về giới ở Việt Nam hiện nay Về mặt phương pháp, nghiên cứu này sử dụng các phương pháp liên ngành để thu thập thông tin cho đề tài, gồm có các phương pháp điều tra xã hội học và điền dã dân tộc học Tránh việc phân tích vấn đề nặng về khía cạnh tâm lý khi sử dụng các lý thuyết tâm lý trong nghiên cứu, tác giả luận án sử dụng các lý thuyết xã hội học như: thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xã hội hóa và lý thuyết tương tác biểu trưng, nhằm phân tích một cách khách quan quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS
Chương 2 CƠ SỞ Ý U N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Các khái niệm công cụ
2.1.1 Khái niệm giới
“Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan
hệ đó được xây dựng nên trong xã hội.” Theo định nghĩa này, giới
không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mà nói với quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể), quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội Những yếu
tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tùy thuộc vào sự
Trang 12vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội cụ thể đó là các quan hệ có liên quan đến vấn đề dân tộc, văn hóa, phong tục, tập quán
2.1.2 Khái niệm vai trò giới
Theo Từ điển Xã hội học Oxford “Vai trò giới quy định những cách thức khác nhau mà nam và nữ được chờ đợi là cần hành động theo
và quy định những nhiệm vụ khác nhau mà họ được trông đợi phảm đảm đương” Các vai trò giới bao gồm các quyền và trách nhiệm được chuẩn
hóa đối với nam giới và phụ nữ trong một xã hội, một cộng đồng cụ thể, tùy theo từng nền văn hóa xã hội các vai trò giới được hình thành theo cách khác nhau Trong các phân tích về giới, vai trò giới được xem như một yếu tố cốt lõi trong việc duy trì sự bất bình đẳng giới Trong giới hạn luận án, tác giả mong muốn trả lời câu hỏi: người Ê Đê và người
Mông quan niệm như thế nào về vai trò giới? Việc “ai làm gì” thể hiện
những vấn đề nào của văn hóa tộc người? Quá trình hình thành vai trò giới ở trẻ em dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông trong phạm vi gia đình diễn
ra như thế nào?
2.1.3 Khái niệm xã hội hóa
Để phản ánh rõ nét về quá trình xã hội hóa cá nhân, tác giả sử dụng
khái niệm được đa số các nhà xã hội học đồng thuận: “Xã hội hóa là quá trình trong đó cá nhân học cách trở thành thành viên xã hội thông qua việc học tập, lĩnh hội các giá trị, chuẩn mực xã hội và đóng các vai trò xã hội” (Phạm Tất Dong & cộng sự 1999: 259) Cá nhân trong quá trình xã
hội hóa không đơn thuần chỉ là việc thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, những tâm thế của cá nhân, thể hiện sự tác động ngược trở lại của cá nhân vào môi trường xung quanh thông qua hoạt động của mình
2.1.4 Khái niệm xã hội hóa vai trò giới
Xã hội hóa giới là việc trẻ em học cách nhận diện mình thuộc giới nào và các vai trò tương ứng mà nhóm, cộng đồng hay xã hội nói chung
gắn cho mỗi giới Nghiên cứu về quá trình xã hội hóa với các tác nhân
xã hội hóa (gia đình, trường học, nhóm thành viên, truyền thông đại chúng) là một lĩnh vực nghiên cứu khá rộng với nhiều nội dung, và cần kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu liên ngành Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chỉ phân tích quá trình xã hội hóa vai trò giới
với tác nhân xã hội hóa là gia đình
2.1.5 Khái niệm trẻ em và trẻ em dân tộc thiểu số
Khái niệm trẻ em
Luận án sử dụng khái niệm trẻ em do Luật trẻ em (2016) quy
định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”
Trang 13Khái niệm trẻ em dân tộc thiểu số
Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về
công tác dân tộc quy định: “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009, hiện nay ở
Việt Nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm đa số (trên 85%), 53 dân tộc còn lại chiếm tỷ lệ khoảng 15%, xếp vào nhóm DTTS Như vậy trẻ
em DTTS được hiểu là những người dưới 16 tuổi, không phải là dân tộc Kinh Trong luận án này, nhóm trẻ em DTTS được nghiên cứu là nhóm trẻ em người dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê
2.2 Các lý thuyết xã hội học
- Luận án sử dụng lý thuyết xã hội học gồm lý thuyết: Lý thuyết xã hội hóa và xã hội hóa giới; Lý thuyết cấu trúc - chức năng; Thuyết tương tác biểu trưng; thuyết nữ quyền
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện nay, các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông có quan niệm như thế nào về vai trò giới?
- Các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông thực hiện việc xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới
ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay?
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Trước những biến đổi về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, các
hộ gia đình dân tộc Ê Đê và Mông nói chung vẫn duy trì các quan niệm
về vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình theo hướng nam ngoại,
nữ nội
- Vai trò giới được truyền đạt đến trẻ em từ sớm thông qua những
kỳ vọng của cha mẹ đối với đứa trẻ về những phẩm chất, tính cách, ứng
xử trong gia đình, trong cộng đồng đối với mỗi giới; bằng việc giáo dục
trẻ em làm những công việc nhà và công việc lao động sản xuất
- Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay được kể đến là: các yếu tố thuộc về đặc điểm của cha mẹ (trình độ học vấn, nghề nghiệp, độ tuổi…), đặc điểm hộ gia đình (cấu trúc hộ gia đình, điều kiện kinh tế, …), bên cạnh đó còn có các yếu tố xã hội như: phong tục tập
quán, khuôn mẫu giới…