cám ơn các bạn đã quan tâm đến tài liệu! Nếu không thể thanh toán trực tiếp trên 123doc, các bạn có thể lựa chọn hình thức thanh toán bằng THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (sđt/zalo của mình 0353.764.719 ) . hãy liên hệ sd9t , để được hỗ trợ tải tài liệu. Một lần nữa xin cám ơn các bạn. Chúc các bạn học tốt! @@
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI –––––––––––––––––––––––––
Trang 2VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI –––––––––––––––––––––––––
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐÌNH TẤN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát xã hội học và dữ liệu định tính là hoàn toàn trung thực Các số liệu và tài liệu tham khảo đƣợc trích dẫn nguồn rõ ràng
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của GS.TS Nguyễn Đình Tấn, thầy đã cho tôi những gợi ý ban đầu trong quá trình hình thành các ý tưởng nghiên cứu liên quan đến luận án Và trong suốt quá trình thực hiện luận án thầy sẵn sàng trợ giúp tôi bất cứ khi nào tôi gặp vướng mắc về kiến thức chuyên môn Có những thời điểm
dù gặp khó khăn về vấn đề sức khỏe, nhưng thầy vẫn luôn dành cho tôi sự quan tâm sâu sắc Trong thời gian thực hiện luận án, tôi gặp khó khăn về điều kiện gia đình,
bố mẹ đau ốm, thầy luôn kịp thời động viên, khích lệ mỗi khi tôi thấy nản lòng, đây
là tình cảm tôi vô cùng trân trọng Tôi nghĩ mình rất may mắn khi là học viên của thầy và được thầy hướng dẫn khoa học Qua đây, cho tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy
Tôi nhận được sự góp ý về chuyên môn, học thuật về nội dung nghiên cứu của luận án từ các thầy cô trong Hội đồng các chuyên đề, Hội đồng cấp cơ sở, các thầy cô là phản biện độc lập và hỗ trợ đầy trách nhiệm của cán bộ thuộc Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học Xã hội Nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình của họ, tôi khó có thể hoàn thiện luận án Nhân đây, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến với tất cả các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài Khoa Xã hội học - Học viện Khoa học
xã hội
Có được thuận lợi trong quá trình làm luận án này, tôi không thể quên sự ủng hộ của Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, ban lãnh đạo và các đồng nghiệp ở khoa Luật - Quản lý xã hội và các bạn bè, đồng nghiệp - những người đã tạo điều kiện và luôn động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận án này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô và bạn bè, đồng nghiệp
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mình, là con, bố mẹ và những thành viên trong gia đình Họ luôn là động lực lớn để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
Tạ Thị Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 5
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 15
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 15
7 Cấu trúc của luận án 16
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17
1.1 Các nội dung nghiên cứu về xã hội hóa vai trò giới 17
1.1.1 Quan niệm về vai trò giới 17
1.1.2 Phương pháp xã hội hóa vai trò giới 22
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới 25
1.2 Về phương pháp nghiên cứu 29
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 33
2.1 Các khái niệm công cụ 33
2.1.1 Khái niệm giới 33
2.1.2 Khái niệm vai trò giới 36
2.1.3 Khái niệm xã hội hóa 39
Trang 62.1.4 Khái niệm xã hội hóa vai trò giới 43
2.1.5 Khái niệm trẻ em và trẻ em dân tộc thiểu số 45
2.2 Các lý thuyết xã hội học 47
2.2.1 Lý thuyết xã hội hóa và xã hội hóa giới 47
2.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 57
2.2.3 Thuyết tương tác biểu trưng 64
2.2.4 Lý thuyết nữ quyền về vai trò giới 66
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 69
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 69
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 70
2.3.3 Khung phân tích 70
2.4 Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội của địa bàn nghiên cứu 71
2.4.1 Tỉnh Hà Giang 71
2.4.2 Tỉnh Đắk Lắk 78
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG HIỆN NAY 86
3.1 Nội dung vai trò giới trong gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông 86
3.1.1 Quan niệm vai trò giới trong gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông 88
3.1.2 Nội dung xã hội hóa vai trò giới trong gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông 106
3.2 Phương pháp xã hội hóa vai trò giới 125
3.2.1 Xã hội hóa thông qua lao động 126
3.2.2 Xã hội hóa thông qua văn hóa truyền thống 137
Tiểu kết chương 3 143
Chương 4 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG 146
4.1 Đặc điểm hộ gia đình 147
Trang 74.1.1 Cấu trúc hộ gia đình 147
4.1.2 Điều kiện kinh tế 155
4.1.3 Nơi cư trú 159
4.2 Đặc điểm của cha mẹ 163
4.2.1 Trình độ học vấn 163
4.2.2 Nghề nghiệp 167
4.2.3 Tuổi 171
4.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội 173
4.3.1 Yếu tố phong tục tập quán 173
4.3.2 Vai trò giới truyền thống và hiện nay 180
Tiểu kết chương 4 186
KẾT LUẬN 188
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
PHỤ LỤC 205
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu (N=653) 13Bảng 2.1 Điều kiện kinh tế của hộ gia đình người Ê Đê tại địa bàn khảo sát 81Bảng 3.1 Ma trận tương quan của các item với yếu tố (phép xoay Varimax) 90Bảng 3.2 Mức độ đồng tình với các quan niệm về vai trò giới trong hoạt động
sản xuất 92Bảng 3.3 Mức độ đồng tình với các quan niệm về vai trò giới trong hoạt động
tái sản xuất 94Bảng 3.4 Phân công lao động trong các hoạt động chăm sóc, dạy dỗ con cái
(điểm trung bình) 95Bảng 3.5 Mức độ đồng tình với các quan niệm về vai trò giới trong cộng đồng 97Bảng 3.6 Điểm trung bình theo từng nhận định giữa các nhóm dân tộc 98Bảng 3.7 Mức độ đồng tình với các nhận định thuộc các nhóm quan niệm về
vai trò giới phân theo nhóm dân tộc 99Bảng 3.8 Tiêu chí phân công lao động trong hoạt động sản xuất phân theo
nhóm dân tộc 99Bảng 3.9 Tiêu chí phân công lao động trong các công việc gia đình phân theo
dân tộc 100Bảng 3.10 Tiêu chí đặt tên cho con phân theo nhóm dân tộc 108Bảng 3.11 Tên gọi của trẻ em phân theo nhóm dân tộc 109Bảng 3.12 ĐTB đối với các quan niệm về phẩm chất cần giáo dục cho con cái
phân theo nhóm dân tộc 114Bảng 3.13 Các quan niệm về phẩm chất cần giáo dục cho con trai và con gái
phân theo nhóm dân tộc 115Bảng 3.14 Những đặc điểm cần giáo dục cho con gái và con trai theo giới tính
NTL và dân tộc 116Bảng 3.15 Kỳ vọng của cha mẹ về vai trò trụ cột gia đình của con cái phân
theo dân tộc 118
Trang 10Bảng 3.16 Mức độ đồng tình với sự quan niệm của cha mẹ về vị thế trong gia
đình của con cái theo nhóm dân tộc 119
Bảng 3.17 Mong muốn về người trụ cột gia đình của nam và nữ phân theo vùng 119
Bảng 3.18 Tuổi trẻ em bắt đầu tham gia công việc nội trợ trong gia đình 128
Bảng 3.19 Mức độ làm việc nhà của trẻ em phân theo giới tính và dân tộc 128
Bảng 3.20 Cách thức xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em phân theo nhóm dân tộc 133
Bảng 3.21 Mức độ đồng tình của trẻ em với hình thức xã hội hóa của gia đình 133
Bảng 3.22 Sự phân công lao động trong gia đình và nhận dạng vai trò giới trong tương lai của trẻ em 135
Bảng 3.23 Ý kiến của cha mẹ và con cái trong từng nhóm công việc 135
Bảng 3.24 Tương quan giữa câu trả lời của cha mẹ về sự phân công lao động theo giới trong gia đình và sự nhận dạng vai trò giới của trẻ em 136
Bảng 4.1 Tương quan giữa mức sống hộ gia đình với quan niệm phân công lao động có ảnh hưởng đến hình thành vai trò giới 157
Bảng 4.2 Tuổi tham gia công việc sản xuất và mức sống hộ gia đình 157
Bảng 4.3 Tương quan giữa điều kiện kinh tế gia đình với độ tuổi tham gia công việc sản xuất của trẻ em phân theo giới tính và dân tộc 158
Bảng 4.4 Tuổi tham gia công việc nội trợ và mức sống hộ gia đình 159
Bảng 4.5 Tương quan giữa điều kiện kinh tế gia đình với độ tuổi tham gia công việc tái sản xuất của trẻ em phân theo giới tính và dân tộc 159
Bảng 4.6 Tương quan giữa mức độ làm việc nhà của trẻ em phân theo giới tính và dân tộc 160
Bảng 4.7 So sánh giá trị trung bình về quan niệm vai trò giới giữa các nhóm trình độ học vấn (So sánh Oneway-ANOVA) 164
Bảng 4.8 Tương quan giữa trình độ học vấn và quan niệm về khuôn mẫu giới 165
Bảng 4.9 Cơ cấu thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng chia theo nguồn thu 167
Bảng 4.10 Tương quan giữa các nhóm nghề nghiệp với các quan niệm vai trò của nam giới phân theo dân tộc 168
Trang 11Bảng 4.11 Tương quan giữa các nhóm nghề nghiệp với các quan niệm vai trò
của nữ giới phân theo dân tộc 169Bảng 4.12 Tương quan giữa các nhóm nghề nghiệp với cách thức xã hội hóa
phân theo dân tộc 170Bảng 4.13 Tương quan giữa nhóm nghề nghiệp của cha mẹ với độ tuổi tham
gia công việc sản xuất và tái sản xuất trong gia đình của trẻ em 171Bảng 4.14 So sánh giá trị trung bình về quan niệm vai trò giới giữa các nhóm
tuổi của NTL (Kiểm định Independent t-test) 172Bảng 4.15 So sánh giá trị trung bình về kỳ vọng giới giữa các nhóm tuổi của
NTL (Kiểm định Independent t-test) 173Bảng 4.16 Mức độ ảnh hưởng của sự phân công lao động trong gia đình đến sự
hình thành vai trò giới ở trẻ em 182
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1 Điều kiện nhà ở của dân tộc Mông tại địa bàn khảo sát (%) 75
Biểu 3.1 So sánh ĐTB các nhận định về vai trò sản xuất phân theo giới tính 93
Biểu 3.2 So sánh ĐTB các nhận định vai trò tái sản xuất phân theo giới tính NTL 95
Biểu 3.3 Mức độ đồng tình về việc nam giới và phụ nữ cùng làm việc nhà 96
Biểu 3.4 Tiêu chí phân công lao động trong sản xuất phân theo dân tộc 100
Biểu 3.5 Mức độ đồng tình giữa cha mẹ và con cái trong nhận dạng vai trò giới 136
Biểu 4.1 Quy mô hộ gia đình dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê 149
Biểu 4.2 Số thế hệ cùng chung sống trong gia đình phân theo nhóm dân tộc 150
Biểu 4.3 Mức sống hộ gia đình phân theo nhóm dân tộc 156
Biểu 4.4 Tuổi trẻ em bắt đầu tham gia công việc nội trợ 161
Biểu 4.5 Tuổi trẻ em bắt đầu tham gia công việc sản xuất 162
Biểu 4.6 Phương pháp xã hội hóa phân bố theo nhóm học vấn 166
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những thiết chế xã hội cơ bản, gia đình được hình thành và phát triển do nhu cầu của xã hội và của tự bản thân nó Gia đình thực hiện những chức năng nhất định để đảm bảo sự phát triển hoàn thiện của mỗi thành viên trong gia đình và đảm bảo sự phát triển ổn định của toàn xã hội nói chung Cũng giống như các thiết chế xã hội khác, thiết chế gia đình có hai chức năng chủ yếu là điều hòa và kiểm soát xã hội, cụ thể: điều tiết mối quan hệ giới, điều chỉnh và kiểm soát hành vi tình dục và giới; bảo vệ sự chung sống khác giới dưới hình thức hôn nhân; quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của những người kết hôn với nhau cũng như với toàn xã hội; duy trì tái sinh sản các thế hệ tương lai; chăm sóc, bảo vệ và xã hội hóa trẻ em;
hỗ trợ các thành viên trong gia đình; bảo đảm gia đình là đơn vị kinh tế;… Trong
sự phát triển của mình, các chức năng của gia đình có những biến đổi nhất định, một số chức năng mất đi và được thay thế bằng chức năng khác phù hợp hơn với nhu cầu xã hội Nhưng chức năng tái sản xuất ra con người, cụ thể là chức năng xã hội hóa vẫn luôn luôn là chức năng quan trọng nhất và được duy trì bền vững Đây
là chức năng đặc thù mà không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được Gia đình được xem là môi trường xã hội hóa quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người về mặt thể chất
mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm hồn, văn hoá, tức là xã hội hoá - quá trình biến đứa trẻ từ một sinh vật người thành con người xã hội [127; tr.11]
Chức năng xã hội hoá của gia đình được biểu hiện qua các nội dung giáo dục gia đình như: giáo dục đạo đức, giáo dục ứng xử trong gia đình, ứng xử trong họ, ứng xử trong làng xã, giáo dục trong lao động - nghề nghiệp, giáo dục giới tính, xuyên suốt là sự phân biệt những phẩm chất mà nam giới và phụ nữ trong gia đình cần có được, trong mọi nội dung giáo dục đều nhắc đến vai trò của mỗi giới Theo
đó, việc giáo dục bản sắc giới tính, tức là làm cho mỗi giới ý thức được bản sắc riêng của giới mình được xem là vô cùng quan trọng Bản sắc giới được tạo nên từ nhiều nhân tố khác nhau: cá nhân, tập thể, sinh học và xã hội Bản sắc giới được
Trang 14hình thành trong đời sống hàng ngày, đó là cách hành động như một bé trai hay gái Thông qua xã hội hoá, nam tính hay nữ tính được hình thành trên cơ sở những kỳ vọng của các nhóm xã hội, hay một nền văn hoá dành về cách xử sự được dùng làm
chuẩn cho hành vi của nam giới hoặc phụ nữ
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có đặc thù văn hóa với các giá trị xã hội riêng Tuy khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa nhưng xét theo khía cạnh giới, hầu hết các dân tộc ở Việt Nam đều theo chế độ phụ hệ với hệ thống
luật tục mang đậm tính “trọng nam” Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, trên
bình diện cả nước, vị thế và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
đã được cải thiện tương đối so với trước đây, tuy nhiên khi phân chia theo vùng miền, tỷ lệ này xuất hiện chủ yếu ở thành thị, còn ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống, tình trạng thấp kém của phụ nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến và ở mức độ cao Nghèo đói cùng với những quy tắc văn hóa, hủ tục và những dấu ấn của các yếu tố lịch sử, xã hội cổ truyền vẫn
là gánh nặng đối với phụ nữ và trẻ em gái DTTS Các nghiên cứu về giới đã chỉ ra những mâu thuẫn lớn trong sự phân công lao động, trong mối quan hệ giới, trong tập quán, lối sống của gia đình,… Một con đường để hiểu nguồn gốc của những khác biệt giới là xã hội hoá giới, tức việc học hỏi và rèn luyện các giá trị, chuẩn mực và vai trò giới của nhóm, cộng đồng và xã hội mà cá nhân là thành viên Cách tiếp cận này phân biệt cơ thể sinh học mà trẻ em có khi sinh ra và hành vi văn hoá
xã hội mà các em phát triển trong quá trình lớn lên Thông qua việc tiếp xúc với các tác nhân xã hội hoá thứ cấp và sơ cấp, trẻ em dần xác định được bản sắc giới của mình, nhập tâm những chuẩn mực và kỳ vọng xã hội tương ứng với giới mình Đây
là quá trình cá nhân học cách trở thành người có nam tính hoặc nữ tính về ngoại hình, giá trị và hành vi Xã hội hoá giới bao gồm các thông điệp ngầm ẩn trong cách
mà người lớn tương tác với nhau và với trẻ em, qua quần áo, sách vở, đồ chơi trẻ
em v.v và trẻ em cũng xã hội hoá nhau một cách rõ ràng và tinh tế như thế Trong các gia đình DTTS thuộc nhóm phụ hệ, tính gia trưởng được xem là giá trị, là nhân
tố quyết định đến mối quan hệ giới trong gia đình, trẻ em được dạy bảo rằng: con trai sẽ là người cai quản gia đình, còn con gái sẽ là người phục vụ trong gia đình
Trang 15Trong gia đình mẫu hệ, phụ nữ là chủ, quyết định mọi việc trong gia đình, tuy nhiên phụ nữ vẫn phải lao động cực nhọc hơn so với nam giới, vẫn phải phục vụ gia đình Thực tế các nghiên cứu giới xem xét gia đình với tư cách là chủ thể của quá trình xã hội hóa trong cộng đồng DTTS không nhiều, do đó nghiên cứu về quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình DTTS có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận
và thực tiễn, góp phần vào việc nghiên cứu chủ đề mà hiện nay ít người nghiên cứu, nhằm phát triển bền vững các lĩnh vực của đời sống xã hội và đặc biệt là của nhóm
DTTS Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu cho luận án
Tác giả lựa chọn nghiên cứu xã hội hóa vai trò giới ở hai dân tộc Ê Đê và Mông xuất phát từ lý do sau:
- Thứ nhất, các nghiên cứu về xã hội hóa giới trong cộng đồng DTTS hiện nay chưa có nhiều, nghiên cứu này đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn
- Thứ hai, dân tộc Mông là DTTS khá đông người tại Việt Nam (với tổng dân
số là 1.251.040 người, đứng thứ 7 trên tổng số DTTS cả nước) [120], có những đặc trưng văn hóa đặc sắc ở khu vực phía Bắc Dân tộc Mông thuộc nhóm dân tộc có quy mô hộ gia đình cao nhất trong tất cả các DTTS - trung bình có đến 5,6 thành viên/hộ cùng sinh sống [120] Bên cạnh đó, dân tộc Mông nằm trong nhóm có thu nhập thấp nhất cả nước (thu nhập bình quân đầu người dưới 632.000 đồng/người/tháng); đời sống kinh tế khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 43%, là 1 trong 2 dân tộc có tỷ lệ nghèo đa chiều cao hơn 80% [120] Xét về khía cạnh tổ chức đời sống xã hội, xã hội truyền thống của người Mông có cấu trúc khá thống nhất, đó là xã hội phụ quyền rất mạnh với sự đề cao vai trò, quyền lợi cũng như trách nhiệm của người đàn ông Cấu trúc xã hội ấy được xây dựng trên cơ sở của tế bào xã hội đó là gia đình Người đảm đương vị trí “chủ nhà” luôn là người
bố, khi người bố không còn, quyền chủ nhà được trao cho con trai lớn Trong khi người đàn ông có quyền quyết định mọi công việc đối nội - đối ngoại trong gia đình
và luôn được coi trọng, thì phụ nữ hầu như không có quyền quyết định bất cứ công
Trang 16việc nào của gia đình, không được tham gia các công việc xã hội; có thể nói vị trí và vai trò của phụ nữ ở dân tộc này quá chênh lệch so với đàn ông
Thứ ba, dân tộc Ê Đê có tổng số dân là 367.890 người, đứng thứ 10 trên tổng
số DTTS cả nước [120], là dân tộc có đặc điểm nổi bật là chế độ mẫu hệ điển hình, thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực: tổ chức xã hội, chế độ hôn nhân, thừa kế tài sản, giáo dục, lao động xã hội… Nếu như trong gia đình phụ hệ người đàn ông là người quyết định mọi công việc trong gia đình, trong gia đình mẫu hệ Ê Đê, người phụ nữ cao tuổi, có uy tín nhất trong gia đình sẽ đứng ra quản lý tài sản, hướng dẫn mọi thành viên trong gia đình sản xuất, giải quyết những mối quan hệ trong gia đình; người đàn ông chỉ có vai trò bên ngoài cộng đồng
Với những đặc trưng văn hóa nêu trên, tác giả lựa chọn hai nhóm dân tộc Ê Đê
và Mông để nghiên cứu, với mục đích phân tích bối cảnh và những đặc trưng trong quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình 2 dân tộc hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê
Đê và Mông qua các nội dung - phương pháp xã hội hóa và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
sau đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về xã hội hóa và xã hội hóa vai trò giới
- Xác định cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu về quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS, gồm: thao tác hóa hệ thống khái niệm công cụ liên quan đến đề tài luận án, vận dụng các quan điểm lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học để phân tích thực nghiệm quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình DTTS
- Mô tả và phân tích quan niệm, nội dung và phương pháp xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay
Trang 17- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ
em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân
tộc Ê Đê và Mông hiện nay qua các khía cạnh: nội dung xã hội hóa, phương pháp xã
hội hóa và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn đối tượng nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong
gia đình dân tộc Ê Đê và Mông ở các khía cạnh: quan niệm, nội dung và phương
pháp xã hội hóa vai trò giới
Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu chính: đại diện hộ gia đình dân tộc Mông (huyện Đồng
Văn - tỉnh Hà Giang) và hộ gia đình dân tộc Ê Đê (huyện Krông Buk - tỉnh Đắk Lắk), trẻ em dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê (từ 7-15 tuổi)
Giới hạn về thời gian quan sát đối tượng nghiên cứu
- Quá trình khảo sát, thu thập thông tin định tính và định lượng phục vụ cho luận án được thực hiện từ tháng 5/2016 - 7/2017
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về chức năng xã hội hóa của gia đình hiện nay Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Do đó các sự vật, hiện tượng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Chúng ta chỉ có thể đánh giá bản chất của một con người cụ thể thông qua
Trang 18các mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối với người khác, đối với xã hội, thông qua hoạt động của chính con người ấy Sự vận động, biến đổi trong các hoạt động của con người diễn ra trong các điều kiện lịch sử cụ thể, nó chịu tác động bởi những quan hệ xã hội, tương tác xã hội tồn tại trong các thời kỳ phát triển khác nhau của xã hội Vận dụng vào luận án, xem xét quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông như là một bộ phận của cấu trúc xã hội, đặt nó trong bối cảnh xã hội cụ thể, trong sự tương quan với các yếu tố chủ quan và khách quan
- Luận án sử dụng lý thuyết xã hội học gồm lý thuyết: Lý thuyết xã hội hóa và
xã hội hóa giới; Lý thuyết cấu trúc - chức năng; Thuyết tương tác biểu trưng; Thuyết
nữ quyền Cụ thể:
+ Áp dụng lý thuyết về xã hội hoá cũng như cách tiếp cận xã hội hoá về giới giúp mô tả sự hình thành vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông: quá trình trẻ em học hỏi các vai trò giới qua các khuôn mẫu hành vi của người lớn; phân tích gia đình như là nhân tố then chốt trong quá trình hình thành vai trò giới; các nội dung giáo dục bản sắc giới của gia đình; sự ảnh hưởng của các thành viên trong gia đình lên sự hình thành vai trò giới ở trẻ em
+ Áp dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng nhằm xem xét các nguyên tắc khi áp dụng với các vai trò giới trong truyền thống và hiện đại Giải thích nguồn gốc của
sự khác biệt về vai trò giới trong gia đình dân tộc Ê Đê và dân tộc Mông, và thể hiện sự hữu dụng của chức năng về những nhiệm vụ được quy cho và phân công dựa trên cơ sở giới
+ Áp dụng lý thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu về xã hội hóa vai trò giới nhằm nhận diện sự tương tác giữa các thành viên trong gia đình đối với trẻ
em, từ đó hình thành hệ thống biểu tượng vai trò giới ở trẻ em Đồng thời giải thích vai trò của các yếu tố gia đình, phong tục tập quán truyền thống, sự biến đổi kinh tế
- xã hội trong việc xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em Trẻ em với tư cách là sản phẩm
kế tục nòi giống của gia đình, dòng họ; là thành viên của cộng đồng xã hội buộc phải có những hành vi ứng xử như thế nào được cho là phù hợp với chuẩn mực giới
mà gia đình và xã hội kỳ vọng?
Trang 19+ Áp dụng lý thuyết và trường phái nữ quyền trong nghiên cứu về xã hội hóa giới ở trẻ em nhằm nhận diện quan niệm về vai trò giới dưới cách tiếp cận nữ quyền, những cơ sở xã hội và cơ sở sinh học cho việc hình thành những hoạt động gắn liền với vai trò của phụ nữ và nam giới; thao tác hóa các khái niệm liên quan đến giới và giới tính được đưa ra bởi các nhà nữ quyền phương Tây Thuyết nữ quyền cung cấp một cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu về các vai trò giới (vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất, vai trò cộng đồng) trong gia đình và xã hội
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Được xem là một trong những phương pháp được sử dụng sớm nhất trong các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội Luận án sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu sẵn có để phân tích các công trình nghiên cứu trước đó nhằm đúc rút các bài học kinh nghiệm trong thực tiễn nghiên cứu, từ đó định hình hướng nghiên cứu của luận án Có thể thấy rằng tài liệu về giới rất phong phú, từ truyền thống (ca dao, tục ngữ, văn hóa dân gian) đến hiện đại (chính sách, luật pháp, công trình nghiên cứu, …) Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập hệ thống cứ liệu phong phú liên quan đến vấn đề giới, giới và DTTS, đặc biệt các nghiên cứu liên
quan đến xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em
Luận án thu thập những thông tin từ các tài liệu có sẵn để làm rõ các nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
- Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài luận án
- Vận dụng các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu
- Đặt câu hỏi nghiên cứu và xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Các nguồn số liệu được thu thập từ:
- Số liệu thống kê của các cơ quan thống kê cấp Trung ương và địa phương (Báo cáo thống kê, niên giám thống kê,…)
- Báo cáo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của các địa phương tiến hành khảo sát
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án
Trang 20Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu xã hội học
về giới, đặc biệt trong nghiên cứu về quá trình xã hội hóa cá nhân (quá trình học hỏi, tiếp nhận) Thông qua phương pháp này có thể theo dõi quá trình hình thành vai trò giới ở trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê thể hiện ở các nội dung: giao tiếp ứng xử, tham gia công việc gia đình,…Cụ thể:
+ Tác giả tiến hành quan sát tham dự với 105 trẻ em trong độ tuổi dưới 9 tuổi, quan sát công việc hàng ngày của trẻ em tại các gia đình, từ đó phân loại các công việc theo các nhóm vai trò giới (vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất); quan sát thái
độ của trẻ em khi tiếp nhận sự dạy bảo việc thực hiện các công việc nhà từ người lớn trong gia đình (ông/bà/bố/mẹ)
+ Quan sát không tham dự đối với người lớn trong gia đình khi họ thực hiện các hoạt động dạy dỗ trẻ em làm các công việc trong gia đình
Phương pháp phỏng vấn sâu
Luận án tiến hành phỏng vấn sâu với 10 hộ gia đình theo các tiêu chí: thời gian kết hôn, nghề nghiệp, số con để có sự so sánh sự khác biệt (nếu có) giữa các nhóm hộ về quan niệm vai trò giới cũng như cách thức xã hội hóa vai trò giới ở trẻ
em Dữ liệu thu được từ phỏng vấn sâu ghi lại đồng thời bằng ghi âm và ghi chép chi tiết; được sử dụng bên cạnh những số liệu định lượng để đảm bảo thông tin thu được là khách quan, bảo đảm phản ánh được bản chất của hiện tượng Cách thức chọn mẫu phỏng vấn sâu được lựa chọn có chủ đích Cơ cấu mẫu như sau:
+ 05 hộ gia đình dân tộc Mông:
Phỏng vấn sâu 1: Chồng 35 tuổi – Nông nghiệp, vợ 30 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 10 năm, 02 con (1 trai, 1 gái)
Phỏng vấn sâu 2: Chồng 55 tuổi – Nông nghiệp, vợ 53 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 30 năm, 04 con (1 trai, 3 gái)
Phỏng vấn sâu 3: Chồng 28 tuổi – Làm thuê, nông nghiệp, vợ 30 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 7 năm, 02 con (1 trai, 1 gái)
Trang 21 Phỏng vấn sâu 4: Chồng 33 tuổi – Nông nghiệp, vợ 32 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 10 năm, 03 con (1 trai, 2 gái)
Phỏng vấn sâu 5: Chồng 41 tuổi – Nông nghiệp, làm thuê, vợ 35 tuổi – Nông nghiệp, làm thuê, kết hôn được 14 năm, 03 con (2 trai, 1 gái)
+ 05 hộ gia đình dân tộc Ê Đê
Phỏng vấn sâu 1: Chồng 37 tuổi – Nông nghiệp, vợ 34 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 13 năm, 02 con (1 trai, 1 gái)
Phỏng vấn sâu 2: Chồng 50 tuổi – Làm thuê vợ 48 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 22 năm, 03 con (1 trai, 2 gái)
Phỏng vấn sâu 3: Chồng 27 tuổi – Nông nghiệp, vợ 26 tuổi – Nông nghiệp, kết hôn được 7 năm, 02 con (1 trai, 1 gái)
Phỏng vấn sâu 4: Chồng 36 tuổi – Làm thuê, vợ 34 tuổi – Làm thuê, kết hôn được 10 năm, 03 con (2 trai, 1 gái)
Phỏng vấn sâu 5: Chồng 45 tuổi – Nông nghiệp, vợ 39 tuổi – Nông nghiệp, làm thuê, kết hôn được 14 năm, 02 con (1 trai, 1 gái)
+ 04 cán bộ chính quyền địa phương (cán bộ xã, trưởng thôn/buôn) tại các xã: Lũng Táo, Thài Phìn Tủng (Hà Giang), Cư Né, Ea Sin (Đắk Lắk)
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Luận án tiến hành thu thập thông tin với 653 hộ gia đình ở 2 tỉnh Hà Giang và Đắk Lắk Sử dụng các câu hỏi liên quan đến quá trình xã hội hóa vai trò giới qua các mặt như: phân công lao động trong gia đình, quan hệ xã hội, những mong đợi về tính
cách dành cho trẻ em trai và trẻ em gái
Nhóm được phỏng vấn gồm: chủ hộ gia đình, trẻ em trai, trẻ em gái dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê
Từ những kết quả có được quan sát thực tế tại địa phương qua lần điều tra thử, tác giả tiến hành thiết kế bảng hỏi phỏng vấn thành 03 phần với nội dung cơ bản như sau:
Phần A: Thông tin người trả lời (Các đặc điểm nhân khẩu học)
Trang 22Phần B: Phần phỏng vấn đại diện hộ gia đình (Các nội dung xoay quanh nhận định về vai trò giới, khuôn mẫu giới, về sự phân công lao động trong gia đình, …) Phần C: Phần phỏng vấn trẻ em (Quan niệm của trẻ về công việc của con trai, con gái, sự quan sát của trẻ đối với các hoạt động trong gia đình, tương tác của trẻ
em với các công việc được cha mẹ phân công,…)
Mẫu nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án là dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê, để đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu, địa phương được lựa chọn phải đại diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội và là nơi tập trung nhiều dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê Dựa trên số liệu thống kê dân số và sự phân bố các dân tộc theo vùng trên cả nước, tác giả luận án chọn ra tỉnh Hà Giang
và tỉnh Đắk Lắk, đây là 2 tỉnh có tỷ lệ dân số dân tộc Mông và dân tộc Ê Đê cư trú cao nhất cả nước
Trong khuôn khổ luận án và khả năng nghiên cứu, mẫu nghiên cứu được lựa chọn tại:
- Tại tỉnh Hà Giang: Dân tộc Mông có 231.464 người, chiếm 31,9% dân số
toàn tỉnh và 21,7% tổng số người Mông tại Việt Nam Tại huyện Đồng Văn, dân tộc Mông chiếm 88% dân số toàn huyện, 2 xã tập trung đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống là:
+ Xã Lũng Táo: Xã nằm cách trung tâm huyện Đồng Văn khoảng 20 km, có
địa hình khó khăn, phức tạp, đá nhiều hơn đất; do vậy, bà con DTTS nơi đây hầu hết đều canh tác một số cây trồng truyền thống và chăn nuôi nhỏ lẻ.Tổng số hộ dân trên toàn xã là 721 hộ = 3.679 nhân khẩu, trong đó số hộ dân tộc Mông là 699 hộ = 3.602 nhân khẩu [126]
Công thức tính cỡ mẫu (*) với cách thức chọn mẫu không lặp lại (Do trong
một đợt nghiên cứu xã hội học, thì một cá nhân, một hộ gia đình nói chung thường chỉ được chọn ra một lần để khảo sát, không lặp lại, do đó tốt nhất chúng ta dùng công thức chọn mẫu cho các mẫu không lặp [93; tr.202])
Trang 23Trong đó: N - Tổng thể, N = 699 hộ
n - Dung lượng mẫu cần chọn
t - Hệ số tin cậy của thông tin (tra bảng), chọn hệ số
tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96
ɛ - Phạm vi sai số chọn mẫu, ɛ = t x d (d: là sai số
chọn mẫu) [93; tr.212]
Chọn sai số chọn mẫu d = 0,03444 ɛ = 0,0675 Thay vào công thức (*) ta có:
Số hộ cần chọn là: 162 hộ
+ Xã Thài Phìn Tủng: có tổng diện tích tự nhiên là 2.132,22 ha Tổng số hộ toàn
xã 984 hộ = 5.087 khẩu, trong đó số hộ dân tộc Mông là 979 hộ = 5.071 [125]
Công thức tính cỡ mẫu (*), ta có:
Trong đó: N - 1.796 hộ
t - Chọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96
ɛ - Chọn sai số chọn mẫu d = 0,03444 ɛ = 0,0675 Thay vào công thức (*) ta có:
Số hộ cần chọn là: 173 hộ
- Tại tỉnh Đắk Lắk: huyện Krông Buk (21.431 người Ê Đê sinh sống) - trung
tâm văn hóa của người Ê Đê thời xưa, nơi đây còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán truyền thống của người Ê Đê
+ Xã Cư Né, huyện Krông Buk: Xã Cư Né nằm trong vùng địa hình đồi núi
trung bình thuộc cao nguyên Buôn Ma Thuột, điểm nổi bật vùng địa hình này được
Trang 24phân bậc rõ ràng giữa phía Đông quốc lộ 14 là địa hình đồi thoải, phía Tây quốc lộ
14 địa hình có độ dốc chia cắt mạnh Do nằm trên quốc lộ 14 nên xã có điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội Theo báo cáo thống kê dân tộc và tôn giáo trên địa bàn xã năm 2017, xã Cư Né có tổng diện tích tự nhiên là: 7.188 ha, gồm 14 buôn và 07 thôn, tổng dân số toàn xã là: 3.302 hộ, với 14.807 khẩu Trong đó, đồng bào dân tộc Ê Đê chiếm 57,2% dân số toàn xã (với 1.796 hộ = 8.483 nhân khẩu) [121]
Công thức tính cỡ mẫu (*), ta có:
Trong đó: N - 1.796 hộ
t - Chọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96
ɛ - Chọn sai số chọn mẫu d = 0,03444 ɛ = 0,0675 Thay vào công thức (*) ta có:
Số mẫu cần chọn là: 188 hộ
+ Xã Ea Sin, huyện Krông Buk: Xã Ea Sin nằm phía Tây Bắc huyện Krông
Búk, cách trung tâm huyện 35 km; xã có dạng địa hình bị chia cắt mạnh, thấp dần từ Đông sang Tây Theo báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội của xã năm 2017,
xã có tổng diện tích tự nhiên là 6.218 ha, tổng số hộ thường trú: 760 hộ = 2.911 khẩu, trong đó, tỷ lệ người dân tộc Ê Đê chiếm 48,26% (335 hộ = 1.405 nhân khẩu), dân tộc Kinh chiếm 42,35%, các dân tộc khác chiếm 3,6% [123]
Công thức tính cỡ mẫu (*), ta có:
Trong đó: N - 335 hộ
t - Chọn hệ số tin cậy 95%, tra bảng t = 1,96
ɛ - Chọn sai số chọn mẫu d = 0,03444 ɛ = 0,0675
Trang 25Thay vào công thức (*) ta có:
Số mẫu cần chọn là: 130 hộ
Tổng mẫu cần điều tra ở cả 2 dân tộc là: (162 + 173) + (188 + 130) = 653 hộ Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống trên cơ sở danh sách lấy mẫu gồm các hộ gia đình có từ 2-3 thế hệ cùng chung sống (danh sách được lọc từ danh sách nhân khẩu do địa phương quản lý) Mẫu nghiên cứu được phân chia trên cơ cấu giới tính, độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp Ở 4 xã tiến hành khảo sát, tác giả lựa chọn cách thức chia đều một cách tương đối theo giới tính của chủ hộ để đảm bảo tính khách quan trong các quan điểm Mẫu trẻ em cũng được lựa chọn ngay tại các hộ gia đình được khảo sát để đảm bảo có sự tương quan trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong quá trình khảo sát Tuy nhiên, trên thực tế tác giả chỉ tiến hành thu thập thông tin bằng bảng hỏi độc lập với 200 trẻ em thuộc 2 dân tộc Mông và Ê Đê Đây là số lượng trẻ có thể tham gia trả lời, thuộc nhóm tuổi chủ yếu từ 9-14 tuổi; những trẻ em dưới 9 tuổi tác giả tiến hành quan sát tại gia đình và thông qua phỏng vấn cha mẹ
Bảng 1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu (N=653)
Trung học phổ thông trở lên 19,5
Trang 26Rất nghèo 1,0
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu định lượng được phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Luận án
sử dụng các phép phân tích thống kê dưới đây:
Phân tích thống kê mô tả: Chủ yếu sử dụng các thông số:
- Điểm trung bình cộng: là giá trị bình quân
- Tần suất, phần trăm được dùng để thống kê các phương án trả lời theo từng nhóm khách thể
Phân tích thống kê suy luận: Các chỉ số được dùng trong phân tích thống kê
mô tả gồm:
- Phân tích so sánh: Chủ yếu sử dụng phép so sánh giá trị trung bình
(Compare mean) Các giá trị trung bình được xem là khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê khi p< 0,05
Phép kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai trung bình tổng thể dựa trên hai mẫu độc lập rút ra từ tổng thể được áp dụng để so sánh hai giá trị trung bình của hai nhóm tổng thể riêng biệt (Independent Samples t-test) Trước đó, kiểm định Levene test được tiến hành để kiểm định sự bằng nhau của phương sai của 2 tổng thể Nếu giá trị p trong kiểm định Levene (kiểm định F) < 0,05 thì phương sai của 2 tổng thể khác nhau Nếu p của kiểm định t<0,05 thì có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình giữa hai tổng thể
So sánh giá trị trung bình của 3 nhóm trở lên được thực hiện bởi phép phân tích phương sai một yếu tố (One way Anova)
- Phân tích tương quan: Trong nghiên cứu này, phép phân tích so sánh tương
quan Pearson (r) để tìm hiểu mức độ (hay độ mạnh) liên kết giữa 2 biến định lượng cũng được áp dụng vào phân tích Hệ số tương quan (r) có giá trị từ (-1) đến (+1) Giá trị này cho biết độ mạnh và hướng của mối liên hệ: nếu giá trị (+) tức (r > 0) có nghĩa là giữa 2 biến này có mối liên quan thuận, nghĩa là khi giá trị của một biến tăng lên thì giá trị của biến kia cũng tăng, và ngược lại, khi giá trị của một biến giảm, thì giá trị của biến kia cũng giảm; trái lại, nếu giá trị (-), tức (r < 0) là
Trang 27thể hiện mối liên quan nghịch, nghĩa là, khi giá trị của một biến tăng lên, thì giá trị của biến kia giảm đi và ngược lại, khi giá trị của một biến giảm đi, thì giá trị của biến kia tăng lên; giá trị tuyệt đối của r càng tiến đến 1, thì mức độ tương quan càng lớn; nếu r = 0 thì 2 biến này không có mối liên quan với nhau
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Bằng phương pháp phân tích xã hội học, luận án có những đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp vào hệ thống lý
luận về xã hội hóa nói chung và xã hội hóa giới nói riêng Cụ thể, luận án kiểm chứng các khái niệm và chứng minh các lý thuyết xã hội hóa và xã hội hóa giới, lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu về vấn
đề xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em Luận án cũng bổ sung các quan điểm của các hộ gia đình DTTS về nội dung và phương pháp xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu thực tiễn mô tả bức tranh xã hội hóa
vai trò giới ở trẻ em trong các gia đình dân tộc Ê Đê và Mông hiện nay trên các khía cạnh nội dung và phương pháp xã hội hóa Góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em DTTS hiện nay Kết quả nghiên cứu giúp kiểm chứng mô hình xã hội hóa vai trò giới truyền thống và hiện nay của các DTTS
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án “Xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông
hiện nay” đi sâu vào phân tích quá trình xã hội hóa vai trò giới ở trẻ em trong gia
đình dân tộc Ê Đê và Mông thông qua nhận thức, nội dung và phương pháp xã hội hóa Góp phần bổ sung những thông tin mang tính khoa học về xã hội hóa vai trò giới, đóng góp vào hệ thống các công trình nghiên cứu về giới nói chung Vận dụng các lý thuyết xã hội học gồm: lý thuyết xã hội hóa và xã hội hóa giới, lý thuyết cấu
Trang 28trúc - chức năng, lý thuyết tương tác biểu trưng để phân tích, giải thích các quan điểm khác nhau của các hộ gia đình về nội dung và phương pháp xã hội hóa giới ở trẻ em
7 Cấu trúc của luận án
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU - Tổng lược các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phân tích những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn các công trình đó mang lại, phát hiện những khía cạnh chưa được đề cập đến, từ đó định hướng nghiên cứu cho luận án
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI - Chương này trình bày hệ thống các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài luận án, các lý thuyết xã hội học được vận dụng giải thích các nội dung nghiên cứu của luận án
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI
Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG HIỆN NAY - Nội dung chương đề cập đến quan niệm vai trò giới, các khía cạnh và cách thức xã hội hóa vai trò giới trong cộng đồng dân tộc Ê Đê và Mông
Chương 4: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ GIỚI Ở TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC Ê ĐÊ VÀ MÔNG - Nội dung chương phân tích những yếu tố thuộc đặc điểm hộ gia đình và đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới trẻ em trong gia đình dân tộc Ê Đê và Mông
KẾT LUẬN
Trang 29Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã có, trong chương này tác giả điểm lại các hướng nghiên cứu liên quan đến nội dung xã hội hóa (quan niệm về vai trò giới, kỳ vọng về vai trò giới), các phương pháp được dùng trong nghiên cứu về xã hội hóa nói chung và xã hội hóa vai trò giới, và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới; nhằm nhận ra những khoảng trống của các nghiên cứu trước để lại, đồng thời xây dựng cơ sở lý luận và định hướng cho các nội dung nghiên cứu của luận án
1.1 Các nội dung nghiên cứu về xã hội hóa vai trò giới
1.1.1 Quan niệm về vai trò giới
Trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước”, Engels
đã viết: “Sự phân công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên; nó chỉ tồn tại
giữa nam và nữ Đàn ông đi đánh giặc, đi săn bắn và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ cần thiết cho việc đó Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc: họ làm bếp, dệt và may vá” [104; tr.167] Từ sự
phân công lao động “hoàn toàn có tính chất tự nhiên” như thế dẫn đến một sự phân
chia phạm vi hoạt động theo giới một cách tự nhiên: “Mỗi bên làm chủ trong lĩnh
vực hoạt động riêng của mình: đàn ông làm chủ trong rừng, đàn bà làm chủ ở nhà”
[104; tr.167] Và điều này đưa đến một sự sở hữu có đặc trưng theo giới: “Mỗi bên
đều là người sở hữu những công cụ do mình chế tạo và sử dụng: đàn ông làm chủ
vũ khí, dụng cụ săn bắn và đánh cá; đàn bà làm chủ những dụng cụ gia đình” (dẫn
theo Hoàng Bá Thịnh) [104; tr.167] Các vai trò giới chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự phân công lao động theo giới, vì giới là một sản phẩm của xã hội, vừa có tính lịch sử, vừa có tính phi lịch sử; vấn đề giới vận động một cách khách quan cùng sự vận động của xã hội, nó biến đổi theo thời gian và tùy thuộc vào mỗi nền văn hóa khác nhau Theo quan điểm của các nhà chức năng thì khi các cặp vợ chồng thừa nhận và thực hiện các vai trò của mình, chuyên môn hóa các vai trò đó thì gia đình
có xu hướng ổn định, hòa hợp; đó là người chồng thực hiện vai trò công cụ - giúp duy trì cơ sở xã hội và sự toàn vẹn về vật chất của gia đình, bằng cách cung cấp lương thực, nơi ở và là cầu nối giữa gia đình với thế giới bên ngoài; còn người vợ
Trang 30thực hiện vai trò tình cảm/biểu cảm - đem lại mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ tình cảm
và sự nuôi dưỡng có chất lượng để duy trì đời sống gia đình, đảm bảo gia đình vận hành một cách trôi chảy [104; tr.159]
Những phân tích từ nghiên cứu Biến đổi mô hình phân công lao động nội trợ
trong gia đình nông thôn [6; tr.32-45] đã chỉ ra rằng mô hình phân công lao động
nội trợ không chỉ đơn thuần là sự phân chia công việc thường ngày trong mỗi gia đình mà đằng sau nó là những quan niệm về khuôn mẫu vai trò giới đã tồn tại từ rất lâu và khó có thể thay đổi Xét từ quan điểm bình đẳng giới, người phụ nữ dù trẻ hay già vẫn luôn là người gánh vác phần lớn công việc nội trợ trong gia đình, vai trò của người nam giới chỉ mang tính hỗ trợ Và sự phân công này được ưu tiên tiếp nối như một thói quen truyền thống, gắn với gia đình truyền thống Đồng thời sự phân công lao động nội trợ theo giới góp phần xã hội hóa vai trò giới truyền thống và định hình khuôn mẫu giới từ trong gia đình [6; tr.33], đó là: ngay từ khi còn nhỏ các
em gái đã được dạy bảo làm các công việc của phụ nữ như quét nhà, rửa ấm chén, bát đĩa, lớn lên nấu cơm, trông em, khâu vá, giặt giũ Trong khi đó các em trai được định hướng sẽ làm những công việc nặng nhọc hay những việc lớn trong gia đình Khi trưởng thành, xu hướng phân công lao động theo giới được thể hiện một cách
rõ nét: phụ nữ là người làm các công việc không được trả công, còn nam giới làm các công việc được trả công (Lê Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2000)
Giới là vấn đề vừa mang tính lịch sử vừa mang tính xã hội Vấn đề giới vận động và biến đổi cũng với sự biến đổi của xã hội, tuy nhiên sự biến đổi đó diễn ra rất chậm Điều này đã được các nghiên cứu chứng minh rằng mặc dù sự thay đổi của xã hội có tác động đến quan niệm và việc thực hiện các vai trò giới ở trong gia đình, như vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình được nâng lên, tuy nhiên những quan niệm về vai trò truyền thống của phụ nữ như: vai trò tái sản xuất (sinh con, chăm sóc gia đình: cả thể chất và tinh thần) thì dường như vẫn chưa có sự thay đổi nhiều Phụ nữ vẫn là trụ cột trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc con cái trong gia đình, mọi sinh hoạt bên ngoài xã hội đều dành cho người chồng [75; tr.25-35] Đối với việc giáo dục con cái phụ nữ được xem là người thầy đầu tiên trong gia đình của trẻ em Phụ nữ quan tâm không chỉ đến việc học tập
Trang 31của con cái mà còn thể hiện cả trong việc hình thành các mô hình vai trò giới thông qua việc dạy con trai và con gái tham gia các công việc gia đình [86; tr.39-49] Khuôn mẫu về vai trò giới trong gia đình hiện nay được làm rõ qua các chỉ báo như: quan niệm về vai trò và trách nhiệm của vợ và chồng trong gia đình, mong muốn của cha mẹ về phẩm chất cần giáo dục cho con trai và con gái Kết quả phân tích cho thấy khuôn mẫu giới trong gia đình hiện nay còn mang định kiến khá rõ, điều này không chỉ tồn tại trong nhận định về vai trò, trách nhiệm thực tế của phụ nữ và nam giới mà còn tồn tại trong cả những mong muốn, quan niệm của các bậc cha mẹ
về phẩm chất của con trai và con gái của họ Kiến nghị được đưa ra là cần thay thế
mô hình khuôn mẫu giới đơn lẻ, rập khuôn về vai trò, trách nhiệm của phụ nữ và nam giới trong gia đình bằng những mô hình đa dạng, linh hoạt hơn sẽ góp phần
tích cực vào sự phát triển cân bằng và bền vững của gia đình [50; tr 31-37] Các tác
giả kết luận là các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra ở Việt Nam trong những năm qua
đã không có tác động âm tính tới vai trò giới Phụ nữ vẫn tiếp tục đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên Giữa các miền, sự khác biệt về vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn Các tác giả ghi nhận sự thích ứng của các giá trị về vai trò giới như một cách đáp ứng với những biến đổi xã hội ở Việt Nam
Sự xác định của xã hội về một con người và sự tự nhận diện tiếp theo của một đứa trẻ là con trai hay con gái là một vấn đề quan trọng cho sự phát triển của cả bản sắc giới và vai trò giới Những nghiên cứu về trẻ em này cho thấy rằng một khi được gán cho nhãn giới từ lúc sinh ra là đứa trẻ đó được chấp nhận trong những năm đầu của nó, điều này là một sự xác định vĩnh cửu [104; tr.145] Quá trình xã hội hóa giới ở trẻ em được thể hiện trong các phong tục, cấm kỵ của người phụ nữ khi mang thai; mong ước của cha mẹ qua việc đặt tên cho con trai, gái; qua cách ăn mặc của trẻ em nam, nữ; trong phân công công việc trong gia đình; trong cách giáo dục và sự mong đợi ở gia đình; những yếu tố ảnh hưởng đến sự phân biệt về giới,
kỳ thị về giới [83] Có sự khác biệt trong việc đặt tên con trai và con gái trong các gia đình nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện khuôn mẫu giới một cách rõ rệt, tuy nhiên không cho thấy mối liên hệ giữa học vấn, độ tuổi của người cha và
Trang 32người mẹ trong việc đặt tên cho con trai và con gái Nguyên tắc đặt tên chủ yếu dựa trên những định kiến giới đang tồn tại phổ biến trong xã hội, theo đó tên con trai thường gắn với yếu tố “dương”, mạnh mẽ,…, còn tên con gái thường gắn với yếu tố
“âm”, dịu dàng,…Những định kiến này hầu như không thay đổi trong thời gian qua trong các gia đình nông thôn mà lý giải cho điều này là do xuất phát từ quan niệm
giới truyền thống [79; tr.54]
Nghiên cứu về chức năng xã hội hóa vai trò giới, không chỉ có gia đình là chủ
thể duy nhất mà còn có môi trường trường học, theo đó bài viết Nhận thức về bình
đẳng giới của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc [118] của tác giả Đặng Ánh
Tuyết phân tích thực trạng nhận thức về bình đẳng giới ở lứa tuổi học sinh THPT, tác giả cũng cho rằng nếu ở lứa tuổi này các em không được giáo dục hoặc nhận thức sai về bình đẳng giới hoặc có những tư tưởng định kiến giới thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các mô hình hành vi về vai trò giới trong cuộc sống sau này
Qua nghiên cứu về quan hệ giới trong gia đình, một số tác giả cũng chỉ ra rằng phong tục tập quán cùng những định kiến về trọng nam khinh nữ vốn ăn sâu bám rễ trong cách suy nghĩ của đồng bào DTTS đã trở thành nếp sống, truyền thống giáo dục trẻ em trai và trẻ em gái, khiến chúng lớn lên với sự đối xử khác biệt và có những hành vi khác biệt giới Quan niệm truyền thống cho rằng nam giới đảm nhiệm những công việc nặng nhọc và đó thường là những công việc quan trọng, có giá trị hơn những công việc nhẹ nhàng do phụ nữ đảm nhiệm Đây được coi là một chuẩn mực mà tất cả mọi người trong cộng đồng tuân theo Cả cộng đồng mong đợi mỗi giới phải thực hiện tốt công việc phù hợp với “đặc tính” nam hoặc nữ của họ,
nếu không sẽ bị chê trách là “nam giới mà như đàn bà” hoặc “phụ nữ gì mà giống
đàn ông” [37; tr.93]
Các nghiên cứu về sự phân công lao động theo giới ([9], [37], [70], [91], [103]) dựa trên quan niệm về vai trò giới truyền thống cho thấy có sự biến đổi trong mối quan hệ giới trong gia đình các DTTS, đặc biệt là trong phân công lao động gia đình Về cơ bản trong gia đình các DTTS vẫn còn mang nhiều định kiến giới, khuôn mẫu giới vẫn ngự trị trong suy nghĩ và hoạt động của người dân khi thực hiện cả 3
Trang 33vai trò: sản xuất, tái sản xuất và cộng đồng; phân công lao động vẫn dựa trên quan
niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ và nam giới; theo đó “việc đàn ông” - là
quan niệm dành cho nam giới, gồm những công việc nặng, cần tính toán và kỹ
thuật, “việc đàn bà” - là quan niệm dành cho phụ nữ, gồm những công việc nhẹ,
việc không tên (Hoàng Xuân Thành và cs 2009: tr.70; Ngô Đức Thịnh 2007: tr.20) [9;tr.14] Vai trò vốn có của phụ nữ tại phần lớn các xã hội vùng cao ở Việt Nam bị giới hạn và gần như bị gói gọn trong phạm vi gia đình Đối với nhóm gia đình mẫu hệ ở Tây Nguyên, mặc dù người phụ nữ có tiếng nói quyết định hơn trong gia đình, nhưng sự phân công lao động theo giới ở những cộng đồng này cũng không khác biệt nhiều so với các dân tộc phụ hệ
Nhóm các công trình nghiên cứu về người Ê Đê gồm có Người Ê Đê: một xã
hội mẫu quyền [1] của tác giả Anne De Hautecloque Howe đã đưa đến bức tranh
toàn cảnh về tộc người Ê Đê ở Đắk Lắk; Luận án Người phụ nữ Ê Đê trong đời
sống xã hội tộc người [24] của tác giả Thu Nhung MLô Duôn Du; Luận án Đời sống của đồng bào dân tộc Ê Đê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk - những phân tích và so sánh xã hội học [117] của tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã xác định cơ sở lý luận (hệ
lý thuyết và khái niệm) làm nền tảng cho nghiên cứu về biến đổi đời sống xã hội của nhóm DTTS Mô tả thực trạng đời sống của đồng bào dân tộc Ê Đê trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk trên hai phương diện kinh tế (cơ sở hạ tầng, điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt hộ gia đình, thu nhập của hộ gia đình) và phi kinh tế (giáo dục, y tế, nghỉ ngơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng và bình đẳng giới trong gia đình) So sánh hiện trạng đời sống của người Ê Đê hiện nay với thời điểm 5 năm trước So sánh hiện trạng đời sống của người Ê Đê tại thành phố Buôn Ma Thuột và của người Ê Đê tại huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Phân tích một số yếu tố tác động tới sự biến đổi đời sống của người dân tộc Ê Đê tại Đắk Lắk, bao gồm: chính sách xã hội, quá trình
đô thị hóa, toàn cầu hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa, và một số đặc trưng nhân khẩu xã hội của người Ê Đê (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp) Dựa
trên số liệu khảo sát thực địa này, tác giả cũng đã công bố bài viết Bình đẳng giới
trong gia đình người dân tộc Ê Đê ở Đắk Lắk [116], các kết quả được đưa ra đều
khẳng định vai trò quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, mọi công việc trong
Trang 34gia đình đều đặt nặng trên vai người phụ nữ, trong đó vẫn có sự phân biệt về giới khi phân công các công việc trong gia đình, mặc dù chế độ mẫu hệ nhưng không hề
phủ nhận nam quyền, hạ thấp đàn ông Công trình Văn hóa Ê Đê - Truyền thống và
biến đổi [49] xem xét Luật tục Ê Đê với tư cách là một thiết chế với những khuôn
mẫu đặc trưng mẫu hệ trong quá trình xã hội hóa, nội dung luật đề cao vai trò của gia đình trong quá trình giáo dục cách ứng xử của con trai và con gái Và khái niệm
“con gái” nói riêng và nhóm nữ nói chung đã trở thành một thứ giá trị bộc lộ sắc thái văn hóa mẫu hệ ở dân tộc Ê Đê Như vậy, vai trò của mỗi giới đã được ấn định
từ luật tục, và đó được coi là khuôn mẫu ứng xử, có các chế định rõ ràng và được cả cộng đồng tuân thủ
Với các báo cáo được rút ra từ những nghiên cứu xã hội học về trẻ em ở nhiều
khía cạnh, trong cuốn Trẻ em, gia đình và xã hội [81] đã cho thấy bức tranh tương đối
sinh động, phong phú, chân thực về vấn đề trẻ em Việt Nam hiện nay, kèm theo các giải pháp nhằm giúp đỡ, chăm sóc, giáo dục và phát triển các em Liên quan đến
nhóm DTTS, có bài viết Lao động trẻ em DTTS - Trách nhiệm của gia đình và xã hội
(tác giả Nguyễn Hồng Quang) đã đưa ra vấn đề trẻ em DTTS lao động sớm và sự
phân công các công việc theo giới tính của trẻ
Mặc dù không nói cụ thể về quan niệm vai trò giới đối với trẻ em trong gia đình, nhưng thông qua việc phân công lao động trong gia đình cho con trai và con gái đã cho thấy quan niệm ngầm ẩn của các bậc cha mẹ về vai trò đối với mỗi giới tính Trong các gia đình nghèo, một số công việc thường được quan niệm là có “đặc tính giới” như quét nhà, rửa bát, nấu cơm là của các em gái thì cũng không cho thấy
sự khác biệt lớn trong sự tham gia của trẻ em trai và trẻ em gái Như vậy có thể thấy rằng, do tính thúc bách của công việc và thiếu lao động nên cha mẹ không phân biệt công việc dành cho con trai và con gái, tuy nhiên công việc trông em thường được giao cho trẻ em gái vì chúng cẩn thận và không quá mải chơi như trẻ em trai [58]
1.1.2 Phương pháp xã hội hóa vai trò giới
Hiệu quả của giáo dục không đơn thuần nằm ở nội dung, thái độ của người giáo dục - người tiếp thu mà còn phụ thuộc vào phương pháp giáo dục Việc giáo dục thông qua phương pháp truyền miệng, giải thích và nhắc đi nhắc lại nhiều lần được
Trang 35các gia đình coi trọng; thêm vào đó là phương pháp nêu gương, mỗi bậc cha mẹ là tấm gương về lối sống và lao động để con cái noi theo [58] Kết quả điều tra vào năm
2002 của nhóm tác giả do Đặng Cảnh Khanh chủ trì thực hiện đã cho thấy tỷ lệ một
số hình thức giáo dục con cháu được các gia đình vận dụng như sau: 73,2% gia đình chọn phương pháp truyền miệng, nói đi nói lại nhiều lần; 55,6% gia đình chọn cách thức vừa nói vừa làm gương; 36,2% giáo dục thông qua kể và phân tích các câu chuyện lịch sử, văn hóa dân gian; 26,4% chọn cách uốn nắn, đánh đòn khi trẻ có hành
vi sai [58; tr.284] Lối sống của ông/bà/cha/mẹ có ảnh hưởng rất nhiều tới con cháu – Đây là kết luận được rút ra khi phân tích tương quan về sự ảnh hưởng của gia đình tới
sự tiếp nhận giá trị gia đình của trẻ em trong gia đình Nghiên cứu này cũng khẳng định vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con cháu, có 66,3% số người trên
60 tuổi và 71,7% số người trên 70 tuổi thường xuyên chăm sóc con cháu, chỉ có 4,5%
là không có thời gian [58; tr.285-287] Việc trẻ em lao động vừa sức và phù hợp với lứa tuổi có thể được xem như hoạt động lành mạnh nhằm giáo dục trẻ em cho tương lai Những công việc thường được các em làm như trông em, làm việc nhà, phụ việc đồng áng cho cha mẹ được xem là phương pháp giáo dục và rèn luyện trẻ em tốt nhất
và phổ biến nhất ở Việt Nam Ngoài ý nghĩa phụ giúp cho cha mẹ, trong một vài trường hợp, hoạt động lao động trong gia đình của trẻ em có ý nghĩa đóng góp vào thu nhập của gia đình [58]
Một trong những quan niệm khá phổ biến về quá trình xã hội hóa cá nhân là xem nó như một quá trình học hỏi để thực hiện các vai trò mà cá nhân cần thực hiện Thực chất xã hội hóa là cơ chế quan hệ giữa con người và xã hội [23; tr.269] Trong gia đình, để đảm bảo việc tuân thủ các nội dung giáo dục, gia đình Việt Nam truyền thống đặc biệt sử dụng quyền uy của chủ thể giáo dục Phương pháp giáo dục ở đây
là buộc phải tuân theo, phải chấp hành chứ không được phép tranh luận, phân tích đúng sai [127; tr.65] Bên cạnh đó phương pháp nêu gương cũng được xem là phương pháp thường được các gia đình sử dụng, những tấm gương được hình thức hóa thông qua các câu chuyện kể, các câu châm ngôn, ca dao, tục ngữ, được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Giáo dục thông qua lao động và bằng lao động
Trang 36là phương pháp phổ biến, được đại đa số các gia đình sử dụng, với quan niệm dạy con nên người là phải dạy con biết tự lao động Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em trong các gia đình nông dân đã được hướng dẫn lao động và tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi [127; tr 68] Ví dụ ở dân tộc Mông Lềnh: Người dân tộc Mông Lềnh không phân chia các giai đoạn trưởng thành riêng của trẻ em mà họ phân chia và đánh dấu chung các giai đoạn trưởng thành của cả đời người Theo đó, cuộc đời mỗi người được chia
thành 3 giai đoạn: giai đoạn trẻ con (từ khi mới đẻ ra cho đến 15 tuổi - được gọi là mí
nhua); giai đoạn thanh niên (từ 15 - 40 tuổi - được gọi là sênh nhềnh); giai đoạn
người già (từ 40 tuổi trở lên - được gọi là tua nênh lầu) Ở độ tuổi từ mới sinh đến khi
9 tuổi về cơ bản trẻ em được giáo dục như nhau, nhưng đến lứa tuổi 10 - 16 các bậc cha mẹ dạy và quan tâm đến trẻ có sự phân biệt theo giới tính, điều này dẫn tới sự phát triển của trẻ trai và trẻ gái là khác nhau Ở giai đoạn trẻ con, người Mông Lềnh coi đó là thời thơ ấu nên không bắt trẻ em tham gia nhiều vào các công việc trong gia đình, có chăng chỉ giao các công việc nhẹ nhàng, trẻ con luôn được nuông chiều Trẻ con được mẹ địu trên lưng lên nương, đi chợ, thăm bà con họ hàng, được giáo dục qua các bài hát ru truyền thống của dân tộc [2; tr.40] Trẻ em trai và trẻ em gái trong cộng đồng các DTTS được cha mẹ truyền dạy về những nguyên tắc này ngay từ khi mới sinh ra thông qua từng công việc cụ thể hàng ngày [37; tr.93] Sự phân công những công việc trong gia đình theo giới tính càng rõ ràng khi trẻ càng lớn lên Trẻ
em gái bắt chước những công việc của mẹ, của bà, đảm nhận những công việc của người phụ nữ trong gia đình, còn trẻ em trai thì làm những công việc của cha, của những người đàn ông trong gia đình [83; tr.20] Sự bắt chước này, hoặc hình mẫu, xuất hiện như là phần thưởng quan trọng đối với đứa trẻ [104; tr.145] Các em gái phải “ngoan ngoãn” học làm theo chỉ dẫn của những “người mẫu” trong gia đình Làm như vậy, các em có thể noi theo “gương” những người phụ nữ lớn tuổi hơn trong mọi hoạt động hàng ngày Bằng cách tham gia làm những công việc nhỏ hằng ngày trong nhà hoặc bên ngoài các em biểu hiện “đạo đức [phụ nữ] tốt thông qua việc
thực hành tình cảm”
Trang 37Mô tả sự khác biệt về xã hội hóa vai trò giới giữa bé trai và bé gái, có tác giả
Simone de Beuvoir với công trình Giới nữ (xuất bản lần đầu năm 1949) Trong
cuốn sách, ngoài hệ thống lý luận triết học về phụ nữ xuất phát từ quan điểm nam
nữ bình quyền, nội dung cuốn sách xoay quanh tình trạng phụ nữ bị áp bức lâu dài khiến họ trở thành giới ít quan trọng trong mối quan hệ với nam giới, tác giả cũng luận giải những đặc tính của phụ nữ, những diễn giải về thần thoại của bà đối với vai trò của phụ nữ Và tác giả cũng dẫn ra quá trình giáo dục (xã hội hóa vai trò giới) mà người phụ nữ nhận được từ khi còn bé để phá bỏ luận bản chất cho rằng đàn bà sinh ra đã là “đàn bà” chứ không phải trở thành như vậy qua quá trình vận động của xã hội
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa vai trò giới
Môi trường xã hội hóa là nơi cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác
xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội [23; tr.260] Theo đó, các mô hình lý thuyết về sự phát triển vai trò giới đều nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường xã hội hóa sớm nhất của đứa trẻ Những người xung quanh đứa trẻ là những người mà đứa trẻ tương tác thường xuyên, là những thầy giáo về bản sắc giới và vai trò giới [104; tr.145] Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng gia đình là nơi xã hội hóa vấn đề giới, truyền lại các kiến thức và kỹ năng về giới Do vậy, nhận thức về bình đẳng giới của các thế hệ đi trước trong gia đình như ông bà, cha mẹ… tác động rất lớn đến nhận thức của các thế hệ kế tiếp Trong gia đình, con người học những bài học đầu tiên về tôn ti trật tự, về sự tuân thủ, sự phân biệt đối xử Con trai học cách quyết đoán và thống trị, con gái học sự phục tùng Gia đình chính là nơi tạo ra tôn ti trật tự Sự nhận thức không đúng đắn về giới và bình đẳng giới sẽ tạo ra những tôn ti trật tự trong đó làm giảm vị thế của phụ nữ, dẫn đến bất bình đẳng giới ngay trong gia đình Trong gia đình truyền thống, ông
bà, cha mẹ truyền dạy cho cháu con những nguyên mẫu về các quan niệm và hành
vi mong đợi được cho là thích hợp đối với mỗi giới và các kỳ vọng của xã hội đối
với nam giới và phụ nữ Theo tác giả Lê Ngọc Văn ([128], [133], [134], [135]) chức
năng giáo dục của gia đình - còn được các nhà xã hội học gọi là chức năng xã hội
Trang 38hóa, gồm có chức năng giáo dục bản sắc giới tính của gia đình Việt Nam - làm cho mỗi giới ý thức được bản sắc riêng của giới mình, bản sắc đó không dựa trên cơ sở
tự nhiên mà dựa trên cơ sở xã hội, một xã hội bất bình đẳng nam nữ, nhấn mạnh sự
khác biệt nam nữ, lý thuyết Nho giáo “trọng nam khinh nữ”, đồng thời cũng nói tới
giáo dục con trai và con gái trong giao tiếp với người khác giới trong gia đình và ngoài xã hội
Theo Lê Như Hoa [46] khi bàn về vai trò văn hóa gia đình trong việc hình thành nhân cách trẻ em, xuất phát từ quan niệm khoa học về cấu trúc và quy luật phát triển nhân cách, tác giả cho rằng cần gợi ra những phương diện chủ yếu mà bố
mẹ cần phải quan tâm, trong đó có việc giáo dục nhân cách giới cho trẻ em Trong bối cảnh quốc tế và quốc gia hiện nay, việc nghiên cứu vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người là hết sức cần thiết, tác giả Lê Thi
([100], [101]) đã nhấn mạnh tới sự ảnh hưởng của các thành viên trong gia đình tới
việc hình thành nhân cách trẻ em Cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình là những người khác có ý nghĩa trước tiên trong cuộc đời của một đứa trẻ Những người khác có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, bao gồm sự phát triển vai trò giới của chúng, theo một vài cách: những người mà đứa trẻ tôn trọng, yêu thích, những hình ảnh có ý nghĩa này là những mô hình về hành vi mà đứa trẻ
sẽ muốn thi đua [104; tr.145] Thông thường bố mẹ chuyển tải những kỳ vọng đối với con trai và con gái thông qua cách đối xử với chúng Thông điệp ở đây rất rõ, thế giới con gái là thế giới thụ động và tình cảm, trong khi thế giới con trai là thế giới độc lập và hành động Cha mẹ dạy trẻ cách hiểu tầm quan trọng của giới tính thông qua: trang phục, đồ chơi, công việc nhà [57]
Nghiên cứu Gender Role Socialization in Jewish Men [163] của các tác giả
Lasser, Jon; Gottlieb, Michael C tìm hiểu về nam giới người Do Thái và quá trình
xã hội hóa vai trò giới ở nhóm này, đặc biệt nhấn mạnh tới sự ảnh hưởng của yếu tố gia đình (cha mẹ) trong thời thơ ấu, sự tương tác của nam giới Do Thái với những thành viên trong gia đình và những người khác thuộc các chủng tộc khác Khác với các dân tộc khác, nam giới Do Thái được học hỏi sự dịu dàng, tốt bụng, và tình cảm
Trang 39từ cha mẹ mình, trái ngược với khuôn mẫu nam tính - vốn được xem là giá trị giới truyền thống Quá trình xã hội hoá vai trò giới ở xã hội Do Thái cũng được phân đoạn theo các giai đoạn phát triển nhận thức: thời thơ ấu, niên thiếu, thanh niên,…
Công trình Nghiên cứu về giới, nam tính và sự ưa thích con trai ở Nepal và
Việt Nam [144] của nhóm tác giả thuộc trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ (ICRW) và
Viện nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) năm 2012 Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Nepal và Việt Nam tìm hiểu về các thái độ khác nhau của nam giới đối với bình đẳng giới, sự ưa thích con trai, bạo lực với vợ hay bạn tình cũng như thái độ và kiến thức về luật pháp và chính sách liên quan đến quyền phụ nữ Nghiên cứu khẳng định rằng sự ưa thích con trai, vai trò giới và thái độ bất bình đẳng tồn tại ở cả hai quốc gia Nghiên cứu gợi ý cần phải có các chương trình can thiệp hay chiến dịch tập trung vào nam giới toàn diện và mang tính dài hạn ở cấp quốc gia và cấp địa phương xem xét các điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể tác động tới thái độ này Vì mối quan hệ giữa trải nghiệm thời thơ ấu về bất bình đẳng, thái độ về bình đẳng giới và
tư tưởng ưa thích con trai và bạo lực bạn tình, các can thiệp về nam tính ngay trong thời kỳ thơ ấu và vai trò của nam giới trong gia đình cũng sẽ được đưa ra như những khuyến nghị về chính sách rút ra từ các kết quả nghiên cứu này
Trong các gia đình ở Sri Lanka, mặc dù là một xã hội gia trưởng vẫn tồn tại yếu tố mẫu hệ (người phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong gia đình), nhưng vai trò giới truyền thống vẫn được duy trì phổ biến, trẻ em gái và phụ nữ vẫn phải làm việc cật lực trong gia đình, không có sự giúp đỡ từ các thành viên khác Bạo lực gia đình vẫn diễn ra, tuy nhiên trẻ em gái cũng như phụ nữ nơi này được dạy bảo hãy coi đó là những xích mích đơn giản giữa vợ và chồng, không đáng phải làm lớn chuyện, ảnh hưởng đến thanh danh gia đình,…
Gia đình với tư cách là môi trường xã hội hóa quan trọng nhất ([158]; [164]; [176]) trong một xã hội đầy rẫy những định kiến giới, hiện tượng bất bình đẳng giới được cho là tất yếu, và trẻ em thường xuyên phải học tập, rèn luyện để thích vai trò giới vốn không phải lúc nào cũng công bằng cho cả hai giới Càng lớn, trẻ em càng được tiếp xúc với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của chúng về vai
Trang 40trò giới Những thái độ và hành vi ấy thường được học đầu tiên trong gia đình và sau đó được tăng cường bởi các đồng nghiệp của đứa trẻ, bởi các nhóm thành viên, và các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, ảnh hưởng mạnh nhất đến phát triển vai trò giới tính dường như xảy ra trong bối cảnh gia đình, do cha
mẹ truyền lại một cách công khai và ngầm ẩn cho con cái mình những niềm tin của mình về giới tính Các công trình này phân tích sự ảnh hưởng của cha mẹ đến quá trình phát triển vai trò giới, đưa đến ý kiến cho rằng vai trò định hướng giới tính ái nam ái nữ có thể có lợi cho trẻ em hơn là tuân thủ nghiêm ngặt những vai trò giới truyền thống Một phát hiện mới của các nghiên cứu này là chỉ ra sự khác biệt trong quá trình xã hội hóa vai trò giới ở các nhóm gia đình khác nhau: gia đình đầy đủ bố mẹ và gia đình khuyết thiếu (chỉ có bố hoặc mẹ), kết luận đưa ra là quá trình xã hội hóa vai trò giới bị ảnh hưởng bởi cấu trúc gia đình: trong các gia đình đơn thân (chỉ có cha hoặc mẹ) ít diễn ra sự xã hội hóa các vai trò giới truyền thống hơn các gia đình có đủ cả bố mẹ Bất kể loại hình gia đình nào cũng sử dụng các hình thức khen - chê, thưởng - phạt khác nhau tùy thuộc vào giới tính của họ
và con cái họ trong quá trình xã hội hóa giới
Khi nghiên cứu về vai trò giới, bên cạnh các yếu tố chủ quan, yếu tố khách quan là tác nhân không thể thiếu Mỗi cá nhân sinh ra trong gia đình, nhưng các hoạt động sống được tổ chức không chỉ trong môi trường gia đình mà còn cả bên ngoài xã hội Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ảnh hưởng đầu tiên về vai trò giới của đứa trẻ bắt nguồn từ gia đình, thông qua sự tương tác với cha mẹ chúng, sớm nhất là
từ 24 giờ sau sinh (Witt, 1997) Bên cạnh tác nhân gia đình, tác giả tập trung phân tích sự ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ của phương tiện truyền thông đại chúng tới
sự hình thành vai trò giới của trẻ em, bởi trẻ em thường có những hành vi rập khuôn theo những gì chúng thấy trên truyền hình, các phương tiện truyền thông đang khuyến khích trẻ em thể hiện vai trò giới truyền thống Trong các dẫn chứng đưa ra, tác giả tập trung phân tích sự ảnh hưởng của các nhân vật nam và nhân vật nữ trong phim truyền hình và trong các chương trình quảng cáo tới sự hình thành nhân cách giới ở trẻ em Trường học là tác nhân thứ hai bên ngoài tác động tới sự hình thành