1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sinh kế của người dân, bị thu hồi đất thuộc khu d, khu đô thị cửa ngõ đông bắc, phường tân thành, thành phố cà mau, tỉnh cà mau

88 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, nghiên cứu này đã sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững,do Cơ quan phát triển quốc tế Anh,Department for International Development – DFID đưa ra để phân tích, đánh giá thực t

Trang 1

TRẦN HẢI ĐĂNG

KHU D, KHU ĐÔ THỊ CỬA NGÕ ĐÔNG BẮC, PHƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2

TRẦN HẢI ĐĂNG

“ Chuyên ngành : Quản lý công ”

“ Mã số ” : 8340403 ”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

“ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: ”

“ PGS.TS TRẦN TIẾN KHAI ”

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 3

“Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Tiến Khai.”

“Các nội dung trích dẫn, số liệu sử dụng trong luận văn đều có dẫn nguồn cụ thể và được trích từ các văn bản chính thức của các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực sinh kế, số liệu được thu thập thực tế trên địa bàn nghiên cứu

và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.”

“Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.”

“ Học viên thực hiện ”

Trần Hải Đăng

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

SUMMARY OF RESEARCH

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng, và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 5

2.1 Khái niệm nghiên cứu 5

2.1.1 Bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 5

2.1.2 Khái niệm sinh kế 5

2.1.3 Khái niệm sinh kế bền vững 5

2.1.4 Khái niệm tái định cư 6

2.2 Các cơ sở lý thuyết 6

2.2.1 Khung phân tích sinh kế bền vững DFID 6

2.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE 9

2.2.3 Khung chính sách của ADB 10

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 13

2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu 19

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Quy trình nghiên cứu 21

3.2 Điều tra thu thập số liệu 22

Trang 5

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 25

4.2 Kế hoạch thực hiện công tác giải phóng mặt bằng 27

4.2.1 Triển khai kế hoạch đo đạc, kiểm điếm 27

4.2.2 Công tác lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường 28

4.3 Bối cảnh dễ bị tổn thương 29

4.4 Đánh giá các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 32

4.4.1 Nguồn vốn con người 32

4.4.2 Nguồn vốn tự nhiên 40

4.4.3 Nguồn vốn vật chất 41

4.4.4 Nguồn vốn tài chính 44

4.4.5 Nguồn vốn xã hội 48

4.5 Chiến lược sinh kế của các hộ gia đình 50

4.6 Kết quả sinh kế 52

4.7 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của Nhà nước đối với dự án 54

4.7.1 Những mặt thuận lợi 54

4.7.2 Những mặt khó khăn 54

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Hàm ý chính sách 58

5.3 Hạn chế nghiên cứu 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

STT Tên viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

01 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu

Á

02 CARE Cooperative for American

Remittances to Europe

Tổ chức nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế

International Development

Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh

05 TC/CĐ Intermediate college Trung cấp/Cao đẳng

Trang 7

Bảng 4.2 Tình hình thu hồi đất dự án Khu D 30

Bảng 4.3 Phân tích trình độ học vấn của chủ hộ gia đình theo độ tuổi 35

Bảng 4.4 Thống kê lực lượng lao động của hộ gia đình 36

Bảng 4.5 Thống kê nhóm lao động trong hộ gia đình 37

Bảng 4.6 Thống kê diện tích đất của hộ gia đình 40

Bảng 4.7 Thống kê diện tích nhà ở của hộ gia đình 41

Bảng 4.8 Thống kê đánh giá điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội của hộ gia đình 44 Bảng 4.9 Thống kê mức thu nhập của hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất 53

Trang 8

Hình 2.2 Sinh kế bền vững của CARE 10

Hình 4.1 Vị trí khu vực nghiên cứu của đề tài 27

Hình 4.2 Tỷ lệ kết quả bồi thường, giải phóng mặt bằng 31

Hình 4.3 Kết quả khảo sát giới tính chủ hộ gia đình 32

Hình 4.4 Kết quả khảo sát độ tuổi của chủ hộ gia đình 33

Hình 4.5 Kết quả khảo sát trình độ học vấn của chủ hộ gia đình 34

Hình 4.6 Kết quả khảo sát quy mô của hộ gia đình 35

Hình 4.7 Kết quả khảo sát tình hình sức khoẻ của hộ gia đình 38

Hình 4.8 Kết quả khảo sát tình hình việc làm của hộ gia đình 39

Hình 4.9 Kết quả đánh giá chất lượng cơ sở hạ tầng của hộ gia đình 43

Hình 4.10 Tình hình nguồn lực tài chính của hộ gia đình 45

Hình 4.11 Tình hình vay vốn của hộ gia đình 45

Hình 4.12 Số lượng hộ gia đình sử dụng tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng 46

Hình 4.13 Thống kê tình hình tham gia tổ chức xã hội của hộ gia đình 48

Hình 4.14 Mối quan hệ giữa các hộ gia đình với nhau 49

Trang 9

kinh tế, xã hội đã và đang là xu thế của quá trình phát triển đất nước Trong quá trình đó, người dân bị mất đất sản xuất, phải chuyển đổi nghề nghiệp và sinh kế cũng thay đổi Theo đó, nghiên cứu này đã sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững,do Cơ quan phát triển quốc tế Anh,(Department for International Development – DFID) đưa ra để phân tích, đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế,của người dân bị thu hồi đất trong vùng thực hiện dự án khu

D, khu đô thị cửa ngõ,Đông Bắc, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.”

“Từ kết quả khảo sát, tổng hợp, phân tích cho thấy có sự thay đổi lớn về,tài sản sinh kế,của các hộ gia đình, chiến lược sinh kế đa dạng, đời sống của họ ngày càng thay đổi theo,hướng cải thiện tốt hơn,so với trước khi bị thu hồi đất Vấn đề quan trọng là, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được triển khai thực hiện khá tốt, kịp thời và đầy đủ, từ đó,góp phần cải thiện,được đời sống của các hộ gia đình có đất bị thu hồi.”

“Tuy nhiên, bên cạnh đó,cũng còn một số hộ gia đình gặp khó khăn,sau khi

bị thu hồi đất, các hộ này,thuộc diện không có đất,mà chỉ ở tạm trên đất người khác, thuê mướn để canh tác hoặc sở hữu,diện tích đất quá ít, do đó sau khi bị thu hồi,chỉ nhận được phần hỗ trợ từ chính sách,hỗ trợ bồi thường của Nhà nước Trong khi, dự

án chưa bố trí được quỹ đất khu tái định cư khi thu hồi đất của các hộ dân Do đó, đời sống kinh tế của các hộ gia đình này là khá khó khăn sau khi bị thu hồi đất Việc tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp đối với các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất cũng tương đối khó khăn, do chủ yếu lao động phổ thông, chưa qua đào tạo.”

“Trên cơ sở phân tích đã nêu, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp cần điều chỉnh, bổ sung nhằm góp phần hạn chế những tác động tiêu cực, hỗ trợ khôi phục sinh kế giúp người dân sớm ổn định đời sống, xây dựng chiến lược sinh kế,ngày càng bền vững hơn trong tương lai.”

Trang 10

economic and social development has been a trend in the country’s developing process In this case, people have lost their productive land, so they have to change their careers, their ways to earn their livings Accordingly, this study used the analytical framework for sustainable livelihoods by the Agency for International Development UK (Department for International Development - DFID) launched to analyze, assess the situation, factors affecting the livelihood of people whose land is recalled in the project in D area, urban gateway to the Northeast, Ca Mau city, Ca Mau province

From the survey results, synthesis and analysis, it can be seen that there is a great change in the livelihood assets of households with diversified livelihood strategies, their life increasingly changing towards better improvement than before the land acquisition The important issue is the policy of compensation and site clearance has been implemented quite well, promptly and fully, thereby contributing to improving the living standard of the household whose land has been acquired

However, there are also some households having difficulty after land acquisition, these households do not really have their own land but only temporarily live on the land of others which they hire to cultivate; or they possess too little land

As a result, after land acquisition they only get a little support from support policies

of the State compensation While projects can not arrange land resettlement areas for the households whose have land acquisition Therefore, their living is quite difficult after land acquisition How to find a proper job or change suitable careers for these households after land acquisition is relatively difficult, mainly due to their unskilled, untrained experience

Trang 11

more sustainable livelihood strategies in the future

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

1.1 Đặt vấn đề

“Thành phố Cà Mau là trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội của tỉnh Thành phố Cà Mau cách thành phố Hồ Chí Minh 349 km, cách thủ đô Hà Nội 2.085 km Với dân số khoảng 181.000 người, được chia làm 10 phường và 7 xã Trong đó có hơn 300 hộ người Khmer và 400 hộ người Hoa sinh sống chủ yếu ở thành thị, cùng với người Kinh, những cộng đồng dân tộc này đã tạo

ra cho Cà Mau một bản sắc văn hoá hết sức riêng biệt Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước, thành phố Cà Mau đóng vai trò là một trong những hạt nhân trọng điểm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh và đồng thời là cầu nối quan trọng đến các vùng kinh tế lân cận như Bạc Liêu, SócTrăng, Kiên Giang, … ”

“Hiện nay, trong tình hình điều kiện kinh tế, nguồn vốn còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh Cà Mau đã tập trung nhiều nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng tại các địa phương trên địa bàn Tỉnh Đồng thời, đa dạng hóa nhiều nguồn vốn, kêu gọi nhiều nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, trong đó có đầu tư khu đô thị mới nhà ở thương mại An Sinh thuộc khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau từ đầu năm 2018 Dự án đầu tư này có, quy

mô thực hiện là 80,56 ha, tổng số cá nhân, hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án là

452 hộ, 01 tổ chức, đa phần là đất nông nghiệp, với nghề nghiệp chủ yếu là nuôi trồng thuỷ sản Việc thu hồi đất và di dời một bộ phận người dân sang khu vực mới sinh sống nhằm thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại An Sinh đã tác động đến sinh kế của người dân, thực hiện cơ chế bồi thường theo giá thị trường để người dân có điều kiện cuộc sống được tốt hơn Tuy nhiên, sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất chưa đầy đủ, chưa phù hợp với điều kiện của từng nhóm đối tượng cụ thể, các chính sách giải phóng mặt bằng của địa phương đa phần đều được quy đổi sang tiền mặt mà ít quan tâm

Trang 13

đến các giải pháp khác vô tình đẩy những người dân vào hoàn cảnh không còn đất sản xuất, tạo kế sinh nhai duy trì cuộc sống ổn định.”

“Do đó, một yêu cầu cơ bản của thu hồi đất là điều kiện cuộc sống của người dân,bị thu hồi đất phải theo chiều hướng tốt hơn, có nghĩa là có thể tạo ra thu nhập cao hơn trước, hoặc ít nhất là phải ngang bằng như trước khi bị thu hồi đất, đủ đảm bảo cuộc sống hiện tại cũng như tương lai Để giải quyết hài hoà, thoả đáng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân bị thu hồi đất cần phải có những chính sách phù hợp với thực tiễn cuộc sống.”

“Vì vậy, việc nghiên cứu, nhằm đánh giá thực trạng sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, xem xét các ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho chính quyền địa phương trong hoạch định những chính sách phù hợp nhất trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cũng như hỗ trợ công ăn việc làm cho các hộ dân nằm trong vùng dự án

Trong bối cảnh đó, Tôi đã chọn đề tài “Sinh kế của người dân bị thu hồi đất thuộc khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nhằm giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

“Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sinh kế của người dân bị thu hồi đất trong vùng thực hiện dự án khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.”

“Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất.”

Mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của địa phương nhằm hạn chế tiêu cực, đến sinh kế của người dân, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống và hướng đến sinh

kế bền vững

Trang 14

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

“Câu hỏi 1: Sinh kế của người dân sau khi chính quyền địa phương thu hồi đất

để thực hiện dự án khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau hiện tại như thế nào?”

“Câu hỏi 2: Các yếu tố nào đã ảnh hưởng, đến sự thay đổi thu nhập và sinh kế của người dân, bị thu hồi đất?”

1.4 Đối tượng , và phạm vi nghiên cứu

“- Đối tượng nghiên cứu:, Sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình bị thu hồi đất thực hiện dự án khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau Các chính sách bồi thường, hỗ trợ có liên quan.”

“- Đối tượng khảo sát: Các hộ dân bị thu hồi đất thuộc khóm 1, khóm 2 (Khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc), phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.”

“- Phạm vi, nghiên cứu: Các cá nhân, hộ gia đình bị thu hồi đất trong vùng thực hiện dự án khu D (tổng diện tích 80,56 ha) trên địa bàn khóm 1, khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.”

1.5 Phương pháp nghiên cứu

“Phương pháp định tính nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất, đồng thời qua đó xem xét để đưa vào nghiên cứu bằng phương phương pháp định lượng.”

“Phương pháp định lượng bằng cách thu thập thông tin trực tiếp thông qua phiếu khảo sát cho các đối tượng khảo sát Sau đó thực hiện thống kê mô tả nhằm đo lường, làm rõ thêm hiện trạng của các yếu tố tác động đến sinh kế của người dân.”

1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn

“Chương 1 Giới thiệu tổng quan”

“Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu; câu hỏi, nghiên cứu; đối tượng và phạm vi, nghiên cứu và các phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu.”

Trang 15

“Chương 2 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn”

“Chương này trình bày các khái niệm có liên quan đến đề tài: Bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, khái niệm sinh kế, khái niệm sinh kế bền vững, khái niệm tái định cư…; các cơ sở lý thuyết, của đề tài; tổng quan các nghiên cứu, trước

có liên quan; đề xuất mô hình nghiên cứu về sinh kế bền vững cho đề tài.”

“Chương 3 Phương pháp nghiên cứu”

“Chương này trình bày quy trình nghiên cứu; điều tra thu thập số liệu; cách chọn mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu.”

“Chương 4 Kết quả nghiên cứu”

“Chương này trình bày tổng quan về kết quả thu thập dữ liệu; đánh giá đời sống kinh tế-xã hội của các hộ gia đình bị thu hồi đất thực hiện dự án khu D, khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.”

“Chương 5 Kết luận và các khuyến nghị”

“Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực, đến sinh kế của người dân, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống và hướng đến sinh kế bền vững.”

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

2.1 Khái niệm nghiên cứu

2.1.1 Bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất

Theo quy định tại điều 3 và điều 4, Luật Đất đai 2013 “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu , và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất , cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Do đó, Nhà nước có quyền quyết định thu hồi đất “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người dân sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Trong điều 3 cũng quy định “ Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” và “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”.

2.1.2 Khái niệm sinh kế

“Sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các “phương tiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ”.”

“Chambers và Conway (1991), đưa ra khái niệm: Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần thiết để đảm bảo phương tiện sống.”

2.1.3 Khái niệm sinh kế bền vững

“Có khá nhiều cách tiếp cận và định nghĩa, khác nhau về sinh kế Tuy nhiên,

có sự nhất trí rằng, khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sinh sống của mỗi cá nhân, hay hộ gia đình Các nghiên cứu về sinh kế, hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững, trên cơ sở các nguồn lực của mỗi các nhân hay hộ gia đình bao gồm, nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực Kết quả nghiên cứu, của Ellis (1998), cho rằng một sinh

Trang 17

kế bao gồm, những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động, và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản, và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó, các quyết định về sinh kế điều thuộc về mỗi cá nhân, hoặc mỗi nông hộ.”

“Chambers và Conway (1991), sinh kế chỉ bền vững, khi nó có thể đối phó, và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực, và tài sản và cung cấp các

cơ hội sinh kế bền vững, cho các thế hệ kế tiếp, và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh

kế khác, ở cấp độ địa phương, hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.”

2.1.4 Khái niệm tái định cư

“Tái định cư là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho những người

bị ảnh hưởng bởi các dự án của Nhà nước, khi mà phần đất nơi ở cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi không hết, phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống phải chuyển đến nơi ở mới Tái định cư bao gồm tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc.”

“+ Tái định cư tự nguyện: Là do nhu cầu cuộc sống người dân tự nguyện di chuyển từ nơi này sang định cư ở nơi khác.”

“+ Tái định cư bắt buộc: Dự án phát triển dẫn đến những mất mát tái định cư không thể tránh khỏi, trong đó người bị ảnh hưởng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xây dựng lại cuộc sống mới, thu nhập và cơ sở vật chất ở bất cứ một nơi nào khác (ADB, 1995).”

2.2 Các cơ sở lý thuyết

2.2.1 Khung phân tích sinh kế bền vững DFID

“Khung phân tích sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặc biệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người,

để đạt đến mục tiêu tăng phúc lợi của con người Khung phân tích sinh kế cho rằng con người sử dụng, các loại vốn mình có, để kiếm sống, đó là năm loại, tài sản vốn, hay hình thức vốn, để đảm bảo an ninh sinh kế, hay giảm nghèo,, bao gồm: nguồn

Trang 18

vốn con người, (Human Capital); nguồn vốn tự nhiên, (Natural Capital); nguồn vốn

vật chất, (Physical Capital); vốn tài chính, (Financial Capital) và nguồn vốn xã hội,

(Social Capital) Đây là những loại vốn, mang ý nghĩa của, cả đầu vào và đầu ra.”

Hình 2.1 Khung phân tích sinh kế bền vững

“ Nguồn: DFID, 1999 ”

“- Bối cảnh, dễ tổn thương: Là các yếu tố môi trường bên ngoài, tác động vào cuộc sống của người dân, làm họ bị hạn chế, hoặc không thể kiểm soát Đó là các cú sốc, các xu hướng gây ra như: mất việc làm, mất diện tích đất để sản xuất, thay đổi môi trường sống, thiên tai, lũ lụt,…;“

- Tài sản sinh kế:

“+ Nguồn vốn con người: Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy của mỗi người thông qua quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất và sức khỏe tốt để đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng lao động Vốn con người cũng cần phải tốn

và khả năng tiếp cận

Tiến trình thay đổi cấu trúc Cấu trúc

- Các cấp chính quyền

- Lĩnh vực tư nhân

- Giảm rủi ro

- “ An ninh lương thực được cải thiện ”

- “ Sử dụng bền vững , hơn các nguồn lực , tự nhiên ”

“ Kết quả sinh kế ”

H

F

P

Trang 19

chi phí để đầu tư tích lũy và cũng có thể bị hao mòn Nguồn vốn con người chiếm vai trò quan trọng nhất, trong tài sản sinh kế, là yếu tố cần thiết để tạo ra bốn tài sản hiện tại Ở cấp độ, quy mô hộ gia đình, vốn con người quyết định về chất lượng lao động và năng suất tạo ra sản phẩm, ở cấp độ rộng hơn, đây là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển doanh nghiệp và quốc gia.”

+ Nguồn vốn tự nhiên: Vốn tự nhiên là tổng tài sản tài nguyên thiên nhiên cung cấp đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo việc làm, gồm cả tài nguyên có thể tái tạo và không thể tái tạo Những tài sản này có chức năng tham gia vào quá trình sản xuất và thỏa dụng như những đầu vào, như rừng, bãi cá, nghêu,

sò, quặng mỏ và các lực lượng tự nhiên như không khí, nước, Việc khai thác, sử dụng lãng phí và không hiệu quả tài nguyên thiên nhiên là cũng là nguyên nhân gây

ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, hoặc làm giảm chất lượng cuộc sống của con người

“+ Nguồn vốn tài chính: Vốn tài chính là về các nguồn lực tài chính mà các hộ gia đình và cá nhân sử dụng, để đạt được các mục tiêu, sinh kế của mình, như các khoản, thu nhập, tiết kiệm, vốn vay, tín dụng,, trợ cấp.”

“+ Nguồn vốn vật chất: Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng (phương tiện vận chuyển, đường xá, xe cộ, trường học, chợ, nhà và chỗ ở an toàn, nguồn cấp nước và hệ thống xử lý rác thải, năng lượng, truyền thông,…) và các loại hàng hóa,mà người sản xuất cần để hậu thuẫn cho sinh kế như các công cụ và thiết bị sản xuất, con giống, thuốc nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật hay công nghệ sản xuất.”

“+ Nguồn vốn xã hội: Nguồn vốn, xã hội là các nguồn lực xã hội mà các cá nhân và hộ gia đình, sử dụng để theo đuổi các mục tiêu, sinh kế của mình, bao gồm các mạng lưới, các quan hệ xã hội, yêu cầu, xã hội, đảng phái, hiệp hội Tài sản về các mối quan hệ này sẽ tạo nên sự tin cậy giữa các cá nhân và mạng lưới, cộng với những giá trị cùng chia sẻ do chúng tạo ra, những tài sản này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác trong nội bộ và giữa các nhóm người.”

“- Tiến trình thay đổi cấu trúc: Các, hoạt động và cấu trúc tổ chức, hoạt động của các cấp chính quyền, trong khu vực công và khu vực tư; chính sách của, các cấp

Trang 20

chính quyền, trong khu vực công được cụ thể hoá bằng luật, văn bản quy định dưới luật và các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện.”

“- Chiến lược, sinh kế: Gồm các hoạt động, sản xuất kinh doanh, đầu tư, hoạt động tái sản xuất, tái đầu tư, … của các cá nhân, hộ gia đình, nhằm đạt các mục tiêu,

sinh kế.”

“- Kết quả, sinh kế: Là kết quả của, các cá nhân, hộ gia đình đạt được, khi họ sử dụng tài sản sinh kế để thực hiện, các chiến lược sinh kế nhằm, tăng thu nhập, gia tăng phúc lợi, giảm rủi ro, an ninh lương thực được cải thiện và sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên.”

Để cải thiện phúc lợi con người, các nguồn vốn, tài sản sinh kế nói chung có tính chất bổ sung cho nhau Ví dụ như tài sản con người cùng với tài sản xã hội có thể làm tăng năng lực hoạt động và tồn tại của con người Các tài sản cũng bổ trợ nhau trong quá trình sản xuất, tức là năng suất của tài sản này có thể tăng lên khi có thêm một lượng tài sản khác Ví dụ như nếu nguồn vốn xã hội được tăng lên (như

sự thiết lập, gắn kết chặt chẽ với các mạng lưới quen biết trong xã hội có thể làm tăng nguồn vốn tài chính, hay sự chia sẻ những kinh nghiệm kiến thức từ mạng lưới

ấy cũng làm tăng nguồn vốn con người, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của cá nhân và cộng đồng, giúp cho công tác quản lý các vấn đề về môi trường được cải thiện tốt (nguồn vốn thiên nhiên), đến lượt nó, không khí, nước sạch hơn sẽ bảo vệ sức khỏe con người, giúp nâng cao năng suất và chất lượng lao động, góp phần làm tăng tài sản vật chất

2.2.2 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE

“Khung lý thuyết về, sinh kế bền vững của CARE tập trung vào sinh kế hộ gia đình Khung tài sản mô tả các chỉ số, bao gồm khả năng của thành viên hộ gia đình, những nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản mà hộ gia đình có thể tiếp cận được, những khả năng được giúp đỡ, hỗ trợ trong lúc khó khăn của người thân, chính quyền Để đánh giá những thay đổi đang diễn ra về vấn đề an ninh sinh kế hộ gia

Trang 21

đình, cần có một cái nhìn toàn diện về sự tiêu dùng và tài sản của từng thành viên trong hộ gia đình.”

Hình 2.2 Sinh kế bền vững của CARE

nó sẽ kiểm định; lựa chọn những khu vực để thực thi các chính sách can thiệp

Mục tiêu chính trong nghiên cứu về sinh kế bền vững của CARE là hiểu được tính tự nhiên của những chiến lược sinh kế ở những mục khác biệt trong hộ giá đình nhằm nhận dạng các khó khăn và cơ hội

2.2.3 Khung chính sách của ADB

Khung phân tích ADB được thiết kế theo trình tự với mục tiêu cốt lõi là giúp các hộ dân bị ảnh hưởng sớm ổn định cuộc sống, giảm thiểu các cú sốc trong việc

An toàn cá nhân

Tài sản Vốn con người Vốn xã hội Vốn kinh kế

(Khả năng (Lợi ích (Cửa hàng và sinh kế) và cơ hội) các nguồn lực)

Thu nhập Sản xuất

Trao đổi

Xử lý

Tiêu thụ

Hộ gia đình

Cú sốc và

căng thẳng

Bối cảnh Chiến lược sinh kế Kết quả sinh kế

Trang 22

thích nghi với cuộc sống tái định cư mới Nội dung cốt lõi của các yêu cầu về tái định cư của ADB được tóm lược theo quy trình, cụ thể như sau: Đánh giá các tác động xã hội; Lập kế hoạch tái định cư; Công khai, tư vấn và sự tham gia, giải quyết khiếu nại; Thực hiện kế hoạch tái định cư; Khôi phục và cải thiện thu nhập; Sắp xếp

tổ chức và phát triển năng lực; Giám sát, kiểm tra, đánh giá và báo cáo tái định cư (ADB, 2012)

Cẩm nang về tái định cư của ADB đưa ra mục tiêu và nguyên tắc chính sách tái định cư bắt buộc dựa theo nguyên tắc thay thế chi phí, không có rào cản về quyền hợp pháp về đất đai Các hộ bị thu hồi đất phải được cung cấp thông tin và tư vấn đầy đủ về các phương án bồi thường, thu hồi đất Các tổ chức xã hội cần phải

hỗ trợ các hộ bị di dời sớm hòa nhập cồng đồng dân cư mới Chi phí bồi thường thu hồi đất được tính trong chi phí của dự án Các khoản hỗ trợ cần xác định cụ thể trong việc lập kế hoạch và thực hiện tái định cư bắt buộc

2 Về bồi thường tài sản:

2.1 Về bồi thường tài sản (nhà-vật kiến trúc)

2.3 Về bồi thường tài sản (di dời mồ mả)

Bất kể tình trạng pháp lý, bồi thường theo chi phí thay thế

Trang 23

Chỉ tiêu Chính sách của ADB

3 Bồi thường chi phí di chuyển tài sản

Mục tiêu chính

sách

Tất cả các chi phí liên quan thu nhập (cho dù người bị ảnh hưởng có di dời hay không di dời

4 Bồi thường ảnh hưởng thu nhập

4.1 Bồi thường ảnh hưởng thu nhập từ nông nghiệp

Tất cả các chi phí liên quan thu nhập (cho dù người bị ảnh hưởng có di dời hay không di dời)

4.2 Bồi thường ảnh hưởng thu nhập từ sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

Tất cả các chi phí liên quan thu nhập (cho dù người bị ảnh hưởng có di dời hay không di dời)

5 Bồi thường các công trình công cộng (điện, cấp, thoát nước, …)

Bồi thường theo chi phí thay thế, bất kể tình trạng pháp lý về đất

và tài sản

6 Về hỗ trợ phục hồi sinh kế

Tái định cư Tất cả các chi phí liên quan thu nhập (cho dù người bị ảnh

hưởng có di dời hay không di dời)

Tạm cư Tất cả các chi phí liên quan thu nhập (cho dù người bị ảnh

hưởng có di dời hay không di dời)

Trang 24

Chỉ tiêu Chính sách của ADB

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước

- Nguyễn Văn Sửu (2008) đã ứng dụng khung sinh kế bền vững để nghiên

cứu “Tác động của công nghiệp hoá và đô thị hoá đến sinh kế nông dân Việt Nam: Trường hợp một làng ven đô Hà Nội” Tác giả nhận định việc mất đất nông nghiệp

đã ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của những người nông dân ở khu vực nông thôn và ven đô, những con người mà văn hoá của họ được gọi là nền văn minh lúa nước và sinh kế của họ đã từ nhiều năm đã dựa vào đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp Trong quá trình chuyển đổi này, với nhiều người nông dân ở làng Phú Điền, thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hoá và đô thị hoá đã đem lại cho họ một khoản tiền lớn mà nhiều người có mơ cũng không thấy trong những năm còn sản xuất nông nghiệp, bên cạnh thực tế là giá trị trao đổi của quyền sử dụng đất ở trong khu vực gia tăng nhanh chóng, làm cho những người nông dân Phú Điền ở thời điểm hiện tại là những thực thể giàu vốn tài chính và vốn

tự nhiên Quan trọng hơn, quá trình chuyển đổi này đã chuyển đổi sinh kế truyền thống của người dân địa phương từ một nguồn sinh kế dựa nhiều vào sản xuất nông nghiệp sang những nguồn sinh kế đa dạng khác trong đó cho thuê nhà trọ và buôn bán nhỏ đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, nhiều lao động vốn là những người nông dân làm nông nghiệp còn thiếu vốn xã hội và vốn con người nên không thể tìm được việc làm, để đảm bảo các chiếnl lược sinh kế bền vững của mình trong một bối cảnh gia tăng áp lực của nền kinh tế thị trường và những tác động còn hạn chế của chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm của nhà nước Chính vì thế, nhiều

Trang 25

người trong số họ cảm thấy cuộc sống của mình tiềm ẩn nhiều rủi ro và thiếu ổn định

- Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn, Philippe Lebailly (2012) tiến hành nghiên

cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hoá đến sinh kế của các hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên” Nhóm tác giả tiến hành điều tra 135

hộ gia đình, kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi thu hồi đất nông nghiệp, ngân sách của địa phương (xã) tăng lên từ 2 đến 3 lần, cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người của địa phương tăng lên hàng năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đi đáng kể Tuy nhiên việc thu hồi đất cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm, an toàn lương thực của các hộ nông dân cũng như của địa phương đồng thời đẩy nhanh quá trình phân tầng xã hội nông thôn Sau khi thu hồi đất cho công nghiệp hoá, chỉ có 16,4% lao động trong các hộ điều tra tìm được việc làm trong các nhà máy, 77% số hộ điều tra không tự chủ về lương thực, 69,6% số hộ điều tra

lo ngại về các vấn đề ô nhiễm môi trường do các nhà máy xung quanh khu dân cư

- Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân, Trần Văn Quảng (2012) sử dụng

khung phân tích sinh kế bền vững để nghiên cứu “Ảnh hưởng của chương trình 135 đến sinh kế của đồng bào dân tộc ít người huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị”

Nhóm tác giả tiến hành điều tra 90 hộ gia đình ở 03 địa bàn và các dân tộc khác nhau Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù sinh kế của người dân còn ở mức thấp những đã có thay đổi đáng kể và nhanh chóng trong thời gian qua tác động của chương trình 135 Sự thay đổi này bao gồm từ nguồn vốn nhân lực, đến tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội Đánh giá của người dân khẳng định xu hướng trên và xác định vai trò quan trọng của chương trình 135, đặc biệt là đầu tư về hệ thống điện, đường, trường trạm cũng như những hỗ trợ phát triển sản xuất

- Nguyễn Thị Thuận An (2012) thực hiện đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự

án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng” Kết quả nghiên

cứu cho thấy có tới 70,75% số hộ có thu nhập cao hơn so với trước khi thu hồi đất Nguồn thu nhập của những hộ này chủ yếu từ các hoạt động buôn bán nhỏ lẻ, làm

Trang 26

dịch vụ,… Tuy nhiên, nguồn thu nhập của họ tăng không đáng kể so với thu nhập trước khi bị thu hồi đất Trong thành phần nguồn thu nhập của các hộ gia đình thì thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bị giảm đi trong tổng thu nhập của người dân Sau khi thu hồi đất nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất của các hộ dân gia tăng nhưng sự gia tăng này chỉ mang tính chất tạm thời không lâu dài, bởi vì nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên chỉ ở mức hạn chế nên việc duy trì nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất mang tính rủi ro cao và phụ thuộc nhiều và sự thay đổi chế độ chính sách hỗ trợ của chính quyền và sự thay đổi nội lực của người nông dân về trình độ học vấn hoặc phải trông chờ vào thế hệ tiếp theo Bên cạnh đó, việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An còn những tác động tiêu cực đến điều kiện sống của người dân như vấn đề ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Điều ngày không những gây nên sự bất ổn cho xã hội mà còn có tác động không nhỏ đến suy nghĩ, niềm tin của những người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi

- Vương Thị Bích Thủy (2012) đã vận dụng khung phân tích sinh kế bền

vững để nghiên cứu “Sinh kế cho các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp trường hợp Khu kinh tế Đông Nam – Nghệ An” Tác giả đã tiến hành khảo sát 65 mẫu phỏng

vấn hộ dân bị thu hồi đất và cho rằng sinh kế người dân sau thu hồi đất kém bền vững, phần lớn tài sản tự nhiên đã chuyển sang vốn tài chính, những nguồn vốn này

đã chuyển sang vốn vật chất mà chủ yếu là tài sản sinh hoạt Nguồn vốn con người

là quan trọng nhất trong việc đóng góp vào tăng tài sản sinh kế thì lại không có nhiều thay đổi Chưa có sự kết nối vững chắc giữa chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong việc hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân Các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân gần như không hiệu quả trong trường hợp này Thu nhập của một số hộ dân có cải thiện, tuy nhiên đa phần là tự phát do từ khả năng của chính họ

- Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà(2013) tiến

hành nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” Nhóm tác giả tiến hành điều tra

Trang 27

240 hộ nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp và đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, việc làm và thu nhập của các hộ bị thu hồi đất, những thách thức của việc thu hồi đất trong quá trình phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2000-2010, huyện Văn Lâm đã thu hồi đất nông nghiệp của 14.260 lượt hộ; tổng diện tích đã thu hồi là 928,52 ha, trong đó đất nông nghiệp là 736,50

ha Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo chiều hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng (từ 31,00% năm 2000 tăng lên 74,99% năm 2010) và giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 57,50% năm 2000 giảm xuống 12,65% năm 2010) Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 3,82 triệu đồng (năm 2000) đến 27,2 triệu đồng (năm 2010) Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút khoảng 25.000 lao động vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp,…Tuy nhiên, việc mất đất sản xuất nông nghiệp đã làm một

bộ phận nông dân thiếu việc làm, nảy sinh một số tác động xã hội khác, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của họ Cụ thể, nhóm hộ có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp nhiều (>70%) có tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp cao (94,17%) do vậy thu nhập, đời sống văn hoá tinh thần của họ cũng tăng lên so với trước kia Kết quả điều tra thực

tế vẫn còn một số hộ có thu nhập không thay đổi, một số hộ có thu nhập bị giảm đi

so với trước kia, chủ yếu tập trung vào các hộ có tỷ lệ bị thu hồi đất ít (<30), nguyên nhân chính là do tâm lý của người dân ngại thay đổi nghề nghiệp nên cố bám trụ trên diện tích đất nông nghiệp còn lại

- Bùi Văn Tuấn (2015) vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững để

nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân

cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hoá” Tác giả đánh giá sinh kế, sinh kế bền

vững có vai trò quan trọng đối với cộng đồng dân cư trong quá trình đô thị hoá Trên cơ sở tiếp cận khung sinh kế bền vững, bài viết phân tích một số vấn đề lý luận

về sinh kế và vận dụng nghiên cứu sinh kế của cộng đồng dân cư vùng ven đô trong quá trình đô thị hoá qua trường hợp quận Bắc Từ Liêm Nghiên cứu đánh giá thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư quận Bắc Từ Liêm, xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ gia đình tiếp cận các nguồn lực phát triển sinh kế Trên cơ sở

Trang 28

đó đưa ra những giải pháp nâng cao và đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư dưới tác động của quá trình đô thị hoá trong bối cảnh phát triển và hội nhập

Để đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ở quận Bắc Từ Liêm cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và nhân dân để khắc phục những điểm yếu, nâng cao sinh kế của người dân Quận Bắc Từ Liêm cần tiếp tục đổi mới chính sách hỗ trợ nguồn vốn; gắn sản xuất với bảo quản nông sản sau thu hoạch, chế biến

và tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sản xuất hàng hoá nông nghiệp chất lượng cao gắn với xuất khẩu trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật; đa dạng hoá ngành nghề và nguồn thu nhập

- Lê Thanh Sơn, Trần Tiến Khai (2016) với đề tài nghiên cứu “Tác động của việc thu hồi đất vùng nông thôn đế thu nhập của người dân huyện Vĩnh Thạnh – Thành phố Cần Thơ: trường hợp dự án Khu dân cư vượt lũ Vĩnh Thạnh” Nhóm tác

giả nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất vùng nông thôn đế thu nhập người dân tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ bằng phương pháp sai biệt kép nhằm mô

tả và lượng hóa những thay đổi trong sinh kế của người dân Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về thu nhập của người dân sau hai năm kể từ khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất Từ các kết quả trên, có thể rút ra một và hàm ý chính sách như: 1) Nên thu hồi đất với quy mô nhỏ hoặc với quy mô nhỏ nhất có thể nhằm hạn chế việc gây ra xáo trộn đời sống sinh kế dân cư và tiết kiệm ngân sách; 2) Tỷ

lệ hộ gia đình nông thôn không có đất hoặc có ít đất nông nghiệp khá cao và sinh kế dựa vào việc làm thuê nông nghiệp, đời sống bấp bênh Vì vậy, nên chú trọng mở rộng các cơ hội đầu tư nhất là trong ngành chế biến nông sản và thương mại, dịch

vụ để tạo thêm việc làm nông thôn và ổn định đời sống của họ khi thu hồi đất Nghiên cứu cũng có những hạn chế nhất định khi chưa phân tích được tác động của việc thu hồi đất đến từng nhóm hộ gia đình khác nhau, đặc biệt là nhóm nghèo, dễ

bị tổn thương và khó thích ứng với sự thay đổi Vì vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn về tác động đến các nhóm hộ gia đình khác biệt

Trang 29

- Lưu Phi Hổ (2016) cũng sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững để đánh

giá “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và sự chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ dân tái định cư sau khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng dự án đường Xuân Diệu, thành phố Quy Nhơn” Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 72 hộ gia đình và phân

ra 04 nhóm hộ để khảo sát, kết quả cho thấy: Sau tái định cư, đa số các hộ gia đình

có chỗ ở tương đối ổn định, thu nhập của họ được cải thiện hơn qua từng năm, nhưng nhìn chung mức thu nhập còn thấp hơn so với khu vực thành thị

- Tô Tấn Thi (2016) với đề tài “Sinh kế bền vững cho các hộ đồng bào Ba

Na tại khu tái định cư Suối Xem – Định Nhì trong dự án thủy lợi hồ Định Bình ở Bình Định” Qua nghiên cứu cho thấy, chính quyền địa phương đã thực hiện cơ bản

đầy đủ các chính sách hỗ trợ, tái định cư cho người dân; cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, các công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư và phát huy hiệu quả; đa số người dân sau khi được di dời tái định cư đều có nhà ở kiên cố, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt lâu dài Song song với những mặt đạt được thì cũng còn tồn tại nhiều khó khăn, buộc người dân phải đối mặt với việc tìm kiếm các giải pháp nhằm đạt được sinh kế bền vững trong tương lai, đó là: Trình độ người dân còn thấp nên việc đa dạng hóa nghề nghiệp là vấn đề khó khăn; do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thời tiết không ổn định, quy mô dân số tăng nên phần lớn diện tích đất sản xuất

bị giảm đi, đất bị xói mòn, bạc màu, người dân không biết đầu tư cải tạo đất đai, làm cho độ màu mỡ của đất bị giảm, kéo theo năng suất cây trồng bị giảm, sản lượng thu được ngày càng ít đi; việc tiếp cận với các nguồn vốn vay có phần khó khăn, chủ yếu là vay tín chấp, định mức vay thấp, không liên tục nên người dân không đủ vốn đầu tư mở rộng sản xuất; nguồn vốn xã hội còn hạn hẹp nên người dân ít có cơ hội tiếp cận với những kiến thức mới đáp ứng cho cuộc sống Từ những phân tích về thực trạng sinh kế của các hộ gia đình đồng bào Ba Na, tác giả đưa ra

07 nhóm giải pháp nhằm giúp cho người dân cải thiện điều kiện sống, ổn định nghề nghiệp và đem lại sinh kế bền vững sau này

- Lê Ánh Dương, Phạm Thị Mỹ Dung (2017) tiến hành nghiên cứu “Thay đổi sinh kế của hộ nông dân vùng ven thành phố Nam Định trong quá trình đô thị

Trang 30

hóa” Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ vùng ven dựa vào 4 nhóm hoạt động

chính là 1) Nông nghiệp; 2) Công nhân và làm thuê; 3) Thương mại và dịch vụ; 4) Hoạt động khác Thay đổi hoạt động sinh kế dẫn đến thay đổi cơ cấu hộ nông dân vùng ven Tỷ lệ các hộ dựa chủ yếu vào nông nghiệp giảm từ 52,11% năm 2011 xuống còn 40,53% năm 2015 Tỷ lệ các hộ chủ yếu hoạt động nhóm 2 và 3 tăng từ 34,37% lên 52,54% Tỷ lệ nhóm 4 giảm từ 13,18% xuống còn 7,13% Số lượng nghề kiếm sống, thu nhập và điều kiện sống của các hộ dân đã tăng lên Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới thay đổi sinh kế hộ gồm thiên tai, dịch bệnh; phát triển đô thị; các chính sách hỗ trợ; thay đổi vốn sinh kế và ý thức của hộ Trên cơ sở đó nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp: Cung cấp đầy đủ thông tin để tránh rủi ro cho hộ; thay đổi hoạt động sinh kế phù hợp với thay đổi đô thị trung tâm thành phố;

hỗ trợ nông dân cải thiện vốn sinh kế; thúc đẩy nông dân sáng tạo thay đổi sinh kế; hoàn thiện một số chính sách và quy định liên quan tới hộ nông dân

- Võ Hoàng Nguyên Thảo (2017) trong đề tài “Đánh giá thực trạng sinh kế của hộ gia đình bị thu hồi đất cho dự án khu công nghiệp Thạnh Lộc, tỉnh Kiên Giang” cho biết việc thu hồi đất đã làm cho bình quân một hộ gia đình bị giảm đi

khoảng 3.750 m2 đất nông nghiệp, bước đầu làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những hộ thuần nông, cuộc sống chủ yếu dựa vào nguồn thu tự canh tác trên đất nông nghiệp và chăn nuôi quy mô nhỏ Tuy nhiên, bù lại thì nguồn vốn vật chất và vốn tài chính tăng lên đáng kể, nhưng các nguồn vốn này sinh lợi ích, nhất là việc gửi tiết kiệm chỉ là phương án an toàn trước mắt, đặc biệt là đầu tư cho tài sản tiêu dùng là đầu tư không sinh lợi Vì vậy, chiến lược sinh kế trong tương lai của các hộ gia đình này là tiếp tục nghề trồng trọt, kết hợp buôn bán kinh doanh hoặc làm công nhân trong khu công nghiệp để góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình

2.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, bên cạnh thực trạng của địa phương tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu sinh kế của người dân bị thu hồi đất dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững DFID (1999), làm đề tài nghiên cứu

Trang 31

Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên khung phân tích DFID,1999

và khả năng tiếp cận

Chính sách

- Bồi thường về đất, công trình vật kiến trúc

- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm

- Giảm rủi ro

- An ninh lương thực được cải thiện

- Sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên

Kết quả sinh kế

H

F

P

Trang 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo quy trình nghiên cứu sau:

Thực trạng sinh kế:

+ Bối cảnh dễ bị tổn thương + Các nguồn vốn sinh kế + Chính sách hỗ trợ của chính quyền

Trang 33

3.2 Điều tra thu thập số liệu

3.2.1 Thông tin dữ liệu thứ cấp

Thu thập số liệu từ các báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, số liệu, tài liệu liên quan đến hiện trạng sử dụng đất của địa bàn nghiên cứu Thu thập các văn bản của Trung ương quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, các văn bản về quy định giải phóng mặt bằng, tái định cư, chính sách đào tạo nghề và các chính sách hỗ trợ khác của tỉnh Cà Mau trong việc thu hồi đất thực hiện dự án nhà ở thương mại Anh Sinh thuộc khu D, khu cữa ngõ Đông Bắc, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau Thu thập thông tin

từ các nghiên cứu đã được công bố trên các báo cáo, bài báo khoa học, tài liệu hội thảo,… để có số liệu về tình hình thu hồi đất, sinh kế của người dân

3.2.2 Thông tin dữ liệu sơ cấp

Thu thập dữ liệu sơ cấp thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Phỏng vấn một số chuyên gia (lãnh đạo, cán bộ tham gia giải phóng

mặt bằng, cán bộ địa phương, công chức thẩm định phương án) ghi nhận những thông tin và đánh giá những tác động của công tác thu hồi đất, ảnh hưởng đến sinh

kế của người dân, rút ra những nhận định có tính phổ biến, từ đó điều chỉnh, bổ sung bảng khảo sát

Bước 2: Phỏng vấn 10 hộ gia đình bị thu hồi đất để tìm hiểu về những thay

đổi sinh kế, thuận lợi, khó khăn trong cuộc sống và nhu cầu cần hỗ trợ sau khi bị thu hồi đất

Bước 3: Điều chỉnh, biên soạn lại phiếu khảo sát bao gồm các thông tin chủ

yếu về tên chủ hộ, địa chỉ, số nhân khẩu, diện tích đất đai, vốn và tài sản; xác định cấu trúc nghề nghiệp, nguồn thu nhập, thu nhập bình quân đầu người; các thay đổi tài sản sinh kế; sự thay đổi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội trước và sau khi tái định cư; phản ứng của các hộ gia đình đối với các bối cảnh tổn thương, dự định chiến lược sinh kế của họ; các khó khăn, vướng mắc sau khi bị thu hồi đất và nhu cầu cần hỗ trợ của hộ gia đình từ chính quyền địa phương

Trang 34

Bước 4: Phỏng vấn trực tiếp 120 hộ gia đình bị thu hồi đất dựa trên phiếu

điều tra đã chuẩn bị sẵn để thu thập các thông tin về sinh kế, việc làm, nhu cầu hỗ trợ của các hộ gia đình bị thu hồi án thực hiện dự án

3.2.3 Chọn mẫu nghiên cứu

Khi thực hiện nghiên cứu ít khi chúng ta điều tra tổng thể, với lý do là hết sức tốn kém công sức và thời gian Trong khi đó, chúng ta chỉ điều tra chọn mẫu sẽ

có nhiều lợi thế (chi phí nghiên cứu thấp; thời gian thu thập dữ liệu nhanh mà vẫn đảm bảo độ tin cậy của số liệu) Một mẫu được coi là tốt khi có thể mang tính đại diện cho tổng mẫu Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là phải có độ tin cậy trong lựa chọn mẫu điều tra, cở mẫu đủ lớn và tính chính xác của kết quả

Trong thực tế có nhiều cách thiết kế mẫu và chọn mẫu đại diện, trong phạm

vi đề tài nghiên cứu có 452 số hộ dân bị thu hồi đất, tác giả sử dụng công thức Yamane (1967) để tính cở mẫu cho điều tra khảo sát:

n = N/[1+(N*e2)], trong đó:

n: Số lượng mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra

N: Tổng số mẫu

e: Mức độ chính xác mong muốn

Trong nghiên cứu này tác giả chọn e = 8% (tức mức độ tin cậy là 92%); N =

452 hộ gia đình bị thu hồi đất trong vùng dự án Ta có:

Trang 35

3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Số liệu sơ cấp được xử lý, tổng hợp theo phương pháp thống kê mô tả để phân tích tổng quan về mẫu nghiên cứu, mô tả các đặc điểm về trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nguồn thu nhập, lực lượng lao động, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của hộ gia đình Phương pháp định tính được dùng để phân tích, đánh giá những mặt được và chưa được của chính sách bồi thường hỗ trợ, tái định cư, những thuận lợi, khó khăn, các yếu tố quyết định đến hỗ trợ để các hộ gia đình đảm bảo được sinh kế

Trang 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Giới thiệu khu vực nghiên cứu

Phường Tân Thành được thành lập từ ngày 04/6/2009 theo Nghị quyết số 24/NQ-CP với tổng diện tích tự nhiên là 1.120,51 ha, gồm 06 khóm và có các hướng tiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp xã Tân Thành;

- Phía Tây giáp phường 4, phường 5;

- Phía Nam giáp phường 6;

- Phía Bắc giáp xã An Xuyên và phường Tân Xuyên

Phường Tân Thành có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

Do nằm gần trung tâm tỉnh đã tạo điều kiện rất lớn cho phường tiếp cận những tiến

bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế trong phường; đồng thời phường có điều kiện giao thông khá thuận lợi, đường bộ có tuyến Quản lộ - Phụng Hiệp đi qua theo hướng Đông Tây với chiều dài khoảng 4,0 km và đường lộ Tân Thành từ Uỷ ban nhân dân phường đi qua phường 6 và nối với quốc lộ 1A

Theo số liệu thống kê năm 2017, toàn phường có 1.292 hộ với 6.025 khẩu; trong đó, chủ yếu là dân tộc kinh, còn lại là các dân tộc khác như: dân tộc Khmer, dân tộc Hoa… Dân số trong phường phân bố không đều, chủ yếu tập trung tại điểm dân cư của các khóm và các trục giao thông chính trong phường, các hộ có thu nhập chính từ nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt 30 triệu đồng

Hiện trạng đất dành cho thuỷ lợi trên địa bàn phường là 25,21 ha, chiếm 2,25% diện tích tự nhiên với chiều dài khoảng 21,8 km và có tuyến đường thủy nội địa quốc gia là kênh xáng Quản lộ Phụng Hiệp có chiều dài 4,4 km; kênh cấp I có chiều dài 4,5 km; kênh cấp III có chiều dài 1,3 km; còn lại là các tuyến thủy nông nội

Trang 37

đồng Hệ thống thuỷ lợi của phường chủ yếu là kênh, rạch sẵn có được phân bố rãi khắp địa bàn với mật độ và lưu lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu thoát và cung cấp nước phục vụ nông nghiệp trong địa bàn

Một số thông tin về dự án Khu D:

Dự án đầu tư xây dựng Nhà ở thương mại An Sinh có tổng diện tích 80,56 ha thực hiện trên địa bàn phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, nằm tiếp giáp với tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, cách bệnh viện MEDIC thành phố Cà Mau (cách 500m), sân bay Cà Mau (5km), Khu hành chính mới của thành phố (700m), có các vị trí tiếp giáp như sau:

+ Phía Đông Bắc: Giáp Khu dân cư hiện trạng dọc theo rạch Cái Nhúc;

+ Phía Đông Nam: Giáp chỉ giới đường đỏ đường tránh nội ô thành phố Cà Mau;

+ Phía Tây Bắc: Giáp đường Quản lộ Phụng Hiệp và dân cư hiện trạng dọc theo đường;

+ Phía Tây Nam: Giáp Khu C2 - Khu đô thị cửa ngõ Đông Bắc

Đất trong khu vực lập quy hoạch chi tiết chủ yếu được chia làm 4 loại đất cơ bản là đất ở hiện trạng, đất giao thông bến bãi, đất ao hồ, đầm cây xanh, đất nghĩa trang

Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất trong khu vực thực hiện dự án

01 Đất ở không thuận lợi về mặt giao thông thuỷ, bộ 3.100 0,38

03 Đất trồng cây hàng năm và Đất nuôi trồng thuỷ sản 789.800 98,04

Nguồn: Dự án đầu tư

Trang 38

Hiện nay, trong khu vực thực hiện dự án chưa có các công trình công cộng, chủ yếu có 1 số lượng nhỏ dân cư sinh sống Các công trình này được chia làm 3 loại, nhà kiên cố, bán kiên cố và nhà tạm, phân bổ theo cụm và vị trí sinh sống

Hình 4.1 Vị trí khu vực nghiên cứu của đề tài

Nguồn: Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau

4.2 Kế hoạch thực hiện công tác giải phóng mặt bằng

4.2.1 Triển khai kế hoạch đo đạc, kiểm điếm

- Thông báo thu hồi đất: Căn cứ kế hoạch thu hồi đất, Ủy ban nhân dân

thành phố Cà Mau ban hành thông báo thu hồi đất, tổ chức họp đối thoại với các hộ dân để phổ biến về chủ trương để thu hồi đất, giải đáp các kiến nghị của các hộ dân, thông báo kế hoạch đo đạc, kiểm đếm, thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Trung tâm phát triển quỹ đất tiến hành khảo sát, đo đạc diện tích đất của các hộ dân ảnh hưởng bởi dự án, kiểm kê nhà cửa, công trình vật kiến trúc, hoa

Trang 39

màu, vật nuôi, tổng hợp sơ bộ tài sản, điều kiện cuộc sống của người dân, để xây dựng phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đảm bảo việc bồi thường phù hợp với điều kiện thực tế trong khuôn khổ pháp luật quy định và nhu cầu thực

tế, phản ánh của người dân trong vùng dự án để các cơ quan liên quan xem xét, giải quyết

- Thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: Ủy ban nhan dân thành

phố Cà Mau thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, gồm lãnh đạo Uỷ ban nhân dân, lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cà Mau, lãnh đạo cơ quan tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân, cán bộ địa chính, các cơ quan đoàn thể phường Tân Thành, chủ đầu tư dự án, đại diện ban nhân khóm cư và đại diện người dân trong vùng dự

án Để giải quyết phản án, kiến nghị của các hộ dân cụ thể bị thu hồi đất ảnh hưởng bởi dự án và xem xét phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết thắc mắc, khiếu nại

- Thực hiện đo đạc, kiểm đếm: Việc thực hiện đo đạc, kiểm đếm chi tiết do

Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án tổ chức thực hiện và phải có xác nhận của chủ hộ và các

hộ dân liền kề Các biên bản kiểm kê tài sản sẽ được các hộ bị giải tỏa, thu hồi đất xem xét và ký xác nhận

Danh sách các hộ bị giải tỏa thu hồi đất sẽ được công khai, người bị giải tỏa, thu hồi đất sẽ không được lập phương án bồi thường nếu không đồng ý, cho đến khi được thống nhất các số liệu về tài sản bị giải tỏa, riêng các nội dung kiến nghị vượt thẩm quyền, không có trong quy định sẽ được xem xét giải quyết từng trường hợp

cụ thể

4.2.2 Công tác lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường

- Khảo sát giá đất cụ thể: Mục đích áp dụng giá thị trường cho các tài sản

của người bị thu hồi đất Các thông tin này được thực hiện qua việc nghiên cứu chi

Trang 40

tiết giá thay thế trước khi bồi thường do đơn vị tư vấn khảo sát và được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt để thực hiện chi trả cho từng dự án cụ thể

- Tham vấn cộng đồng: Trong quá trình thực hiện, đơn vị tổ chức thực hiện

công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng sẽ niêm yết công khai, tham khảo ý kiến của người dân trong vùng dự án trong quá trình tổ chức thực hiện, nhằm mục đích tổng hợp các ý kiến và hoàn thiện phương án bồi thường theo khuôn khổ pháp luật cho phép; đồng thời tổng hợp các ý kiến đề xuất, nguyện vọng của người dân, báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết

- Bồi thường, hỗ trợ và phục hồi thu nhập: Các biên bản kiểm kê được các

hộ thu hồi đất kiểm tra và xác nhận, làm cơ sở để lập phương án bồi thường và thực hiện các chương trình phục hồi sinh kế (bố trí tái định cư, hỗ trợ ổn định đời sống,

hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm,…)

Trên cơ sở đó thực hiện công tác niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và gửi đến từng hộ dân bị thu hồi đất, tổ chức thực hiện chi trả tiền bồi thường, chỉnh lý hồ sơ đất đai của người dân và bàn giao đất cho Chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án

4.3 Bối cảnh dễ bị tổn thương

Từ năm 2017 đến năm 2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Cà Mau đã phối hợp Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành phố Cà Mau và đơn vị có liên quan thực hiện công tác điều tra, đo đạc, kiểm đếm và lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dự án; và được Ủy ban nhân dân thành phố Cà Mau phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các Quyết định số 5896/QĐ-UBND ngày 29/12/2017, Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 01/10/2018, Quyết định số 1196/QĐ-UBND ngày 04/4/2018, Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 20/4/2018, Quyết định số 1903/QĐ-UBND ngày 23/5/2018, Quyết định số 2056/QĐ-UBND ngày 06/6/2018, Quyết định số 2731/QĐ-UBND ngày 13/7/2018, Quyết định số 4423/QĐ-UBND ngày 25/10/2018, Quyết định số 4739/QĐ-UBND ngày 20/11/2018; tổng số tiền bồi thường hỗ trợ theo phương án

Ngày đăng: 29/05/2019, 21:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm