1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về GIÁO dục ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO học SINH TRUNG học cơ sở THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM HƯỚNG NGHIỆP tại CỘNG ĐỒNG HUYỆN

46 224 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 74,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinhphổ thông tại các cơ sở học tập, lao động liên trường [21].Tại Đức, những nhà giáo dục học và những nhà nghiêncứu về lao động, kỹ t

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM HƯỚNG

NGHIỆP TẠI CỘNG ĐỒNG HUYỆN

Trang 2

Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở nước ngoài

Giáo dục hướng nghiệp là hoạt động quan trọng trongtrường phổ thông cho nên mọi quốc gia trên thế giới đềuquan tâm đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, công tác hướngnghiệp được coi trọng và được bắt đầu ngay từ những nămđầu của cấp trung học

Cấp trung học cơ sở:

+ Dự nghiệp: Giới thiệu tổng quan các ngành nghề thôngdụng để giúp các học sinh phát hiện sơ bộ xu hướng nghềnghiệp của mình

+ Hướng nghiệp: cho các học sinh được học thử các nghềđược phát hiện ở giai đoạn dự nghiệp để cũng cố hoặc điềuchỉnh xu hướng nghề nghiệp chính xác hơn

Cấp trung học phổ thông:

Huấn nghiệp: theo kết quả ở giai đoạn hướng nghiệp,nhà trường sẽ chính thức đào tạo nghề theo đúng xu hướng

Trang 3

nghề nghiệp của học sinh, giúp các em đủ sức vào đời ngaysau khi tốt nghiệp trung học hoặc tạo điều kiện thuận lợi choviệc học tiếp lên.

C.Mác và Ph.Enghen là người đầu tiên chỉ ra cơ sở vậtchất khách quan làm xuất hiện tính tất yếu của xã hội cửa sựkết hợp giáo dục với lao động sản xuất Các ông đã đề ra giáodục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em trongcông xưởng dưới hình thức tư bản chủ nghĩa và nhân danhgiai cấp vô sản tiên tiến đã đề ra yêu cầu phải kết hợp giữagiáo dục với lao động sản xuất vật chất

Năm 1848, ở Pháp đã xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọnnghề” Nội dung cuốn sách đề cập đến vấn đề phát triển đadạng của nghề nghiệp, sự chuyên môn hóa vượt lên hẳn so vớigiai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp Cuốn sáchcũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ các thanh,thiếu niên học sinh đi vào thế giới nghề nghiệp để sử sụngnguồn lao động hiệu quả [14]

Năm 1908, tại Boston- Mỹ, F Passon thành lập phònghướng nghiệp đầu tiên trên thế giới Với phương pháp cơ bản

là sự phù hợp giưa con người và nghề nghiệp phòng hướng

Trang 4

nghiệp này đã giúp nhiều người lựa chọn được nghề nghiệpcho bản thân [14].

N.K.Crupxcaia (1925) đã từng nhấn mạnh: “mối quan hệgiựa học tập và lao động cần phải được thực hiện sao cho họctập lý thuyết soi sang con đường thực hành vào lao động sảnxuất, còn lao động sản xuất làm giàu kiến thức giúp năm bắtkiến thức có ý thức Giáo viên dạy lao động cần trang bị chohọc sinh những kiến thức, kĩ năng tổng hợp đại cương cầnthiết cho người lao động các nghề khác nhau để lao độn sảnxuất” Cũng tác giả này vào năm 1929 đã chỉ rõ trong bài viết

“Chọn nghề” về ý nghĩa quan trọng của công tác hướngnghiệp

Tại Liên bang Nga các công trình nghiên cứu của nhànghiên cứu như: A.V Lunasatsky, P.R.Atutov, M.I.Kalinin, tập trung triển khai nguyên lý học tập kết hợp vứi lao độngsản xuất để tạo thành nhân cách toàn diện cho học sinh.Những năm sau đó các nahf nghiên cứu như P.R.Atutov, X.A.Saporinki, X.I.Batưsep đã triển khai nghiên cứu các vấn đề “Hoàn thiện phương pháp dạy học lao động nghề nghiệp chohọc sinh phổ thông” Các nghiên cưu này đã trình bày các

Trang 5

phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinhphổ thông tại các cơ sở học tập, lao động liên trường [21].

Tại Đức, những nhà giáo dục học và những nhà nghiêncứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế đã nghiên cứu về nộidung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghềnghiệp Qua đó, tổ chức cho học sinh thực tập tại các nhàmáy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ Nhờ vậy, họcsinh được làm quen với môi trường lao động và được giáodục một số kỹ năng lao động cần thiết, giúp các em pháttriển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống xãhội [21]

Các công trình của các nhà sư phạm viện hàn lâm khoahọc Giáo dục CHDC Đức như HeizFrankiewiez, BrendRothe, B.Germer, K.Jaritr đã đề cập đến cơ sở khoa học sưphạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệpcủa học sinh và đưa ra phương thức: “Phối hợp, công tác chặtché giữa trung tâm kĩ thuật GD tổng hợp và các trường phổthông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổthông” Nổi bật là các công trình nghiên cứu về phương thức

tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy xínghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ của các tác giả Helmut

Trang 6

Keim, Rolf Oberliesen, Michaell Schumamnm, GehartDuimann, H.Sellin, Wolfgang Schulz đã chỉ ra rằng “Hoạtđộng dạy học - kĩ thuật - kinh tế không chỉ mang tính chấtquan trọng đối với các môn học khác, mà còn là bộ phận cấuthành cơ bản của GD Mặc dù vậy các công trình nghiên cứuđều chứ đề cập đến nội dung cơ bản của giáo dục phổ thông

và hướng nghiệp [19]

Do yêu cầu của thực tiễn vấn đề giáo hướng nghiệp đãđược nghiên cứu và sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thếgiới vào nhưng năm đầu thế kỉ XX Ngày nay các nước pháttriển như Đức, Pháp, Mỹ, Anh, Úc, Nhật đều quan tâm đến sựgiáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong đó đặc biệt coitrọng những thành tố kiến thức , kĩ năng để đào tạo thế hệ trẻthành lực lao động kĩ thuật

Tại Úc, vấn đề giáo dục hướng nghiệp được quan tâm

và thực hiện trong tất cả học sinh Trường học không chỉgiúp học sinh biết chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp chomình mà còn cung cấp những kỹ năng lao động và tri thứccần thiết giúp học sinh có thể lập nghiệp ngay trong thờigian còn đi học, tham gia hiệu quả vào đời sống xã hội

Trang 7

Australia” đã phân tích “Nhà trường hiện nay không chỉ lànơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khảnăng chueyern đổi thật nhanh [4].

Tại Nhật Bản, đã sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan

hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ nănglao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học Có khoảng 27,9%

số trường THPT vừa học văn hoá phổ thông vừa học các mônhọc kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,… Sau khi tốt nghiệp cấp II cóđến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% theo học loại hìnhtrường phổ thông cơ bản và 30% học sinh theo hướng họcnghề Magumi Nishino ỏ Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản

đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản củangành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng với laođộng và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với mỗi cánhân” Nhật Bản là nước rất coi trọng hoàn thiện nội dung,hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩnăng nghề nghiệp, phát huy tư duy sáng tạo Vì vậy ở Nhậtnhiều cuộc cải cách đã được tiến hành trong đó có nhiều biệnpháp được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo hướng nghiệp

và khoa học tự nhiên trong các trườn tiểu học và THCS [6]

Trang 8

Tại Hàn Quốc, trong các loại hình trường phổ thông, nộidung giảng dạy kỹ thuật lao động là một bộ phận cấu thànhquan trọng trong chương trình giáo dục Khi học hết cấp II,học sinh sẽ đi theo hai luồng chính: phổ thông và chuyênnghiệp Các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồimới chọn học sinh theo luồng phổ thông [16].

Như vậy, ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu

về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trườngTHCS Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ đềcập đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp của các trường Đặcbiệt, còn thiếu những công trình nghiên cứu về công tác giáodục hướng nghiệp cho học sinh THCS thông qua hoạt động trảinghiệm hướng nghiệp tại các cộng đồng

Trang 9

chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [8].

Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ X, Đảng

ta tiếp tục xác định đổi mới toàn diện giáo dục-đào tạo trên

cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ cấpTHCS [9]

Quyết định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ về

Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh THCS, THPT tốt nghiệp ra trường đã

nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phâncông cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa

từ Trung ương đến địa phương tham gia vào hoạt động HN.Tất cả các cấp, các ngành có nhiệm vụ tạo mọi điều kiệnthuận lợi giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sửdụng hợp lý và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi

ra trường Thông tư 31/TT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT vềviệc hướng dẫn thực hiện quyết định 126/CP của Chính phủcũng nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệpcho HỌC SINH phổ thông, đồng thời phân công trách nhiệm

cụ thể cho từng thành viên đang công tác tại trường THPT[5]

Trang 10

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học từ năm 1979 đến

1991 tại viện khoa học dạy nghề, Tổng cục dạy nghề của tácgiả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm Ngọc Anh, ĐỗThị Hòa đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Nguyện vọng họcnghề của hóc inh phổ thông; phân luồng học sinh sau trunghoc; Hứng thú nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề trongtrường nghề [3]

Từ năm 1982 đến 1986 các tác giả này đã triển khainghiên cứu đề tài “Mô tả nghề đào tạo nhằm mục đích hướngnghiệp” đã cung cấp rất nhiều tư liệu quý giá cho công táchướng nghiệp

Cùng với những tác giả trên phải kể đến đóng góp củacác tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn MinhĐường, Nguyễn Thế Trường, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Như

Ất, Đoàn Chi, Nguyễn Viết Sự,

Tác giả Phạm Tất Dong (1982), trong một nghiên cứu đãkhẳng định: “ Trong những người không kiếm ra việc làm85,8% là thanh niên Trong tổng số thanh niên đứng ngoàiviệc làm, 67,4 % là không biết nghề” Do đó tác giả đã khẳngđịnh: “ Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề

Trang 11

nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm” Và “Tiếp sau quátrình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh,đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản” [8].

Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn DuyMinh, Tô Bá Trọng, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Phạm HuyThụ, Cù Nguyên Hạnh, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê,Nguyễn Thế Trương đề cập đến khía cạnh Tổ chức lao độngsản xuất cho học sinh phổ thông, tư vấn hướng nghiệp chohọc sinh các phương thức giáo dục hướng nghiệp trongtrường phổ thông Trong thời gian từ 1982 đến 1986 các tácgiả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm Ngọc Anh, ĐỗThị Hòa biên soạn tài liệu “Công tác hướng nghiệp trongtrường phổ thông” nhằm cung cấp lí luận cơ bản, các hìnhthức và biện pháp rèn luyện năng lực làm công tác hướngnghiệp, hướng dẫn nội dung thực hành hướng nghiệp cho họcsinh

Tác giả Nguyễn Văn Lê và nhóm cộng tác đã nghiên cứuvấn đề “ Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng pháttriển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Việt Nam” Đề tài đã tìm hiểu thực trạng tiềm năngnghề nghiệp cho cho học sinh phổ thông

Trang 12

Nguyễn Thị Bình (1982) về trách nhiệm của ngành ta đối với công tác hướng nghiệp và sử dụng HỌC SINH ra trường; Trần Xuân Nhĩ (1982) về nắm vững những quan điểm đúng đắn, ra sức đẩy mạnh công tác hướng nghiệp; Võ Nguyên Giáp (1984) về công tác hướng nghiệp trong các nhà trường phổ thông; Phạm Huy Thụ (1996) về hoạt động lao động-hướng nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam.

Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới công tác hướng nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[6]

Hồ Văn Thống nghiên cứu về “Quản lý giáo dục hướng nghiệp trung học phổ thông theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020”.

Năm 2010, tác giả Lê Thị Thanh Hương đã nghiên cứu đề

tài “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm ở quốc tế” Tác giả đã chỉ ra những giai

đoạn hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp, các lí thuyết tư vấnhướng nghiệp, các mô hình hướng nghiệp và tư vấn hướngnghiệp ở các nước trên thế giới và nêu lên những thực trạng về

tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT

Trang 13

Năm 2012, tác giả Phạm Văn Sơn nghiên cứu đề tài

“Xây dựng và sử dụng bản mô tả nghề trong tư vấn hướng nghiệp chọ học sinh phổ thông” Tác giả đã đề cập đến mục

đích sử dụng bản mô tả nghề nghiệp trong tư vấn, cung cấpnhững yêu cầu về phẩm chất và năng lực cần thiết giúp chocán bộ tư vấn có cơ sở đối chiếu với từng học sinh để xácđịnh sự phù hợp nghề

Năm 2013, tác giả Phan Ngọc Linh đã nghiên cứu đề tài

“Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT” Tác giả đã khái

quát thực trạng tư vấn hướng nghiệp ở một số trường THPT,các biểu hiện tâm lí trong tư vấn hướng nghiệp

Năm 2016, nhóm tác giả Nguyễn Minh Đường, Đỗ Thị

Bích Loan nghiên cứu đề tài: “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận và

thực tiễn có liên quan, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu địnhhướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông đáp ứng yêucầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Tóm lại, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học

Trang 14

sinh THPT ở trong và ngoài nước Các công trình khoa học kểtrên đều tập trung đổi mới nội dung , phương pháp và sử dụngtối ưu cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ hoạt động hướngnghiệp Nghiên cứu về tiềm năng nghề nghiệp của học sinhvẫn là hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu về giáo dụchướng nghiệp Hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ đềcập đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp của các trườngTHPT Đặc biệt, có rất ít công trình nghiên cứu về công tácgiáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS trong mối quan hệvới cộng đồng và doanh nghiệp Cần thiết phải có sự tiếp nốigiữa những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp theo hướngphát triểm tiềm năng nghề nghiệp của học sinh và nhữngnghiên cứu mới về vấn đề này Chính vì vậy, chúng tôi chorằng nghiên cứu công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinhTHCS trong mối quan hệ với cộng đồng và doanh nghiệp hiệnnay là vấn đề có ý nghĩa cấp bách và cần thiết.

Một số khái niệm cơ bản

Giáo dục

Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự hình thành nhân cáchđược tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các

Trang 15

hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người đượcgiáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh nhữngkinh nghiệm xã hội của loài người Để hiểu rõ hơn khái niệmGiáo dục (theo nghĩa rộng) cần làm sáng tỏ khái niệm nhâncách và khái niệm xã hội hoá con người Hình thành nhâncách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý, tâm

lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biếnđổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân

tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…),

và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên

và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng củacác tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bênngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động cómục đích, có tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quátrình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có củacon người thànhmột nhân cách Xã hội hoá con người: Đó làquá trình có tính chất xã hội hình thành nhân cách Quá trìnhnày chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội; xã hộitác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặtkhác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hộibằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã

Trang 16

hội Từ đó, giáo dục nói một cách khác là sự xã hội hoá connguời chỉ dưới những tác động có mục đích và có tổ chức [7].

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một bộ phận của quá trình

sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học củathế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ,những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắntrong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thẻ lực Chứcnăng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ đượcthực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác độngđến tình cảm và hành vi Giáo dưỡng (hay trau dồi học vấn):Dưới góc độ là quá trình thì đó là quá trình con người lĩnh hội

hệ thống tri thức nhất định về khoa học tự nhiên, xã hội và về

tư duy Dưới góc độ kết quả lĩnh hội thì đó là trình độ họcvấn, nghĩa là trình độ tri thức, kỹ năng kỹ xảo đã được lĩnhhội, chẳng hạn như người ta nói trình độ THPT cơ sở, trình độĐại học… Chức năng trội của nó là sự tác động đến ý thức làchính Dạy học – Đó là con đường, phương tiện của giáodưỡng (trau dồi học vấn) và giáo dục (nghĩa hẹp): Dưới góc

độ quá trình thì dạy học là quá trình tác động qua lại giữa giáoviên và học sinh, điều khiển hoạt động tâm lý của học sinh đểgiúp họ tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa

Trang 17

học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn,trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và hình thành thếgiới quan khoa học cho họ [7].

Giáo dục có các chức năng sau đây:

+ Chức năng tái sản xuất nhân cách - Chức năng tái sảnxuất xã hội Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau Trong xã hội chúng ta, haichức năng trên được cụ thể hoá thành ba chức năng sau: Chứcnăng kinh tế – sản xuất: Giáo dục tái sản xuất sức lao động xãhội, tạo ra sức lao động ở một trình độ mới, cao hơn, khéo léohơn, hiệu quả hơn để thay thế sức lao động cũ bị mất đi

+ Chức năng chính trị – xã hội: Chế độ chúng ta là: “ Tất

cả của dân, do dân và vì dân”, do đó giáo dục tạo điều kiệncho thế hệ trẻ và nhân dân nói chung nâng cao dân trí để thamgia quản lý xã hội, đất nước với tư cách là chủ nhân của xãhội, của đất nước, ý thức rõ rang được quyền lợi và nghĩa vụcủa người công dân Giáo dục góp phần tích cực trong việcxoá đối, giảm nghèo, tạo điều kiện cho các thành viên của xãhội tìm kiếm việc làm, để thay đổi nghề nghiệp cho phù hợp,

để đễ dàng thích ứng với môi trường lao động mới mẻ Nhờ

Trang 18

vậy giáo dục đã góp phần giải quyết những vấn đề xã hội.

+ Chức năng tư tưởng - văn hoá: Giáo dục có tác dụng tolớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội,xây dựng một lối sống phổ biến trong toàn xã hội, trình độvăn hoá cho toàn xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục phổthông ngày càng được nâng cao dần Qua đó, tạo nguồn nhânlực đông đảo với chất lượng cao, đồng thời có điều kiện pháthiện và bồi dưỡng nhân tài [7]

Từ những nội dung phân tích ở trên, có thể hiểu: Giáo dục

là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục (giáo viên) đến người được giáo dục (học sinh) nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người được giáo dục.

Định hướng nghề nghiệp, giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh

Định hướng nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập

để duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người

Trang 19

Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân.

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó,nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹnăng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào

đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là mộtlĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng nănglực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vậtchất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trịtinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tưcách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

-Nghiệp là sự cống hiến hết mình cho nghề

Ai cũng biết nghề nào thì nghiệp đó Có chuyên môn thì

sẽ có nghề tương xứng, nhưng có nghề chưa hẳn đã có nghiệp

và có nghề rồi mà không có nghiệp thì nghề cũng không tồntại một cách suôn sẻ được [1]

Trang 20

Ở Mỹ, vào khoảng từ cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỷXVIII, do ảnh hưởng của các danh nhân như GeorgeWashington, Thomas Jefferson, Abraham Lincoln, một sốngành dần chính thức được tuyên bố là một nghề nghiệp chínhthức như dược, khoa học tính toán bảo hiểm, luật, nhakhoa, kỹ thuật xây dựng dân dụng, hậu cần, kiến trúc, kếtoàn,

Một nghề xuất hiện khi bất kỳ thương mại hoặc nghề

nghiệp nào tự biến đổi thông qua việc "phát triển các trình độ chính thức dựa trên giáo dục, tập sự và kiểm tra, sự nổi lên của các cơ quan quản lý có thẩm quyền để thừa nhận và kỷ luật các thành viên, và một số quyền độc quyền" [1].

Kể từ khi được kỹ sư Frank Parsons chính thức gọi tênvào năm 1908, việc sử dụng thuật ngữ "nghề nghiệp" đã pháttriển, với sự nhấn mạnh đến sự phát triển của cá nhân về tàinăng và khả năng trong việc lựa chọn và hưởng thụ sự nghiệp

Sự mở rộng ngữ nghĩa này có nghĩa là một số suy giảm vềtham khảo ý nghĩa tôn giáo của thuật ngữ trong việc sử dụng

Trang 21

hàng ngày

Như vậy: Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

Định hướng nghề nghiệp:

Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị ThanhHuyền (2005): “ĐHNN được hiểu là một quá trình hoạt độngđược chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lý về khônggian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủthể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnhvực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là một nghề nào đó” [15]

Theo tác giả Nguyễn Đình Xuân và Trần Thị Minh Đức(2002), “định hướng nghề nghiệp là một quá trình tìm hiểu,đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất và yêucầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện cụ thể

Trang 22

của bản thân trên cơ sở hình dung ra trước hoạt động lao độngcủa cá nhân trong hiện tại và tương lai”.

Như vậy: Định hướng nghề nghiệp là quá trình tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm tư chất

và yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện cụ thể của bản thân để xác định nghề nghiệp phù hợp nhất với bản thân mình.

Giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh:

Từ các khái niệm: giáo dục, định hướng nghề nghiệp cho

học sinh đã nêu ở trên có thể hiểu: Giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh là quá trình tác động của nhà giáo dục (giáo viên) đến học sinh, giúp học sinh tìm hiểu, đối chiếu, so sánh những yêu cầu về đặc điểm, tư chất và yêu cầu của hoạt động lao động xã hội với những điều kiện

cụ thể của bản thân, từ đó xác định được nghề nghiệp phù hợp nhất với bản thân mình.

- Hoạt động trải nghiệm, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp

Trang 23

- Hoạt động trải nghiệm

Theo sinh lí học: hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thầnkinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quannhằm thỏa mãn nhu cầu của mình

Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thànhthạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếmlĩnh nó Trong triết học, thuật ngữ “kiến thức qua thực nghiệm”chính là kiến thức có được dựa trên trải nghiệm Một người trảinghiệm nhiều ở một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể được coi nhưchuyên gia của lĩnh vực đó Khái niệm “trải nghiệm” dùng đểchỉ phương pháp làm ra kiến thức hay quy trình làm ra kiến thứcchứ không phải là kiến thức thuần túy được đưa ra, là kiến thứcdùng để đào tạo nghề nghiệp chứ không phải là kiến thức trongsách vở [11]

Nhận thức luận có bản chất là “trải nghiệm” Nhữngngười tham gia vào các hoạt động du lịch, thể thao mạo hiểmhay sử dụng ma túy cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng củatrải nghiệm

Tùy phạm vi nhà trường, hoạt động trải nghiệm đượchiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh,

Ngày đăng: 30/05/2019, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w