1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện trần văn thời, tỉnh cà mau

110 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ LỜI CAM ĐOAN ”Tôi“xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” l

Trang 1

VÕ MINH SỬ

PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN

TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2

VÕ MINH SỬ

PHÂN TÍCH HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU VỰC NÔNG THÔN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành : Quản lý công

Mã số : 8340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN TIẾN KHAI

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 3

“ LỜI CAM ĐOAN ”

Tôi“xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” là nghiên cứu do tôi tự thực hiện, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Trần Tiến Khai.”

Các“tham khảo trong luận văn được trích dẫn rõ tên tác giả, tên công trình Các số liệu do tôi thu thập thực tế trên địa bàn nghiên cứu, có tính trung thực và độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.”

Tôi“xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.”

“Học viên thực hiện”

Võ Minh Sử

Trang 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

2.2 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 13

2.2.1 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới 13

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 24

3.3.1 Đặc điểm địa bàn và dân cư huyện Trần Văn Thời 30

Trang 5

3.3.2 Tình hình quản lý CTRSH khu vực nông thôn tỉnh Cà Mau và huyện

3.4 Phương pháp chọn mẫu khảo sát và xử lý dữ liệu 35

4.1 Hiện trạng vấn đề CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời 37

4.2 Hiện trạng hoạt động quản lý CTRSH nông thôn huyện Trần Văn Thời 38

4.3 Phân tích nhận thức và hành vi tham gia quản lý CTRSH của hộ gia đình nông

4.3.2 Nhận thức của hộ gia đình về vấn đề rác thải và môi trường 46

4.3.4 Đánh giá của hộ gia đình về hoạt động thu gom rác của tổ, đội quản lý

4.3.5 Đánh giá về khó khăn trong việc quản lý CTRSH của hộ gia đình 58

4.3.6 Dự định của hộ gia đình tham gia quản lý CTRSH trong tương lai 59

4.3.7 Các yêu cầu của hộ gia đình đối với sự hỗ trợ từ chính quyền 62

4.4 Phân tích hoạt động quản lý rác thải của các tổ, đội quản lý môi trường, HTX thu gom rác trên địa bàn huyện Trần Văn Thời 63

4.4.3 Phương pháp xử lý rác thải sau khi đã thu gom 66

4.4.5 Về khó khăn mà đơn vị gặp phải khi tham gia vào hoạt động quản lý

Trang 6

4.4.6 Về dự định của đơn vị thu gom rác thải trong tương lai 69

4.4.7 Yêu cầu của đơn vị đối với người dân và chính quyền 70

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

TN&MT Tài nguyên và Môi trường NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Những mức độ tham gia của người dân theo Pierre André 7 Hình 2.2 Thang đo về sự tham gia của người dân theo Wilcox 8 Hình 2.3 Những mức độ tham gia của người dân theo Dower 9

Hình 3.3 Sơ đồ cấu trúc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về CTRSH khu vực nông

Hình 3.4 Sơ đồ cấu trúc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về CTRSH khu vực nông

Hình 4.3 Phân chia các loại rác thải theo sự hiểu biết của hộ gia đình 48 Hình 4.4 Nhận thức của hộ gia đình về rác thải gây ra ô nhiễm môi trường 50 Hình 4.5 Loại rác sinh hoạt thải ra của hộ gia đình 54 Hình 4.6 Đánh giá của hộ gia đình về hoạt động của các đơn vị thu gom rác 57 Hình 4.7 Yêu cầu của hộ gia đình đối với sự hỗ trợ từ chính quyền 62

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.2 Tổng hợp hoạt động các mô hình dịch vụ quản lý chất thải nông thôn 22

Bảng 4.4 Kết quả khảo sát về số nhân khẩu, lao động trong hộ gia đình 44 Bảng 4.5 Kết quả khảo sát về nghề nghiệp chính của hộ gia đình 45 Bảng 4.6 Kết quả khảo sát mức độ hiểu biết, sự hiểu biết cách thức phân loại rác 46 Bảng 4.7 Kết quả khảo sát mức độ hiểu biết của hộ gia đình về các phương pháp xử

Bảng 4.14 Kết quả khảo sát những khó khăn mà hộ gia đình gặp phải 58 Bảng 4.15 Kết quả khảo sát về dự định của hộ gia đình nếu có một chương trình

Bảng 4.16 Kết quả khảo sát về dự định của hộ gia đình nếu có các thùng chứa chất

Bảng 4.17 Kết quả khảo sát dự định của hộ gia đình nếu yêu cầu họ mang CTRSH đến các điểm chứa rác công cộng hoặc về phân loại rác thải tại nguồn 61 Bảng 4.18 Kết quả khảo sát thời gian thành lập, hoạt động đơn vị thu gom rác 63 Bảng 4.19 Kết quả khảo sát về số thành viên tham gia các đơn vị thu gom rác 64

Trang 10

Bảng 4.20 Kết quả khảo sát về quy mô vốn đầu tư của các đơn vị thu gom rác 64 Bảng 4.21 Kết quả khảo sát về trang thiết bị của các đơn vị thu gom rác 65 Bảng 4.22 Kết quả khảo sát về số lần thu gom, vận chuyển rác thải 65 Bảng 4.23 Kết quả khảo sát về phương pháp xử lý rác thải sau khi đã thu gom 66 Bảng 4.24 Kết quả khảo sát về khó khăn đơn vị gặp phải từ phía người dân 68 Bảng 4.25 Kết quả khảo sát về khó khăn đơn vị gặp phải từ phía chính quyền 69 Bảng 4.26 Kết quả khảo sát dự định của đơn vị thu gom rác trong tương lai 70 Bảng 4.27 Kết quả khảo sát về dự định của đơn vị thu gom rác tham gia vào

Bảng 4.28 Kết quả khảo sát yêu cầu của đơn vị thu gom rác đối với người dân 71 Bảng 4.29 Kết quả khảo sát yêu cầu đơn vị thu gom rác đối với chính quyền 71

Trang 11

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước,“đã dẫn tới nhiều hệ quả kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và môi trường, trong đó có khu vực nông thôn Vấn đề đặt ra là phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi; một trong những vấn đề của môi trường là quá trình quản lý chất thải rắn còn chưa hiệu quả và thiếu tính bền vững Hành vi của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những chiều cạnh của quản lý chất thải rắn Để đảm bảo tính bền vững trong quá trình quản lý chất thải rắn, bên cạnh những vấn đề kinh tế - tài chính, kỹ thuật, thể chế - chính sách, thì yếu tố “Hành vi của người dân” cũng cần được phân tích và đánh giá, từ đó có những giải pháp hiệu quả cho quá trình quản lý chất thải rắn nói chung.”

Đề tài đã triển khai khảo sát về nhận thức,“hành vi của người dân thông qua

165 phiếu khảo sát Qua đó đề tài đã sử dụng lý thuyết về sự tham gia để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó đề xuất, khuyến nghị những giải pháp phát huy sự tham gia của người dân trong công tác này, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.”

Trang 12

RESEARCH SUMMARY

Along with the continuous development of the country, has led to many consequences of economic, cultural, social, and environmental education, including rural areas The question is developed in parallel with environmental protection However, environmental pollution is still going on everywhere; one environmental problem is the process of solid waste management was ineffective and unsustainable Behavior of communities and stakeholders is one of the dimensions of solid waste management To ensure sustainability in the management

of solid wastes, besides the economic issues - financial, technical, institutional - policy, the factors “The behavior of the people” should be analyzed and evaluation, from which there are effective solutions for the management of solid waste in general

The subject has developed a survey about knowledge, perceptions and behaviors of 165 people through the survey Through which the subject has used the theory of the participants to analyze the factors affecting the behavior of people in rural areas Tran Van Thoi district, Ca Mau province in the management of solid waste activities, then to propose, recommend measures to promote the participation

of the people in this work, aiming at sustainable development

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững Đó là việc vừa phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang diễn ra ở khắp mọi nơi và khu vực nông thôn cũng không ngoại lệ Cùng với sự phát triển không ngừng của kinh tế đất nước, sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế tỉnh Cà Mau, kinh tế huyện Trần Văn Thời cũng đang trong giai đoạn chuyển mình để phát triển, trong đó có khu vực nông thôn Sự phát triển đó đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện (UBND) bình quân hằng tháng khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời thải ra trên 1.700 tấn rác thải, tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt gần 40% Mặt khác, dân cư vùng nông thôn có thói quen tự xử lý rác thải theo hình thức phân tán ở cấp

độ hộ gia đình, xử lý bằng cách chôn lấp kết hợp với đốt Từ nhiều năm về trước, khi dân cư còn thưa thớt thì cách thức xử lý chất thải sinh hoạt như thế không gây ra vấn nạn ô nhiễm về môi trường Nhưng khi mật độ dân số gia tăng, sự hình thành các thị tứ, các khu dân cư tập trung ở nông thôn, và lượng rác thải ra ngày càng nhiều thì thu gom và xử lý rác thải trở thành vấn đề cấp thiết ở vùng nông thôn Bên cạnh đó,“công tác quản lý về môi trường ở khu vực nông thôn còn đan xen, thiếu đơn vị đầu mối, nhiều mảng còn bị bỏ ngỏ trong quản lý Tại Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV (năm 2015) đã chỉ ra một thực tế: Trong những năm qua, ngay từ cấp Trung ương, công tác quản lý môi trường nông thôn chưa có đơn vị đầu mối Nhiệm vụ, chức năng quản lý môi trường nông thôn còn chồng chéo, mỗi Bộ ngành một mảng Đơn cử như: đối với công tác quản lý chất thải rắn (CTR), Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng hiện chỉ tập trung vào công tác quản lý CTR khu vực đô thị và khu vực tập trung dân cư đông Còn tại khu vực nông thôn, công tác này lại được giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT); đối với chất thải nguy hại (chất thải từ hoạt động nông nghiệp, làng nghề) thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) là đơn vị được giao nhiệm vụ Tuy nhiên, chất thải sinh hoạt ở khu vực nông thôn hầu như

Trang 14

chưa có Bộ nào quản lý, còn đang bỏ ngỏ Mặt khác, trong quản lý chất thải, thuốc bảo vệ thực vật, việc thu gom, sử dụng, lưu giữ thuộc trách nhiệm của Bộ NN&PTNT, nhưng hiện việc xử lý, tiêu hủy bao bì, xử lý các kho hóa chất, thực vật tồn lưu lại thuộc trách nhiệm của Bộ TN&MT…”

Công tác“quản lý CTR ở nông thôn hiện nay cũng đang trong tình trạng không thống nhất tại các địa phương, nơi do Sở TN&MT quản lý (ở cấp huyện là Phòng TN&MT), nơi lại do Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm (ở cấp huyện là Phòng NN&PTNT) Riêng đối với chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) khu vực nông thôn và CTR của làng nghề, việc quản lý vẫn còn bất cập, bị bỏ ngỏ Do sự phân công, xác định trách nhiệm giữa các Bộ, ngành đối với công tác quản lý CTR ở nông thôn chưa được rõ ràng, nên chưa xác định được vai trò của các cấp, các ngành trong hệ thống quản lý, chồng chéo khi triển khai tổ chức thực hiện.”

Mặt khác, việc thu gom rác thải nông thôn chưa được coi trọng, còn manh mún, thô sơ, chủ yếu sử dụng phương thức thu gom ở các điểm tập kết rác lưu động, không áp dụng phương thức thu gọm tại nhà và thu gom theo khối Hiện nay, ở vùng nông thôn, chính quyền bố trí một số cụm thùng chứa rác ở một số khu dân cư tập trung để người dân đổ rác, sau đó có phương tiện đến thu gom, vận chuyển đến các điểm tập kết rác; nhưng hoạt động này cũng không được diễn ra thường xuyên, liên tục do chưa có sự kiểm soát, quản lý chặt chẽ của chính quyền cộng với việc tuyên truyền, vận động người dân chưa thật sự mang lại hiệu quả Ngoài ra, những nơi chưa được bố trí thùng chứa rác, những nơi phương tiện thu gom rác không đến được, thì chính quyền còn khá lúng túng, chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề rác thải nông thôn

Rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn do một bộ phận người dân không có ý thức vứt ra khắp nơi, từ đường thôn, ngõ xóm đến kênh mương, ao hồ, sông chỗ nào tiện và gần cũng có thể vứt rác, đổ chất thải sinh hoạt Đa phần người dân không tự xử lý phân loại rác nên việc chôn lấp, thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn trong vùng dân cư nông thôn chưa có cơ sở thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải Vấn đề này hiện rất đáng báo động, do mọi người coi việc giữ gìn bảo vệ môi

Trang 15

trường không phải là việc của cá nhân mình mà là việc của xã hội, họ có tư tưởng

“sạch riêng, bẩn chung” môi trường phải chịu, thói quen vứt rác bừa bãi, tùy tiện đã hình thành từ lâu đời và trở thành thói quen khó sửa

Quản lý CTRSH“ở nông thôn là một vấn đề bức xúc và cần được xử lý ngay

để hạn chế gây ô nhiễm môi trường và tác động đến sức khỏe người dân, đây cũng

là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới Trong những năm qua ở Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý CTR nhưng chủ yếu tập trung vào CTR công nghiệp, sinh hoạt ở các đô thị… mà ít có những nghiên cứu về CTRSH ở khu vực nông thôn Chính vì thế, việc nghiên cứu phân tích hành vi của người dân trong công tác quản lý CTRSH ở nông thôn là việc làm cần thiết Qua đó, giúp đánh giá sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân trong công tác này, đồng thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính quyền Đây là đề tài có tính khả thi và có ý nghĩa ứng dụng trong thực tiễn; góp phần bảo vệ môi trường, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của địa phương; đồng thời có thể nhân rộng, ứng dụng cho các địa phương khác.”

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Đề xuất, khuyến nghị giải pháp phát huy sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Người dân khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau có hành vi quản lý CTRSH như thế nào?

Làm thế nào để nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân trong công tác quản lý CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau?

Trang 16

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hành vi quản lý rác thải của người dân trong hoạt động quản

lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Phạm vi nghiên cứu: Huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài

Phương pháp chuyên gia:“Tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, nhằm để tham khảo các ý kiến về chuyên môn đối với các nội dung nghiên cứu của đề tài.”

Phươngpháp so sánh, đối chiếu các kết quả điều tra: Việc so sánh, đối

chiếu các chính sách, giải pháp nhằm tìm ra những ưu điểm, những hạn chế cần phải khắc phục của mỗi chính sách, giải pháp Trên cơ sở đó, đánh giá những kết quả, những mặt đạt được và những vấn đề còn hạn chế cần phải khắc phục.”

Phươngpháp tổng hợp và phân tích: Giúp đánh giá rõ về thực trạng hoạt

động quản lý CTRSH, qua đó đề xuất các chính sách, giải pháp có tính khoa học, khả thi, phù hợp với thực tế, nhằm góp phần thực hiện tốt hơn công tác quản lý CTRSH khu vực nông thôn.”

Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Kết quả của việc điều tra, phỏng vấn sẽ phục vụ cho xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài

1.6 Cấu trúc dự kiến của luận văn

Chương 1 Giới thiệu

Chương này trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vị nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết của

đề tài, tổng quan các nghiên cứu trước đây và rút ra bài học kinh nghiệm

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày mô hình lý thuyết, khung phân tích, quy trình nghiên cứu cụ thể; cách chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu

Trang 17

Chương 4 Kết quả và thảo luận

Chương“này trình bày kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tế, phân tích, thảo luận đánh giá kết quả nhằm phân tích hành vi của người dân trong công tác quản lý CTRSH ở khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Chương 5 Kết luận và các khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các khuyến nghị giúp phát huy sự tham gia của người dân trong công tác quản lý CTRSH khu vực nông thôn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Trang 18

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Lý thuyết về sự tham gia

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự tham gia của người dân,“tùy thuộc vào lĩnh vực, góc độ tiếp cận của vấn đề Theo World Bank (2005), trích bởi Bàn Cao Sơn (2016) thì tham gia là quá trình trong đó các nhóm liên quan tác động và chia

sẻ giám sát đối với hoạt động phát triển, các quyết định và các nguồn gây ảnh hưởng đến họ Theo Florin, Paul (1990), trích bởi Đào Duy Ngọc (2015) thì sự tham gia của người dân là quá trình mà trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ Như vậy, có thể thấy rằng tham gia là sự tương tác của các bên liên quan nhằm đạt được mục tiêu chung.”

Theo một định nghĩa khác của Pierre André (2012), trích bởi Đào Duy Ngọc (2015)“thì sự tham gia của người dân là quá trình mà trong đó những người dân thường tham gia - trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc và hành động một mình hoặc trong một nhóm - với mục tiêu ảnh hưởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng đồng của họ Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hội hay người

ra quyết định Tùy vào nhận thức, văn hóa và điều kiện địa lý của từng vùng khác nhau, mà mức độ tham gia của người dân vào các công việc phát triển cộng đồng thể hiện ở các cấp độ khác nhau, như một tiến trình liên tục; được chia thành 06 cấp

độ như sau:”

(1)“Tham gia thụ động (Passive participation): Trong các hoạt động, người

dân thụ động tham gia, kêu sao làm vậy và không tham dự vào việc ra quyết định.”

contributors): Thông qua trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham dự vào việc phân tích và sử dụng các thông tin.”

tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương của mình.”

Trang 19

(4)“Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation): Trong

các hoạt động, người dân thành lập nhóm nhằm cùng thực hiện các chương trình, dự

án tại địa phương, tuy nhiên ở cấp độ này họ vẫn không tham dự vào quá trình ra quyết định.”

Người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích và xây dựng kế hoạch, lúc này họ tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định tại địa phương.”

(6)“Tham gia tự nguyện (Self-mobilization): Người dân tự mình thực hiện

ngay từ đầu tất cả các công việc, từ việc lên ý tưởng, xây dựng kế hoạch và đánh giá các hoạt động, việc này được thực hiện mà không có sự hỗ trợ hay định hướng từ bên ngoài.”

“Hình 2.1 Những mức độ tham gia của người dân theo Pierre André.”

Nguồn: Tác giả tự vẽ ”

Hay một quan điểm khác thể hiện mức độ tham gia sâu hơn của người dân: theo Heller, Price, Reinharz, và Wandersman (1984) trích bởi Võ Thanh Duy (2014) thì“sự tham gia của người dân được định nghĩa là một quá trình mà những cá

Tham gia tự nguyện

Tham gia trong quá trình ra quyết định

Tham gia trong việc thực hiện

Tham gia như nhà tư vấn

Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin

Tham gia thụ động

Trang 20

nhân được tham gia trong việc đưa ra các quyết định liên quan đến thể chế, các chương trình và môi trường có tác động đến đời sống người dân Hoặc Sherry R Arnstein (1969) trích bởi Võ Thanh Diệu (2017) lại chú trọng đến việc phân chia các mức độ tham gia của người dân thông qua việc đưa ra thang đo 08 mức độ (Vancouver Community Network, 2014); thang đo này đã được David Wilcox mô

tả như sau:”

“Hình 2.2 Thang đo về sự tham gia của người dân theo Wilcox.”

Nguồn: Tác giả tự vẽ

chỉ nhằm mục đích là đào tạo những người tham gia Giả sử rằng kế hoạch kiến nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng, thông qua quan hệ công chúng.”

nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân nhưng thông tin thường chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi.”

khu dân cư để tham khảo ý kiến cộng đồng; nhưng thường mang tính hình thức.”

Người dân quản lý

Ủy quyền

Vận động

Động viên Tham vấn Cung cấp thông tin

Liệu pháp

Hợp tác

Người dân nắm quyền

Tham gia mang tính hình thức

Không tham gia gia

Sự tham gia của người dân

Trang 21

(5)“Động viên: Tiến hành bầu ra các thành viên xứng đáng vào ủy ban.

(6)“Hợp tác: Thực hiện việc dàn xếp để nhằm phân phối lại quyền lực giữa

người dân và nhà cầm quyền; cả hai bên đều phải có trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch và ra quyết định.”

và có quyền trong việc ra các quyết định Giai đoạn này, quần chúng đã có thể chịu trách nhiệm.”

(8) Người quản lý: Đến giai đoạn này, cộng đồng đã có thể tự mình thực hiện

tất cả công việc xây dựng kế hoạch, hoạch định các chính sách và quản lý các chương trình, dự án

Hoặc theo Dower (1996), trích bởi Nguyễn Nguyệt Huế (2015) thì“sự tham gia là quá trình vận động gồm nhiều mức độ tiếp cận khác nhau của cộng đồng; mức độ càng cao thì vai trò, trách nhiệm của cộng đồng càng được đòi hỏi nhiều hơn; được chia ra thành 05 cấp độ từ thấp đến cao, như sau:”

“Hình 2.3 Những mức độ tham gia của người dân theo Dower.”

Nguồn: Tác giả tự vẽ

quan Đây được xem là bước đầu tiên để bắt đầu việc thúc đẩy sự tham gia, nhưng thông tin lúc này chỉ mang tính một chiều, chưa có sự phản hồi từ phía các đối tượng liên quan.”

Trao quyền

Hợp tác Tham gia

Tư vấn Thông tin

Trang 22

(2)“Tư vấn: Thực hiện việc khảo sát thái độ của người dân về công trình, dự

án thông qua tổ chức các cuộc họp khu dân cư, tham khảo ý kiến của cộng đồng Ở cấp độ này, thông tin sẽ được cung cấp cho các bên có liên quan, người đứng ra tổ chức tham vấn sẽ lắng nghe những khó khăn và nhu cầu của cộng đồng Tuy nhiên, việc tham vấn này chỉ mang tính tham khảo, các nhà tài trợ sẽ tự đưa ra giải pháp

và quyết định Cộng đồng không được tham gia vào việc ra quyết định.”

đồng hoặc theo chức năng Cộng đồng tham gia thông qua việc đóng góp bằng các loại tài nguyên sẵn có nhằm đổi lấy tiền bạc, lương thực… hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ, lao động… Cộng đồng có thể hình thành các nhóm nhỏ thực hiện những chức năng có liên quan đến chương trình, dự án Ở cấp độ này, người bên ngoài cũng sẽ được tham gia quyết định các vấn đề Sự tham gia chỉ xuất hiện sau khi đã

có các quyết định.”

nhà cầm quyền, hai bên đều phải có trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch và đưa ra các quyết định Theo đó, cộng đồng tham gia bằng cách là cùng phân tích các vấn đề và dẫn đến việc lập kế hoạch để hành động Các bên liên quan sẽ cùng đưa ra các giải pháp, tổng hợp các kiến nghị để đưa ra quyết định cuối cùng.”

(5)“Trao quyền: Cộng đồng sẽ nắm giữ hầu hết về quyền đưa ra các quyết

định Lúc này, cộng đồng tự xác định các vấn đề và tự họ tìm tòi, sáng tạo các chính sách, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề Người bên ngoài, ở cấp độ này chỉ có vai trò xúc tác, hỗ trợ để tăng năng lực của cộng đồng.”

2.1.2 Chất thải rắn

* Chất thải rắn

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”

* Chất thải rắn sinh hoạt

Trang 23

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”

* Tác hại của CTRSH đối với môi trường, sức khỏe của cộng đồng

Rác thải một khi“được thải vào môi trường sẽ gây ra sự ô nhiễm không khí, nước, đất Bên cạnh đó, rác còn làm mất vẽ mỹ quan môi trường, mất vệ sinh công cộng; rác thải còn là nơi cư trú, phát triển của các loài gây bệnh trên người, vật nuôi Mức độ tác hại của rác thải đến môi trường ít hay nhiều sẽ phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom, xử lý rác thải, sự hiểu biết và khả năng, trình độ nhận thức của người dân.”

Tác hại đối với“môi trường không khí: Rác thải của các hộ gia đình thải ra chủ yếu là rác thải thực phẩm, có thành phần chính là chất hữu cơ, khi các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S,

NH3, CH4, SO2, CO2.”

Tác hại đối với môi trường nước: Theo thói quen nhiều người thường đổ rác tại bờ sông, hồ, ao, kênh mương; theo thời gian, các đống rác này sẽ càng ngày càng làm giảm đi diện tích kênh mương, ao hồ, gây cản trở các dòng chảy, nước giảm đi khả năng tự làm sạch của mình, hệ sinh thái nước trong các ao hồ, kênh mương bị huỷ diệt Những đống rác này sau khi phân hủy có tác hại trực tiếp, gián tiếp đến chất lượng nguồn nước ngầm, nguồn nước mặt ở xung quanh; nó là một trong các nguyên nhân gây bệnh về tả, tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, thương hàn,… ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe của người dân, cộng đồng.”

Tác hại“đối với môi trường đất: Rác thải khi xâm nhập vào môi trường đất, các chất độc hại có trong rác thải sẽ tiêu diệt các sinh vật có ích cho đất như: vi sinh vật, giun, ếch nhái, nhiều loài động vật không xương sống, dẫn đến làm giảm tính

đa dạng sinh học của môi trường đất, đồng thời nhiều sâu bọ sẽ phát sinh gây hại cho cây trồng Người dân trong sinh hoạt và đời sống hiện nay sử dụng rất nhiều

Trang 24

các loại túi nilông, khi chúng xâm nhập vào đất sẽ phải mất từ 50 - 60 năm mới phân huỷ hết, tác động rất tiêu cực đến việc tổng hợp các chất dinh dưỡng trong đất, dẫn đến làm giảm sút năng suất của cây trồng.”

Tác hại“đến sức khỏe của con người: Thông thường, trong thành phần CTRSH chiếm tỉ lệ lớn là hàm lượng hữu cơ, dễ bị lên men, phân huỷ, bốc mùi hôi, thối Rác thải tồn đọng lâu ngày sẽ gây ảnh hưởng đối với sức khỏe người dân, cộng đồng xung quanh Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, hằng năm trên thế giới

có hơn 05 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải.”

Nhiều“kết quả nghiên cứu cho thấy các bãi rác công cộng là những nguồn mang dịch bệnh nguy hiểm: vi khuẩn thương hàn có thể tồn tại 15 ngày, vi khuẩn lỵ

có thể tồn tại 40 ngày, trứng giun đũa có thể tồn tại 300 ngày trong các bãi rác Mặt khác, trong các bãi rác còn tồn tại nhiều loại vật chủ trung gian gây bệnh như: ruồi, muỗi, chuột…và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho con người, vật nuôi như: muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, chuột truyền bệnh dịch hạch, xoắn trùng ruồi truyền bệnh sốt vàng da, gián truyền bệnh đường tiêu hoá, ”

* Quản lý chất thải

Theo quy định tại Khoản 15, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường thì “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải” Quản lý chất thải là làm sao để các chất có thể gây ô nhiễm môi trường không lan truyền ra khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển

Hoạt động“quản lý chất thải mang tính hệ thống, trong đó mỗi quá trình là một tiểu hệ thống (phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng chất thải); để đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động bền vững, các tiểu hệ thống này phải

có mối liên hệ tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Đối với các nước đang phát triển, công tác quản lý chất thải gặp nhiều khó khăn hơn các nước phát triển, nguyên nhân chủ yếu là do các yếu tố về thể chế, việc xây dựng và thực hiện các chính sách, do mối quan hệ giữa các bên có liên quan trong hoạt động quản lý, sự tham gia của

Trang 25

người dân; hay những khó khăn về ngân sách, tài chính, về công nghệ, trang thiết bị lạc hậu.”

Đối với huyện Trần Văn Thời, kinh tế đang phát triển, dân số cũng ngày càng tăng cao,“từ đó đã kéo theo các vấn đề phát sinh về ô nhiễm môi trường, đòi hỏi chính quyền cần phải có những giải pháp từ trên xuống dưới, kết hợp với những giải pháp mang tính cộng đồng từ dưới lên trên Những giải pháp từ phía cộng đồng nhấn mạnh vai trò, sự tham gia của các bên liên quan, trong đó các hộ gia đình, dù với tư cách cá nhân mỗi người hay với tư cách là tập thể thì cũng đều quan trọng trong việc thải rác, phân loại, thu gom và xử lý rác thải Đồng thời, giữa các bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải cũng tồn tại mối quan hệ tương tác Mức

độ tham gia của các tổ chức dựa vào cộng đồng chi phối, tác động đến sự tham gia mạnh hay yếu của các hộ gia đình Các tổ chức này sẽ tiến hành vận động người dân tham gia, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát các công việc và kết nối với các bên liên quan khác Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cũng có vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện các chính sách, tổ chức công tác giáo dục, truyền thông, vận động cộng đồng hoặc hỗ trợ, ủng hộ sự tham gia của cộng đồng dân cư hay các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương.”

2.2 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt một số nước trên thế giới

và ở Việt Nam

2.2.1 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới

Theo Nguyễn Thị Bình (2012), Nguyễn Thị Thu Thủy (2012), sự văn minh, mức sống, đặc điểm dân cư, tính đặc thù của từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn tạo rác trung bình tính trên đầu người đối với từng loại chất thải Mặc dù vậy, xu hướng chung của thế giới là ở khu vực nào có mức đô thị hóa càng cao, mức sống của người dân càng cao thì ở khu vực đó lượng chất thải phát sinh càng nhiều, ví dụ: ở Trung Quốc là 1,3 kg/người/ngày; Thụy Sỹ 1,3 kg/người/ngày; Australia 1,6 kg/người/ngày và Canada 1,7 kg/người/ngày Sự gia tăng nhanh chóng của rác thải đặt ra cho các quốc gia bài toán về thu gom, phân loại, xử lý rác thải Trên thế giới áp dụng nhiều cách xử lý rác thải khác nhau như: công nghệ sử dụng

Trang 26

nhiệt, sinh học hoặc seraphin Việc phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa kèm theo

đó là mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tính theo đầu người tăng lên; ngân sách chi cho công tác quản lý rác thải ở các quốc gia khá cao, nhất là ở các quốc gia đang phát triển chi phí có thể lên tới 50% ngân sách, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý rác thải cũng còn nhiều thiếu thốn, trong đó có Việt Nam

Bảng 2.1 Lượng phát sinh CTR ở một số nước.”

Tên nước Dân số đô thị hiện nay

Ở một số nước trên thế giới đã có các mô hình quản lý rác thải hiệu quả:

- Đức:“Đức là một nước có ngành tái chế rác thải nằm trong top dẫn đầu thế giới Từ năm 1991, công tác phân loại rác thải đã được triển khai thực hiện một cách nghiêm túc Mỗi gia đình được phát 04 thùng rác với màu sắc khác nhau: Rác bao bì gồm hộp đựng thức ăn, nước hoa quả, máy móc bằng nhựa, kim loại hay bìa các

Trang 27

tông được gom vào thùng màu vàng Bên cạnh thùng vàng, còn có thùng xanh dương cho giấy, thùng xanh lá cây cho rác sinh học, thùng đen cho thủy tinh Các loại này sẽ được mang đến các nơi xử lý khác nhau Đối với hệ thống thu gom rác công cộng đặt trên hè phố rác được chia làm 04 loại với 04 thùng có màu sắc khác nhau: Màu xanh lam đựng giấy, màu vàng đựng túi nhựa và kim loại, màu đỏ đựng kính và thủy tinh, màu xanh thẫm đựng rác còn lại (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2012).”

- Nhật Bản:“Nhật đã chuyển đổi mô hình quản lý rác thải truyền thống sang

mô hình quản lý có sự tham gia của xã hội, với công nghệ hiện đại Công tác thu gom CTRSH khá tốt, thực hiện việc phân loại rác thải tại nguồn, chính quyền yêu cầu các hộ gia đình phân chia rác thải thành 03 loại: Rác có thể tái chế, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác hữu cơ dễ phân hủy; rác được đựng trong những túi có màu sắc khác nhau Ở các cụm dân cư có bố trí điểm tập kết rác, vào đúng giờ quy định thì người dân tự mang rác ra điểm tập kết, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư, nếu họ phát hiện hộ nào để rác lộn xộn trong một túi mà không phân loại thì lập tức việc này sẽ được báo cáo đến đơn vị có thẩm quyền, ngay sau đó sẽ có giấy phạt của công ty vệ sinh gửi đến hộ gia đình (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2012).”

- Singapore:“Singapore là một trong những nước có môi trường sạch và xanh nhất thế giới Có được thành quả đó, Singapore đã đầu tư rất lớn cho hoạt động quản lý chất thải, cùng với đó là xây dựng hệ thống pháp luật nghiêm khắc, đủ sức răn đe các hành vi xả rác, gây ô nhiễm môi trường Việc thu gom rác được tổ chức với quy mô lớn, bao gồm Nhà nước và tư nhân hoạt động Trong đó, các tổ chức thuộc Bộ Môi trường thu gom chủ yếu rác thải khu dân cư và các công trường, nhà máy; hơn 300 công ty tư nhân thu gom rác được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát của Bộ Môi trường thu gom chủ yếu chất thải công nghiệp và nơi thương mại Bên cạnh đó, chính quyền Singapore còn áp dụng chính sách khuyến khích các công ty, nhà máy, xí nghiệp và người dân tự thu gom, vận chuyển rác thải đến các công ty thu gom rác (Nguyễn Thị Bình, 2012).”

- Tại Philippines,“việc bảo vệ môi trường và ý thức của người dân cũng rất cao Các điểm đổ rác ở cửa hàng, quán ăn hay trụ sở, văn phòng công ty đều được

Trang 28

bố trí 03 thùng rác với màu sắc khác nhau để phân loại rác Hiện nay, tại Philippines rác thải bắt buộc phải được phân loại tại nguồn và rác thải có thể tái chế phải được

xử lý theo các công nghệ thích hợp, ưu tiên chế biến phân compost Bên cạnh đó, kiểm soát các bãi chôn lấp hở và thiết kế các bãi chôn lấp hợp vệ sinh để xử lý các rác thải không thể tái chế Theo thống kê, rác thải đô thị được xử lý theo 03 hình thức: 57% chôn lấp, 32% đốt và 11% tái chế Hoạt động tái chế chất thải tại Philippines rất phát triển với 692 đơn vị tham gia tái chế, trong đó 618 đơn vị tư nhân; các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực buôn bán, tái chế Chẳng hạn có những công ty lớn như: Tổng công ty San Miguel mua kính và thủy tinh vụn; Tập đoàn TIPCO mua giấy Cả 02 công ty đều độc quyền trong lĩnh vực sản xuất tái chế Ngoài ra, một số công ty vừa tại Luzon-Cebu xử lý tái chế phế liệu kim loại, nhiều công ty đang mở rộng sản xuất tái chế lốp xe và thu mua các chất chứa terapthalate polyethylene (PET), công ty Moldex, Maluras hoạt động sản xuất tái chế nhựa và nhiều công ty khác tham gia vào sản xuất, tái chế chất thải chì, pin cũ Các sản phẩm tái chế được xuất khẩu sang Trung quốc, Hồng Kông, Việt Nam và Singapore (Phạm Thị Tuyết, 2016).”

2.2.2 Hiện trạng quản lý CTRSH ở Việt Nam

Nước ta đang trong giai đoạn phát triển,“quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều Ở các đô thị, khu công nghiệp, những nơi tập trung đông dân cư thì CTRSH là một trong những nguồn gây

ô nhiễm môi trường chủ yếu, mức độ ô nhiễm gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép, điều này là hệ lụy của tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, nhưng dành nguồn lực đầu tư cho việc xử lý rác thải có hạn, cộng với công tác quản lý của chính quyền thiếu chặt chẽ Ở khu vực nông thôn, hiện nay mật độ dân số gia tăng hơn trước, sự hình thành các thị trấn, thị tứ, các khu dân cư tập trung, sự phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp… dẫn đến lượng rác thải ra ngày càng nhiều Vấn đề này hiện rất đáng báo động, đang tạo ra sự ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khỏe của người dân, cộng đồng.”

Trang 29

Hình 2.4 Mô hình quản lý CTRSH tại Việt Nam

(Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2015)

2.2.2.1 Nguồn phát sinh, lượng phát sinh và thành phần CTRSH

Theo Báo cáo về hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì“trong những năm qua, ô nhiễm CTR tiếp tục là một trong những vấn đề môi trường trọng điểm Trên phạm vi toàn quốc, CTR phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh là CTRSH đô thị, 17% CTR từ hoạt động sản xuất công nghiệp; còn lại là CTR nông thôn, làng nghề và y tế.”

Đối với khu vực đô thị,“lượng CTRSH phát sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 tiếp tục gia tăng và có xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006 - 2010 Tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 - 16% mỗi năm Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTRSH chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%) Ước tính lượng phát sinh CTRSH khoảng 63 nghìn tấn/ngày, tính bình quân trên đầu người cho các đô thị là 0,73

Phân loại, lưu trữ, xử lý CTRSH tại nguồn

Trang 30

kg/người/ngày Một số loại CTR đô thị như: rác khu thương mại, xà bần, rác công nghiệp, trước đây ít thì những năm gần đây mức độ tăng (khối lượng và thành phần chất thải) ngày càng cao Tỷ trọng nguồn phát sinh cụ thể:”

- Rác hộ dân chiếm tỷ trọng 57,91% tổng lượng rác

- Rác đường phố chiếm tỷ trọng 14,29% tổng lượng rác

- Rác công sở chiếm tỷ trọng 2,8% tổng lượng rác

- Rác chợ chiếm tỷ trọng 13% tổng lượng rác

- Rác thương nghiệp chiếm tỷ trọng 12% tổng lượng rác

Thành“phần chủ yếu trong CTRSH đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ khá cao từ 60 - 75% tổng khối lượng chất thải (Sở Tài nguyên và Môi

trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2015) ”

Theo phạm vi, miền Đông Nam Bộ là khu vực có mức phát sinh CTRSH cao nhất trong cả nước với 33%, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh CTRSH là 22%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có lượng phát sinh CTRSH là 18%; Đồng bằng sông Cửu Long có lượng phát sinh CTRSH là 15%; rồi đến Trung du và miền núi phía Bắc có lượng phát sinh CTRSH là 07%; khu vực Tây Nguyên có lượng phát sinh CTRSH với tỷ lệ 05%, thấp nhất so với các khu vực khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015).”

Đối với khu vực nông thôn, ước tính mỗi năm phát sinh khoảng 07 triệu tấn CTRSH (tính bình quân 0,5 kg/người/ngày), hơn 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất thải chăn nuôi Vùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long có lượng phát sinh CTRSH nông thôn lớn nhất, do có mức độ hoạt động sản xuất nông nghiệp cao CTRSH khu vực nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải làm vườn, phần lớn chúng đều dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong CTRSH gia đình ở nông thôn) Về cơ bản, lượng phát sinh CTRSH ở nông thôn phụ thuộc vào mật độ dân

cư và nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhìn chung, khu vực đồng bằng có lượng phát sinh CTRSH cao hơn khu vực miền núi; dân cư khu vực có mức tiêu dùng cao thì lượng rác thải sinh hoạt cũng cao hơn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015).”

Trang 31

2.2.2.2 Công tác phân loại

Để quản lý tốt nguồn phát sinh trên cả nước, các cơ quan hữu quan,“chính quyền các địa phương cần quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.”

Theo Phạm Thị Tuyết (2016),“nếu thực hiện phân loại rác tại nguồn (chỉ có rác vô cơ mới phải đưa đi chôn lấp) thì sẽ giảm ít nhất 50% khối lượng và các vấn

đề môi trường cũng giảm nhiều

Ở Hà Nội,“từ tháng 3/2007, đã tiến hành triển khai dự án phân loại rác tại nguồn áp dụng cho 04 quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình và Đống Đa Việc

phân loại rác tại nguồn ở Hà Nội đem lại nhiều lợi ích:

- Tổng giá trị thu được từ phế liệu có thể tới 800 triệu đồng/ngày

- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nước

- Tiết kiệm năng lượng

- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhờ giảm thiểu lượng khí mêtan (CH4) và

CO2 phát sinh từ các bãi chôn lấp, vốn là những khí gây hiệu ứng nhà kính

- Giảm tối đa khối lượng nước rác rò rỉ, nước rò rỉ được xử lý dễ dàng hơn

- Giảm gánh nặng ngân sách chi cho công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển

và xử lý.“Điều quan trọng hơn, việc “phân loại rác tại nguồn” thì những công nhân

vệ sinh môi trường không còn là những người làm công việc thu dọn vệ sinh thầm lặng mà chính họ là những người hướng dẫn gần gũi nhất với người dân về cách thức phân loại rác tại nguồn.”

Tại Lào Cai,“từnăm 2014 thành phố đã triển khai Đề án phân loại CTRSH tại nguồn ở 12 phường trên địa bàn Rác thải được phân loại đựng vào 02 thùng rác vô

cơ và hữu cơ Đối với chất thải phát sinh trong quá trình thi công các công trình xây dựng như đất đá thải, vật liệu xây dựng, phải đổ đúng nơi quy định Kết quả, nhiều khu dân cư, tổ dân phố đã có trên 90% hộ gia đình thực hiện tốt Tuy nhiên, vẫn có một số nơi trên địa bàn thành phố tỷ lệ phân loại rác tại nguồn còn thấp.”

2.2.2.3 Công tác thu gom, vận chuyển

Trang 32

Tỷ lệ thu gom“rác thải sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40 - 55% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ thu gom rác thải tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”Tại các đô thị,“việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt do Công ty Môi trường đô thị hoặc Công ty Công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”

Ở khu vực nông thôn,“việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt do nhiều đơn vị thực hiện: Mô hình Công ty môi trường đô thị, Hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường, mô hình thu gom theo các tổ chức tư nhân, mô hình thu gom do xã, thôn tổ chức, mô hình thu gom tự quản do dân tự tổ chức (Vũ Quốc Chính và cộng

sự, 2013).”

- Mô hình công ty Môi trường đô thị (MTĐT)”

Một số vùng ven đô,“các công ty MTĐT đã mở rộng dịch vụ thu gom rác thải cho các xã lân cận Công ty có thể làm dịch vụ trọn gói từ thu gom, vận chuyển và

xử lý rác thải hoặc chỉ vận chuyển và xử lý Kinh phí hoạt động của công ty từ nguồn thu phí của dân và ngân sách của tỉnh, thành phố Thu nhập của người làm dịch vụ từ 1.200.000 - 2.000.000 đồng/người/tháng và được hưởng đầy đủ các chế độ của lao động nặng và độc hại Ở nước ta hiện nay phần lớn các đô thị áp dụng dịch

vụ này và chỉ có một số ít các xã ven các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh được hưởng các dịch vụ này (Vũ Quốc Chính và cộng sự, 2013).”

- Mô hình Hợp tác xã (HTX) dịch vụ vệ sinh môi trường (VSMT)”

Đây được“coi là mô hình hoạt động hiệu quả nhất ở nông thôn Hoạt động theo luật HTX, có điều lệ hoạt động, phương án sản xuất dịch vụ, kết hợp nhiều loại

Trang 33

dịch vụ môi trường như thu gom rác thải, thoát nước, cây xanh, quản lý nghĩa trang Hình thức này chủ yếu ở các thị trấn, thị tứ, rất ít các xã có hình thức dịch

vụ này Hầu hết các HTX dịch vụ môi trường đã được đầu tư xe thu gom rác, một

số nơi đã được đầu tư xe vận chuyển rác thải Thu nhập của người làm dịch vụ môi trường trung bình từ 500.000 - 1.000.000 đồng/người/tháng, người lao động được trang bị bảo hộ lao động, bảo hiểm y tế và bảo hiêm xã hội Số lần thu gom/tuần là

03 - 07 lần/tuần (Vũ Quốc Chính và cộng sự, 2013).”

- Mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hoặc Công ty cổ phần

Mô hình“này rất ít có ở các vùng nông thôn do các dịch vụ về môi trường không mang lại lợi nhuận về kinh tế (Vũ Quốc Chính và cộng sự, 2013).”

- Mô hình thu gom do xã, thôn tổ chức”

Mô hình“này đã có sự quan tâm của chính quyền địa phương như hỗ trợ về phương tiện thu gom, nhiều địa phương đã quy hoạch được điểm tập kết, bãi chôn lấp rác Tuy nhiên, các mô hình này cũng chỉ dừng lại ở nhiệm vụ thu gom rác thải

từ khu dân cư đến các điểm tập kết, chưa có các biện pháp kỹ thuật trong phân loại,

xử lý rác thải Chưa xây dựng được cơ chế và nguồn tài chính để duy trì công tác thu gom, xử lý rác thải Thu nhập của người thu gom trung bình 200.000 - 300.000 đồng/tháng, người thu gom chưa được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Số lần thu gom rác 02 - 03 lần/tuần Hoạt động thiếu chuyên nghiệp dẫn đến hiệu quả thấp Trách nhiệm của các cấp địa phương chủ yếu là hỗ trợ (nên có đến đâu hỗ trợ đến đấy) mà chưa xây dựng được quy trình thu gom, xử lý rác thải đảm bảo các yêu cầu vệ sinh môi trường (Vũ Quốc Chính và cộng sự, 2013).”

- Mô hình thu gom tự quản do dân tự tổ chức”

Đây là“hình thức phổ biến ở các vùng nông thôn, do người dân tự thỏa thuận

và cử người thu gom cho 01 xóm hoặc 01 cụm dân cư Rác thải sau khi thu gom thường là đổ lộ thiên ra bãi rác tập trung, ven đường làng, bờ mương, chưa được sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp địa phương cả về tài chính và chính sách, người thu gom rác phải tự trang bị phương tiện thu gom, thu nhập trung bình chỉ đạt 100.000 - 150.000 đồng/người/tháng, không được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm

Trang 34

xã hội và bảo hộ lao động Hoạt động không chuyên nghiệp, số lần thu gom trung bình 01 lần/tuần, có nơi 02 tuần/01 lần; chủ yếu thu gom rác cho khu vực ven đường chính và khu tập trung dân cư (Vũ Quốc Chính và cộng sự, 2013).”

Bảng 2.2 Tổng hợp hoạt động của các mô hình dịch vụ quản lý chất thải nông thôn

TT Nội dung

Mô hình dịch vụ

Tự quản HTX dịch vụ môi trường Công ty TNHH

Công ty MTĐT

1 Địa bàn hoạt động Phổ biến ở các

vùng nông thôn

Chủ yếu ở các thị trấn, thị tứ

Chủ yếu các vùng ven khu công nghiệp

Chủ yếu các vùng ven đô

4 Bảo hộ lao động (bộ/năm) Không có 01 01 02

5 Bảo hiểm xã hội Không có Tự đóng Công ty đóng Nhà nước

8 Thiết bị vận chuyển Không có Đầu tư từ ngân sách

địa phương Công ty đầu tư Nhà nước đầu tư

9 Tính ổn định Không ổn định Tương đối ổn định Không ổn định Ôn định

(Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra đánh giá thực trạng năng lực hoạt động của các

tổ chức dịch vụ thu gom rác ở nông thôn các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng).

2.2.2.4 Công tác xử lý

Nhìn chung, CTRSH được xử lý chủ yếu bằng hình thức chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt

Trong khuôn khổ“Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011 - 2020 đã có

26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương Trong số 26 cơ sở xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở

xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu

cơ, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ

Trang 35

sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình xử

lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”

Theo thống kê,“có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy mô trên 0l ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Trên thực tế, tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”

Hiện nay,“các cơ sở xử lý CTRSH thành phân hữu cơ sử dụng công nghệ ủ hiếu khí là chủ yếu Hệ thống xử lý này góp phần hạn chế chôn lấp rác thải, nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn Một số địa phương sử dụng nguồn vốn ODA để nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử

lý CTRSH thành phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công nghiệp (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”

Tại Việt Nam“hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã Theo báo cáo của các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước.”Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ là giải pháp tình thế, do một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; nhiều lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi

Trang 36

trường không khí Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình

xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để (Nguyễn Văn Lâm, 2015).”

Có thể thấy rằng, hiện nay công tác quản lý CTRSH không còn là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị và thành phố lớn, mà trở thành vấn đề đáng báo động cả ở

lệ thu gom khoảng 85%; việc thu gom CTRSH tại khu vực trung du, miền núi, diện tích tự nhiên lớn, dân cư thưa thớt hơn vùng đồng bằng, đô thị, CTRSH phát sinh không nhiều và chưa phải là vấn đề đáng lo ngại Tuy nhiên, tại các vùng nông thôn, thì việc thu gom, xử lý CTRSH đang đặt ra nhiều thách thức lớn Khu vực nông thôn địa bàn khá rộng và xa, dân cư tập trung nhiều hơn khu vực trung du, miền núi nhưng lại ít hơn khu vực đô thị Nhận thức, sự hiểu biết của người dân nông thôn cũng hạn chế so với khu vực đô thị, đại bộ phận người dân nông thôn chịu ảnh hưởng của tập quán sinh sống cũ, ý thức kém, vứt rác, xả thải tự tiện, bừa

vệ môi trường trong dân lại thấp, thậm chí không thu được dẫn đến công tác quản

các khu vực nông thôn đã được các tổ, đội vệ sinh môi trường thu gom và vận

đạt khoảng 40% - 55%) Hình thức chủ yếu là bãi chôn lấp, bãi tập kết rác lộ thiên, hầu hết không có hệ thống xử lý nước rỉ rác, hoặc có nhưng hoạt động không hiệu quả gây ô nhiễm môi trường xung quanh Ðối với các loại chất thải nguy hại và khó phân hủy, việc thu gom và xử lý còn rất hạn chế, gây ảnh hưởng đáng kể đến môi

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước

Sự tham gia của người dân“đóng vai trò hết sức quan trọng trong tất cả các hoạt động có liên quan đến việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an

Trang 37

ninh của một địa phương Đến nay, có rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của người dân, từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến giảm nghèo bền vững, tham gia vào quá trình quy hoạch, xây dựng nông thôn mới, quản lý rác thải…”

Chương trình Tiếp cận cộng đồng Đông Nam Á (SEACAP 15, 2005) đã tiến hành nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong giao thông nông thôn nêu lên những vấn đề về đóng góp và tham gia của người dân, nhằm đánh giá hình thức và mức độ đóng góp của người dân tại hai tỉnh Vĩnh Long và Phú Thọ, cũng như tác động của các khoản đóng góp đến đời sống của họ.“Trong nghiên cứu của mình về vấn đề quy hoạch, Nguyễn Thị Hiền (2010) chỉ ra rằng các nhà quy hoạch và quản

lý cần làm việc không chỉ vì người dân mà còn phải cùng với người dân, sự tham gia của người dân là cần thiết và ngày càng phổ biến.”

Nghiên cứu“của Lưu Thị Tho và Phạm Bảo Dương (2013) về “Sự tham gia của cộng đồng các dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo ở một số địa phương miền núi phía Bắc” đã chỉ ra 05 yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng các dân tộc về các hoạt động kinh tế của các chương trình giảm nghèo bao gồm: cơ chế chính sách và giải pháp huy động sự tham gia của cộng đồng, năng lực và ý thức của các thành viên cộng đồng, nguồn lực và khả năng tiếp cận nguồn lực, thành phần dân tộc và giới tính Từ đó, các giải pháp mà nghiên cứu đề ra chủ yếu nhấn mạnh việc nâng cao năng lực cho cộng đồng, khi năng lực người dân được đáp ứng thì nên trao quyền, phân cấp đầu tư và triển khai thực hiện cho họ Cộng đồng hoàn toàn có khả năng tự quyết, tự làm chủ cuộc sống chính mình.”

Nghiên cứu của Võ Thanh Duy (2014) về “Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới: trường hợp tại hai xã Bình Dương và Bình Hiệp, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” Tác giả nghiên cứu thực địa tại hai xã Bình Dương và Bình Hiệp, nhận thấy sự tham gia của người dân trong chính sách xây dựng nông thôn mới vừa yếu vừa thụ động Mức độ tham gia của người dân giảm dần theo thang đo “biết, bàn, làm, kiểm tra” Do đó, cải thiện sự tham gia của người dân vừa là hành động vừa là mục đích của chính sách Khi sự tham gia của

Trang 38

người dân được cải thiện, không chỉ nguồn lực đầu tư cho xây dựng nông thôn mới tăng lên mà còn giúp người dân lấy lại sự tự tin trong phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu của“Bàn Cao Sơn (2016) về “Sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới, trường hợp xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang” Dựa trên thang đo của Arnstein (1969) cùng với nghiên cứu trường hợp điển hình tại xã Việt Lâm, đề tài đã khẳng định mức độ tham gia của người dân vào chương trình xây dựng nông thôn mới, từ việc đóng góp ý kiến vào đề án, quy hoạch đến tham gia vào từng mục cụ thể như đóng góp công sức, tiền của, tham gia cử ban giám sát và tổ chức quản lý, vận hành, bảo dưỡng Tuy nhiên, sự tham gia của từng đối tượng lại không đồng đều do có sự khác biệt về nghề nghiệp và mức thu nhập Mức độ tham gia của người dân theo thang đo được sử dụng để phân tích trong đề tài có xu hướng giảm dần, người dân chỉ tham gia tích cực và chủ động đối với những hoạt động họ trực tiếp đóng góp công sức, tiền bạc.”

Nghiên cứu của“Võ Thanh Diệu (2017) về “Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh” Qua khảo sát thực tế của tác giả tại huyện Củ Chi cho thấy lượng thông tin mà người dân tiếp nhận được xoay quanh chương trình xây dựng nông thôn mới còn thấp Thông tin tiếp cận chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu tuyên truyền hoặc có được thông tin khi tham gia các buổi họp tổ, ấp, xã hay khi nhận được sự kêu gọi đóng góp Mức độ tham gia của người dân theo thang đo “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng” có chiều hướng giảm dần Chỉ những hoạt động liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân và họ phải đóng góp chi phí để xây dựng thì họ mới tham gia một cách chủ động và tích cực.”

Nghiên cứu của Ngô Đức Tuấn (2018) về “Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” đã nhận định một trong những vấn đề của môi trường đô thị là quá trình quản lý chất thải rắn còn chưa hiệu quả và thiếu tính bền vững Hành

vi của cộng đồng và các bên liên quan là một trong những khía cạnh của quản lý chất thải rắn Đề tài đã triển khai khảo sát về thái độ, nhận thức và hành vi của

Trang 39

người dân qua 195 phiếu khảo sát Qua đó đề tài đã sử dụng các biến từ mô hình TPB để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của người dân, hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đô thị.

2.4 Bài học kinh nghiệm

Như vậy, theo các cơ sở lý thuyết và tổng quan một số nghiên cứu trước đây

về sự tham gia của người dân thì người dân sẽ tham gia vào những hoạt động có tác động đến đời sống cộng đồng cũng như từng cá nhân, theo những hình thức và mức

độ khác nhau tùy vào lĩnh vực, góc độ tiếp cận của vấn đề Có thể nhận thấy, nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng khá nhiều và đa dạng về lĩnh vực Từ những nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến các lĩnh vực giảm nghèo, phát triển sản xuất, kinh doanh, hay trong vấn đề quy hoạch, xây dựng nông thôn mới, quản lý rác thải…

Thông qua các nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức trong việc xác định vai trò của người dân trong việc tham gia vào các hoạt động là thực sự quan trọng Tùy từng hoàn cảnh, mục tiêu của địa phương và năng lực, kiến thức có thể thấy rằng sự tham gia của người dân thực sự đa dạng, trên tất cả các lĩnh vực với mức độ tham gia khác nhau Khi xem xét công tác quản lý rác thải, cụ thể trong trường hợp này là rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn, nhận thấy nó đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cộng đồng dân cư nông thôn, nên đây là cơ sở cho người dân tham gia vào các hoạt động này Sự tham gia của người dân như tất yếu khách quan trong hoạt động quản lý rác thải hiện nay

Mỗi nghiên cứu đều đưa ra những nhận định về sự tham gia khác nhau, kết luận của các tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau bởi lĩnh vực, điều kiện và phương pháp nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, giúp củng cố nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình lý thuyết

Dựa trên cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu trước đây, kinh nghiệm trong nước, quốc tế cũng như từ thực tiễn của bản thân về vấn đề quản lý rác thải, để phân tích hành vi của người dân nông thôn huyện Trần Văn Thời trong công tác quản lý rác thải, tác giả đề xuất mô hình lý thuyết nghiên cứu như sau:

Hình 3.1 Sơ đồ mô hình lý thuyết nghiên cứu

Nguồn: Ttheo Dower (1996) trích bởi Nguyễn Nguyệt Huế (2015)

(1) Thông tin: Chính quyền bằng nhiều hình thức khác nhau sẽ cung cấp thông

tin về công tác quản lý rác thải cho các bên có liên quan (cộng đồng dân cư, các đơn

vị thu gom rác,…) nhằm thúc đẩy sự tham gia của họ.”

chương trình, dự án thông qua việc tổ chức các cuộc họp dân cư và tham khảo ý kiến của họ Chính quyền cung cấp thông tin cho các bên và lắng nghe những khó khăn, nhu cầu của họ để tham khảo, từ đó đưa ra quyết định, giải pháp phù hợp.”

vật chất, theo hợp đồng hoặc theo chức năng Họ đóng góp kinh phí để đổi lấy hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc vật chất (liên quan đến thu gom rác thải).”

(4) Hợp tác: Quyền lực được phân phối cho cả người dân, đơn vị thu gom rác

và chính quyền, tất cả đều phải có trách nhiệm trong việc lập kế hoạch và ra quyết

Sự tham gia của người dân

Trao quyền

Tham gia

Tư vấn

Thông tin Hợp tác

Ngày đăng: 29/05/2019, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w