Ở CHLB Đức, hướng nghiệp được xác định ngay trong hệ thống giáo dục phổ thông với các loại trường khác nhau từbậc THCS: Trường Hauplschule là trường đào tạo HS cóthiên hướng về nghề đơn
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤCPHỔ
THÔNG MỚI
Trang 2Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới
Ở Pháp, năm 1949, xuất hiện cuốn sách Hướng dẫn lựachọn nghề: Ở Mỹ năm 1883, nhà tâm lý học Ph.Galton đãtrình bày chương trình trắc nghiệm về mục đích chọn nghề[55]
Đầu thế kỷ 20, Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đều xuất hiện
cơ sở dịch vụ hướng nghiệp Ở Nga đầu thập kỉ 20, công táchướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triểnnguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấygiờ
Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thếgiới quan tâm Tác giả Keller và Viteles, 1937 Watts, 1996,Super 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong nhữngnăm 1990, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Phápnăm 1910, nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm
1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉnăm 1911, 1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva vàLondon năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những
Trang 3nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa
Kì và châu Âu [57]
Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thếgiới về tư vấn và hướng nghiệp, họ khảo sát, so sánh các quốcgia ở Châu Âu, Châu Á Hai tác giả đã đưa ra mục đích chungcủa tư vấn và hướng nghiệp với nhiều hình thức tổ chức vàcung cấp dịch vụ khác nhau phụ thuộc vào truyền thống,chính trị, kinh tế và xã hội của từng nước Tư vấn và hướngnghiệp tiếp tục phát triển và thực hiện trong các cơ sở giáodục ở các quốc gia trên thế giới [60]
Cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX nhà bác học người
Mỹ khi nghiên cứu về tâm lý lao động, ông đã có nhận xétnổi tiếng về quan hệ giữa khả năng tâm, sinh lý của mỗingười với một nghề Người ta đã có cách thức tìm nhữngngười có khả năng thích hợp cho những nghề cụ thể để đảmbảo nâng cao năng suất lao động Đồng thời ở Mỹ cũng bắtđầu giáo dục hướng dẫn cho công dân của họ hiểu được khảnăng của mình để tìm đến một nghề thích hợp Từ đó khoahọc hướng nghiệp ra đời Mỹ là một trong số ít nước trên thếgiới có từ điển hướng nghiệp Từ điển nêu cụ thể trong nước
Mỹ (từng Bang) có những nghề gì, yêu cầu tâm, sinh lý của
Trang 4mỗi nghề, môi trường điều kiện lao động, mức lương đểmọi người tự chọn nghề Mỹ là nước có ngành khoa học vềlao động, tâm lý hướng nghiệp phát triển nhất thế giới.
Cộng hòa Pháp cũng là một trong những nước phát triểnhướng học, hướng nghiệp khá sớm Các cơ quan đảm nhậncông việc này hình thành từ năm 1922 gọi là Trung tâmhướng học, hướng nghiệp viết tắt là CIO (Centrer d’Infornunationel d’ Orientation) Hệ thống Trung tâm hướnghọc, hướng nghiệp được tổ chức từ cấp nhà nước, khu giáodục, sở giáo dục đến từng trường, có bộ máy chuyên trách,
có chức năng hướng học, hướng nghiệp cho HS, nhằm làmnảy nở nhân cách, ý tưởng nghề nghiệp, giúp họ lựa chọnnghề nghiệp hài hòa với khả năng của các em, đáp ứng yêucầu của đất nước và các triển vọng kinh tế xã hội [57]
Ở CHLB Đức, hướng nghiệp được xác định ngay trong
hệ thống giáo dục phổ thông với các loại trường khác nhau từbậc THCS: Trường Hauplschule là trường đào tạo HS cóthiên hướng về nghề đơn giản, Trường Realschudle là trườngcho HS có xu hướng đi học các trường trung cấp chuyênnghiệp với hơn 4000 nghề trong danh mục của nước Đức,Trường Gymnasiyrn là trường dành cho HS có thể học lên đại
Trang 5học Ngoài ra ở Đức còn có loại trường Gesantschule thíchhợp với cả ba loại trường trên Việc học các loại trường phânhóa tự nguyện dựa theo sự tư vấn của trường tiểu học Sau khitốt nghiệp THCS hệ 9 năm hoặc 10 năm HS có thể đi họcnghề tại các xí nghiệp và trường nghề THCN, trường THPTnghề Do thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông phân hóasớm và đạt đến trình độ hoàn thiện, nên nguồn nhân lực nóichung và công nhân lành nghề ở CHLB Đức hài hòa, nhịpnhàng như quá trình tự động hóa Ở CHLB Đức không có sựcăng thẳng trong thi tuyển, phần lớn vào các trường đại họctheo hình thức xét tuyển, có sự bảo lãnh về kinh phí đào tạo
do các đơn vị sử dụng sau tốt nghiệp Ngay vào các trườngtrung cấp hoặc dạy nghề HS cũng nhận được phần kinh phí từ1/2 đến 2/3 của cơ sở sẽ nhận vào làm việc sau khi HS ratrường [55]
Ở Nga ngày nay cũng như Liên Xô trước kia cũng thựchiện hệ thống giáo dục phân hóa cao Ngay khi kết thúcTHCS, phần lớn HS theo học các trường trung cấp kỹ thuật.Học xong trường trung cấp kỹ thuật, HS sẽ đi lao động theonghề nghiệp được học từ 3 đến 5 năm Sau đó, nếu có nguyệnvọng họ sẽ được học tiếp lên Đại học, Cao đẳng Các trung
Trang 6tâm tư vấn hướng nghiệp của nước này có lịch sử lâu đời, có
uy tín cao trong xã hội, đặc biệt là các phụ huynh đặt niềm tintuyệt đối về nghề nghiệp của con cái do các trung tâm tư vấnnghề nghiệp chỉ dẫn Các trung tâm tư vấn là nơi làm việc củacác nhà tâm lý học, xã hội học, nhà kinh tế có danh tiếng,những bác sĩ giỏi Họ tư vấn nghề nghiệp có giá trị tươngxứng với số tiền mà phụ huynh chi trả, bậc phụ huynh luôn tincậy và hài lòng về những lời tư vấn nghề nghiệp cho con cái
họ Các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất cũng thườngxuyên cử cácchuyên gia đến các trường phổ thông giới thiệu,quảng bá về đơn vị mình để học sinh có thể tìm hiểu, quyếtđịnh hướng đi của các em Các chuyên gia đứng ra ký hợpđồng đào tạo giữa gia đình với trường nghề và nơi sử dụngkết quả đào tạo Sự phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ củaNga ngày nay cũng như Liên Xô trước kia là nhờ có đội ngũcông nhân hùng hậu về số lượng và có tay nghề cao Hệ thốngGiáo dục - Đào tạo của Liên Xô đã một thời là hệ thống đàotạo tiên tiến, có danh tiếng vào tốp đầu thế giới
Ở Nhật Bản, hệ thống Giáo dục - Đào tạo đã được coitrọng ngay từ khi đứa trẻ chưa ra đời, chưa đến trường Vaitrò của người mẹ đặc biệt được coi trọng Hệ thống giáo dục
Trang 7phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp phát triển khá hoànchỉnh theo một hướng rõ ràng: nhu cầu lao động phù hợp vớithị trường lao động Vai trò của tư nhân trong đào tạo nghề ởNhật Bản là rất quan trọng, thông qua hiệp hội các giới sửdụng lao động Vai trò của nhà nước thể hiện qua “ Hệ thốngtrợ cấp giáo dục và đào tạo” để trợ giúp những người lao độnghọc nghề trong các trường nghề của nhà nước và tư nhân, kể
cả những người học nghề tại gia đình (nếu họ có đăng kí vàđược kiểm soát) Học nghề tại gia đình là một đặc thù nghềnghiệp ở Nhật Bản Chính vì hình thức đào tạo, sử dụng laođộng có nghề đa dạng, phong phú và hiệu quả, nên số đônghọc sinh trung học vào học nghề, số còn lại với tỷ lệ thíchhợp, có đầy đủ điều kiện được học lên trở thành những trithức bậc cao
Ngoài ra, ở Nhật bản còn có mô hình đào tạo KOSEN.Đào tạo theo mô hình KOSEN đã được Nhật Bản áp dụng từnhững năm 60 của thế kỷ trước Đặc điểm của mô hìnhKOSEN là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đápứng nhu cầu của các doanh nghiệp và đảm bảo 100% sinhviên tốt nghiệp có việc làm Mô hình đào tạo của KOSEN baogồm chương trình đào tạo KOSEN kéo dài 5 năm, trong đó 3
Trang 8năm đầu đào tạo tương đương chương trình cấp 3, và 2 nămsau đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật Mô hình giáo dục này làcác tổ chức giáo dục đại học chấp nhận sinh viên tốt nghiệptrung học cơ sở từ 15 tuổi trở lên cung cấp khóa học 5 nămtập trung vào giáo dục kỹ thuật thực tế dựa trên đào tạo kinhnghiệm chuyên sâu Sinh viên thường vào các trường caođẳng sau trung học cơ sở (lớp chín trong hệ thống Bắc Mỹhoặc năm thứ mười trong hệ thống Anh) Do đó, học sinh theomột mô hình học 6-3-5 (sáu năm tiểu học, ba năm trung học
cơ sở và năm năm đại học) thay vì hệ thống 6-3-3-4 điển hìnhhơn thường thấy ở Nhật Bản Lối vào là bằng cách kiểm tramặc dù một số sinh viên có thể được chấp nhận bằng cáchgiới thiệu Một vài học sinh được chấp nhận sau trung học vàonăm thứ tư của chương trình Các chương trình kỹ thuật kéodài 5 năm trong khi các chương trình thương mại hàng hải là5,5 năm Vào cuối chương trình, sinh viên được trao chứngchỉ "Liên kết" Trong các chương trình kỹ thuật, sinh viên cóthể chọn từ nhiều tiểu khu vực khác nhau Chúng bao gồm kỹthuật hóa học, công nghệ sinh học, kỹ thuật điện và điện tử,
kỹ thuật dân dụng, hệ thống thông tin và công nghệ điềukhiển
Trang 9Điểm đáng chú ý khác của mô hình KOSEN là việc đàotạo không chỉ có lý thuyết mà hướng đến kỹ năng thực hành,khả năng sáng tạo của người học thông qua các hoạt độngthực hành, nghiên cứu; sử dụng giảng viên có trình độ cao vàthiết bị đào tạo tốt; đào tạo chất lượng cao với mô hình nhómnhỏ.
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới Để đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đãtập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chủ yếu lànhanh chóng tạo ra đội ngũ công nhân có tay nghề cao TrungQuốc đã làm được điều mà nhiều nước không làm được, đó làđưa 60% HS trung học vào học nghề trong và ngoài nước.Vấn đề cấp bách là phải thay đổi kỹ năng nghề truyền thống,cập nhật thêm các kỹ năng mới Tất cả các kỹ năng đó đềuđược đưa vào trường phổ thông, hình thành nguồn lao độngvới các kỹ năng mới cho HS ngay từ khi ngồi trên ghế nhàtrường
Hiện nay, hệ thống giáo dục bắt buộc 10 năm của TrungQuốc đã bao trùm lên 85% dân số Với Trung Quốc, mục tiêuxây dựng một hệ thống giáo dục với nhiều cấp độ, đó là cáctrường nghề và kỹ thuật bậc đại học Để thu hút số đông HS
Trang 10trung học vào trường nghề, Trung Quốc cũng đa dạng hóa cácloại hình trường: trường trung học bách khoa, trường kỹ thuật,trung tâm đào tạo nghề, các tổ chức đào tạo nghề do cộngđồng đảm nhiệm, các trung tâm đào tạo nghề do các doanhnghiệp phụ trách.
Sự đa dạng các loại hình đào tạo cho người học và khi ratrường được sử dụng theo hướng nhấn mạnh sự cân bằng vềkhả năng, trình độ và kỹ năng chất lượng ngành nghề đã tạohiệu quả trở lại với các cơ sở đào tạo Người học phải thật sựnâng cao chất lượng qua đào tạo và quan trọng hơn làm chothế hệ trẻ Trung Quốc dễ dàng lựa chọn việc làm cho mìnhtrong mênh mông thị trường lao động Học lên đại học cũngchỉ là một con đường với những người có điều kiện phù hợp.Trung Quốc đã xây dựng và thực hiện kế hoạch tổng thể việclàm cho khu vực thành thị và nông thôn theo hướng đô thịhóa Kế hoạch trên đã điều chỉnh lại một xu hướng, hàng nămdòng người lao động nông thôn cứ chảy ra thành phố, kếhoạch trên đã thực hiện mục tiêu là thu hẹp khoảng cách giữathành thị và nông thôn, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nói trên đềunghiên cứu về vấn đề hướng nghiệp cho HS Các tác giả đã
Trang 11nghiên cứu và khẳng định được tầm quan trọng của hướngnghiệp, ĐHNN với HS Điều này càng khẳng định đề tài tôiđang nghiên cứu “Quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệpcho học sinh tại Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp -hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổthông mới” có ý nghĩa rất cần thiết để nâng cao chất lượngcủa công tác ĐHNN cho HS trong giai đoạn hiện nay.
Ở Việt Nam
Vấn đề hướng nghiệp ở Việt Nam được tiến hành nghiêncứu và triển khai sớm từ những năm 70 của thế kỷ trước Nghịquyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục năm 1979 đãkhẳng định hướng nghiệp là một bộ phận khăng khít của quátrình giáo dục, các nghị quyết 109/CP ngày 12/3/1981 và nghịquyết 12/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hànhlang pháp lý cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp,nhất là hướng nghiệp trong trường phổ thông Tháng 3/ 1999trong một bài viết đăng báo Nhân Dân, Cố Thủ tướng PhạmVăn Đồng viết: “Nước ta trong tiến trình đẩy mạnh CNH,HĐH từ trình độ thấp, thì giáo dục ngành nghề lại càng quantrọng, cho nên phải coi trọng công tác phân luồng HS sauTHCS vào các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề”
Trang 12Có thể nói GS.TS Phạm Tất Dong là một trong nhữngngười đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về hướng nghiệp họcsinh với công trình “Những yếu tố và điều kiện tác động đếnchọn nghề của học sinh” ; “Nghề nghiệp tương lai, giúp bạn
chọn nghề” và một số công trình khác [20-23] Tiếp đến là
PGS.TS Đặng Danh Ánh với đề tài “ Một số vấn đề tâm lýgiáo dục hướng nghiệp” (1974) Đề tài khoa học cấp nhà nướcKX-05-09 “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng
để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH” cũng đãđược tiến hành Tại các sở giáo dục và đào tạo cũng có một số
đề tài nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HStrung học Đề tài “Thực trạng và giải pháp để tổ chức hướngnghiệp, phân luồng cho HS sau THCS và THPT ở Nghệ An”chủnhiệm ThS Nguyễn Đình Anh Một số năm gần đây, vấn
đề hướng nghiệp chọn nghề được một số nhà nghiên cứu ởphía Nam quan tâm: TS Quang Dương với tiểu luận “Cần cómột triết lý hướng nghiệp và hành nghề” ThS Đào Thị VânAnh nghiên cứu “Xu hướng chọn nghề của HS và công táchướng nghiệp cho HS ở Thành Phố Hồ Chí minh”; ThS LaHồng Huy (Trường đại học An Giang) có đề tài “Thực trạng
và giải pháp về công tác hướng nghiệp ở một số trường THPT
Trang 13tỉnh An Giang”.
Một số tỉnh miền núi cũng có những đề tài nghiên cứu
về giáo dục hướng nghiệp Đề tài “Nghiên cứu phát triểnGDHN, giáo dục nghề phổ thông và dạy nghề nhằm phânluồng HS sau THCS, THPT tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 -
2015, định hướng đến năm 2020” của Sở GD&ĐT Yên Bái
do ThS Vũ Thị Minh Lý làm chủ nhiệm Sở GD&ĐT TỉnhKon Tum với đề tài “Khảo sát nhu cầu, động cơ lựa chọnnghề nghiệp của HS THPT trên địa bàn tỉnh Kon Tum và một
số giải pháp cho công tác hướng nghiệp” do Văn Đức Thảolàm chủ nhiệm
Mỗi đề tài đã đặt ra những vấn đề mà địa phương cầngiải quyết, tìm những giải pháp cho công tác đào tạo nghề màcái gốc là phải tiến hành tốt công tác GDHN cho HS từ THCSđến THPT HS phải biết được những yêu cầu mà địa phươngđòi hỏi, hiểu biết chính họ và có cách lựa chọn nghề phù hợp
Dù ở những nơi kinh tế - xã hội phát triển như Thành phố HồChí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hay nhữngvùng núi xa xôi, sự phát triển kinh tế xã hội còn nhiều hạnchế, thì nhu cầu để sống bằng những nghề phù hợp vẫn lànhững đòi hỏi cấp bách với mỗi người, mỗi vùng trong thời
Trang 14kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
ĐHNN cho HS là một vấn đề cần thiết và quan trọng
Vì vậy, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã ký Chỉ thị số3031/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017của ngành Giáo dục đã xác định Công tác phân luồng và địnhhướng nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ chủ yếu
“Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dụchướng nghiệp và phân luồng học sinh ở trong và ngoài nhàtrường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triểnkinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường lao động, nhằm địnhhướng các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của thịtrường lao động, phục vụ nhu cầu của địa phương”, “Triểnkhai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễnsản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữacác cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông đào tạo kỹ năng nghề trong chươngtrình hướng nghiệp Tăng cường huy động các nguồn lực tàichính và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảmbảo cho việc tổ chức các hoạt động dạy học/giáo dục trongnhà trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành
và thực tiễn, đảm bảo giáo dục cơ bản ở trung học cơ sở,
Trang 15phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệuquả”.
Ở Hải Phòng cũng có một số đề tài nghiên cứu về giáodục hướng nghiệp nghề cho học sinh Tác giả Đào Bá Bính đãnghiên cứu đề tài “ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dụchướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông QuốcTuấn, thành phố Hải Phòng Tác giả Vũ Văn Ngôn với đề tài:
“ Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nghề phổ thông tạiTrung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp -hướng nghiệp HảiPhòng trong giai đoạn hiện nay.” Những công trình nghiêncứu này đã đề cập đến quản lý hoạt động GDHN trên từngmặt khác nhau và ở các bình diện khác nhau, tuy nhiên chưa
có công trình nào đề cập đến quản lý hoạt động định hướngnghề nghiệp cho HS tại trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp
- hướng nghiệp Hải Phòng theo chương trình giáo dục phổthông mới Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “Quản
lý hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại trungtâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Hải Phòngtheo chương trình giáo dục phổ thông mới” để nghiên cứu
Một số khái niệm cơ bản
Trang 16Quản lý
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm quản lýcủa các tác giả trong nước và trên thế giới Theo HaroidKomtz, Cyrilodomell Heinweihrich, quản lý là một hoạt độngthiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằmđạt đến mục tiêu tổ chức nhất định [32] Mariparker Follit(1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ quanniệm: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thựchiện thông qua người khác” [61] Warren Bennis, một chuyêngia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “Quản
lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cánhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnhđạo”[56] Nhà quản lý hành chính người Pháp Henry Fayol lạiđịnh nghĩa quản lý theo các chức năng của nó Theo HenryFayol: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điềukhiển, phối hợp và kiểm tra” [59]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trìnhlập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lựccủa các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồnlực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể” [7].Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, Quản lý là tác
Trang 17động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tậpthể những người lao động nói chung (Phạm Minh Hạc, 1998)[30] Tác giả Griffin, 1998, quản lý là tập hợp các hoạt độnglập ra kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm travới các nguồn lực của tổ chức nhằm mục đích đạt được cácmục tiêu của tổ chức hiệu quả nhất [58].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc:
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đíchcủa chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chứcvận hành và đạt mục đích của tổ chức” [39]
Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý và cóthể hiểu quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường màtrong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thểhoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định; là hệ thống tácđộng lên đối tượng quản lí thông qua các chức năng quản lí
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ,chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõicủa khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủthể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý);
Trang 18Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằngcái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quảnlý) Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có địnhhướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đốitượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố thamgia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoàhoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đếnmục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân,một nhóm haymột tổ chức
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hìnhthành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữanhững nhóm người
Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thểquản lý tới kháchthể quản lý
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thểtới khách thể quản lý
Quản lý giáo dục
Trang 19Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quyluật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theođường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đượccác tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, màtiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa
hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới vềchất” [42] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục
là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạngthái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục
đã xác định” [30] Theo nhóm tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc(chủ biên), Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, NguyễnQuốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư “ Quản lý giáo dục là quá trình đạttới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật cácchức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [39].Trong thực tế, quản lý giáo dục là quá trình tác động có kếhoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấptới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làmcho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáodục nhà nước đề ra Theo tác giả Bush T: “Quản lý giáo dục,một cách khái quát, là sự tác động của tổ chức và hướng đích
Trang 20của hai chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáodục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càngtốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [62].
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có nhữngcách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều
đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý giáo dục; kháchthể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra cònphải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công
cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luận) quản lý giáo dục
Hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp
Những nhà giáo dục hiểu hướng nghiệp như một hệthống tác động giúp thế hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc
Trang 21chọn nghề phù hợp với những yêu cầu của sự phân công laođộng xã hội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cánhân.
Xét trên bình diện khoa học lao động, hướng nghiệp là sựxác định tính phù hợp của từng con người cụ thể trên cơ sở xácđịnh sự tương thích giữa những đặc điểm tâm - sinh lý của họvới những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là
hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức cho người học lựachọn nghề để họ đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụnghợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướngnghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng caonăng suất lao động
Trên bình diện vĩ mô toàn xã hội, hướng nghiệp gópphần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhânlực, vốn quý cho sự phát triển kinh tế – xã hội, mang lạiphồn vinh cho đất nước Do vậy, hướng nghiệp có một ýnghĩa to lớn, một khởi đầu quan trọng cho quá trình pháttriển lực lượng sản xuất của mỗi quốc gia và ai cũng hiểu
Hướng nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong
Trang 22nhà trường Hướng nghiệp là biện pháp thực hiện nguyên lýgiáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với laođộng sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Trong giáodục hướng nghiệp, học sinh được tìm hiểu về vấn đề nghềnghiệp, có cơ hội tiếp cận, thử sức với nghề, đồng thời đượcthực hành lao động nghề nghiệp để kiểm chứng nguyệnvọng và sở thích cá nhân cũng như củng cố những lý luậnkhoa học đã được học Nhờ đó có thể nâng cao chất lượnggiáo dục, làm cho nhà trường gắn liền với thực tế xã hội.
Hướng nghiệp góp phần thực hiện phân luồng HS, chuẩn
bị cho một bộ phận học sinh có được một số kỹ năng cơ bản
để có thể tham gia lao động sản xuất khi chưa có điều kiệnhọc tiếp
Hướng nghiệp là bước khởi đầu quan trọng cho sự pháttriển nguồn nhân lực
Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ
sở tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa họckhác để giúp cho HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội,đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với nănglực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điều
Trang 23kiện gia đình để người học có thể phát triển đến đỉnh cao nghềnghiệp, cống hiến cho xã hội, tạo lập cuộc sống tốt đẹp chobản thân.
Hướng nghiệp tác động trực tiếp đến tình trạng thấtnghiệp và năng suất lao động xã hội Thực hiện tốt công táchướng nghiệp sẽ tạo được nguồn lao động ổn định với trình
độ đáp ứng nhu cầu xã hội Hướng nghiệp là giúp HS tìm hiểu
về thế giới nghề nghiệp
Ở bình diện cá nhân và đối mỗi cá nhân, hướng nghiệp
là hệ thống các giải pháp về tâm lý học, giáo dục học, y học,kinh tế - xã hội nhằm giúp cho con người chọn nghề nghiệpphù hợp với nhu cầu xã hội, phù hợp với nguyện vọng vànăng lực bản thân
Ở bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hệthống tác động sư phạm nhằm giúp cho HS chọn nghề phùhợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tối đanguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiệntâm sinh lý cá nhân cũng như điều kiện gia đình để ngườihọc có thể phát triển đến đỉnh cao của nghề nghiệp, cốnghiến cho xã hội, tạo lập cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Trang 24Ở bình diện xã hội, hướng nghiệp đóng góp phần rấtquan trọng tạo nguồn nhân lực cho xã hội phù hợp về cơ cấu
và được sử dụng có hiệu quả Do đó, nó là vấn đề xã hội vàđược nhiều ngành nghề quan tâm tới và cùng tham gia
Như vậy, hướng nghiệp đề cập ở đây đã vượt ra khỏiphạm vi nhà trường phổ thông, bao gồm cả tuyển chọn nghề,thích ứng nghề và hơn nữa, cả tư vấn và dịch vụ việc làm (cho
cả người lao động không qua đào tạo nghề nghiệp)
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Hướngnghiệp là “Hệ thống các biện pháp giúp con người lựa chọn
và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tươnglai trên cơ sở kết hợp với nguyện vọng, sở trường của cá nhân
và nhu cầu xã hội” [52]
Hướng nghiệp có nhiệm vụ:
Nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của thanh niên, họcsinh
Làm cho thanh niên hiểu nội dung lao động của một sốnghề, giúp họ chọn nghề Là một bộ phận hữu cơ của quátrình giáo dục và đào tạo, hướng nghiệp được tiến hành không
Trang 25chỉ ở các trường học mà còn tại các cơ quan và cơ sở sản xuất,với thế hệ trẻ và cả người lớn tuổi không có nghề hoặc phảithay đổi nghề.
GS.TS Phạm Tất Dong là một trong những người đầutiên ở Việt Nam nghiên cứu về hướng nghiệp thì cho rằng:
“Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội vềgiáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻchọn được nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực,nguyện vọng, sở trường của mỗi cá nhân, vừa đáp ứng nhucầu của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”[22]
Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO,Jacques Delors cho rằng: Hướng nghiệp phải được tiến hành ởbậc trung học để hướng chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộcsống người lớn, vào thế giới lao động Hướng nghiệp giúp họcsinh chọn nghề trong mọi lĩnh vực đa dạng khác nhưng khôngđóng cửa để đi vào ngành nghề cuối cùng Hướng nghiệpđược tiến hành xuyên suốt toàn bộ quá trình hệ thống đào tạonghề nghiệp tổng thể, từ khâu định hướng nghề đến khâu giảiquyết việc làm phải chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào nghềnghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như
Trang 26chuyển dịch cơ cấu lao động trong cả nước và từng địaphương, như Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lầnthứ IX đã nhấn mạnh Như vậy, hướng nghiệp là các hoạtđộng nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyênmôn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân,đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vựcnghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương vàquốc gia.
Trang 27Định hướng nghề nghiệp là việc thông tin cho học sinh
về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề
trong xã hội, đặc biệt là những nghề và những nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hoá, về yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo
nghề của Nhà nước, tập thể và tư nhân
Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh Tư vấn nghề nghiệp nhằm giúp học sinh có thể định hướng nghề đúng đắn hơn hoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn đối với việc xin được tuyển vào làm việc trong một nghề nào đó
Phẩm chất, năng lực, hoàn cảnh cá nhân
Trang 28Tuyển chọn nghề là xác định xem các đối tượng dựtuyển có sự phù hợp với một nghề cụ thể hay không để cóquyết định tuyển hay không tuyển vào học hay làm việc
Sơ đồ tam giác trình bày giải quyết những cơ sở chủ yếucho công tác hướng nghiệp, đó là:tri thức về nghề, tri thức vềthị trường lao động, những hiểu biết về đặc điểm nhân cách.Căn cứ vào thị trường lao động và những yêu cầu của từngngành nghề mà các chuyên gia hướng nghiệp giúp cho thế hệtrẻ có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp sẽ chọn trong tươnglai Ngành nghề nào đang cần nhân lực, phải có những yêucầu gì để đáp ứng được nhu cầu của ngành nghề đó Côngviệc này gọi là ĐHNN
ĐHNN là một khái niệm giáo dục toàn diện và liên tụcđược thiết kế để cung cấp cho các cá nhân ở cấp trung học vớicác thông tin và kinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làmviệc trong một môi trường luôn thay đổi nền kinh tế, xã hội vàmôi trường cần thiết
Theo từ điển Bách Khoa toàn thư, ĐHNN là một kháiniệm giáo dục toàn diện và liên tục được thiết kế để cung cấpcho các cá nhân ở cấp trung học với các thông tin và kinh
Trang 29nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong một luônthay đổi nền kinh tế, xã hội và môi trường cần thiết.
Tác giả Nguyễn Đình Xuân và Trần Thị Minh Đức,ĐHNN là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh nhữngyêu cầu về đặc điểm tư chất và yêu cầu của hoạt động laođộng xã hội với những điều kiện cụ thể của bản thân trên cơ
sở hình dung ra trước hoạt động lao động của cá nhân tronghiện tại và tương lai
ĐHNN là một khái niệm bao gồm hai yếu tố liên kết vớinhau chặt chẽ: yếu tố thứ nhất chỉ trạng thái động của kháiniệm - là quá trình xác định cho mình một hướng đi, hướngphấn đấu, rèn luyện, và yếu tố thứ hai - sự cần thiết phải thựchiện hoạt động của bản thân theo một hướng đã được xácđịnh Tuy nhiên, với ý nghĩa thứ hai này, không thể không cómột mục tiêu, một đích nào đó làm chuẩn để xác định hướnghành động Như vậy, yếu tố định hướng bao gồm trong nó quátrình hoạt động của chủ thể nhằm đạt tới mục đích đã định.Chính ở đây, yếu tố thứ hai của khái niệm - nghề nghiệp trởthành mục tiêu của hoạt động định hướng Yếu tố này chiphối các hoạt động của chủ thể về nhận thức, về thái độ, hành
vi, đồng thời nó là kết quả cần đạt tới quá trình hoạt động
Trang 30Nhu cầu
của chủ thể Hoạt động của chủ thể
Mục đích (nghề nghiệp)
Chính vì vậy, Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị ThanhHuyền cho rằng “ Định hướng nghề nghiệp được hiểu là mộtquá trình hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo mộtlôgic hợp lí về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứngvới những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầuđặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là củamột nghề nào đó” [33]
Khái niệm trên được thể hiện ở sơ đồ sau:
Trong nhà trường, chủ thể trực tiếp định hướng tới nghềnghiệp là HS, song với tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm, vốnsống và trình độ nhận thức xã hội còn nhiều hạn hẹp, nên cần
có sự trợ giúp của các lực lượng giáo dục Lúc này hoạt độngĐHNN của học sinh trở thành đối tượng lao động giáo dụccủa thầy, cô giáo, của các tổ chức chính trị, xã hội trongtrường học nhằm giúp cho quá trình định hướng nghề của họcsinh diễn ra thuận lợi, đạt tới sự tương hợp cần thiết giữa
Trang 31nguyện vọng cá nhân với yêu cầu của nghề trong những điềukiện kinh tế - xã hội cụ thể Ở đây, các lực lượng sư phạmtrong nhà trường trở thành chủ thể của một hoạt động đặc thù
- hoạt động hướng nghiệp - một trong những nhiệm vụ giáodục toàn diện đối với học sinh Để thực hiện có hiệu quả hoạtđộng này, các lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõđặc điểm định hướng nghề của học sinh với những yếu tố tạothành như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề vàquyết định nghề Dưới đây chúng ta sẽ tiếp cận với đặc điểmnày trong qúa trình ĐHNN cho HS:
Định hướng nhận thức đối với nghề nghiệp Nhận thứcnghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản củanghề nghiệp, những biểu hiện định giá của xã hội trong nhữngđiều kiện phát triển kinh tế- xã hội cụ thể với giá trị của nghềnghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh lý củanhững con người làm việc trong ghề nghiệp đó Nhận thứcnghề nghiệp là một trong những thành phần cơ bản của xuhướng nghề nghiệp (bao gồm: nhận thức nghề, tình cảm nghề
và hành động chọn nghề) Nhận thức nghề nghiệp kết hợp vớinhững thành phần còn lại của xu hướng nghề tạo nên kết qủachọn nghề của HS đối với một nghề xác định Xuất phát từ