Không có sự phùhợp nghề thì không thể nói tới sự sẵn sàng tâm lý được”[1,Tr.14].Các nhà nghiên cứu giáo dục hiểu hướng nghiệp nhìnchung như một hệ thống tác động giúp thế hệ trẻ có cơ sở
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Trang 2Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dụchướng nghiệp ở nước ngoài có một số nghiên cứu tiêu biểusau:
Năm 1937, Keller và Viteles đã có nghiên cứu mang tầmthế giới về tư vấn và hướng nghiệp, họ tiến hành khảo sát ởkhu vực Châu Âu, châu Á Ở một số quốc gia, các thuật ngữnhư “hướng dẫn nghề - vocational guidance”, “tư vấn nghề -vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướng dẫn –information, advice ad guidance” đều chỉ các hoạt động tưvấn và hướng nghiệp [30, tr.36]
Năm 2006 Ở Anh, tác gải Mc Cash đã đề xuất mô hìnhDOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (Mc.Cash, 2006), mô hình này đã xác định 4 mục đích: học cáchquyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức.[30, tr.46]
Các quốc gia Bắc Âu đều có cùng mục tiêu hoặc kết quảhọc tập (mô hình DOTS) Tuy nhiên nhấn mạnh sự khác biệt
Trang 3ở phần nhận thức cơ hội nhấn mạnh nhất, tiếp đến là tự nhậnthức, học quyết định và học chuyển đổi ít được quan tâm hơn[30, tr.66].
Xu thế ở gần như đa số các quốc gia trên thế giới hiệnnay đều coi nguồn lực con người là yếu tố có vai trò quantrọng nhằm tạo ra sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững củamột quốc gia Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho nguồn nhânlực mà một số nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóngtrở thành nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, NhậtBản,… Giáo dục & đào tạo, trong đó có GDNN đã góp phầnhết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đấtnước Ở đó, các cơ sở GDNN bồi dưỡng và cung cấp một lựclượng lao đông đảo đã được đào tạo một cách bài bản, gópphần làm cho cơ cấu lao động xã hội, trong đó có cả về cơ cấutrình độ,và cơ cấu vùng miền và cơ cấu ngành nghề phù hợpvới từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ởcác nước phát triển hiện tại họ rất coi trọng lực lượng laođộng tri thức Nếu ở giai đoạn trước đây kĩ năng, tay nghềđược coi trọng thì ngày nay tri thức, trình độ, và khả năngcập nhật nguồn kiến thức mới, phong phú đáp ứng yêu cầu xãhội mơi là yếu tố cần được coi trọng Do đó, GDHN, giáo dục
Trang 4thường xuyên có vai trò quan trong việc phát triển một xã hộikiện hướng đến đào tạo và sử dụng nguồn lao động tri thức và
tự đào tạo suốt đời
- Những nghiên cứu ở trong nước
Các nhà nghiên cứu trong nước dành sự quan tâm đếnvấn đề GDHN, tiêu biểu có một số công trình:
Trên phương diện nghiên cứu của tâm lý học, ĐặngDanh Ánh cho rằng: “ hướng nghiệp giờ đây không chỉ gắnvới khâu chọn nghề của học sinh trường phổ thông mà còngắn với khâu thích ứng nghề ở bất kỳ trường chuyên nghiệpnào (doanh nghiệp, TCCN, CĐ, ĐH) và tại các cơ sở sản xuấtkinh doanh, nơi ác em đến làm việc sau khi tốt nghiệp Nếuhiểu như vậy, hoạt động hướng nghiệp không chỉ được tiếnhành ở tất cả các loại trường học mà còn thực hiện ở các cơquan, các cơ sở sản xuất kinh doanh; không chỉ tiến hành vớithế hệ trẻ mà còn tiến hành với cả những người lớn tuổikhông có nghề hoặc vì lý do nào đó phải thay đổi nghề, lúc đóphải hướng nghiệp lại lần thứ hai, lần thứ ba Nói cách khác,hướng nghiệp được bắt đầu từ khi học sinh đến trường (trọngtâm là THCS, THPT) đến khi các em có một nghề trong tay”
Trang 5[1,Tr.12] Trong cách tiếp cận này, ông cho rằng: “Mục tiêuchủ yếu của hướng nghiệp là phát hiện và bồi dưỡng tiềmnăng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình, hiểu yêu cầucủa nghề, chuẩn bị cho thanh thiếu niên sự sẵn sàng tâm lý đivào những nghề mà có thành phần kinh tế đang cần nhân lực,trên cơ sở bảo đảm của sự phù hợp nghề Không có sự phùhợp nghề thì không thể nói tới sự sẵn sàng tâm lý được”[1,Tr.14].
Các nhà nghiên cứu giáo dục hiểu hướng nghiệp nhìnchung như một hệ thống tác động giúp thế hệ trẻ có cơ sởkhoa học xác đáng trong việc chọn nghề phù hợp năng lực,hứng thú, sở thích của từng cá nhân; đồng thời có thể đáp ứng
và tạo ra sự cân bằng trong phân công lao động của xã hội
Theo các tác giả Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, PhạmMinh Hạc, nếu xét theo mục đích và nội dung thì hướngnghiệp được coi là “một hệ thống công tác giảng dạy, giáodục được tổ chức một cách đặc biệt, nhằm hình thành ở họcsinh một xu hướng nghề nghiệp có tính đến nhu cầu của xãhội, trên cơ sở đó mà xác định nghề nghiệp của mình” [15,Tr.149] Theo cách giải thích này, các nhà nghiên cứu đã tậptrung nhấn mạnh hoạt động hướng nghiệp phải làm thế nào để
Trang 6giúp cho thế hệ trẻ tự giác đi đến quyết định lựa chọn nghềnghiệp một cách có ý thức và chủ định Hay nói cách khác, họlựa chọn nghề nghiệp cần được dựa trên ba căn cứ: năng lực,nguyện vọng của bản thân, những yêu cầu của nghề nghiệp vànhững đòi hỏi của xã hội hiện tại.
Tác giả Phạm Tất Dong đưa ra quan điểm “Nếu áp dụngmáy móc những nội dung của hoạt động hướng nghiệp theocấu trúc do K K Platônốp đề xuất mà chúng ta vẫn quen làmthì chắc chắn không đạt hiệu quả cao Bởi khi đó khách hàng
bị đưa vào thế thụ động, không nhìn thấy tiềm năng phát triểncủa cá nhân” [17,Tr.19] và ông đề xuất “ cần phải tổ chứccác giờ giáo dục hướng nghiệp dưới dạng các hoạt động, vàthông qua các hoạt động ấy, các em học dinh sẽ biết tự tìmhiểu một nghề cụ thể, một trường học để mình qua đó nắmđược nghề, sẽ tự ghi chép được những điều cần thiết và bổ íchcho mình qua giờ hướng nghiệp” [17,Tr.21]
Do sự chuyển biến của nền kinh tế ở nước ta trongnhững năm gần đây đó là từ cơ chế kế hoạch hóa tập trungsang cơ chế thị trường đã gây ra nhiều biến đổi trong cơ cấunghề nghiệp của xã hội Để đáp ứng nhu cầu thị trường laođộng trong nước hiện nay, bên cạnh việc đổi mới chương
Trang 7trình, nội dung và phương pháp dạy học chúng ta cần nhìnnhận vấn đề hướng nghiệp một cách nghiêm túc và đúng đắn,bởi: “Giáo dục là một thị trường đặc biệt vì sản phẩm của giáodục là con người Tuy nhiên sản phẩm đó không được “làmthử”, không được “làm lại” Trong cơ chế thị trường, nhất làtrong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là mộtthứ hàng hóa Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tùythuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của ngườilao động Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do
“làm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyếtđịnh [26, Tr.64] Dần dần, khái niệm phân công lao động sẽmất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường Dovậy, định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ tốiquan trọng, và nó cần được bắt đầu thực hiện ngay từ khi cònngồi trên ghế nhà trường phổ thông, học sinh đã phải địnhhướng trong quá trình học tập, định hướng nghề nghiệp tươnglai Để định hướng cho học sinh đi đúng hướng và lựa chọnđược nghề nghiệp phù hợp cho mình, chúng ta phải dựa trên
cơ sở khoa học Vì việc lựa chọn nghề có cơ sở khoa học cótầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi cá nhân cũng như vớitoàn xã hội và có ý nghĩa sâu sắc
Trang 8Ngoài ra, còn có nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị BíchLoan với nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Định hướng giá trị nghềnghiệp cho học sinh THCS khu vực nông thôn đáp ứng yêucầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” [33, tr.24] đã xâydựng cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề nghiệp cho họcsinh THCS, THPT ở khu vực nông thôn, miền núi phía Bắctrong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay nhằm đáp ứng yêucầu chuyển dịch cơ cấu lao động xây dựng nông thôn mới ởViệt Nam Trong đó, tác giả đã phân tích rõ vai trò, ý nghĩacủa công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổthông, cũng như tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến địnhhướng nghề nghiệp của học sinh.
Như vậy, có thể nói hầu hết các công trình nghiên cứucủa các tác giả ở trên đều có quan điểm chung làGDHN vàquản lý GDHN có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh THCS, là nhân tố trọng yếunâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nàonghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về quản lýgiáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường THCS QuậnHoàng Mai, thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay Vì
Trang 9vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp, đảm bảotính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn đối với việcnâng cao hiệu quả quản lý giáo dục hướng nghiệp cho họcsinh các trường THCS Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nộitrong bối cảnh hiện nay nói riêng và các trường THCS nóichung.
- Một số khái niệm, quan niệm cơ bản
- Quản lý
Quản lý (managemeent) là khái niệm chỉmang tính chung chung, khái quát Dựa trên lý luận của khoa học quản lý, tùy theo góc độ tiếp cận mà khái niệm này được quan niệm theo nhiều cách khác nhau.
Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đưa ra khái niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm
sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn
cá nhân ít nhất ” [25, tr.33].
Trang 10Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế
“phát triển”…Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có
“quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)” [3, tr.14]
Các tác giả Nguyễn Lộc nhấn mạnh: “Hoạt động quản lý
là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [31, tr.1]
Tác giả Nguyễn Phúc Châu cho rằng: “Quản lý là quá trình dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [12, tr.163]
Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết
Trang 11hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [28, tr.8]
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm quản lý của tác giả Trần Kiểm làm khái niệm công cụ của đề tài.
- Quản lý nhà trường
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Trường học là thành tố
khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa là
hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội” [39, tr33].
Tác giảNguyễn Phúc Châu thì cho rằng: “Quản lý nhà
trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm
vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12,
tr17]
Như vậy, hoạt động quản lý nhà trường thường chịu tác
Trang 12động của các lực lượng đó là:các chủ thể QL bên trên nhàtrường (các cơ quan QLGD cấp trên) với chức năng hướngdẫn và tạo điều kiện cho hoạt động của nhà trường và các chủthể QL bên ngoài nhà trường (các thực thể bên ngoài nhàtrường, cộng đồng) với chức năng xây dựng định hướng về sựphát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà
trường phát triển.
- Quản lý giáo dục hướng nghiệp
- Hướng nghiệp
Theo Đại Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998 thì
“Hướng nghiệp là tạo điều kiện xác định nghề nghiệp cho
người khác.Tạo điều kiện để cá nhân đó khám phá và phát huy những năng lực của bản thân” [44, tr.652]
Tác giả Quang Dương cho rằng: “Hướng nghiệp là hệthống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học,giáo dục học, xã hội học, y học và nhiều khoa học khác đểgiúp thanh niên chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồngthời thích hợp với năng lực, nguyện vọng cá nhân nhằm phân
bổ, sử dụng có hiệu quả cao nhất lực lượng lao động có sẵncủa đất nước” [18, tr.34]
Trang 13Theo Luật giáo dục: “Hướng nghiệp trong giáo dục là hệthống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường đểgiúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọnnghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cánhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội”[32]
Như vậy xét về mặt khoa học, hướng nghiệp cần phảiđược tổ chức một cách hệ thống và mang tính đồng bộ trướchết ở trong mỗi nhà trường và kết hợp với các nguồn lực bênngoài các nhà trường nhằm cung cấp cho các em học sinh về
“thế giới nghề nghiệp”, giúp các em hiểu được về nguyệnvọng chính đáng, sở trường, sở đoản của cá nhân, sự hấp dẫn
và năng lực lựa chọn nghề nghiệp, cùng với đó là nhu cầucung ứng, sử dụng nguồn nhân lực của lĩnh vực ngành nghề
Từ đó giúp các em học sinh có thể định hướng cho bản thâncon đường đi đúng đắn trong tương lai Giúp học sinh “Chọnđúng ngành, làm đúng nghề” sẽ là nhiệm vụ quan trọng hàngđầu đối với các trường phổ thông trong bối cảnh hiện nay.Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm hướng nghiệptrong Luật Giáo dục
- Giáo dục hướng nghiệp
Trang 14Định hướng nghề nghiệp là quá trình cung cấp thông tincho học sinh năm s được về đặc điểm, yêu cầu, tiêu chí cũngnhư xu hướng phát triển của các ngành nghề trong xã hội;Trong đó bao gồm cả những thông tin về lực lượng, phân bổlao động trên thực tế và những dự đoán số lượng, chất lượnglao động trong giai đoạn tiếp theo phù hợp với bối cảnh hiệntại của xã hội
GDHN cần phải tác động một cách toàn diện đến tâm lýcủa học sinh từ nhận thức, thái độ và hành vi Cần giúp họcsinh hiểu rõ giá trị thực sự của nghề, từ đó hình thành hứngthú, say mê với nghề và toàn tâm toàn ý lao động, cống hiếnvới nghề GDHN cần phải được coi là quyền lợi của từng trẻ
em, thế hệ trẻ để được chọn nghề theo đúng năng lực, nhucầu, sở trường của mình và GDHN phải giúp các em ngàycàng nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhânlực mà xã hội đặt ra
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2011: “GDHN là hệthống các tác động của xã hội về giáo dục, y học, xã hội học,kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừaphù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của
Trang 15cá nhân vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vựcsản xuất trong nền khinh tế quốc dân” [11].
-Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Quản lý hướng nghiệp là một bộ phận của quản lý giáo dục, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích,
có kế hoạch thông qua công cụ quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu hướng nghiệp cho học sinh
- Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
- Vai trò của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
GDHN có ý nghĩa lớn, tác động trực tiếp đến quá trìnhhướng nghiệp, giúp cho học sinh THCS có thể tự giác điềuchỉnh hướng đi, lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp vớinăng lực, sở trường bản thân và nhu cầu nghề nghiệp trong xãhội một cách tối ưu nhất
GDHN góp phần cụ thể hóa trong thực hiện mục tiêugiáo dục, đào tạo ở nhà trường THCS Trong suốt thời kỳ học
Trang 16ở cấp phổ thông, đặc biệt là sau THCS, học sinh được tiếp cậncác môn học tích hợp nghề nghiệp; đồng thời thông qua cácgiờ GDHN học sinh đã được trang bị tri thức về các lĩnh vựcngành nghề trong xã hội, đặc biệt là được học các lớp dạynghề phổ thông góp phần định hướng chọn nghề tương lai chohọc sinh Như vậy quá trình hướng nghiệp trong các trườngTHPT một mặt giáo dục ý thức lao động cho HS, một mặtcòn định hướng để HS lựa chọn nghề nghiệp tương lai.
Việc giúp HS phát huy được năng lực, sở trường bảnthân, hứng thú và có nhận thức chọn nghề một cách đúng đắn
là việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa đối với hướngnghiệp Bên cạnh đó, nhà trường phải gắn mục tiêu đào tạovới mục tiêu kinh tế xã hội của địa phương, vùng miền nơisinh sống và mục tiêu kinh tế chung của cả nước và Sự phâncông lao động hợp lý sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Hướng nghiệp có vai trò lớn tạo nguồn nhân lực thích hợpcung cấp cho xã hội, hướng nghiệp tốt cũng đồng nghĩa vớiviệc cung cấp nguồn nhân lực vừa cân đối vừa có chất lượngphục vụ kinh tế phát triển
GDHN ngoài nhiệm vụ chính là định hướng nghề nghiệpcho học sinh còn cần phải thực hiện được đường lối giáo dục
Trang 17của Đảng và Nhà nước Trong GDHN, mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội luôn được xem là vấn đề trọng tâm để HSđược tiếp cận và tiền đề quyết định con đường sự nghiệptương lai Nghiên cứu các nước, sự phát triển kinh tế đều phụthuộc vào nguồn lao động phong phú, chất lượng cao nhờcông tác đào tạo nguồn lao động được chú trọng, đào tạo độingũ thợ lành nghề, và những cán bộ khoa học kỹ thuật cótrình độ cao đáp ứng nền công nghiệp hiện đại Hoạt độngGDHN có hiệu quả sẽ tạo ra những thế hệ tương lai có đủphẩm chất và năng lực để xây dựng đất nước, đồng thời có ýnghĩa trong chiến lược phát triển con người, chiến lược kinh
tế, chính hướng nghiệp đã tạo ra những thế hệ con người laođộng mới, tiên tiến đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước hiêntại
Hướng nghiệp có có tác dụng điều chỉnh, phân bố lại sựphân công lao động trong xã hội, tạo ra sự cân bằng nguồnnhân lực, khắc phục tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, tìnhtrạng thừa nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng lại thiếu laođộng chân tay hoặc ngược lại Hướng nghiệp nếu tiến hành tốt
sẽ tạo động lực và chính là cơ hội cho người học chọn nghềphù hợp, từ đó đem hết năng lực để phát triển ngành nghề đã
Trang 18chọn, sáng tạo trong công việc, chất lượng và hiệu quả côngviệc được nâng cao, dẫn đến kinh tế phát triển vững chắc.
- Chức năng, nhiệm vụ, nội dung, hình thức của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
- Chức năng của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
“Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình”
Do đó, công tác hướng nghiệp trong các trường THCScần giúp cho học sinh nắm được hệ thống nghề nghiệp trong
xã hội, phương hướng, xu hướng phát triển của nền kinh tế,nhu cầu sử dụng lao động của cả nước nói chung, địa phươngnoi sinh sống nói riêng nhằm xác định cho HS trách nhiệm,nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất Trên cơ sởnắm được những kiến thức về nghề nghiệp, đặc điểm KT-XHcủa đất nước, địa phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn
Trang 19cảnh, HS có khả năng đối chiếu, so sánh với sự phát triển,năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khỏe của bảnthân để có thể điều chỉnh động cơ, lựa chọn nghề nghiệp phùhợp
Vì vậy, để quá trình nhận thức, lựa chọn nghề diên xrathuận lợi, cần tạo điều kiện cần thiết, thuận lợi về CSVT, vềcác mối quan hệ xã hội và xây dựng ở HS ý thức, sự cầu tiếncủa HS để các em tích cực tham gia các hình thức lao động donhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ lao động, códịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó nhận định
về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân Phải làm cho mỗihọc sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khảnăng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai củamình
- Nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
Trong quyết định 126 Chính phủ của Hội đồng Chínhphủ: Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông gồm cácnhiệm vụ sau:
+ Giáo dục thái độ lao động đúng đắn
Trang 20+ Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một sốnghề.
+ Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp củatừng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khảnăng nghề nghiệp thích hợp nhất
+ Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề,những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá
Như vậy, giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học
có 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, định hướng nghề nghiệp cho học sinh
Định hướng nghề nghiệp là việc thông tin cho học sinh
về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghềtrong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiềulao động trẻ tuổi có văn hoá, về những yêu cầu tâm sinh lýcủa mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnhlao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạonghề của Nhà nước, tập thể và tư nhân
Định hướng nghề bao gồm: Giáo dục nghề nghiệp và tuyêntruyền nghề nghiệp
Trang 21Hai là, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh
Nhiệm vụ của tư vấn nghề bao gồm 5 nhiệm vụ cơ bản:(1) Chẩn đoán những thuộc tính cơ bản và phẩm chất quantrọng về mặt nghề nghiệp (2) Đối chiếu cấu trúc tâm lý củanhân cách HS và của hoạt động nghề nghiệp (3) Tư vấnthông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu cho HS đặc điểm nghềđịnh chọn (4) Tham vấn chẩn đoán nhằm bộc lộ hứng thú,thiên hướng, năng lực và những phẩm chất nghề chuyên biệtcủa HS trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc nhân cách con ngườimột cách toàn diện (4) Tư vấn y khoa nhằm bộc lộ sự phùhợp giữa trạng thái sức khoẻ của người học với yêu cầu củanghề nghiệp mà họ lựa chọn (5) Tư vấn hiệu chỉnh được tiếnhành trong trường hợp ý định nghề nghiệp của người họckhông phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của họ
Thứ ba, tạo điều kiện cho học sinh tuyển chọn nghề nghiệp
Tuyển chọn nghề là xác định xem các đối tượng dựtuyển có phù hợp vớilĩnh vực nghề nghiệp đó hay không, từ
đó đi đến quyết định tuyển hay không tuyển vào học hay làmviệc
Trang 22Tuyển chọn nghề đi từ nghề (hay nhóm nghề) đến conngười, xuất phát từ nghề (hay nhóm nghề) để chọn người vàohọc hay làm việc Trong khi đó tư vấn nghề lại xuất phát từcon người để đi đến nghề nghiệp.
- Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
Giao dục hướng nghiệp cho học sinh THCS cần giúpcho họ thấy được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc chọnnghề dựa trên cơ sở năng lực, phẩm chất, nhu cầu, nguyệnvọng của bản thân Để đáp ứng mục tiêu GDHN cho HS,nội dung GDHN cho HS THCS bao gồm các nội dung sau:
Một là, cơ sở khoa học của việc chỉ ra vị trí, vai trò, tầm
quan trọng của việc chọn nghề và các hướng đi đúng đắn sau
khi tốt nghiệp THCS, trong đó cần làm tốt các nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Giúp học sinh thấy được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc chọn nghề nói chung và quyết định hướng đi sau tốt nghiệp nói riêng dựa trên cơ sở năng lực, phẩm chất, nhu cầu, nguyện vọng của bản thân.
Trang 23- Bước đầu hiểu được giá trị và lợi ích giữa sự phù hợp nghề với từng cá nhân cụ thể trong xã hội hiện đại Đồng thời, giúp họ thấy được một cách tổng quan các hướng đi cần thiết sau khi tốt nghiệp THCS.
- Tổ chức các hoạt động giới thiệu, tìm hiểu, so sánh với thực tiễn về sự phù hợp hay không phù hợp nghề của từng cá nhân cụ thể, có thể bước đầu dự đoán và chỉ ra nguyên nhân.
- Tổ chức hướng dẫn học sinh có sự liên hệ, hình dung về các hướng đi cụ thể, sự thay đổi hình thức học tập hoặc làm việc sau khi tốt nghiệp THCS.
Hai là, định hướng phát triển KT - XH của đất nước và địa phương
- Giúp cho học sinh nắm được những nét khái quát cơ bản
về nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, nền kinh tế thị trường, hướng phát triển theo định hướng XHCN của đất nước hiện nay, cũng như sự khác nhau giữa chúng.
- Bước đầu tiếp cận làm quen và hiểu được các phụ trù mới: việc làm, nghề nghiệp, thị trường lao động, đặc điểm về
Trang 24thị trường lao động và việc làm ở nông thôn, thành phố, các vùng miền khác nhau.
- Tổ chức giới thiệu về những biến chuyển và xu thế phát triển của điều kiện KT - XH của đại phương trong giai đoạn tiếp theo.
Ba là, thế giới nghề nghiệp quanh em Là hoạt động giúp
HS biết cách phân tích, tìm hiểu, nhận định một số nghề qua biểu đồ nghề và hiểu rõ một số nghề cụ thể, gần gũi với các em trong cuộc sống hàng ngày ( nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh, lĩnh vực nông nghiệp, nghề thợ thủ công )
Bốn là, giới thiệu các nghành nghề ở địa phương Giáo viên giới thiệu đến HS một số ngành nghề đang phát triển ở địa phương nơi HS sinh sống như các nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh, nông nghiệp, các nghề thợ thủ công
Năm là, thị trường lao động: Giáo viên giới thiệu cho HS thực trạng thị trường lao động ở địa phương như: yêu cầu, nhu cầu về nguồn nhân công làm trong các công ty, cơ sở SX; Nhu cầu về nguồn lao động tri thức trong các công sở; Nhu cầu nguồn nhân lực để mở rộng kinh doanh, phục vụ
Trang 25Sáu là, tìm hiểu năng lực bản thân: Là quá trình giáo viên giúp HS nhìn nhận khách quan về bản thân mình Từ đó các em xác định được điểm mạnh điểm yếu của mình, liên hệ với các tình huống làm việc ở trường và ở nhà Bước đầu có thể giải thích được các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến lòng tự tin và việc thực hiện công việc.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghề nghiệp thông qua các nguồn: họa đồ nghề và một số phương pháp khác như điều tra, phỏng vấn
- Giảng giải kết hợp với dùng các phiếu trắc nghiệm giúp học sinh tự xác định và hiểu được các điểm mạnh, điểm yếu trong học tập và công việc ở trường, ở nhà, yếu tố giới tính có ảnh hưởng đến hứng thú, lòng tự tin, năng suất lao động.
Bảy là, tìm hiểu hệ thống đào tạo nghề của địa phương (Tuyển sinh trình độ THCS)
Tám là, các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS Là quá trình giúp học sinh bước đầu có được một số hướng chọn lựa sau khi tốt nghiệp THCS (kể cả việc chọn trường PTTH phù hợp) Đồng thời tổ chức thảo luận với chủ đề nghề nghiệp tương lai.
Trang 26Chín là, tư vấn học tập, tư vấn nghề: Hoạt động này cần
có sự phối hợp với các trường THPT hoặc các trường đào tạo nghề ở địa phương giúp học sinh xác định được hướng học tập hoặc học nghề sau khi tốt nghiệp THCS, dựa trên kết quả học tập và kết quả tự đánh giá bản thân
- Các hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở
- Hướng nghiệp thông qua dạy học các môn văn hóa
Các môn văn hóa bao gồm các các môn như Toán học,Văn học, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… Về mặtquy định, đây là những môn học được đưa vào kế hoạch dạyhọc trong Chương tình giáo dục THCS và là các môn học chínhkhóa trong các trường THCS nhằm cung cấp cho HS nhữngkiến thức, kĩ năng cơ bản và cần thiết nhất trong Thời lượngdành cho các môn văn hóa khá nhiều (20 – 24 tiết/ môn/ tuần)
Do vậy, tích hợp GDHN vào các môn văn hóa là hình thứcGDHN có khả năng thực hiện khả quan, lâu dài, thường xuyên
và mang lại hiệu quả
Thông qua dạy học các môn văn hóa, giáo viên có thểgiới thiệu lồng ghép cho HS nội dung các nghề cơ bản, phổ
Trang 27biến mà các em có thể tham gia khi tốt nghiệp THCS và saunày Mặt khác, GV có thể giúp HS biết được những yêu cầu
về kiến thức, trình độ và kỹ năng của một số ngành nghềtrong các lĩnh vực liên quan tới môn học như lĩnh vực sinhhọc, vật lý, hóa học, nghệ thuật, công nghệ… Từ đó HS cóthêm thông tin cơ sở để lập kế hoạch chọn nghề tương lai saocho vừa phù hợp với khả năng học lực của bản thân vừa phùhợp với nhu cầu lao động của một số ngành nghề chính trong
xã hội Hình thức hướng nghiệp qua các môn văn hóa đượcthực hiện chủ yếu theo phương thức tích hợp mội dungGDHN vào môn học
- Hướng nghiệp qua dạy học môn công nghệ
Chương trình môn Công nghệ ở THCS gồm 5 nội dungchính đó là: Công nghệ và đời sống; Công nghệ trong một sốlĩnh vực sản xuất; Một số công nghệ phổ biến; Phát triển côngnghệ; Hướng nghiệp
Ở THCS, môn Công nghệ đề cập tới các kiến thức, kỹnăng về công nghệ trong phạm vi gia đình; những nguyên lý
cơ bản về các quá trình sản xuất chủ yếu; cơ sở ban đầu vềthiết kế kỹ thuật; phương pháp lựa chọn nghề cùng với thông
Trang 28tin về các nghề nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất chủ yếu thôngqua mạch nội dung: Công nghệ trong gia đình; Nông - Lâmnghiệp; Thủy sản và Công nghiệp; Thiết kế kỹ thuật; Hướngnghiệp.
Để GDHN qua dạy học môn công nghệ, GV cần tăngcường thực hành, trải nghiệm cho các nội dung dạy học cụ thể
về cơ khí - động lực, điện - điện tử cũng như từng giai đoạncủa quá trình thiết kế, học sinh còn thực hiện dự án học tậptrên cơ sở vận dụng tổng hợp quy trình thiết kế và các côngnghệ đã được đề cập
Giáo viên cần khai thác có hiệu quả hệ thống các thiết bịdạy học tối thiểu theo nguyên lý thiết bị, phương tiện dạy học,cần coi trọng các nguồn tư liệu ngoài sách giáo khoa và hệthống các thiết bị được trang bị; khai thác triệt để những lợithế của công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy họctrên các phương diện lưu trữ tri thức, đa phương tiện, môphỏng, kết nối, môi trường học tập
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông và lao động sản xuất
Trang 29Nghề phổ thông được hiểu là những nghề phổ biến vàthông dụng đang cần phát triển ở địa phương Nghề phổ thông
có kĩ thuật, trang thiết bị tương đối đơn giản, quá trình dạynghề không đòi hỏi cao, phức tạp Nguyên liệu dùng cho dạynghề dễ kiếm, thông dụng, gần gũi phù hợp với điều kiện kinh
tế và khả năng đầu tư của địa phương, nhà trường Ngoài ra,thời gian học nghề ngắn tương đối ngắn và dễ đối với HSTHCS
Mục đích chủ yếu của dạy nghề phổ thông là trang bịcho HS những kiến thức, kĩ năng lao động cần thiết và tạo cơhội cho HS củng cố nội dung lí thuyết, vận dụng kiến thức, kĩnăng đã học ở môn Công nghệ vào thực tiễn đời sống và sảnxuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vàtin học Qua đó, giúp HS làm quen với hoạt động lao độngnghề nghiệp, chuẩn bị tích cực cho HS bước vào cuộc sốnglao động và định hướng nghề nghiệp cho các em
Chương trình GDHN phổ thông được xây dựng theoquan điểm: “Chú trọng nguyên tắc kỹ thuật tổng hợp; tăngcường nội dung hướng nghiệp để HS có điều kiện tìm hiểunghề, làm quen với một nghề cụ thể và góp phần định hướngnghề nghiệp; coi trọng thực hành và đa dạng hóa nội dung các
Trang 30nghề để HS và các trường có điều kiện lựa chọn nghề phù hợpvới phương hướng phát triển kinh tế, điều kiện cơ sở vật chất,
GV của địa phương và đáp ứng nguyện vọng của HS
Qua tham gia GDHN phổ thông và lao động sản xuất,
HS không những có cơ hội để thử sức mình trong một hoạtđộng lao động nghề nghiệp cụ thể mà còn có điều kiện khámphá khả năng, sở thích, cá tính và giá trị sống của bản thân,nâng cao nhận thức nghề nghiệp, ý thức và thái độ lao động,
từ đó đưa ra quyết định chọn nghề tương lai sao cho phù hợp
Giáo dục nghề phổ thông hiện nay vừa là nội dungGDHN vừa là hình thức GDHN, các em cấp THCS có cơ hộitiếp cận các môn, ngành nghề như điện, cơ khí, tin học, maycông nghiệp, đan, thêu … thời lượng chiếm khá lớn tronggiáo dục nghề phổ thông Các thầy, cô giáo đảm trách lĩnhvực này vừa giáo dục chuyên môn nghề, giáo dục kỹ năngnghề, kỹ năng sống cho học sinh Trong quá trình tổ chức,triển khai và thực tập nghề cho học sinh cấp THCS, ngườithầy cần giáo dục định hướng cho các em vào các ngành nghềgần gũi với địa phương, các lĩnh vực nghề nghiệp mà địaphương đang cần, hết sức tránh việc lệch lạc trong việc nhậnthức và chọn nghề không phù hợp với nhu cầu kinh tế xã hội
Trang 31của địa phương, dẫn đến việc lãng phí đào tạo của gia đình và
xã hội, làm mất cơ hội nghề nghiệp các em đồng thời ảnhhưởng rất lớn đến sự nghiệp và tương lai của các em
Các cơ sở giáo dục nói chung, đặc biệt là các nhà trườngTHCS cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở dạynghề, các cơ sở sản xuất nhằm tạo điều kiện để các em tiếpcận, tạo niềm tin cho các em trong quá trình giáo dục kết hợpgiữa lý thuyết và thực hành, từ đó các em sẽ nỗ lực và quyếttâm phấn đấu để lựa chọn ngành nghề mà mình yêu thíchđồng thời khắc phục được hiện tượng chỉ thấy lý thuyết suôngtốt đẹp mà không tính thực tiễn, hậu quả dẫn đến là tác dụngkhông mong muốn, học sinh sẽ mất nhiều công sức, thời gian,tiền bạc phải đào tạo đi, đào tạo lại nhiều lần với các lĩnh vựcngành nghề khác nhau
- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa, tham quan
Ngoại khóa là hoạt động được tổ chức cho HS học tậpngoài giờ học chính khóa Hoạt động này được tiến hành theomột kế hoạch nhất định dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáoviên nhằm phát hiện, bồi dưỡng, phát triển hứng thú, năngkhiếu và khả năng sáng tạo của HS trong một lĩnh vực nào đó