1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án tỉnh bến tre

60 274 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 553,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu: Thực tế cho thấy đa số các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đã giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đa phần là tranh chấp xuất phát từ việc phía bên vay t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

VÕ THẾ TRANG ĐỀN

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TẠI TÒA ÁN TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

VÕ THẾ TRANG ĐỀN

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

TẠI TÒA ÁN TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số : 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ VĂN HƯNG

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 5

LỜI NÓI ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 13

1.1 KHÁI NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 13

1.1.1 Định nghĩa hợp đồng tín dụng (HĐTD): 13

1.1.2 Nguyên tắc hợp đồng tín dụng: 15

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 15

1.3 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT TRANH CHẤP HĐTD 17

1.4 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG: 20

1.4.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện: 20

1.4.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 21

1.4.3 Xác định điều kiện về thẩm quyền của Toà án đối với giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài: 21

1.4.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án: 21

1.5 ĐẶC TRƯNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN: 23

1.5.1 Về trình tự giải quyết: 23

1.5.2 Về việc xác định đương sự trong vụ án: 24

1.5.3 Về áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng: 24

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG QUA MỘT SỐ VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE 25

2.1 VỤ ÁN THỨ NHẤT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN NGƯỜI THỨ 3 26

Trang 4

2.1.1 Nội dung vụ án: 26

2.1.2 Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: 30

2.2 VỤ ÁN THỨ HAI VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN HỘ GIA ĐÌNH 32

2.2.1 Nội dung vụ án: 33

2.2.2 Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: 37

2.3 VỤ ÁN THỨ BA VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG THỰC HIỆN KHÔNG ĐÚNG QUY TRÌNH KÝ KẾT THEO LUẬT CÔNG CHỨNG39 2.3.1 Nội dung vụ án: 39

2.3.2 Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: 44

2.4 VỤ ÁN THỨ TƯ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN CHẤP VÀ NẶNG LÃI 45

2.4.1 Nội dung vụ án: 46

2.4.2 Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án: 48

2.5 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ: 50

2.5.1 Giải pháp và kiến nghị thứ nhất: 50

2.5.2 Giải pháp và kiến nghị thứ hai: 52

2.5.3 Giải pháp và kiến nghị thứ ba: 54

2.5 4 Giải pháp và kiến nghị thứ tư: 56

KẾT LUẬN 57

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 59

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Võ Thế Trang Đền MSSV: 7701270028A – là học viên lớp Cao

học, Khóa 1 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “ Thực trạng giải quyết

và xét xử các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và

có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nó không chỉ đáp ứng được phần lớn nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế mà thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng còn tạo ra mét phần lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng và chính yếu tố này lại trở thành động lực thúc đẩy các tổ chức tín dụng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nhân dân để mở rộng hoạt động cho vay Kinh tế càng phát triển, nhu cầu về vốn càng lớn thì vai trò của các tổ chức tín dụng trong việc đáp ứng vốn cho nền kinh tế trên cơ sở hợp đồng tín dụng càng trở nên quan trọng Chính sách tín dụng ngân hàng trở thành một vấn đề không thể xem nhẹ trong các chính sách kinh tế của đất nước

Như chúng ta đã biết: “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoán trả cả gốc và lại, dựa trên sự tín nhiệm”1

Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi chung là ngân hàng)

Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng Hợp đồng tín dụng ngân hàng và các phương thức giải quyết tranh chấp này cũng là một dạng của hợp đồng vay tài sản nhưng bên cho vay là các tổ chức tín dụng chủ yếu là các ngân hàng tín dụng

Theo định nghĩa về hợp đồng tín dụng nêu trên thì ngoài những dấu hiệu chung của các loại hợp đồng theo quy định pháp luật thì hợp đồng tín dụng khi phân

1 Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 7

biệt với các loại hợp đồng khác thì hợp đồng tín dụng còn có các đặc trưng cơ bản khác để phân biệt hợp đồng tín dụng với tranh chấp dân sự như sau:

- Về mặt chủ thể: Bao giờ trong hợp đồng tín dụng nhất thiết một bên tham gia ký kết hợp đồng phải là tổ chức tín dụng phải có đủ điều kiện theo quy định pháp luật, đầy đủ điều kiện tham gia với tư cách là bên cho vay; còn bên vay có thể

là cá nhân, tổ chức cũng phải đầy đủ các điều kiện vay vốn mà pháp luật đã quy định

- Về mặt đối tượng của hợp đồng tín dụng: Trong hợp đồng tín dụng thì đối tượng bao giờ cũng là tiền Số tiền mà bên cho vay cho bên vay vay bao giờ cũng phải được ghi rõ, số tiền cụ thể và xác định phải được các bên thỏa thuận cụ thể ghi trong văn bản của hợp đồng phải được các bên thống nhất

Hợp đồng tín dụng phải được ký kết dưới hình thức bằng văn bản trong đó

có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác do các bên thoả thuận2 Hợp đồng được các bên ký kết phải tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc theo quy định pháp luật về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia ký kết hợp đồng, mục đích sử dụng vốn vay của bên vay vốn, lãi suất cho vay và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng, tài sản thế chấp (nếu có thế chấp) hoặc cá biện pháp bảo đảm khi hợp đồng là hợp đồng tín chấp Hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn nhằm mục đích phát sinh lợi nhuận

Quyền và nghĩa vụ của các bên bao giờ cũng phải được ghi rõ ràng và cụ thể trong hợp đồng tín dụng, có tính chất ràng buộc của các bên Hợp đồng ghi cụ thể nghĩa vụ của bên vay số tiền nhằm mục đích sử dụng gì? Thời hạn trả nợ cụ thể từng lần vốn và lãi hay chỉ đóng lãi và trả vốn ở cuối kỳ, ghi rõ lãi suất hai bên thỏa thuận đóng hàng tháng, hàng quý…quyền lợi của bên cho vay có quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay hoặc thu hồi nợ theo quy định Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng các nghĩa vụ về mục đích sử dụng vốn vay hoặc thời gian trả nợ hoặc các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên cho vay có quyền thu hồi nợ trước thời hạn mà các bên đã thỏa thuận Nghĩa vụ của bên cho vay phải giải ngân theo đúng thời gian đã thỏa thuận và ký kết

2 Điều 51 Luật tổ chức tín dụng

Trang 8

Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên đã ký kết, một trong các bên không thực hiện đúng về quyền hoặc nghĩa vụ của mà đã ký kết trong hợp đồng nên xảy ra tranh chấp Các bên xảy ra tranh chấp đa phần là do bên vay đã sử dụng số tiền vay không đúng mục đích dưới sự kiểm tra giám sát theo quyền hạn của tổ chức tín dụng Trường hợp khi có một bên trong quan hệ hợp đồng đã ký kết vi phạm hợp đồng tín dụng, bên còn lại có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra theo thực tế Trong thực tế, quy định của pháp luật còn nhiều khoảng trống trong việc quy định về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hợp đồng tín dụng chưa được chặt chẽ và thiếu cụ thể, chưa thống nhất đặt biệt là vấn đề thực hiện và nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng tín dụng đã ký kết chưa thật sự khách quan và công bằng cho hai bên để các bên khi tham gia hợp đồng tín dụng còn lợi dụng kẽ hỡ của pháp luật gây ra nhiều mâu thuẩn và xung đột

về quyền lợi của nhau Do đó, khi giải quyết vấn đề về tranh chấp hợp đồng tín dụng thì cần xem xét mấu chốt của vấn đề tranh chấp liên quan đến vấn đề gì trong quyền và lợi ích của họ

Trường hợp tranh chấp xảy ra còn có nguyên nhân khác khi bên vay không

có khả năng trả vốn hoặc đóng lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận mà xảy ra tranh chấp Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận về việc điều chỉnh kỳ hạn trả

nợ hoặc gia hạn nợ thì bên vay có thể áp dụng bằng các hình thức thu hồi nợ và thu hồi số lãi suất còn nợ của bên vay chưa thanh toán; hoặc trường hợp bên vay còn phải chịu trả khoản nợ theo lãi suất nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay nếu bên vay chậm trả nợ lãi vốn vay khi bên vay bị phạt hợp đồng

2 Tình hình nghiên cứu:

Thực tế cho thấy đa số các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng đã giải quyết tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đa phần là tranh chấp xuất phát từ việc phía bên vay tiền không thực hiện đúng việc trả nợ cho tổ chức tín dụng ngân hàng như đã thỏa thuận, không thực hiện việc trả lãi hoặc trả vốn cho phía bên cho vay theo hợp đồng đã ký kết

Tranh chấp hợp đồng tín dụng là một trong những dạng tranh chấp phổ biến hiện nay được Tòa án nhân dân các cấp giải quyết Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nân hàng tại Tòa án nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, các cá nhân, giữ gìn an ninh chính trị, an toàn xã hội tại địa phương

Trang 9

Một trong những đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng là sự chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định, nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn, vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn

hơn so với các hợp đồng khác

Trên cơ sở thực tế giải quyết những vụ án tại TAND tỉnh Bến Tre, luận văn

sẽ chỉ ra những khó khăn vướng mắc, những bất cập của pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị và những giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng trong thời gian tới

3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

Pháp luật giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng tại Tòa án là việc tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân

Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Toà án dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự; nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh; bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự; nguyên tắc hoà giải; nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia; nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng là những mâu thuẫn phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc,

nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản bảo đảm

Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp kinh doanh, thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận

Có nhiều dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng như tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng; tranh chấp về việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản; tranh chấp

Trang 10

về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng; tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản và tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Để bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, việc giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tranh chấp cần được giải quyết một cách kịp thời, chính xác, đúng pháp luật, để hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro và có thể tận dụng được những cơ hội kinh doanh mới cho các chủ thể tham gia tranh chấp

- Trong quá trình giải quyết tranh chấp phải bảo đảm giữ được bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín của các bên trong quan hệ tranh chấp

- Quá trình giải quyết cần đảm bảo tính dân chủ và quyền tự định đoạt của các bên với chi phí giải quyết thấp

Pháp luật hiện hành quy định các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cụ thể như: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp Việc đưa tranh chấp

ra giải quyết tại tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định

Ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án gồm: Đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành

Vì vậy, quyết định của tòa án có tính cưỡng chế cao, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án Chi phí giải quyết tranh chấp bằng toà án ít hơn nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Tuy vậy, việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án cũng có những nhược điểm nhất định so với các hình thức khác như: Thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn

so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại; nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án có thể làm sụt giảm uy tín của các bên trên thương trường… Ngoài ra, bản

án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên

Trang 11

Tóm lại, việc giải quyết các tranh chấp từ các hợp đồng tín dụng như đã phân tích trên tại Toà án có một vai trò rất lớn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, các tổ chức, các cá nhân nhằm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tại địa phương và nhất là việc góp phần ổn định trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế Tuy nhiên, tại tỉnh Bến Tre nói riêng nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch về hợp đồng tín dụng ngày càng xảy ra nhiều và các vụ án ngày càng phức tạp gây không ít khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp xảy ra ở Toà Vì vậy, các văn bản pháp luật và hệ thống pháp luật áp dụng để giải quyết các dạng tranh chấp này cần hải hoàn thiện hơn nhằm tạo điều kiện cho cơ quan giải quyết các vụ án được đẩy nhanh tiến độ giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vự này để ổn định hơn nữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên khi xảy ra tranh chấp

Việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nêu trên, pháp luật hiện hành quy định cũng khá rỏ ràng Tuy nhiên, trong thực tế còn rất nhiều bất cập trong hoạt động giải quyết xét xử các vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng, pháp luật vẫn còn kẽ hở trong áp dụng thực tiễn Bên cạnh giải quyết các hợp đồng tín dụng hiện nay trên địa bàn tỉnh Bến Tre còn nổi cộm các hình thức tín dụng đen trá hình, các hình thức cho vay nặng lãi hay các hình thức hụi họ…nhằm mục đích hám lợi bất cập hiện ngày càng nhiều Để giải quyết những vấn đề này còn rất nhiều bất cập trong hệ thống pháp luật, xuất phát từ những vấn đề bất cập trong quá trình giải quyết xét xử tại Tòa án nêu trên nên tôi xin chọn đề tài: “giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng tại Tòa án tỉnh Bến Tre” Qua bài viết này, giúp tôi học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, nâng cao kiến thức pháp luật của mình về lĩnh vực hợp đồng tín dụng trên thực tế Từ đó đề ra những giải pháp nâng cao các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Những năm gần đây, đã có nhiều bài viết với nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực giải quyết tranh chấp tại Tòa án nói chung và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nói riêng của nhiều nhà làm luật Trên cơ

sở nội dung của đề tài bài báo cáo, tôi đã tìm hiểu thu thập các thông tin một cách đầy đủ, khách quan, bao quát được toàn bộ vấn đề cần tìm hiểu, tôi đã vận dụng kết hợp giữa lý thuyết đã học và thực tiễn công tác giải quyết xét xử tại cơ quan Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre nhằm viết đầy đủ những tình tiết nội dung bài báo cáo

Trang 12

Với nội dung bài luận văn này, tôi mong muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật quy định về hợp đồng tín dụng; làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về hợp đồng tín dụng, những giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng, chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường giải quyết tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay Mục đích của việc nghiên cứu là tìm ra những vướng mắc của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án và thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ sở đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Để đạt được mục đích này, luận văn cần tìm hiểu những nội dung sau:

- Những quy định cơ bản của pháp luật về hợp đồng tín dụng: khái niệm, đặc điểm, khái niệm về tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và các quy định cụ thể trong giải quyết các tranh chấp…

- Những vụ án tranh chấp cụ thể về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho vay nặng lãi và những bản án đã xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp tại tỉnh Bến Tre

- Phân tích và làm rõ một số quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng còn vướng mắc, khó khăn áp dụng trong thực tiễn

- Tìm hiểu thực tiễn vận dụng pháp luật khi giải quyết về tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre trong những năm gần đây và đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân các cấp

5 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài các phần lời mở đầu, kết luận mục lục, danh mục, nội dung của luận văn có 02 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở pháp lý của vấn đề tranh chấp và giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án

nhân dân tỉnh Bến Tre và một số kiến nghị

Trang 13

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VÀ XÉT XỬ CÁC HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP

VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN

HĐTD về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Đây là hợp đồng dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đạt giữa các bên

Trong các hợp đồng tín dụng, các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau với lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn cao và các bên còn thỏa thuận cả về lãi phạt vi phạm đối với phần lãi suất chậm trả Theo quy định tại Điều 468 BLDS năm 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính Phủ, Ủy ban thường vụ Quốc Hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ hợp gần nhất Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận quá lãi suất giới hạn quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực” Quy định này là quy định mới so với quy định của Bộ luật

3 Tham khảo tại Báo Công ty Luật Đại Việt: Hợp đồng tín dụng và thực tiễn

Trang 14

Dân sự năm 2005 nhằm khắc phục hạn chế việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn chưa được thống nhất

Trong cụm từ “trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” như vậy trong trường hợp khác có được đề cập đến các tổ chức tín dụng hay không vì theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 91 BLDS thì đã quy định về “lãi suất theo thỏa thuận”

Do đó, khi các bên giao dịch tham gia hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng thì các bên sẽ thỏa thuận với lãi suất như thế nào thì được pháp luật chấp nhận hay có bị vi phạm về lãi suất trong BLDS Vì vậy, cần nên quy định rõ hơn trường hợp khác theo quy định Điều 468 BLDS cụ thể là đối với lãi suất thỏa thuận của các tổ chức tín dụng với khách hàng là tự do các bên thỏa thuận hay cần có giới hạn nhất định để đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên khi xảy ra tranh chấp

Mặc dù giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày một nhiều và gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một văn bả pháp luật nào của nước ta khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “1 Thoả thuận cho vay được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu có các nội dung sau:a0 Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng; b) Số tiền cho vay, hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức dự phòng; hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoả thanh toàn, c) Mục đích sử dụng vốn vay; d) Đồng tiền cho vay; đ) Phương thức cho vay; e) Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay duy trì hạn mức đối với trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn, hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời hạn duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán; g) Lãi suất cho vay theo thoả thuận và mức lãi suất quy đổi theo

tỷ lệ % trên năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế đó theo quy định tại hoản 3 Điều 13 Thông tư này; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn;

Trang 15

lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức phí

áp dụng…”4

1.1.2 Nguyên tắc hợp đồng tín dụng:

Các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án không trái với đạo đức xã hội và theo quy định pháp luật Theo đó, khi giải quyết tranh chấp, trong quá trình hòa giải, Tòa án hòa giải để nhằm các bên thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án ngay cả tại phiên tòa các bên vẫn có quyền hòa giải thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án mà không trái với nguyên tắc thỏa thuận

Nói tóm lại, có nhiều khái niệm về hợp đồng tín dụng nhưng có thể định nghĩa như sau: Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với bên kia là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện luật định (bên đi vay), theo đó, bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời hạn đã thoả thuận, hết thời hạn đó, bên đi vay phải hoàn trả gốc và lãi cho bên cho vay

Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Từ quy định này, nên có sự khác biệt rỏ rang khi so sánh với hợp đồng vay thông thường, đây là quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng tiềm ẩn nhiều rỉu ro cao nên hợp đồng tín dụng phải có những quy định về điều kiện chủ thể phải chặt chẽ, hình thức hợp đồng, thời hạn hợp đồng, mục đích sử dụng tiền vay và có lãi suất trên cơ sở hai bên

có thoả thuận tính chấp pháp lý rang buộc bằng văn bản theo quy định pháp luật

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Như phân tích về khái niệm hợp đồng tín dụng ở phần trên, trong một hợp đồng được ký kết phải có đầy đủ các nội dung đúng theo dự thoả thuận của các bên khi tham gia hợp đồng Hợp đồng, với tư cách là một thuật ngữ pháp lý được hiểu là

sự thoả thuận bằng lời nói hoặc văn bản hoặc bằng cách khác giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thay đổi hay

4 Trích quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Sau đây gọi tắc là Thông tư số 39/2016/TT-NHNN)

Trang 16

chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội

Với những định nghĩa về hợp đồng tín dụng nêu trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân

sự và thương mại5:

Thứ nhất: Một bên chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ

chức tín dụng có đủ điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

Thứ hai: HĐTD ngân hàng phải được ký kết dưới hình

thức văn bản

Thứ ba: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền (Bao gồm tiền mặt và

bút tệ) Về nguyên tắc: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thoả thuận ghi rỏ trong văn bản hợp đồng

Thứ tư: HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới

hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng

Thứ năm: Về tính rủi ro: HĐTD vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rát lớn cho

quyền lợi của bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời gian nhất định (Đến hết thời hạn hợp đồng) Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xuyên xảy ra với

số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác

Thứ sáu: Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong HĐTD, nghĩa vụ

chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay Do đo, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ với có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như

5 Tham khảo tại tác giả Luật Dương Gia, tại trang chủ “Tư vấn pháp luật”

Trang 17

sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…)

Thứ bảy: HĐTD ngân hàng luôn nhằm mục đích sinh lợi

1.3 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT TRANH CHẤP HĐTD

Cùng với sự tồn tại và phát triển của các hợp đồng tín dụng là các tranh chấp trong hợp đồng tín dụng phát sinh từ sự mâu thuẩn hay không thống nhất về quyền

và nghĩa vụ hoặc tranh chấp về lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên tham gia là các tổ chức tín dụng và khách hàng

Một hợp đồng tín dụng coi là có tranh chấp khi có sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng

Tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng là những mâu thuẫn phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay tổ chức tín dụng và bên vay khách hàng

Pháp luật giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết những mâu thuẩn phát sinh tranh chấp nói trên tại Tòa án

* Các dạng tranh chấp HĐTD

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng và giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng cụ thể có thể nhận diện những dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh như sau:

- Tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng

Trang 18

Theo quy định của pháp luật thì khi hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu lực pháp lý sẽ đương nhiên làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng kể từ khi thời điểm hợp đồng được xác lập (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác) Một hợp đồng tín dụng sẽ đương nhiên bị vô hiệu hoặc có thể bị coi là vô hiệu khi hợp đồng này không thoả mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định, theo đó, hợp đồng có thể bị Toà án tuyên vô hiệu trong một số trường hợp sau:

Thứ nhất: vô hiệu do chủ thể

Thứ hai: vô hiệu do đối tượng của hợp đồng (đồng tiền cho vay)

Thứ ba: vô hiệu do hình thức hợp đồng

Thứ tư: vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật

- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng

Thực tiễn giải quyết tranh chấp các hợp đồng tín dụng thời gian qua cho thấy tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng là một dạng tranh chấp xảy

ra phổ biến nhất Có thể kể đến các tranh chấp điển hình như sau:

Thứ nhất: Tranh chấp do vi phạm giải ngân của tổ chức tín dụng Đây là

hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực vì một lý do nào đó bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này làm ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay

Thứ hai: Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc là lãi của bên vay Đây là dạng

tranh chấp phổ biến nhất trong các tranh chấp hợp đồng tín dụng Bản chất của dạng tranh chấp này là việc khách hàng vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, bao gồm nợ gốc , nợ lãi vay và trong một số ít trường hợp là việc khách hàng vay vốn trả nợ trước hạn không đúng thoả thuận trong hợp đồng nhưng không thanh toán phí trả nợ trước hạn cho tổ chức tín dụng,

Thứ ba: Tranh chấp về lãi suất: Lãi suất trong quan hệ vay vốn là một nội

dung thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn được quy định rỏ trong hợp đồng tín dụng Thông thường hợp đồng tín dụng sẽ quy định một mức lãi cho vay cố định trong suốt thời gian của hợp đồng hoặc quy định cơ chế lãi suất thả nổi, đồng thời quy định lãi suất áp dụng cho khoản nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay Tuy nhiên, đây là một trong những tranh chấp khá phổ biến trong quan hệ

Trang 19

tín dụng và đang còn tồn tại với những cách hiểu và cách giải quyết khác nhau trong thực tiễn xét xử

Các tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng khá đa dạng, trong đó những tranh chấp hiện nay phổ biến nhất là :

Tranh chấp về áp dụng mức lãi suất cho vay theo đó bên vay là cá nhân thường lập luận trên cơ sở HĐTD là hợp đồng vay tài sản được quy định trong BLDS sự năm 2015 nên lãi suất áp dụng không quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố từng thời kỳ6 còn các tranh chấp tín dụng thì lập luận là lãi suất cho vay áp dụng theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước7

Tranh chấp về mức lãi suất nợ quá hạn: cũng tương tự như trường hợp trên, tranh chấp của các bên cũng xuất phát từ quan điểm khác nhau về việc áp dụng theo quy định tại điều 476 BLDS năm 2005 hay theo quy định tại Điều 305 BLDS năm

2005 và quy định của Ngân hàng nhà nước

Tranh chấp về việc áp dụng lãi suất quá hạn trên tiền lãi chậm trả: Một số HĐTD hiện nay áp dụng cơ chế tính lãi suất quá hạn trên số tiền lãi chậm trả Quan điểm này xuất phát từ việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 Tuy nhiên, hiện nay ngân hàng nhà nước chưa có quy định này

Tranh chấp cách lãi thả nổi hoặc tranh chấp phát sinh khi bên vay cho rằng tổ chức tín dụng đã tự ý điều chỉnh lãi suất không có cơ sở, không đúng trình tự thủ tục được thoả thuận, điều chỉnh lãi suất mà không thong báo trước cho bên vay là không đúng quy định

Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản

Như chúng ta đã biết và phân tích phần trên, bản chất của hợp đồng tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nên các tổ chức tín dụng coi việc bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thể thanh toán được nợ Trong quan

hệ tín dụng, khi xác lập hợp đồng tín dụng các bên thường lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay là cầm cố tài sản hoặc thế chấp tài sản

6 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005

7 Khoản 2 Điều 91 Luật CTCTD năm 2010; khoàn 2 Điều 13 Quy chế cho vay 1627; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước hướng dẫn TCTD cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thoả thuận

Trang 20

Hiện nay tại Tòa án nhân dân các huyện cũng như tại TAND tỉnh Bến Tre giải quyết các tranh chấp HĐTD có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp này: gồm nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay; nguyên nhân từ phía bên vay; nguyên nhân từ thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về bình ổn kinh tế và nguyên nhân từ việc thay đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng vay tiền tại các tranh chấp tín dụng không đúng quy định pháp luật

1.4 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG:

Khi xác định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh về H HĐTD, Toà án đã thụ lý hồ sơ thì cần phân biệt rõ thẩm quyền giải quyết về dân sự hay thẩm quyền về kinh tế Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng thuộc về Toà án sẽ loại trừ thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại và ngược lại Luật Trọng tài thương mại quy định: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định giải quyết bằng Trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại nếu acc1 bên có thoả thuận trọng tài Thoả thuận trọng tài

có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp8 Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết trừ trường hợp thoả thuận trong tài vô hiệu theo quy định tại Điều

18 Luật trọng tài thương mại năm 2010 hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được9

1.4.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện: 10

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là các tranh chấp phát sinh

từ hợp đồng tín dụng ngân hàng không có yếu tố nước ngoài

8 Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010

9 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại

10 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Trang 21

1.4.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:

Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp theo thủ

tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án ở nước ngoài Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hay cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng không có yếu tố nước ngoài

1.4.3 Xác định điều kiện về thẩm quyền của Toà án đối với giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài:

Cần chú ý các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam trong giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài11; thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam12, thoả thuận của các bên đương sự về lựa chọn Trọng tài, Toà án nước ngoài13

1.4.4 Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án:

Gồm giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án, hoà giải và chuẩn bị xét xử, xét xử

sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ gìn an toàn xã hội và đặc biệt là góp phần đưa đất nước phát triển đi lên như mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra

Các đương sự có quyền nộp đơn lại Toà án và hướng dẫn việc trả đơn đương

sự được quy định tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH3 Để làm rỏ về vấn đề này, tại Điểm 8 văn bản số 152/TANDTC-PC, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về quyền khởi kiện vụ án, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện và nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Theo đó, về quyền

11 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

12 Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

13 Điều 472 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 22

khởi kiện vụ án, cơ quan tổ chức cá nhân có quyền tự mình hoặc thong qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình14

Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện: Cơ quan tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm đơn hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện

là doanh nghiệp thì phải sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp15

Về trả đơn khởi kiện: Sau khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện, nếu xét thấy đơn khởi kiện cần phải sửa đổi hoặc bổ sung thì Thẩm phán phải thông báo sửa đổi, bỏ sung đơn khởi kiện Trong trường hợp người khởi kiện nhận thong báo mà không sửa đổi bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán ra thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện16

Về nơi cư trú17 của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới Đồng thời

áp dụng Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nêu trên Theo đó, tại Điều 5 và Điều 6 Ngị quyết này đã hướng dẫn cụ thể, chi tiết về xác định địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

và việc xử lý việc ghi địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm cũng là nơi tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật; Thông qua hoạt động xét xử của tòa án, những người tham dự phiên tòa biết rõ hơn các quy định của pháp luật được tòa án áp dụng giải quyết vụ án, từ đó nâng cao được ý thức pháp luật

14 Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

15 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự

16 Khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng Dân sự

17 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Trang 23

Nhìn chung, các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre là tranh chấp giữa ngân hàng và cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đi vay hợp đồng tín dụng đảm bảo tính pháp lý, nội dung chặt chẽ nên thuận lợi cho việc giải quyết vụ án phù hợp với trình độ chuyên môn của Thẩm phán, dễ dàng đưa ra đường lối giải quyết và ra bản án phù hợp với quy định của pháp luật

Cơ sở để giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng hiện nay khá thuận lợi với hệ thống pháp luật có liên quan để giải quyết các tranh chấp được quy định tương đối rõ ràng, đầy đủ và cụ thể trong các văn bản luật và dưới luật về hoạt động cho vay tín dụng của ngân hàng

1.5 ĐẶC TRƯNG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN:

Khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Toà án là việc Toà án có thẩm quyền phải áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành chuyên ngành về tín dụng và các giao dịch bảo đảm; pháp luật liên quan đến các hoạt động tín dụng và các giao dịch bảo đảm; các quy định trong nội bộ của các tổ chức tín dụng ban hành nhằm quy định các biện pháp để giải quyết khi các bên có tranh chấp; các biện pháp chế tài quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên

Thủ tục, trình tự giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng tuân theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có các đặc trưng cơ bản sau:

1.5.1 Về trình tự giải quyết:

Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng được Toà án giải quyết theo một trình tự, thủ tục nhất định trên cơ sở của Bộ luật dân sự năm 2005 (trước đây đối với những vụ án xảy ra tranh chấp và giải quyết trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực) và BLDS 2015 và các văn bản hướng dẫn dưới luật Các tranh chấp hợp đồng tín dụng xuất phát từ chủ thể giao kết hợp đồng, mục đích giao kết hợp đồng tín dụng mà pháp luật quy định phân chia thành hai dạng: Hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh doanh thương mại Về trình tự thủ tục giải quyết phải có sự phân biệt giữa trình tự giải quyết tranh chấp về dân sự và trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp

về kinh doanh thương mại Cụ thể, khi áp dụng giải quyết các tranh chấp liên quan đến các hợp đồng tín dụng thì áp dụng trình tự thủ tục giải quyết án kinh doanh thương mại về việc xác định thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn, về thời hạn chuẩn

bị xét xử, về cách tín án phí, về áp dụng các văn bản luật và các quy định về luật nội dung để giải quyết tranh chấp

Trang 24

1.5.2 Về việc xác định đương sự trong vụ án:

Trong các vụ án nào cũng vậy, tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại khi phát sinh tranh chấp đều xác định nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án Đương sự trong vụ án tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng bao giờ một bên tất nhiên là các tổ chức tín dụng (thường các tổ chức tín dụng là nguyên đơn)

Với tính chất đặc thù của các hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn, đây là dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt và nhận biết đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức và cá nhân khác nhưng không phải là tranh chấp hợp đồng tín dụng hay tranh chấp hợp đồng tín dụng khi các bên xảy ra tranh chấp Đối với các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền đi khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay các tổ chức tín dụng Không có trường hợp nào mà tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh do tổ chức, cá nhân khác đi khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia các hợp đồng tín dụng

1.5.3 Về áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng là một loại hình kinh doanh có tính đặc thù có điều kiện, chứa đựng nhiều rủi ro cao cho các tổ chức tín dụng nên hoạt động này chịu sự chi phối chặt chẽ của pháp luật chuyên ngành, đồng thời còn chịu nhiều quy định điều chỉnh của nhiều ngành luật liên quan Các văn bản quy định trong nội bộ của các tổ chức tín dụng cũng có giá trị áp dụng trong một số trường hợp khi Toà án giải quyết các vụ án nếu pháp luật quy định tổ chức tín dụng có quyền hoặc nghĩa vụ ban hành văn bản nội bộ nhằm để điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến tranh chấp Trong trường hợp khi các bên có sự thoả thuận về thời hạn, về lãi suất…bằng văn bản cụ thể thì cần áp dụng điều chỉnh theo sự thoả thuận của các bên trong văn bản Khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm thì ngoài việc nghiên cứu các văn pháp luật tố tụng dân sự thì cần phải nghiên cứu lựa chọn và áp dụng các loại văn bản luật về tín dụng và giao dịch bảo đảm; văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng và ngân hàng; văn bản nội bộ do các tổ chức tín dụng ban hành trong hoạt động giao dịch

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG QUA MỘT SỐ VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN

NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Trong những năm gần đây, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng xảy ra ngày càng nhiều, tính chất các vụ án xảy ra ngày càng phức tạp được đưa ra giải quyết trong hệ thống ngành Toà án nói chung đặt biệt tại Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre án kinh doanh thương mại giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngày càng nhiều ở mỗi năm nên việc Toà án khi giải quyết các tranh chấp này không tránh khỏi nhiều khó khăn, nhiều vướng mắc Cụ thể mỗi năm theo thống kê của từng năm báo cáo tại Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre 05 năm gần đây số liệu như sau18:

thụ lý

Cấp huyện, thành phố thụ lý

18 Số liệu Báo cáo 5 năm liền tại Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre

Trang 26

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng rất đa dạng, tùy những trường hợp cụ thể phát sinh, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết như sau:

Các vụ án tranh chấp cụ thể như sau19:

2.1 VỤ ÁN THỨ NHẤT VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN NGƯỜI THỨ 3

Thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba để nhận bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho người khác là là một biện pháp bảo đảm khá phổ biến trong các hoạt động tín dụng tín dụng tại ngân hàng Tuy nhiên, liên quan đến hoạt động này, pháp luật vẫn còn vẫn còn nhiều bất cập trên thực tế trong quá trình giải quyết vụ án Một số văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã từ chối đăng ký thế chấp đối với trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo nghĩa vụ của người khác với lý do: Luật Đất Đai năm 2013 không có quy định người sử dụng đất được quyền bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất Do vậy, người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất của nình để bảo đảm nghĩa vụ của người khác là không phù hợp với quy định của Luật Đất Đai năm 2013 Vì vậy, lợi dụng quy định này, người thế chấp quyền sử dụng đất gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong khi tổ chức tín dụng đã thực hiện hoạt động tín dụng bằng hình thức bảo lãnh của người đứng ra bỏ đảm bằng quyền sử dụng đất Cụ thể bằng vụ án sau đây, những người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đồng ý thực hiện việc kê biên xử lý tài sản đã thế chấp nhằm thu hồi nợ của người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng với tổ chức tín dụng

2.1.1 Nội dung vụ án:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển (NHTMCP ĐT và PT) Việt Nam và ông Phạm Minh Hoàng có ký 3 hợp đồng tín dụng vào các ngày cụ thể như sau:

1 Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 01/2013 ngày 17/5/2013 ký giữa Ngân

hàng với ông Hoàng số tiền vay là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) Mục đích vay

bổ sung vốn lưu động kinh doanh trứng gà, trứng vịt… Thời hạn vay 12 tháng (kể

từ ngày 17/5/2013 đến 17/5/2014) Lãi suất tiền vay thả nổi, điều chỉnh theo định kỳ

19 Các vụ án cụ thể, nội dung và gải quyết cụ thể được trích cứu từ các bản án cụ thể của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre

Trang 27

4 lần/năm trên cơ sở dư nợ vay và lãi suất cho vay hiện hành do chi nhánh thông báo tại thời điểm điều chỉnh

Tổng số dư nợ đến ngày 30/7/2015 là 2.150.404742 đồng, trong đó nợ gốc là 1.921.000.000 đồng, lãi trong hạn 160.781.436 đồng, lãi quá hạn 68.623.306 đồng

2 Hợp đồng tín dụng dài hạn số 01/2013 ngày 18/01/2013 ký giữa Ngân

hàng với ông Phạm Minh Hoàng số tiền vay là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) Mục đích vay là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở Thời hạn vay 120 tháng (kể từ ngày 18/01/2013 đến 18/01/2023) Lãi suất tiền vay thả nổi, điều chỉnh theo định kỳ 4 lần/năm trên cơ sở dư nợ vay và lãi suất cho vay hiện hành do chi nhánh thông báo tại thời điểm điều chỉnh

Tổng số dư nợ đến ngày 30/7/2015 là 724.114.177 đồng, trong đó nợ gốc là 618.800.000 đồng, lãi trong hạn 101.809.414 đồng, lãi quá hạn 3.504.763 đồng

3 Hợp đồng tín dụng hạn mức số 01/2014 ngày 28/02/2014 ký giữa Ngân

hàng với ông Phạm Minh Hoàng số tiền vay là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) Mục đích vay là sửa chữa nhà Thời hạn vay 60 tháng (kể từ ngày 28/02/2014 đến 28/02/2019) Lãi suất tiền vay thả nổi, điều chỉnh theo định kỳ 4 lần/năm trên cơ sở dư nợ vay và lãi suất cho vay hiện hành do chi nhánh thông báo tại thời điểm điều chỉnh

Tổng số dư nợ đến ngày 30/7/2015 là 156.283.090 đồng, trong đó nợ gốc là 145.172.369 đồng, lãi trong hạn 9.995.617 đồng, lãi quá hạn 1.115.104 đồng

Để đảm bảo các khoản nợ vay, ông Hoàng và những người có nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Cẩm Hai, ông Nguyễn Văn Huân, bà Nguyễn Thị Anh Thư, ông Bùi Tiến Ân, bà Thân Thị Tâm, anh Bùi Tiến Phương, chị Bùi Thị Thúy An, ông Lê Văn Út, bà Võ Thị Rong, ông Nguyễn Văn Tưởng, bà Hà Thị Phượng, bà Nguyễn Thị Vui, ông Phạm Văn Chí, ông Lê Văn Tường đã đến tại văn phòng Công chứng

ký kết các hợp đồng bảo đảm và thế chấp các tài sản như sau:

+ Tài sản là quyền sử dụng đất và nhà 705m2 đất ONT+CLN theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2013 ngày 25/01/2013 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng

+ Thế chấp tài sản của bên vay là một chiếc xe ôtô hiệu JRD theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2013 ngày 17/5/2013 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng

Trang 28

+ Thế chấp tài sản của bên thứ ba là là quyền sử dụng đất 112,8m2 đất ONT

và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012 ngày 09/4/2012 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng Người thế chấp là bà Nguyễn Thị Vui và ông Phạm Văn Chi

+ Thế chấp tài sản của bên thứ ba là quyền sử dụng đất 5.430m2 đất T+CN+ĐM+2L và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012 ngày 12/11/2012 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng Người thế chấp là bà Võ Thị Rong và ông Lê Văn Út

+ Thế chấp tài sản của bên thứ ba là là quyền sử dụng đất 13.034m2 đất lúa

và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012 ngày 13/9/2012 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng Người thế chấp là bà Lê Thị Cẩm Hai và ông Nguyễn Văn Huân

+ Thế chấp tài sản của bên thứ ba là là quyền sử dụng đất 6.400m2 đất T+LN

và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2013 ngày 21/02/2013 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng Người thế chấp là bà Thân Thị Tâm và ông Bùi Tiến Ân

+ Thế chấp tài sản của bên thứ ba là là quyền sử dụng đất 7.136m2 đất ONT +CLN và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2012 ngày 09/4/2012 giữa Ngân hàng với ông Phạm Minh Hoàng Người thế chấp là ông Nguyễn Văn Tưởng và bà Hà Thu Phượng

Do ông Phạm Minh Hoàng đã vi phạm nghĩa vụ và thời hạn trả nợ từ năm

2014 đến nay, Ngân hàng yêu cầu ông Phạm Minh Hoàng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vay tạm tính đến ngày 30/7/2015 là 3.030.820.008 đồng (Ba tỷ không trăm ba mươi nghìn không trăm lẻ tám đồng), trong đó nợ gốc là 2.684.972369 đồng, lãi trong hạn 272.506.466 đồng, lãi quá hạn 73.243.173 đồng cùng lãi và phí phát sinh kể từ ngày 31/7/2015 đến khi ông Phạm Minh Hoàng thanh toán hết số nợ trên Nếu ông Hoàng không thanh toán được khoản nợ trên thì các bên ký thế chấp trả thay để nhận lại sổ đất đã thế chấp Nếu bên thế chấp không trả thay thì Ngân hàng có quyền phát mãi tài sản theo các hợp đồng đã thế chấp để thu hồi của Ngân hàng

Sau khi xảy ra tranh chấp, phía Ngân hàng khởi kiện ông Phạm Minh Hoàng tại Toà án, Toà án cấp sơ thẩm giải quyết như sau:

Tại bản án kinh doanh thương mại số 12/2016/KDTM-ST ngày 12/9/2016:

Trang 29

Áp dụng Điều 306; Điều 317; Điều 319 Luật Thương mại; Điều 91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 352; Điều 355 Bộ luật Dân sự năm 2005; Pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án20, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cầu khởi kiện của NHTMCP ĐT và PT Việt Nam

Buộc ông Phạm Minh Hoàng phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền tạm tính đến ngày 20/9/2016 là 3.457.100.023 đồng Trong đó, nợ gốc là 2.684.972.369 đồng, lãi trong hạn là 582.128.646 đồng, lãi quá hạn là 189.999.008 đồng Cụ thể theo các hợp đồng tín dụng:

- Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 01/2013 ngày 17/5/2013 và các văn bản bổ sung hợp đồng tín dụng này là 2.463.000.888 đồng Trong đó nợ gốc là 1.921.000.000 đồng, lãi trong hạn là 369.177.918 đồng, lãi quá hạn 172.822.970 đồng

- Theo hợp đồng tín số 01/2013/HĐ ngày 18/01/2013 và các văn bản bổ sung hợp đồng tín dụng này là 814.698.405 đồng Trong đó số tiền gốc là 618.800.000 đồng, lãi trong hạn là 183.735.000 đồng, lãi quá hạn 12.163.309 đồng

- Theo hợp đồng tín số 01/2014/HĐ ngày 28/02/2014 và các văn bản bổ sung hợp đồng tín dụng này là 179.400.730 đồng Trong đó số tiền gốc là 145.172.369 đồng, lãi trong hạn là 29.215.632 đồng, lãi quá hạn 5.012.729 đồng

Ông Phạm Minh Hoàng còn phải tiếp tục chịu lãi suất theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với số tiền trên kể từ ngày 21/9/2016 cho đến khi thi hành xong

Nhưng để đảm bảo quyền lợi cho bên vay, trong trường hợp ông Phạm Minh Hoàng không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử

lý tài sản bằng các hợp đồng đã thế chấp cụ thể là xử lý các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đứng tên những người có quyền lợi và nghĩa vụ lien quan được xác định trong vụ án

Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Bùi Tiến Ân và bà Thân Thị Tâm về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp số 01/HĐ ngày 21/02/2013 là vô hiệu

20 Do vụ án xảy ra trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực pháp luật nên áp dụng BLDS 2005 và áp dụng Pháp lệnh quy định về án phí TA (chưa áp dụng Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án)

Trang 30

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí kinh doanh thương mại, về quyền kháng cáo của các bên

Ngày 05/10/2016, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo

có yêu cầu không đồng ý phát mãi các tài sản của những người đã thế chấp vì hợp đồng tất cả các hợp đồng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Minh Hoàng đồng ý phát mãi các tài sản của ông đứng tên và giao trả các tài sản thế chấp của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Tại bản án số 02/2017/KDTM-PT ngày 10/01/2017 cho rằng việc ký kết hợp đồng giữa Ngân hàng và ông Phạm Minh Hoàng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Đối với Ngân hàng và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đã ký kết các hợp đồng bảo lãnh đúng quy định Ngân hàng nhận thế chấp tài sản từ bên thứ ba là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để bảo lãnh cho các hợp đồng tín dụng của ông Hoàng là đúng với quy định của pháp luật Trong trường hợp ông Hoàng không thanh toán được các khoản nợ với Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của bên thứ ba để thu hồi

nợ Do đó, không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Y án sơ thẩm

2.1.2 Những vấn đề pháp lý rút ra từ vụ án:

1 Về tố tụng:

Tình tiết nội dung vụ án nói trên cho thấy việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam ký kết hợp đồng tín dụng với ông Phạm Minh Hoàng và xác định những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Lê Thị Cẩm Hai, Ông Nguyễn Văn Huân, bà Nguyễn Thị Anh Thư, ông Bùi Tiến Ân, bà Thân Thị Tâm, anh Bùi Tiến Phương, chị Bùi Thị Thúy An, ông Lê Văn Út, bà Võ Thị Rong, ông Nguyễn Văn Tưởng, bà Hà Thị Phượng, bà Nguyễn Thị Vui, ông Phạm Văn Chí, ông Lê Văn Tường Tất cả các hợp đồng đều được Công chứng viên tại Văn phòng Công chứng Đồng Khởi Bến Tre công chứng

Do ông Phạm Văn Hoàng không thực hiện đúng hợp đồng như hai bên đã thỏa thuận và ký kêt, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu ông Hoàng thực hiện việc trả lãi

và trả nợ gốc như thỏa thuận cho Ngân hàng nhưng ông Hoàng không thực hiện Vậy ông Hoàng đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam khởi kiện ông Phạm Minh Hoàng là đúng quy định Tòa án đã xác định đúng tư cách những người tham gia tố tụng

Ngày đăng: 29/05/2019, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w