Điều 24 Pháp lệnh 1995 quy định việc đưa vào cơ sở chữa bệnh được áp dụng đối với đối tượng là người nghiện ma túy, người mại dâm có tính chất thường xuyên, đã được chính quyền và nhân d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Võ Trí Hảo
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3MỤC LỤC Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Tóm tắt luận văn
Phần mở đầu 1
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CAI NGHIỆN MA TÚY 3
1.1 Nghiện ma túy, tác hại đối với xã hội 3
1.1.1 Khái niệm ma túy 3
1.1.2 Phân loại ma túy 4
1.1.3 Nghiện ma túy 5
1.1.4 Tác hại của ma túy 5
1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về xử lý người nghiện ma túy 8
1.2.1 Giai đoạn trước năm 2002 8
1.2.2 Giai đoạn 2002 đến 2012 10
1.2.3 Giai đoạn 2012 đến nay 11
1.3 Những khó khăn trong tổ chức cai nghiện 11
1.4.1 Khó khăn trong cai nghiện tự nguyện 12
1.4.2 Khó khăn trong cai nghiện bắt buộc 13
1.5 Các tiêu chí của một hệ thống cai nghiện ma túy hiệu quả 18
Tiểu kết luận Chương 1 21
Chương 2: XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CAI NGHIỆN TẠI BẾN TRE DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ - LUẬT 23
2.1 Nhà nước tham gia vào hoạt động cai nghiện ma túy 23
2.1.1 Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể bảo đảm an ninh trật tự cho xã hội 23
2.1.2 Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể bảo đảm an sinh xã hội 25
2.2 Cơ sở pháp lý cho việc xã hội hóa hoạt động cai nghiện 31
2.2.1 Khái niệm xã hội hóa 31
2.2.2 Chủ trương của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật 32
2.3 Tác động kinh tế - xã hội của việc xã hội hóa hoạt động cai nghiện 34
2.3.1 Chi phí từ góc nhìn của nhà đầu tư 34
2.3.2 Hiệu quả cắt cơn, điều trị 36
Trang 42.4 Xã hội hóa hoạt động cai nghiện tại Bến Tre giai đoạn 2010 - 2018 Thực trạng và kiến nghị 39
2.4.1 Những kết quả đạt được 39 2.4.2 Những khó khăn, tồn tại và hạn chế 42 2.4.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa hoạt động cai nghiện trên địa bàn tỉnh 43
Tiểu kết luận Chương 2 47
Phụ lục 1: Danh mục các bảng l Bảng 2: Phân loại ma túy được sử dụng l Bảng 3: Số vụ bị xử lý hành chính li Bảng 4: Số vụ bị xử lý hình sự li Bảng 5: Kết quả hoạt động cai nghiện lii Phụ lục 2: Danh mục tài liệu tham khảo liii
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Hoàng Lan, mã số học viên: 7701270064A, là học viên
lớp Cao học Luật … Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài
“Nghiện ma túy: Khuôn khổ pháp lý và thực tiễn tại Bến Tre” (Sau đây gọi tắt
là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này
là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn
cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Trần Hoàng Lan
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
PCMT: Phòng, chống ma túy
LĐTB&XH: Lao động, thương binh và xã hội
VHTT&DL: Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
01 Số liệu người nghiện từ năm 2012 đến năm 2017 1xxxiii
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiện ma túy có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người nghiện, gia đình và xã hội Vì thế việc quản lý và điều trị những người nghiện ma túy hiện nay là một trong vấn đề quan trọng và hết sức cấp thiết
Bằng những chứng cứ xác thực từ những nghiên cứu mới nhất, hiện nay, nghiện được thừa nhận là một bệnh mạn tính, thường tái diễn, là nguyên nhân gây ra xung động tìm kiếm và sử dụng ma túy cho dù biết hậu quả tổn hại cho bản thân và cho người ngoài Tương tự như những bệnh mạn tính khác, nghiện
ma túy là căn bệnh tái diễn; không có gì lạ khi một người nghiện tái diễn hút chích trở lại Tuy nhiên, tái diễn hút chích không phải là dấu hiệu điều trị nghiện thất bại, mà đúng hơn là còn chỉ ra cho chúng ta cần thiết lập trị liệu lại và hoặc
bổ sung hoặc thay đổi cần thiết trong điều trị giúp cho bệnh nhân lấy lại khả năng kiểm soát bản thân và hồi phục Không yếu tố nào có thể tiên đoán người nào có thể bị nghiện ma túy Nguy cơ nghiện tác động bởi sự kết hợp các yếu tố như sinh học, môi trường xã hội, tuổi tác hay quá trình trưởng thành của người
nghiện
Có một biểu hiện chung ở những người nghiện ma túy và các chất gây nghiện khác, đó là xuất hiện “hội chứng cai” hay là hội chứng thiếu, đói thuốc rất
dễ nhận biết Hội chứng này xuất hiện khi vì bất kỳ lý do nào đó ngưng sử dụng
ma túy mà trước đó đã sử dụng số lượng nhiều hay trong thời gian kéo dài Do
đó, cần tập trung thực hiện hai nội dung, thứ nhất là nhanh chóng đưa người nghiện ra khỏi hội chứng cai Vì đây là giai đoạn khổ sở nhất của người nghiện
do các triệu chứng liều thuốc mang lại Sự đau đớn về thể xác và tinh thần mãnh liệt đến mức người nghiện có thể làm bất cứ điều gì để có thuốc Tốt nhất là nên đưa người nghiện đến cơ sở điều trị cai nghiện có đầy đủ phương tiện giúp người nghiện nhanh chóng cắt được cơn Thứ hai là vấn đề hậu cai (là giai đoạn điều trị tiếp theo sau khi cắt cơn để phòng ngừa tái phát) Cần nhớ nghiện ma túy là dạng bệnh đặc biệt Nhu cầu được chữa trị (tự nguyện) luôn luôn bị sự thôi thúc thèm muốn mãnh liệt dùng lại ma túy Bởi lẽ ngoài sự lệ thuộc thuốc, người nghiện còn có sự lệ thuộc về tâm lý Mặt khác hơn 90% người nghiện tái nghiện là do chưa được giải quyết đúng mức ở giai đoạn hậu cai này
Vấn đề này là một công việc rất lớn, rất phức tạp, cần thiết phải điều trị lâu dài, có sự hợp tác giữa người bệnh và thầy thuốc, với sự hỗ trợ của gia đình
Trang 9và xã hội Việc từ bỏ ma túy hẳn là cực kỳ khó khăn đòi hỏi nhiều nỗ lực của cá nhân người nghiện, sự động viên, nâng đỡ, an ủi, tạo việc làm của gia đình và xã hội sẽ tạo điều kiện cho người nghiện ma túy vượt qua chính mình để tái hòa nhập cộng đồng
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng ma túy và tác hại của ma túy đến bản thân người nghiện, gia đình và xã hội là hết sức to lớn Tuy nhiên nghiện ma túy
có thể điều trị và phòng ngừa nếu có những biện pháp hợp lý cho người nghiện
và những đối tượng có khả năng nghiện cao (thanh thiếu niên, những người bị lạm dụng, bạo hành, đối tượng mại dâm…) Cần phát huy hiệu quả hoạt động cai nghiện, trong đó chú trọng xã hội hóa hoạt động cai nghiện ma túy, tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của ma túy và giúp đỡ những người bị lệ thuộc vào ma túy để họ có thể thực hiện thành công việc cai nghiện ma túy
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tình hình tội phạm nói riêng và phạm pháp hình sự nói chung trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng như cả nước có xu hướng diễn biến phức tạp, ngày càng gia tăng về số vụ cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Cơ cấu về tội phạm và số hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến người nghiện và người sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện chiếm tỉ lệ ngày càng nhiều Trong khi đó, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến ma túy, công tác tổ chức cai nghiện ma túy chưa mang lại kết quả như mong muốn; đặc biệt là công tác cai nghiện ma túy Việc hạn chế trong tổ chức cai nghiện, quản lý số người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn trong thời gian qua góp phần làm gia tăng “nguồn” cung cấp đối tượng cho phạm pháp hình sự cũng như các hành vi vi phạm khác
Về nguyên nhân của hạn chế trong bình diện chung của cả nước như hệ thống quy định của pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính khả thi, thì trong đó còn mang tính đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Đa dạng hóa các loại hình cai nghiện, khuyến khích các cá nhân, tổ chức – doanh nghiệp – tham gia hoạt động cai nghiện; sự tham gia của khu vực tư nhân vào hoạt động cai nghiện thông qua xã hội hóa dựa trên nền tảng pháp luật về phòng chống ma túy, biện pháp cai nghiện được quy định trong các quy định pháp luật có liên quan; cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cai nghiện ma túy, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo an ninh, trật
tự trên địa bàn tỉnh nhà, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, đó là lý do chọn đề tài
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Việc tổ chức cai nghiện ma túy trong thời gian qua chưa thật sự phát huy hiệu quả, tỉ lệ tái nghiện trong số người đã được tổ chức cai nghiện (dưới nhiều hình thức) luôn chiếm tỉ lệ cao (hơn 90%) Liệu có phải nguyên nhân do mô hình
tổ chức cai nghiện chưa đa dạng, chưa thu hút được nhiều thành phần tham gia, chủ yếu là do nhà nước đảm nhiệm; phát đồ điều trị chưa phù hợp, không phát huy hiệu quả; công tác quản lý sau cai nghiện chưa được quan tâm; cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ cho việc cai nghiện còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế
Trang 112.2 Câu hỏi nghiên cứu
2.2.1.Vì sao công tác cai nghiện ma túy trong thời gian vừa qua chưa mang lại hiệu quả? tỉ lệ tái nghiện cao? Mô hình cai nghiện hiện nay có gì bất cập? Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực cai nghiện ma túy phát huy hiệu quả hay chưa?
2.2.2 Sự cần thiết phải bổ sung, thay đổi phương thức quản lý, cách thức
tổ chức cai nghiện ma túy; sự tham gia của khu vực tư vào hoạt động cai nghiện, thực hiện xã hội hóa hoạt động cai nghiện ma túy?
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích: Thực trạng tình hình nghiện ma túy và tính hiệu quả trong công tác cai nghiện ma túy Hệ thống pháp luật về phòng chống ma túy và pháp luật có liên quan, việc thực hiện xã hội hóa trong hoạt động cai nghiện ma túy
3.2 Đối tượng: Hoạt động tổ chức cai nghiện ma túy; công tác quả lý nhà nước; hoạt động cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện ma túy (bắt buộc, tự nguyện tại gia đình và cộng đồng)
3.3 Phạm vi: Trên địa bàn tỉnh
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết
Khảo sát, tổng hợp số liệu, phân tích, đánh giá
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Nâng cao hiệu quả hoạt động cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Bến Tre, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Trang 12CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CAI
NGHIỆN MA TÚY
1.1 Nghiện ma túy, tác hại đối với xã hội
1.1.1 Khái niệm ma túy
Hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất như thế nào là ma túy, chỉ có một số khái niệm dưới dạng liệt kê Khi nói đến ma túy, việc đầu tiên phải suy nghĩ đến đó là một hiểm họa của nhân loại, tác hại của ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến giống nòi; tạo ra nhiều bất ổn của tình hình trật tự xã hội nói chung và tội phạm nói riêng Ma túy là từ Hán Việt, trong đó “ma” được hiểu là tê mê và “túy” là say sưa Theo đó, ma túy là chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, tê liệt, dùng quen thành nghiện, hay nói cách khác, ma
chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện; ma túy
là những chất mà người dùng nó một thời gian sẽ gây nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào nó
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa “ma túy” là các chất khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng Đến năm 1982, WHO đã phát triển định nghĩa “ma tuý” theo nghĩa rộng, là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật Liên Hợp Quốc cũng đã đưa ra định nghĩa “ma túy” là các chất có nguồn gốc
tự nhiên hoặc tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng Tuy nhiên, các định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới hay của Liên Hợp Quốc đều mang tính khái quát, bao hàm tất cả các chất làm biến đổi về
Ở Việt Nam, theo các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, ma túy có thể hiểu là các chất bao gồm: nhựa thuốc phiện, nhựa cần
sa, cao coca, lá, hoa, quả cây cần sa, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi,
Trang 13heroine, cocaine, mathamphetamine, amphetamine, MDMA hoặc XLR-11, các chất
ma túy khác ở thể lỏng hay thể rắn Luật PCMT năm 2000 đưa ra khái niệm về chất
ma túy tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất
hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” Khoản 2
và khoản 3 Điều 2 Luật PCMT năm 2000 quy định: “chất gây nghiện” là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng và
“chất hướng thần” là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng
Như vậy, ma túy là những chất đã được khoa học xác định và có tên gọi riêng Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy được quy định tại Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các Danh mục về chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ sửa đổi danh mục các chất ma túy và tiền chất) Việc xác định là chất ma túy, tiền chất được tiến hành qua trưng cầu giám định
Từ các khái niệm của quốc tế và Việt Nam về ma túy, tác giả khái quát đưa
ra một khái niệm chung, sử dụng trong luận văn này như sau: Ma túy là các chất có
nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
1.1.2 Phân loại ma túy
Ma túy được phân thành nhiều nhóm dựa trên những căn cứ nhất định phục
vụ cho những mục đích khác nhau Một số cách phân loại cơ bản như sau:
- Căn cứ vào nguồn gốc, ma túy được chia thành: Ma túy tự nhiên, ma túy
tổng hợp và ma túy bán tổng hợp
- Căn cứ theo tác dụng, ma túy được chia thành ba nhóm chính là kích thích,
ức chế thần kinh và gây ảo giác
- Căn cứ tính hợp pháp, ma túy chia làm hai nhóm: hợp pháp, bất hợp pháp
- Căn cứ nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các chuyên gia của
Liên hợp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành năm nhóm sau:
+ Nhóm 1: Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates);
+ Nhóm 2: ma túy là các chất làm từ cần sa (canabis);
+ Nhóm 3: ma túy là các chất gây kích thích (sitimulants);
+ Nhóm 4: ma túy là các chất gây ức chế (depressants);
Trang 141.1.3 Nghiện ma túy
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa “Nghiện ma túy là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc họ luôn cảm thấy bức bách phải dùng ma túy để
có được những hiệu ứng ma túy về mặt tâm thần của ma túy và thoát khỏi sự khó
Luật Phòng chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008 định nghĩa
“người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này”
1.1.4 Tác hại của ma túy
Khi nói đến tác hại của ma túy, hình ảnh đầu tiên liên tưởng đến đó là những hình ảnh gầy gò, tiều tụy của người sử dụng ma túy hay những hình ảnh người nghiện ma túy vật vã trong cơn nghiện…tất cả những hình ảnh đó đều là những hậu quả do ma túy mang lại Tác hại của ma túy có thể thấy được ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất về sức khỏe, ma túy gây tổn hại rất nghiêm trọng về sức khỏe Ma tuý được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hút (thuốc phiện, hút cần sa, hít (heroin, ma tuý tổng hợp (hàng đá)), tiêm chích (heroin, morphine, thuốc phiện)
và uống (các loại ma tuý tổng hợp); và hiện nay một số hình thức sử dụng ma túy mới xuất hiện như hít một số loại ma túy mới xuất hiện hay miếng da dưới lưỡi Như vậy ma tuý đưa vào cơ thể theo đường tiêu hoá, đường hô hấp, đường máu tuần hoàn hoặc thẩm thấu qua da, niêm mạc và gây tổn hại trực tiếp cho các cơ quan này Đồng thời gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa (làm cho người nghiện luôn có cảm giác no, vì vậy họ không muốn ăn, tiết dịch của hệ tiêu hoá giảm nên họ thường có cảm giác buồn nôn, đau bụng, đại tiện lúc lỏng, lúc táo bón); hệ tuần hoàn (Người nghiện thường bị loạn nhịp tim, huyết áp tăng giảm đột ngột, mạch máu bị xơ cứng Đặc biệt là hệ mạch máu làm ảnh hưởng đến hoạt động của bộ não Do việc tiêm chích thường không vô trùng nên dẫn đến nhiễm trùng máu, viêm tắc tĩnh mạch); hệ
hô hấp (Những đối tượng hít ma tuý thường bị viêm mũi, viêm xoang, viêm đường
hô hấp); các bệnh về da (Người nghiện ma tuý bị rối loạn cảm giác da nên không
www.lamdong.gov.vn/vi-vn/phongchongmatuy/tachai/pages/banchatnghienmatuy/aspx 21/9/2009
Trang 15cảm thấy bẩn, mặt khác họ thường sợ nước, vì vậy họ rất sợ và ngại tắm Đây là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về da phát triển như ghẻ lở, hắc lào viêm da…); làm suy giảm chức năng giải độc (Trong cơ thể gan, thận là cơ quan chủ yếu đào thải các chất độc Khi nghiện ma tuý nhất là heroin, hai cơ quan này suy yếu ảnh hưởng đến chức năng thải độc làm các chất độc tích tụ trong cơ thể, càng làm cho gan thận và toàn cơ thể suy yếu, thường người nghiện hay bị các bệnh như: áp xe gan, viêm gan, suy thận dẫn đến tử vong); ảnh hưởng đối với hệ thần kinh (Khi đưa
ma tuý vào cơ thể, ma tuý sẽ tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương, gây nên tình trạng kích thích hoặc ức chế từng phần ở bán cầu não Người nghiện có biểu hiện rối loạn phản xạ thần kinh, đau đầu, chóng mặt, trí nhớ giảm sút, rối loạn cảm giác, run tay chân, viêm dây thần kinh dễ bị kích động dẫn đến tội ác, nếu dùng liều cao cơ thể bị ngộ độc cấp, biểu hiện rối loạn tinh thần nặng, hôn mê Người nghiện
ma tuý dẫn đến tình trạng nhiễm độc ma tuý mãn tính, suy nhược toàn thân, người gầy gò xanh xao, mặt trắng, môi thâm, nước da tái xám, dáng đi xiêu vẹo, cơ thể gầy đét do suy kiệt hay phù nề do thiếu dinh dưỡng, rối loạn nhịp sinh học, thức đêm, ngủ ngày, sức khoẻ giảm sút rõ rệt Người nghiện ma tuý bị suy giảm sức lao động, giảm hoặc mất khả năng lao động và khả năng tập trung trí óc Trường hợp sử dụng ma tuý quá liều có thể bị chết đột ngột
Thứ hai, gây tổn hại về nhân cách Sử dụng ma tuý làm cho người nghiện thay đổi trạng thái tâm lý, sa sút về tinh thần Họ thường xa lánh nếp sống sinh hoạt lành mạnh, xa lánh người thân, bạn bè tốt Khi đã lệ thuộc vào ma tuý thì nhu cầu cao nhất đối với người nghiện là ma tuý, họ dễ dàng bỏ qua những nhu cầu khác trong cuộc sống đời thường Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu cấp bách về ma tuý cho bản thân, họ có thể làm bất cứ việc gì kể cả trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, thậm chí giết người… miễn là có tiền mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện Hành vi lối sống của họ bị sai lệch so với chuẩn mực đạo đức của xã hội và pháp luật Họ là những người bị tha hoá về nhân cách Ma tuý còn làm biến chất một số cán bộ cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật vì buôn bán ma tuý đem lại lợi nhuận cao cho nên bọn tội phạm ma tuý dùng tiền mua chuộc một số ít cán bộ biến chất để tiếp tay bảo vệ cho chúng, thậm chí cán bộ cơ quan nhà nước trong đó có cơ quan bảo vệ pháp luật tham gia mua bán ma tuý để kiếm lời Cho nên ma tuý chính là nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh tật, huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện và cũng là nguồn phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác đồng thời cũng là nguyên nhân chính làm lây lan căn bệnh truyền nhiễm của thế kỷ đó là HIV/AIDS Theo số liệu
Trang 16do nghiện ma tuý (trong đó lây nhiễm HIV được xác định qua 3 đường là: tiêm chích ma tuý, đường tình dục và lây từ mẹ sang con)
Thứ ba, gây tổn hại về tỉnh cảm và hạnh phúc gia đình Người nghiện ma tuý làm tiêu tốn tài sản, đây cũng là một hậu quả dễ nhận thấy nhất đối với những gia đình có người nghiện ma tuý Thiệt hại về kinh tế do sử dụng ma tuý là một trong những nguyên nhân làm đổ vỡ mối quan hệ tốt đẹp giữa những người trong gia đình với người nghiện Mặt khác người nghiện có xu hướng sống thu mình, ngại tiếp xúc lẩn tránh người thân Do quá trình sử dụng ma tuý làm cho người nghiện thay đổi tính cách như hay gây gổ, cáu gắt, lừa dối, trộm cắp, cướp giật… đến lúc nào đó bản thân họ không còn hoà hợp với những người trong gia đình Khi lên cơn nghiện thì người nghiện mất hết lý trí, không còn điều khiển được hành vi của mình, họ xoay xở và tìm mọi cách để có tiền mua chất ma tuý nhằm thoả mãn cơn nghiện Nhưng khi không có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đó, người nghiện trở nên liều lĩnh, tàn bạo có thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng như hành hạ người thân, cha mẹ, vợ con, anh em, đập phá tài sản gia đình… từ đó dẫn đến hạnh phúc gia đình bị tan vỡ và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống cộng đồng
Thứ tư, tác hại của ma túy đối với nền kinh tế Sự lạm dụng các chất ma tuý
đã làm mất đi các giá trị tổng hoà của cuộc sống cộng đồng Việc duy trì các dịch
vụ có liên quan đến ma tuý vừa tốn kém vừa tiêu phí tiền bạc, nhân lực quý giá cần thiết cho các nhu cầu và các mối quan tâm khác của xã hội Hàng năm ở nước ta phải chi phí hàng trăm tỷ đồng cho việc xoá bỏ cây thuốc phiện, cho công tác cai nghiện ma tuý, công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý Cuối năm 2014 cả nước
có 204.377 người nghiện Ước tính hàng năm tiêu phí gần 6.000 tỉ đồng cho việc sử dụng heroin nói riêng và ma túy nói chung Nếu số tiền này được đầu tư vào các chương trình phát triển kinh tế thì hiệu quả mang lại sẽ rất lớn Ngoài những thiệt hại trực tiếp về kinh tế, tệ nạn ma tuý còn gây ra những tác động xấu đối với nền kinh tế như: Làm suy giảm lực lượng lao động của gia đình và xã hội cả về số lượng lẫn chất lượng, làm cho thu nhập quốc dân cũng giảm, nhưng chi phí cho dự phòng
và chăm sóc y tế lại tăng; người nghiện ma tuý hầu hết ở độ tuổi lao động, vì vậy vấn đề đào tạo cán bộ, công nhân có tay nghề để thay thế họ là một vấn đề khó khăn; đầu tư nước ngoài cũng giảm vì họ ngại đầu tư vào những nước có tỷ lệ người nghiện cao như ở nước ta
Thứ năm, ma tuý là nguyên nhân xô đẩy người lương thiện vào con đường phạm tội Do sử dụng các chất ma tuý mà người nghiện không làm chủ được hành
vi của mình dẫn đến họ có những hành vi vi phạm phẩm chất đạo đức và vi phạm
Trang 17pháp luật Theo thống kê thì có tới 85,5% người nghiện ma tuý có tiền án, tiền sự Khi trở thành nô lệ của ma tuý, nhu cầu về tiền bạc đối với người nghiện là rất lớn Trong khi đó khả năng về tài chính của bản thân họ và gia đình không thể đáp ứng Lúc đó, họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì để có tiền mua ma tuý thoả mãn cho cơn nghiện kể cả giết người, cướp tài sản điều này đã chứng minh được qua những tổng kết thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý ở nước
ta thời gian qua cho thấy số đối tượng nghiện ma tuý phạm tội cướp giật, trộm cắp, lừa đảo… chiếm tỷ lệ khá cao Trong số những đối tượng nghiện các chất ma tuý,
có một số không nhỏ đã tham gia vào cuộc vận chuyển thuê, bán thuê ma tuý cho các đối tượng buôn bán ma tuý chuyên nghiệp hoặc họ tự tham gia buôn bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý… nhằm thu lợi bất chính vừa có tiền để duy trì việc hút, tiêm chích ma tuý cho bản thân Hoạt động mua bán, tổ chức sử dụng ma tuý trái phép của các đối tượng và sự tập trung của những người nghiện ở một địa bàn sẽ kéo theo những tệ nạn xã hội và những vi phạm pháp luật khác làm bất ổn về
an ninh trật tự tại địa phương đó Thực trạng nói trên đã gây tâm lý hoang mang, lo
sợ và bất bình trong quần chúng nhân dân
1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về xử lý người nghiện ma túy 1.2.1 Giai đoạn trước năm 2002
Ngày 06/7/1995, Pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính lần đầu tiên được ban hành (gọi tắt là Pháp lệnh 1995), thay thế Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989; lần đầu tiên, Pháp lệnh 1995 có quy định việc áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính khác, trong đó có biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh Điều 24 Pháp lệnh 1995 quy định việc đưa vào cơ sở chữa bệnh được áp dụng đối với đối tượng là người nghiện ma túy, người mại dâm có tính chất thường xuyên, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu chữa, giới hạn trong độ tuổi trên 18 và không quá 55 đối với nữ, không quá 60 đối với nam; thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh 1995 là từ 03 tháng đến 12 tháng với mục đích chữa bệnh học tập và lao động Nghị định số 20/CP ngày 13/4/1996 của Chính phủ ban hành quy chế về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh
1995 quy định cụ thể hơn về đối tượng nghiện ma túy bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bao gồm “người nghiện ma túy đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn chưa cai nghiện được; đã được đưa vào Cơ sở chữa bệnh để cai nghiện nhưng vẫn tái nghiện; người nghiên nặng không có khả năng để cai nghiện tại nhà hoặc cai nghiện tại cộng đồng Thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh
Trang 18thuộc người đứng đầu cơ quan quản lý hành chính cấp tỉnh, là chủ tịch ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Về mô hình tổ chức cai nghiện ma túy theo Pháp lệnh 1995, Nghị định số 20/CP của Chính phủ quy định cơ sở chữa bệnh quy định là đơn vị sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, được cấp kinh phí sự nghiệp; được thành lập theo địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Lao động - Thương binh
và xã hội, mỗi tỉnh, thành phố thành lập một cơ sở chữa bệnh Đối với những tỉnh, thành phố có số lượng lớn người nghiện ma túy, người mại dâm thì có thể thành lập một cơ sở chữa bệnh riêng cho người nghiện ma túy và một cơ sở chữa bệnh riêng cho người mại dâm Những địa phương có ít người nghiện ma túy, mại dâm thì có thể gửi những người bị áp dụng biện pháp này ở các cơ sở chữa bệnh của những địa phương khác trên cơ sở thỏa thuận giữa địa phương nơi gửi và nơi nhận Việc thành lập hay giải thể cơ sở chữa bệnh tại địa phương sẽ do ủy ban nhân dân cấp tỉnh thỏa thuận bằng văn bản với Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Cơ sở chữa bệnh theo quy định của Pháp lệnh 1995 và những văn bản hướng dẫn thi hành có chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ cho những người được đưa vào cơ
sở chữa bệnh, tổ chức học tập, giáo dục, dạy nghề; bảo đảm các điều kiện vật chất, sinh hoạt tinh thần cho người được đưa vào cơ sở chữa bệnh theo đúng quy định, tổ chức lao động sản xuất cho người được đưa vào cơ sở chữa bệnh, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức quản lý, chữa bệnh, giáo dục, lao động, dạy nghề
và hướng nghiệp cho người được đưa vào cơ sở chữa bệnh Người được đưa vào cơ
sở chữa bệnh phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước và nội quy của
Cơ sở, chịu sự quản lý, giáo dục của Cơ sở, tuân theo chế độ điều trị, chữa bệnh và lao động do Cơ sở chữa bệnh quy định
Về cơ cấu tổ chức, tuỳ theo quy mô tổ chức và số lượng người được đưa vào
cơ sở chữa bệnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định số lượng các phòng và biên chế cần thiết cho phù hợp với cơ sở chữa bệnh thuộc địa phương mình Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định bổ nhiệm Giám đốc cơ sở chữa bệnh trên cơ sở
đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Phó Giám đốc cơ sở chữa bệnh sẽ do Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội quyết định bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Giám đốc cơ sở chữa bệnh Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thống nhất quản lý Nhà nước đối với các cơ sở chữa bệnh
Về quan hệ phối hợp, khi có tình hình phức tạp về y tế, an ninh trật tự mà cơ
sở chữa bệnh không bảo đảm được thì Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội làm văn bản đề nghị, Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách
Trang 19nhiệm cử cán bộ, chiến sỹ của ngành mình tăng cường, hỗ trợ, phối hợp trong việc bảo đảm an ninh trật tự và chữa bệnh, điều trị tại các cơ sở chữa bệnh Trong thời gian công tác tại cơ sở chữa bệnh các cán bộ, chiến sĩ của ngành Y tế, Công an làm việc theo sự phân công và điều hành của Giám đốc Cơ sở chữa bệnh
1.2.2 Giai đoạn 2002 đến 2012
Trước những thay đổi kinh tế, xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2002 đến 2012 phát triển tương đối nhanh và từng bước hoàn thiện nhằm đáp ứng công cuộc phát triển của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Sau gần
07 năm triển khai thực hiện trong thực tế, Pháp lệnh 1995 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định cần phải được thay thế để phù hợp với hệ thống pháp luật vào thời điểm hiện tại và định hướng của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 Ngày 02/7/2002, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X đã ban hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, thay thế Pháp lệnh 1995 (gọi tắt là Pháp lệnh 2002) Pháp lệnh
2002 tiếp tục quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh tương tự như Pháp lệnh 1995, tuy nhiên có những thay đổi nhất định
Thứ nhất, về diện người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, đã phân rõ diện người nghiện ma túy và mại dâm Theo đó, đối với diện người nghiện
ma túy áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi trở lên đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định Thời hạn đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh 2002 cũng đã phân biệt cụ thể, đối với người nghiện ma túy là từ 12 tháng đến 24 tháng, người bán dâm là từ 03 tháng đến 18 tháng
Thứ hai, về thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh sẽ do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mà không phải là cấp tỉnh như Pháp lệnh 1995
Về cơ cấu tổ chức, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và quản lý cơ
sở chữa bệnh theo địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tổ chức và hoạt động của Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội được quy định tại Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức và hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành
Trang 20niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh, nhiều nội dung giống như Pháp lệnh
1995 và Nghị định số 20/CP
1.2.3 Giai đoạn 2012 đến nay
Thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt
là Hiến pháp năm 2013 nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Theo đó,
hệ thống pháp luật cũng phải thể hiện được đường lối, chủ trương đó
Ngày 20/6/2012, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Xử
lý vi phạm hành chính, đây là đạo luật có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm cụ thể đường lối của Đảng, đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tiến trình hội nhập quốc tế; thể hiện các cam kết của Việt Nam đối với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Việc xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy cũng đã có những cơ bản,
rõ rệt, đã tuân thủ được nguyên tắc hiến định, cụ thể đó là:
Thứ nhất, về tên gọi của biện pháp đã thay đổi từ “đưa vào cơ sở chữa bệnh” thành “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”
Thứ hai, là việc thay đổi cơ quan có thẩm quyền áp dụng từ cơ quan hành chính nhà nước sang tòa án Đây là thay đổi mang tính cách mạng nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, theo đó quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế theo phán quyết có hiệu lực pháp luật của tòa án
1.3 Những khó khăn trong tổ chức cai nghiện
Kết quả hoạt động cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua cũng đã mang lại những hiệu quả nhất định Những số liệu về người nghiện được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh (theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính) và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Luật xử lý vi phạm hành chính) qua từng năm đã nói lên được điều đó Tuy có những khoảng thời gian nhất định khi hệ thống pháp luật liên quan đến việc xử lý hành vi vi phạm cũng như hoạt động cai nghiện chưa kịp hoàn thiện nên việc áp dụng biện pháp cai nghiện gặp khó khăn, nhất là thời điểm sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực cho đến trước khi các văn bản hướng dẫn được ban hành để hướng dẫn thực hiện Tuy nhiên, tổ chức các hoạt động cai nghiện ma túy trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng gặp không ít khó khăn và dẫn đến việc hiệu quả hoạt động của công tác này chưa mang lại hiệu quả
Trang 211.4.1 Khó khăn trong cai nghiện tự nguyện
Bên cạnh những ưu điểm của công tác cai nghiện tự nguyện như giảm bớt kinh phí cho chính quyền địa phương, giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép, góp phần ổn định tình hình trật tự xã hội, người nghiện được phục hồi hành vi, nhân cách và có niềm tin vào cuộc sống Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh
và xã hội, nếu tăng số người cai tự nguyện, chương trình cai nghiện tự nguyện được
mở rộng thì sẽ tiết kiệm cho ngân sách nhà nước số tiền rất lớn
Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre, trong giai đoạn từ năm 2012 đến hết năm 2017, kết quả của hoạt động cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng có những thời điểm chỉ là con số không, do công tác này vẫn tồn tại rất nhiều khó khăn, đó là:
Thứ nhất, trên địa bàn tỉnh chỉ có duy nhất một cơ sở cai nghiện bắt buộc do Nhà nước quản lý, thực hiện chức năng cai nghiện bắt buộc; thực hiện việc cai nghiện cho người tự nguyện đến cơ sở cai nghiện là không nhiều, chỉ một số ít người nghiện có điều kiện về kinh tế vì họ phải trả nhiều chi phí, trong khi phần lớn
họ thuộc gia đình có khó khăn về kinh tế; không có một cơ sở dân lập nào thực hiện công tác cai nghiện tự nguyện
Thứ hai, việc điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone trên địa bàn tỉnh tổ chức được 02 điểm, 01 tại trung tâm thành phố Bến Tre và 01 nằm trong cơ sở cai nghiện và lượng người thực hiện biện pháp điều trị thay thế này cũng không nhiều do xu hướng chuyển từ ma túy “truyền thống” (morphine, heroin) sang ma túy tổng hợp (ma túy đá, thuốc lắc…) hiện nay trên địa bàn tỉnh đã chiếm hơn 70% số người sử dụng trái phép chất ma túy Việc quản lý, kiểm soát người điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone thực hiện chưa hiệu quả Có một thực tế đang tồn tại là ngoài một số
ít người nghiện quyết tâm lựa chọn biện pháp điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone nhằm cố gắng cải thiện tình trạng nghiện của mình để hướng đến việc
có thể thoát khỏi tình trạng nghiện, thì không ít người nghiện lựa chọn biện pháp này như một giải pháp tình thế để thoát khỏi nghiện tạm thời hoặc là giải pháp để không bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc, vì khi họ đang tham gia chương trình điều trị Methadone thì không bị áp dụng biện pháp đưa đi cai bắt buộc, mà thực tế họ đang lợi dụng chương trình này để đồng thời sử dụng trái phép chất ma túy và uống Methadone Và một nhược điểm của chương trình này là đến hiện nay, chưa có một tài liệu hoặc một chứng cứ khoa học nào khẳng định người
Trang 22điều trị thay thế và người nghiện sẽ phải sử dụng suốt đời Bên cạnh đó, sau năm
2015 khi chương trình viện trợ của quốc tế về Methadone bị ngưng thì ngân sách Nhà nước là đảm bảo 100%, đây sẽ là một khó khăn, một gánh nặng cho ngân sách Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Thứ ba, hoạt động cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng thời gian qua cũng không mang lại kết quả, vì hầu hết các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đều không có cơ sở vật chất, cũng như không có nguồn nhân lực, vật lực để thực hiện công tác này Trong khi đang tập trung để triển khai thực hiện Nghị định 94/2010 của Chính phủ về cai nghiện tại gia đình, cộng đồng thì Thông tư liên tịch
số 03/2012 của Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, Bộ Công an, Bộ Y tế quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định số 94/2010 lại ràng buộc thêm một số điều kiện về cơ sở vật chất đối với cơ sở điều trị cắt cơn nghiện tại cộng đồng như
về cơ sở vật chất, thiết bị phải xây dựng thành khu liên hoàn, cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy và tối thiểu phải có 03 phòng chức năng
đó có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của
phòng có đủ mỗi bệnh nhân 01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; Phòng thường trực của cán bộ y tế, bảo vệ Về cán bộ phải có tối thiểu
04 người gồm phụ trách đơn vị điều trị cắt cơn là y, bác sỹ chuyên khoa tâm thần hoặc đa khoa có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy; 01 y, bác sỹ điều trị; 01 điều dưỡng viên; 01 bảo vệ Xuất phát từ quy định trên nên công tác tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng đi vào bế tắt vì hầu như không có địa phương nào có đủ kinh phí cũng như nhân lực để thực hiện
Một khó khăn nữa của công tác này không thể không kể đến đó là những người làm công tác cai nghiện ma túy ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) đều là kiêm nhiệm, chế độ chính sách hầu như không có Hiện chỉ quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội công lập theo quy định tại Nghị định số 26/2016 ngày 06/4/2016 của Chính phủ
1.4.2 Khó khăn trong cai nghiện bắt buộc
Thời gian qua, nhất là từ sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực,
do hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính còn chưa được hoàn thiện, nhất là
Trang 23những văn bản hướng dẫn thi hành và với nhận thức của người thực thi công vụ do chuyển đổi thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chuyển từ cơ quan hành chính Nhà nước sang cơ quan tư pháp là tòa
án nên bước đầu thực hiện công tác này gặp không ít khó khăn Tính từ ngày 01/01/2014 đến tháng 11/2016, trên địa bàn tỉnh không lập được hồ sơ nào để đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Tuy nhiên, sau khi học tập kinh nghiệm của các địa phương thực hiện hiệu quả công tác này trước đó như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước; và với sự lãnh đạo, vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở công tác này đã được từng bước tháo gỡ Ngày 16/3/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá 01 năm thực hiện công tác lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Qua rà soát, thống kê, toàn tỉnh đã lập hồ sơ quản lý 2.707 người nghiện và sử dụng ma túy (tăng 604 người so với cuối năm 2016); trong đó, có 1.090 người nghiện, 1.617 người
sử dụng Số người nghiện chủ yếu ngoài xã hội với hơn 2 ngàn người, trong trại giam
và nhà tạm giữ là 179 người, cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy là 184 người; loại ma túy sử dụng đa số là ma túy tổng hợp, hầu hết người nghiện đều có tiền án, tiền sự; số người có việc làm là 554 người/2.707 người nghiện và người sử dụng ma túy Từ tháng 11-2016 đến cuối năm 2017, các huyện, thành phố đã áp dụng các biện pháp xử lý đối với người nghiện ma túy như: Xử lý hành chính giáo dục tại
xã, phường, thị trấn; cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng; điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy và cai nghiện bắt buộc Đối với hình thức cai nghiện bắt buộc, sau một năm áp dụng Nghị định số 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP), các huyện, thành phố đã lập hồ sơ đề nghị tòa án nhân dân cấp huyện xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc cho 226 người, đạt 20,7% (chỉ tiêu là 15%) Về phương hướng thực hiện công tác này trong năm 2018 với các chỉ tiêu: 100% người nghiện ma túy trên địa bàn được lập hồ sơ quản lý, 73% người nghiện ma túy ngoài xã hội được tổ chức cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy; 20% người nghiện ma túy ngoài xã hội được điều trị thay thế bằng Methadone, 7% người nghiện ma túy ngoài xã hội được đưa đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy; 100% người sau cai nghiện
ma túy tiếp tục được tiếp tục quản lý, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng
Tuy đạt được một số kết quả về công tác lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc, nhưng công tác lập hồ sơ đưa người vào cơ sở cai nghiện
Trang 24bắt buộc theo Luật xử lý vi phạm hành chính vẫn còn tồn tại một số khó khăn như sau:
Thứ nhất, về đối tượng bị áp dụng biện pháp này là người nghiện ma túy từ
đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định Về quy định trên có 02 vấn
đề đặt ra mà người viết nhận thấy cần phải thảo luận để làm rõ thêm, đó là về vấn
đề nơi cư trú và việc giao cho tổ chức xã hội quản lý (đối với người không có nơi
cư trú ổn định) của người bị đề nghị áp dụng biện pháp này Nếu như nơi cư trú ổn định được xác định là nơi đối tượng thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống hoặc phần lớn thời gian sinh sống thì không có nơi cư trú ổn định được xem là trường hợp không xác định được nơi đăng
ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm và người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định hoặc trường hợp xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm nhưng người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định Vấn đề đặt ra là, không có một con người nào khi sinh ra mà không có một nơi để đăng ký thường trú hoặc tạm trú, nhất là trong trường hợp khi Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành
đã mở rộng và tạo điều kiện rất thuận lợi cho tất cả mọi công dân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được tự do đi lại và sinh hoạt trong khuôn khổ của pháp luật; và phạm vi cư trú không ổn định được đánh giá như thế nào, phạm vi xã, phường, thị trấn hay huyện, tỉnh Quy định về “không có nơi cư trú ổn định” vô hình chung đã tạo ra một khẽ hỡ của pháp luật mà những người thực thi công vụ có thể lợi dụng để
“hợp thức hóa hồ sơ” nhằm làm “trong sạch địa bàn”, tạo cơ hội “thu gom” người nghiện đưa vào các trung tâm, cơ sở cai nghiện để “dễ quản lý” Những vụ học viên
ở các cơ sở cai nghiện như Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Long và ngay cả Bến Tre trong thời gian vừa qua có những hành vi quậy phá, gây mất an ninh, trật
tự, bỏ trốn ở các cơ sở cai nghiện cũng có một phần lý do nêu trên Vì khi tập trung
“thu gom” người nghiện đưa vào các cơ sở cai nghiện sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, cộng với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, quy trình cai nghiện thuần túy là bắt buộc dễ dẫn đến tình trạng “ngột ngạt”, “bức bách” của học viên Và một vấn đề nữa là khi xác định một người “không có nơi cư trú ổn định” thì người đó sẽ bị lập
hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không qua giai đoạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, từ khi bắt đầu lập hồ sơ đến khi có phán quyết của tòa
án có hiệu lực để đưa họ vào các cơ sở cai nghiện, thì theo quyết định hành chính
Trang 25của cơ quan hành chính chính Nhà nước - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn - người đó sẽ được giao cho các tổ chức xã hội quản lý Với điều kiện đặc thù như Bến Tre không có một tổ chức xã hội nào nên họ được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc - khu quản lý đối tượng xã hội để quản lý Điều này, hoàn toàn không phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện trong thời gian qua; cũng hoàn toàn không phù hợp với Hiến pháp 2013 với tinh thần không ai bị hạn chế quyền công dân, quyền tự
do đi lại khi chưa có phán quyết có hiệu lực của tòa án
Thứ hai, một trong những khó khăn trong hiện nay khi áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đó là việc xác định tình trạng nghiện của họ Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định việc áp dụng biện pháp này chỉ được thực hiện đối với người sử dụng trái phép chất ma túy và bị nghiện; và để xác định tình trạng nghiện của họ, cơ quan duy nhất thực hiện công việc trên là cơ quan y tế, người thực hiện là người có thẩm quyền, đã được đào tạo và cấp chứng chỉ chuyên môn Tuy rằng Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2015 quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện cũng đã gặp khó khăn với một số nội dung của văn bản này Đó là, thiếu hẳn một quy định làm thế nào để đưa một người đến các cơ sở y tế để thực hiện việc xác định tình trạng nghiện, vì họ không thuộc trường hợp bị tạm giữ theo thủ tục hành chính và hoàn toàn không nằm trong quy định phải bị áp giải; và đối với họ, việc tự nguyện đến các cơ sở y tế để xác định tình trạng nghiện là điều không thể, đặc biệt đối với những người sử dụng trái phép các chất ma túy tổng hợp, có biểu hiện phê thuốc, “ngáo đá” Để khắc phục tình trạng trên, trong thực tế khi phát hiện họ sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan Công an thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để đưa họ đến cơ sở y tế và tại đây họ đươc người có thẩm quyền của cơ quan y tế thực hiện các công đoạn xác định tình trạng nghiện – hoạt động trong giai đoạn này của cơ quan Công an không tuân thủ theo một quy trình pháp luật nào và việc giải quyết hậu quả pháp lý nếu như có sự
cố xảy ra cũng chưa được đề cập đến để làm rõ Một vấn đề thứ hai trong quy trình xác định tình trạng nghiện là việc để một người nghiện có các biểu hiện của trạng thái cai thì cần phải có thời gian tối đa là 3 hoặc 5 ngày, tùy theo loại ma túy sử dụng là nhóm thuốc phiện hoặc nhóm ma túy tổng hợp Như vậy, nếu trong thời gian ngắn nhất mà họ không có đầy đủ các biểu hiện của trạng thái cai mà cơ quan y
Trang 26tế không thể kết luận về tình trạng nghiện của họ thì làm sao để lưu giữ họ lại tại trụ
sở của cơ quan y tế, vấn đề này cũng cần phải được quy định rõ
Thứ ba, việc đọc và sao chép hồ sơ của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Theo quy định hiện hành, sau khi hồ sơ được lập, người bị đề nghị áp dụng biện pháp này được thông báo về việc lâp hồ sơ và được quyền đọc, ghi chép hồ sơ Đây là quy định tạo ra rất nhiều khó khăn trong thực tiễn khi triển khai thực hiện vì tâm lý của người nghiện khi biết mình sắp bị áp dụng biện pháp đưa đi cai bắt buộc đa phần bỏ trốn, không hợp tác; mà các tổ chức được giao quản lý những người này trong thời gian lập hồ sơ như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh thì lại không có chuyên môn cộng với tâm lý e ngại nên rất khó để quản lý được họ
Thứ tư, thời gian lập hồ sơ dài và phải trải qua nhiều công đoạn của các cơ quan khác nhau Công an cơ sở phát hiện hành vi vi phạm, đề xuất lập hồ sơ, Công
an cấp huyện thẩm định, hoàn chỉnh hồ sơ sau đó chuyển sang Phòng Tư pháp để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, hồ sơ sau đó tiếp tục được chuyển sang Phòng Lao động - Thương binh và xã hội để chuyển sang Tòa án Nếu thực hiện theo đúng quy trình, thời gian đưa ra được quyết định đưa người đi cai nghiện nhanh nhất là hơn
30 ngày Trong thời gian chờ có quyết định, người nghiện có hộ khẩu thường trú tại địa phương sẽ được gửi về gia đình quản lý, những người không rõ nơi cư trú phải đưa đến các cơ sở xã hội quản lý Tuy nhiên, tại địa phương chưa có nhà lưu giữ, không có cán bộ chuyên môn để xử lý cắt cơn nghiện nên việc quản lý, lưu giữ đối tượng rất khó
Ngoài ra, tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với
người nghiện không có nơi cư trú ổn định “tài liệu chứng minh người đó đã bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy” Quy
định như vậy là không thể thực hiện, vì người không có nơi cư trú ổn định không thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Mặc dù, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của chính phủ quy định chế độ
áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không quy định nội dung này nhưng theo quy định Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, tại Khoản 1 Điều
8 quy định “Khi nhận được hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, Tòa án
phải vào sổ giao nhận; trường hợp hồ sơ không đủ tài liệu theo quy định tại khoản
Trang 272 Điều 100, khoản 2 Điều 102 hoặc khoản 2 Điều 104 của Luật XLVPHC thì Tòa
án trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do.”
Thứ năm, cơ sở vật chất của cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện đã xuống cấp và quan trọng nhất là tình trạng quá tải, nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, quá tải, chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về điều trị nghiện trong tình hình mới, nhất
là hạng mục nhà ở và trang thiết bị vệ sinh phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho học viên, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu học viên đang quản lý Cũng tại Hội nghị sơ kết công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 16/3/2018, lãnh đạo UBND tỉnh đã chỉ đạo tạm ngừng tiếp nhận người vào cơ sở với lý do cơ sở đã quá tải, không thể tiếp nhận thêm vào người điều trị Khó khăn này cũng là khó khăn chung của các cơ sở cai nghiện bắt buộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và trên cả nước, vì tình trạng quá tải dễ dẫn đến tình trạng học viên gây rối, đập phá các cơ sở trong thời gian vừa qua như ở Đồng Nai,
Bà Rịa - Vũng Tàu
Thứ sáu, về hiệu quả cai nghiện ma túy Hiện nay, việc điều trị nghiện ma túy thực hiện theo phát đồ điều trị của Bộ Y tế Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động cai nghiện phụ thuộc nhiều yếu tố và phương pháp như việc kết hợp giữa cai nghiện với hoạt động đào tạo nghề, giáo dục, phục hồi nhân cách, tâm lý, giải trí… thời gian qua vẫn chưa thực hiện được; tỉ lệ tái nghiện sau cai nghiện vẫn chiếm tỉ lệ cao
1.5 Các tiêu chí của một hệ thống cai nghiện ma túy hiệu quả
Cũng như một số quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang phải cố gắng để tìm
ra một biện pháp hiệu quả trong công tác điều trị nghiện ma túy sau một khoảng thời gian rất dài công tác điều trị nghiện mà chưa mang lại một kết quả như mong muốn Việc lựa chọn và áp dụng biện pháp nào phụ thuộc vào quan điểm nhìn nhận
về hành vi sử dụng ma túy và nghiện ma túy Việc cho rằng để chữa trị, cai nghiện, giải pháp đơn giản là tách người nghiện ra khỏi môi trường có ma túy một thời gian
họ sẽ hết nghiện, dẫn đến việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở khép kín Bằng việc cách ly khỏi cộng đồng, mô hình điều trị nghiện bắt buộc được nhìn nhận là góp phần đảm bảo trật tự xã hội và làm giảm tội phạm liên quan đến ma túy Tuy nhiên mô hình cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở khép kín này có nhiều hạn chế như tỉ lệ tái nghiện cao (trên 90%), tốn kém, không đảm bảo các dịch vụ y tế, xã hội, thiếu các dịch vụ hỗ trợ xã hội khác như vấn đề học nghề, tìm việc làm v v Làm
cơ lây truyền HIV, viêm gan, lao tại các Trung tâm và tại cả cộng đồng
Trang 28Với các tiến bộ về dược học và hiểu biết khoa học về điều trị nghiện ma túy, chính sách cai nghiện ma túy chuyển dần theo hướng từ cai nghiện bắt buộc tập trung sang tiếp cận giảm hại và dựa vào cộng đồng Việc điều trị bao gồm hỗ trợ tâm lý, xã hội và điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Những nước áp dụng mô hình can thiệp giảm hại sớm thường mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc ngăn chặn sự lây lan của HIV/AIDS, giảm tội phạm
Như vậy, việc điều trị nghiện tại cộng đồng mang lại lợi ích to lớn cho cả bản thân người nghiện, gia đình và cộng đồng trên các khía cạnh như bảo vệ được sức khỏe người nghiện, phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm; tiết kiệm chi phí; tăng
cơ hội việc làm cho người nghiện, giảm tỉ lệ tội phạm
Theo Đề án của Bộ Lao động – Thương binh xã Xã hội về đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 có đề cập đến 9 nguyên tắc trong điều trị nghiện ma túy của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Cơ quan phòng chống ma
- Tính sẵn có và dễ tiếp cận của chương trình điều trị: Các dịch vụ điều trị cần sẵn có, dễ tiếp cận với chi phí hợp lý và dựa vào bằng chứng để cung cấp các dịch vụ chất lượng phù hợp cho mọi người cần hỗ trợ;
- Sàng lọc, đánh giá, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị: Đánh giá toàn diện, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị cho từng cá nhân thông qua việc đáp ứng các nhu cầu cụ thể của từng bệnh nhân, giúp bệnh nhân tham gia chủ động vào quá trình điều trị;
- Điều trị dựa trên bằng chứng: Những bài học thành công và những kiến thức khoa học về điều trị lệ thuộc ma túy cần được áp dụng trong các can thiệp;
- Đảm bảo quyền con người và phẩm hạnh của bệnh nhân: Các can thiệp điều trị cần tuân theo các quy định về quyền con người, dựa trên cơ sở tự nguyện và
cung cấp các dịch vụ y tế và sức khoẻ tốt nhất;
- Tập trung vào các nhóm đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt: Nhiều nhóm cần sự chú ý đặc biệt như nhóm người chưa thành niên, phụ nữ (gồm phụ nữ có thai), người đang mắc các rối loạn đồng diễn (tâm trí hoặc thể chất), người bán dâm, người dân tộc thiểu số và người vô gia cư;
- Điều trị lệ thuộc và hệ thống tư pháp: Sự lệ thuộc ma tuý cần được xem như một vấn đề sức khỏe và những người lệ thuộc ma tuý cần được điều trị trong hệ
4 UNOC & WHO, 2008, Nguyên tắc điều trị lệ thuộc ma túy
Trang 29thống y tế thay vì hệ thống tư pháp, trong đó điều trị tại cộng đồng nên thay thế cho hình thức bắt buộc tập trung;
- Sự tham gia của cộng đồng và định hướng bệnh nhân: Các đáp ứng dựa vào cộng đồng đối với lạm dụng và lệ thuộc vào ma túy có thể khuyến khích sự thay đổi
ở cộng đồng, sự tham gia tích cực của các bên liên quan và hỗ trợ cho các mô hình tài trợ cộng đồng;
- Quản lý (lâm sàng) các dịch vụ điều trị: Các dịch vụ điều trị cần xác định rõ các chính sách, hướng dẫn điều trị, các chương trình, các qui trình, xác định vai trò
và trách nhiệm chuyên môn, giám sát và các nguồn lực tài chính;
- Hệ thống điều trị - phát triển chính sách, kế hoạch chiến lược và điều phối các dịch vụ: Cần thiết phải có một hệ thống chính sách ở cấp cao đối với vấn đề rối loạn sử dụng chất cho các cá nhân có nhu cầu điều trị, cũng như một trình tự hợp lý
và từng bước để kết nối giữa chính sách với việc lập kế hoạch điều trị và triển khai, giám sát và đánh giá
WHO cũng đồng thời khuyến nghị một chương trình điều trị hiệu quả là chương trình giảm cung, giảm cầu ma túy, kiểm soát được cơn thèm nhớ ma túy, phục hồi được các mối quan hệ với gia đình và xã hội, tăng cơ hội việc làm, giảm bệnh tật (Lao, HIV) và giảm tử vong, giảm các đe dọa tới sức khỏe cộng đồng Điều trị tại cộng đồng là biện pháp cần được ưu tiên và nhấn mạnh tới việc tôn trọng quyền được chăm sóc sức khoẻ của mỗi cá nhân để đảm bảo quá trình điều trị có
hiệu quả với chi phí hợp lý và đảm bảo quyền con người, đáp ứng được các nhu cầu
đa dạng về y tế và xã hội của người nghiện ma túy tại cộng đồng sẽ khuyến khích người nghiện tự nguyện điều trị Điều trị và phục hồi phải đi kèm các hoạt động sinh kế để đảm bảo rằng người nghiện có thể tự đảm bảo được cuộc sống và giảm nguy cơ tái nghiện Chất lượng, hoạt động và hiệu quả là những nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách hàng của các chương trình điều trị nghiện ma túy Chất lượng điều trị được cấu thành bởi nhiều yếu tố như hạ tầng, có đủ số cán bộ có trình độ và kỹ năng, có các qui định rõ ràng về thuốc điều trị, sự đa dạng các phương pháp điều trị, sự thân thiện với khách hàng5
5 UNODC, 2010, Từ bắt buộc đến nhất quán – điều trị lệ thuộc ma túy bằng chăm sóc sức khỏe chứ không trừng phạt
Trang 30Cũng theo Đề án của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, ngoài các khuyến cáo của WHO và UNODC, Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về lạm dụng
và nghiện ma túy cũng cho rằng điều trị có thể giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng, tránh tái nghiện, và phục hồi thành công, và đưa ra các nguyên tắc điều trị nghiện ma túy hiệu quả như sau:
- Nghiện ma túy là bệnh phức tạp ảnh hưởng đến các chức năng của não và đến hành vi nhưng là bệnh có thể chữa được;
- Không có biện pháp điều trị nào phù hợp với tất cả mọi người, cần đa dạng các phương pháp điều trị;
- Đảm bảo người bệnh sẵn sàng điều trị;
- Điều trị hiệu quả phải chú ý đến nhu cầu đa dạng của người bệnh, không phải chỉ có vấn đề nghiện ma túy;
- Tuân thủ điều trị trong một thời gian đủ dài có vai trò quan trọng;
- Tham vấn cá nhân hoặc tham vấn nhóm và các liệu pháp hành vi khác là những hình thức điều trị nghiện ma túy phổ biến nhất;
- Thuốc hỗ trợ là thành phần quan trọng đối với nhiều người, đặc biệt là khi phối hợp với tham vấn và các liệu pháp hành vi;
- Việc điều trị cho một cá nhân và kế hoạch dịch vụ cần được đánh giá và sửa đổi thường xuyên để đảm bảo rằng nó đáp ứng với sự thay đổi nhu cầu của người bệnh;
- Nhiều người nghiện ma túy có cả các rối loạn tâm thần khác;
- Hỗ trợ cắt cơn bằng thuốc chỉ là giai đoạn đầu tiên của quá trình điều trị nghiện ma túy và nó có vai trò rất nhỏ để thay đổi việc lạm dụng ma túy về lâu dài;
- Việc điều trị hiệu quả không nhất thiết phải là tự nguyện;
- Cần giám sát việc sử dụng ma túy trong quá trình điều trị vì tái nghiện thường xảy ra trong quá trình điều trị;
- Các chương trình điều trị cần đánh giá tình trạng HIV/AIDS, viêm gan B
và C, lao và các bệnh nhiễm khuẩn khác, đồng thời cung cấp dịch vụ tham vấn giảm nguy cơ để giúp người bệnh điều chỉnh hoặc thay đổi hành vi giúp họ dự phòng lây truyền bệnh
Tiểu kết luận Chương 1
Những tác hại của tình trạng nghiện do sử dụng trái phép các chất ma túy gây ra không chỉ đối với sức khỏe, kinh tế, việc làm của bản thân người nghiện, gia đình họ mà còn đối với các vấn đề kinh tế - xã hội khác, đáng quan tâm nhất đó là những ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội do nhu cầu thõa mãn cơn nghiện, do
Trang 31rối loạn hành vi từ việc sử dụng trái phép các chất ma túy gây ra Nhu cầu kiểm soát tình trạng nghiện, một biện pháp điều trị nghiện hiệu quả là vấn đề đã được quan tâm nhưng chưa có một giải pháp hiệu quả để thực hiện Mô hình cai nghiện mang tính “cưỡng bức”, cơ sở cai nghiện tập trung như “nhà tù”, người nghiện như “phạm nhân”, công tác quản lý máy móc, hành chính, các biện pháp điều trị chưa mang lại kết quả rõ ràng
Cần thay đổi quan điểm, định kiến, tư duy nhìn nhận và đánh giá người nghiện, phải xem đó là một dạng bệnh của não bộ và cần phải được điều trị bằng liệu pháp y học kết hợp biện pháp tâm lý và các biện pháp phù hợp khác; phải thay đổi tư duy cách xử lý đối với tình trạng nghiện của họ, nên là một biện pháp tự nguyện hơn là cưỡng bức bởi các biện pháp hành chính hoặc thông qua việc xét xử của Tòa án Để thực hiện được yêu cầu trên, cần đổi mới mô hình cai nghiện hiện tại; khuyến khích, mở rộng, thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân tham gia vào hoạt động cai nghiện ma túy, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động cai nghiện là một trong các biện pháp cần được thực hiện trong thời gian tới
Trang 32Chương 2: XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CAI NGHIỆN TẠI
BẾN TRE DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ - LUẬT
2.1 Nhà nước tham gia vào hoạt động cai nghiện ma túy
2.1.1 Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể bảo đảm an ninh trật tự cho xã hội
Trong các hoạt động cai nghiện, từ cai nghiện tự nguyện đến cai nghiện bắt buộc Nhà nước đều thể hiện sự tham gia của mình với tư cách là chủ thể bảo đảm
an ninh trật tự cho các hoạt động cai nghiện cũng như bảo đảm an ninh trật tự cho
xã hội nói chung Thông qua các cơ quan nhà nước được giao quản lý trong từng lĩnh vực, Nhà nước thể hiện vai trò bảo đảm an ninh trật tự của mình
Đối với hoạt động cai nghiện tự nguyện, Nhà nước thể hiện rõ nét nhất vai trò của mình trong bảo đảm an ninh trật tự là thông qua lực lượng Công an các cấp Lực lượng Công an cơ sở được giao nhiệm vụ chính trong phát hiện các hành vi liên quan đến ma túy như sử dụng, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy và trực tiếp lập hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính hoặc đề nghị khởi tố xử lý hình sự cũng như phối hợp với các ban, ngành tham mưu cho UBND cùng cấp lập
hồ sơ cai nghiện tự nguyện; và cũng tham gia với các ngành, đoàn thể tại địa phương thông qua Tổ Công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã trong phối hợp giám sát, quản lý người nghiện tại cộng đồng dân cư
Công an cơ sở đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự tại các điểm cắt cơn, giải độc được thành lập trên địa bàn cấp xã Các ban, ngành, đoàn thể xã như Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể cũng có trách nhiệm phối hợp với lực lượng Công an trong cung cấp các thông tin có liên quan đến tình hình an ninh, trật tự do người nghiện gây ra trong quá trình tổ chức các hoạt động cai nghiện và các hoạt động khác có liên quan tại địa phương
Đối với hoạt động cai nghiện bắt buộc, công tác bảo đảm an ninh trật tự đã được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật Tại Nghị định số
221/2013/NĐ-CP đã quy định “Khi có vấn đề phức tạp về y tế, an ninh trật tự phát
sinh tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
có văn bản đề nghị Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Công an cấp tỉnh cử cán bộ hỗ trợ
cơ sở cai nghiện bắt buộc để xử lý, giải quyết Trường hợp cơ quan được đề nghị không cử cán bộ hỗ trợ, thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Cán bộ được
cử hỗ trợ cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự chỉ đạo và phân công của Giám đốc cơ
Trang 33sở cai nghiện bắt buộc”( 6 ); và Nghị định cũng đã quy định trách nhiệm của cơ quan
Công an là đảm bảo an ninh trật tự của các cơ sở cai nghiện, tổ chức đào tạo, hướng dẫn việc sử dụng công cụ hỗ trợ và nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ của các cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trong thời gian qua, đứng trước tình hình ở một số cơ sở cai nghiện của một
số địa phương đã xảy ra tình trạng học viên đập phá cơ sở, bỏ trốn, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, ngày 07/11/2016 Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 1995/CĐ-TTg về việc tăng cường công tác quản lý, cai nghiện trong các cơ
sở cai nghiện ma túy; trong đó:
Giao Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội tăng cường, bảo đảm an ninh trật tự tại các khu vực có cơ sở cai nghiện ma túy; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật Những hành vi này có thể xảy
ra trong các cơ sở cai nghiện như sử dụng trái phép các chất ma túy, gây rối trật tự, đánh nhau, cố ý làm hư hỏng hoặc hủy hoại tài sản; và một số hành vi khác xảy ra bên ngoài cơ sở nhưng có liên quan như hành vi thẩm thấu ma túy từ bên ngoài vào
Đối với đối tượng trong giai đoạn cắt cơn, phục hồi hoặc đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện nếu có hành vi xâm phạm tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ và gửi trưởng Công an cấp huyện nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở để đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Trong trường hợp này, Công an cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với cơ sở cai nghiện bắt buộc trong việc xử lý hành vi vi phạm của đối tượng nghiện và hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị Phòng tư pháp cùng cấp kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ để đề nghị tòa án nhân dân cùng cấp quyết
Tuy nhiên, thực tế hiện nay là khi các cơ sở cai nghiện đều rơi vào tình trạng quá tải, đã và khả năng xảy ra những tình huống bất ổn về an ninh trật tự ở bên trong cơ sở, từ đó đặt ra vấn đề công tác quản lý Một tâm lý chung là muốn có một biện pháp quản lý mạnh, mang tính “trấn áp”, răn đe; từ đó dẫn đến một đòi hỏi sự vào cuộc của lực lượng Công an vào “bên trong cơ sở cai nghiện”- mà điều đó là hoàn toàn không đúng quy định, vì hoạt động cai nghiện thuần túy là hoạt động dân
sự nên việc đảm bảo an ninh, trật tự ở bên trong các cơ sở cai nghiện sẽ do cơ sở tự
(6) Điều 35, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP