TÓM TẮT Nghiên cứu này cung cấp những đánh giá về ảnh hưởng của tham nhũng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2017 tại 10 nền kinh tế Đông Nam Á, dướ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VŨ THANH TÙNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG
VÀO LUỒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CHẢY VÀO CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH THỊ THU HỒNG
TP Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VŨ THANH TÙNG
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA THAM NHŨNG
VÀO LUỒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CHẢY VÀO CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính - ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH THỊ THU HỒNG
TP Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ: “Đánh giá tác động của tham nhũng vào luồng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các quốc gia Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, chưa từng được công bố trước đây
Tác giả
Vũ Thanh Tùng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG - BIỂU
TÓM TẮT
CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: 3
1.4 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.5 Bố cục bài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Tham nhũng 6
2.1.1 Khái quát 6
2.1.2 Cách nhận biết tham nhũng 6
2.1.3 Các chỉ số đo lường tham nhũng 7
2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
2.2.1 Khái quát 8
2.2.2 Lý thuyết hỗ trợ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” 9
2.2.3 Các nhân tố tác động tới FDI 11
2.3 Mối quan hệ giữa Tham nhũng và Đầu tư trực tiếp nước ngoài 13
2.3.1 Tác động của tham nhũng vào FDI 13
2.3.2 Tham nhũng tác dụng vào FDI theo hướng tích cực hay tiêu cực? 16
2.3.3 Tác động ngược trở lại của FDI vào tham nhũng 17
3.3 Khảo lược các nghiên cứu liên quan 17
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÔNG NAM Á 22
3.1 Thực trạng tham nhũng 22
3.2 Thực trạng thu hút FDI 25
Trang 5CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
4.1 Phương pháp thu thập số liệu: 30
4.2 Mô tả và cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu: 30
4.3 Phương pháp nghiên cứu: 33
4.3.1 Kiểm định mô hình: 33
4.3.2: Mô hình ước lượng 34
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 36
5.2 Kiểm định mô hình hồi quy 38
5.2.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 38
5.2.2 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 39
5.2.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 39
5.3 Kết quả phân tích mô hình hồi quy 39
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 46
6.1 Kết luận 46
6.2 Gợi ý chính sách: 47
6.3 Hạn chế của đề tài 49
6.4 Hướng nghiên cứu trong tương lai 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Chỉ số FFC trung bình khu vực Đông Nam Á giai đoạn 1995-2017
Bảng 3.2: Chỉ số FFC trung bình của các nước Đông Nam Á (1995-2017)
Bảng 3.3: Chỉ số FFC trung bình các khu vực trên Thế giới năm 2016
Bảng 3.4: Kết quản thăm dò ý kiến công chúng ASEAN năm 2014
Bảng 3.5: Tổng mức FDI vào ròng của khu vực Đông Nam Á giai đoạn 1995-2017 Bảng 3.6: Mức FDI vào ròng trung bình của Đông Nam Á trong giai đoạn 1995-2017 Bảng 3.7: Danh sách các Quốc gia đầu tư nhiều nhất vào ASEAN năm 2016
Bảng 4.1: Mô tả biến và nguồn dữ liệu
Bảng 5.1: Bảng thống kê mô tả biến
Bảng 5.2: Hệ số phóng đại phương sai
Bảng 5.3: Kết quả hồi quy mô hình
Trang 8TÓM TẮT
Nghiên cứu này cung cấp những đánh giá về ảnh hưởng của tham nhũng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2017 tại 10 nền kinh tế Đông Nam Á, dưới sự kiểm soát của các nhân tố vĩ mô khác như: tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực
Bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu này, đã chứng minh rằng tham nhũng
có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút nguồn vốn FDI tại khu vực Đông Nam Á Nhưng tác động của tham nhũng bị lấn át bởi các yếu tố như cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên… đều là những nhân tố có tác động tích cực tới nguồn vốn FDI, điều này giải thích tại sao nhiều nước trong khu vực có mức độ tham nhũng cao nhưng lại có khả năng thu hút một lượng lớn nguồn vốn FDI hàng năm
Với những lo ngại và rủi ro tiềm ẩn do tham nhũng gây ra, và với các kế hoạch đầy tham vọng của cộng đồng kinh tế ASEAN, lập trường chống tham nhũng hiện tại của Chính phủ các nước vẫn chậm và không đủ sức thay đổi tình hình thực tế Ở cấp quốc gia, các quốc gia phải tăng cường các nỗ lực chống tham nhũng của chính mình,
ở cấp khu vực, các nước phải thúc đẩy và tăng cường hợp tác chống tham nhũng trên toàn khu vực để đối phó với các thách thức hiện có và đang nổi lên trong tương lai
Trang 9CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Quá trình hội nhập kinh tế thế giới diễn ra đầu những năm 1990 đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể về quan điểm của các quốc gia trên Thế giới đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) FDI không còn bị các nước đang phát triển nghi ngờ, việc kiểm soát
và hạn chế đối với việc nhập cảnh và hoạt động của các công ty nước ngoài hiện đang được thay thế bằng các chính sách nhằm khuyến khích thu hút dòng vốn FDI Vì vậy, FDI trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều Chính phủ các nước và trở thành đề tài nghiên cứu có sức hút đối với các học giả trên Thế giới Một trong những thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài là Lý thuyết chiết trung của Dunning (1977) Theo lý thuyết này, một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá về lợi thế thu hút đầu tư nước ngoài của một quốc gia chính là mức độ tham nhũng tại chính quốc gia đó Trên cơ sở Lý thuyết chiết trung, nhiều nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích chuyên sâu về mối quan hệ giữa tham nhũng và FDI, và từ đó đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cũng như luận điểm giải thích về mối quan hệ giữa hai nhân tố này
Tại Đông Nam Á, khu vực được coi là điểm sáng của nền kinh tế toàn cầu với
sự phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội, nhu cầu nội địa tăng mạnh, trở thành một trong những trung tâm sản xuất và tăng trưởng toàn cầu Với những ưu thế nhất định khi được xem là thị trường tiềm năng mới, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động rẻ và áp dụng nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, sức hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài vào Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tăng lên rất nhanh Các công ty
đa quốc gia (MNCs) không ngừng mở rộng, tăng cường sự hiện diện của mình trong lĩnh vực sản xuất, tài chính, và dịch vụ khác Theo “Báo cáo Đầu tư Asean”, tính riêng năm 2015, Asean tiếp nhận khoảng 16% tổng vốn FDI của thế giới chảy vào các nền kinh tế của khu vực, với tổng số vốn FDI là 120 tỷ đôla Song song với những thành tựu đó, các quốc gia Đông Nam Á đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng Trong đó, sự tồn tại của vấn nạn tham nhũng trong mọi khía cạnh của đời sống kinh tế-xã hội-chính trị được xem là vấn đề đáng lo ngại nhất Những nghiên cứu trước
Trang 10đây đã chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này bắt nguồn từ việc các quốc gia có chất lượng khung thể chế kém, mức độ dân chủ và tự do kinh tế yếu kém, trong khi thu nhập của giới công chức còn thấp so với khu vực tư nhân, khu vực doanh nghiệp bên ngoài Vấn nạn tham nhũng tại Đông Nam Á sẽ đe dọa làm suy yếu các kế hoạch thúc đẩy hội nhập kinh tế trong khu vực Tổ chức Minh bạch Quốc tế kêu gọi ASEAN nên đưa phòng, chống tham nhũng trở thành một hợp phần cơ bản của cộng đồng kinh tế Nếu ASEAN muốn đạt được các kỳ vọng về khối thịnh vượng chung, cũng như tạo ra dòng dịch chuyển tự do về hàng hóa, dịch vụ, lao động, các Chính phủ cần thiết lập một sự đồng thuận chung ở cấp khu vực để lồng ghép các nguyên tắc phòng, chống tham nhũng vào khuôn khổ pháp lý của cộng đồng kinh tế chung mà ASEAN đang hướng tới Điều này càng cấp thiết hơn khi vấn nạn tham nhũng xuất hiện trong hoạt động đầu tư Quốc tế đang dần trở thành một vấn đề đáng báo động đối với các quốc gia đang phát triển
Tuy nhiên, tham nhũng không phải là yếu tố duy nhất có thể ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay,
sự hấp dẫn của một quốc gia trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chính là lợi thế của quốc gia đó về sản xuất, hạ tầng, môi trường đầu tư trong nước, Mục tiêu cuối cùng của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm tìm kiếm khả năng sinh lợi nên bất kỳ yếu tố nào góp phần gia tăng sự không chắc chắn và rủi ro, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư
sẽ làm cản trở việc thu hút vốn đầu tư mới Như vậy, ngoài việc xem xét nền kinh tế thuần túy, sự ổn định chính trị của quốc gia tiếp nhận đầu tư, môi trường kinh tế vĩ mô cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài của các Công ty đa quốc gia (MNCs)
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả cho rằng việc thực hiện một nghiên cứu về tác động của tham nhũng đến khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hiện nay tại khu vực Đông Nam Á là thật sự cần thiết, để từ đó đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm, có tính khoa học về mối quan hệ giữa tham nhũng và FDI, rút ra được những giải pháp trong việc giảm thiểu tác động của tham nhũng cũng như nâng cao được chất lượng dòng vốn FDI chảy vào các nước Đông Nam Á
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung của bài nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Một là, tham nhũng tác động tới dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các quốc gia Đông Nam Á theo chiều hướng nào?
- Hai là, tham nhũng hay các nhân tố vĩ mô khác, nhân tố nào đóng vai trò quyết định trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào khu vực Đông Nam Á?
1.3 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu được thu thập từ các nước Đông Nam Á bao gồm: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myamar, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippinnes, Singapore trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2017 để tạo ra bộ dữ liệu bảng Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ bộ dữ liệu của ngân hàng thế giới (World Bank), Tổ chức minh bạch quốc tế (IT) và Quỹ di sản (Heritage foundation)
Bài nghiên áp dụng phương pháp phân tích định lượng trên bộ dữ liệu bảng, tiến hành các kiểm định nhằm phát hiện các khiếm khuyết trên mô hình hồi quy, từ đó
Trang 12lựa chọn phương pháp để khắc phục các khiếm khuyết tồn tại nhằm đưa ra kết quả định lượng đáng tin cậy
1.4 Ý nghĩa thực tiễn
Đông Nam Á đang dần khẳng định là điểm sáng của nền kinh tế Thế giới, tạo ra sức hút đầu tư mạnh mẽ từ các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng trái ngược với thực trạng kinh tế tăng trưởng đó là sự hiện diện của tình trạng tham nhũng tràn lan, được đánh giá trở thành mối quan tâm hàng đầu từ các MNCs Liệu rằng tham nhũng sẽ trở thành chướng ngại ngăn cản đầu tư hay trở thành một công cụ hỗ trợ cho các nhà đầu tư Nhiều nghiên cứu gần đây đã xuất hiện để phân tích tác động của tham nhũng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển và chia thành hai luồng quan điểm đối lập: (1) tham nhũng cản trở thu hút dòng vốn FDI, (2) tham nhũng tạo thuận lợi cho thu hút dòng vốn FDI
Thực hiện nghiên cứu này, tác giả mong muốn đưa ra các số liệu thực tế đã được công nhận rộng rãi trên Thế giới về tình trạng tham nhũng và thực trạng thu hút FDI hiện nay tại các Quốc gia Đông Nam Á Dựa trên phân tích định lượng, tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của tham nhũng cũng như có yếu tố vĩ mô khác vào khả năng thu hút vốn FDI ở khu vực này; từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá khoa học về các mặt tác động của tham nhũng vào dòng vốn FDI; so sánh sự tác động đó với các yếu tố vĩ
mô khác; đưa ra nhận định khách quan về các mặt tiêu cực, tích cực của tham nhũng đối với dòng vốn FDI Trên hết, bài nghiên cứu mong muốn góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của tham nhũng đối với khả năng thu hút nguồn vốn FDI ở các nền kinh tế đang phát triển Những kết quả này hy vọng sẽ tăng sự hiểu biết về tham nhũng và tác động của nó, từ đó xây dựng chiến lược thu hút FDI hiệu quả hơn trong tương lai
1.5 Bố cục bài nghiên cứu
Chương 1: Phần mở đầu
Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu cũng như tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Chương 2: Cơ sở lý luận
Trình bày tổng quan lý thuyết về tham nhũng và FDI, cũng như dẫn chứng một
số nghiên cứu có liên quan về mối quan hệ giữa tham nhũng và FDI
Chương 3: Thực trạng tham nhũng và thu hút FDI tại khu vực Đông Nam Á Trình bày các số liệu đã được công bố, cũng như đánh giá từ các tổ chức, các bản báo cáo về tình trạng tham nhũng cũng như tình trạng thu hút dòng vốn FDI thực
tế tại khu vực Đông Nam Á Đưa ra các thông số, dữ liệu thống kê và có sự so sánh giữa các quốc gia và các khu vực với nhau
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày và mô tả các biến phân tích, phương pháp phân tích, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Chương 5: Kết quả nghiên cứu
Trình bày và mô tả các biến, phân tích các kết quả từ mô hình hồi quy và đánh giá, nhận xét về mức độ tác động của từng nhân tố tới luồng vốn FDI
Chương 6: Kết luận và kiến nghị
Trình bày ngắn gọn quan điểm của cá nhân, và đưa ra các kết luận quan trọng của bài nghiên cứu Đồng thời, nêu lên một số hạn chế của đề tài cũng như đưa ra gợi
ý nghiên cứu trong tương lai
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tham nhũng
2.1.1 Khái quát
Tham nhũng là một thực trạng và vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau về tham nhũng, Tổ chức minh bạch Quốc tế (International Transparancy) đã đưa ra nhận định chung về tham nhũng như sau: “Tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực để phục vụ cho mục đích tư lợi cá nhân" Đồng thời, họ cũng phân chia tham nhũng thành ba hình thức, đó là tham nhũng lớn, tham nhũng nhỏ và tham nhũng chính trị, tùy thuộc vào số tiền bị mất và lĩnh vực mà nó xảy ra
Tham nhũng nhỏ ám chỉ đến việc lạm dụng vị trí, chức năng, quyền hạn được giao của các công chức, cơ quan công quyền cấp dưới trong quá trình làm việc, tiếp xúc với công chúng, những người thường sử dụng hàng hoá và dịch vụ tại các bệnh viện, trường học, sở cảnh sát hoặc các cơ quan khác
Tham nhũng lớn bao gồm các hành vi, hình thức thoả thuận với một bộ phận cấp cao của Chính phủ nhằm bóp méo các chính sách hoặc chức năng của nhà nước, tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo, hoặc các nhà quản lý được hưởng lợi từ nguồn tài chính đáng lẽ ra được sử dụng cho lợi ích công cộng
Tham nhũng chính trị là lạm dụng chức năng, quyền hạn được giao của các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách để duy trì quyền lực, địa vị và sự giàu có, bằng cách việc áp dụng các chính sách, nguyên tắc phân bổ nguồn lực và nguồn tài chính có lợi cho mình
2.1.2 Cách nhận biết tham nhũng
Trên thế giới, một công cụ nhận biết tham nhũng được xây dựng bởi C Stephan, dựa trên 4 yếu tố chính: sự gia tăng độc quyền cộng với bưng bít thông tin, trong khi lại thiếu đi sự minh bạch và thiếu đạo đức
- Tham nhũng = Độc quyền + Bưng bít thông tin - Tính minh bạch – Đạo đức + Độc quyền: Một hệ thống (hay chính quyền) sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ tài
Trang 15sản, và chi phối thị trường mà không thông qua quy luật thị trường
+ Bưng bít thông tin: Nắm quyền chi phối thông tin, thậm chí định hướng và lừa dối dư luận
+ Tính minh bạch: Minh bạch trong chính sách hành chính công, các chi phí công, và minh bạch trong đấu thầu dự án công
+ Đạo đức: Năng lực và đạo đức của người tham gia vào bộ máy công quyền, hướng đến nhận biết điều đúng sai, và tiến tới làm điều đúng tránh điều sai
2.1.3 Các chỉ số đo lường tham nhũng
Hiện nay có nhiều chỉ số đo lường tham nhũng được nhiều bài nghiên cứu sử dụng, nhưng có hai chỉ số đo lường tham nhũng tin cậy, được nhiều tác giả sử dụng:
đó là chỉ số Cảm nhận tham nhũng (Corruption Perception Index-CPI) do Tổ chức minh bạch quốc tế công bố hàng năm; Chỉ số tự do không có tham nhũng (Freedom From Corruption) của Quỹ Di sản (Heritage Foundation)
* Chỉ số cảm nhận tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) Chỉ số CPI do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố hàng năm, ra đời năm 1995 được coi là một chỉ số tổng hợp đo lường cảm nhận về tham nhũng ở khu vực công tại nhiều quốc gia khác nhau Các nguồn dữ liệu sử dụng để tính chỉ số CPI (bao gồm các khảo sát và nguồn thông tin) là các bảng câu hỏi được thiết kế và chuẩn hoá một cách kĩ lưỡng để đưa đến người khảo sát Chỉ số CPI thể hiện quan điểm của các bên liên quan,
và kết quả CPI thường có mức độ tương đồng cao với các chỉ số khách quan khác Phương pháp tính chỉ sổ CPI được dựa trên 4 yếu tố:
(1) Chọn các nguồn dữ liệu: Mỗi nguồn dữ liệu được sử dụng để xây dựng chỉ số CPI phải đáp ứng đủ các tiêu chí khắt khe của Tổ chức minh bạch Quốc tế HIện nay, Chỉ số CPI được tính bằng cách sử dụng 13 nguồn dữ liệu từ 12 tổ chức khác nhau (2) Chuẩn hoá các nguồn dữ liệu với thang điểm từ 0–10, trong đó 0 thể hiện mức
độ cảm nhận về tham nhũng cao nhất và 10 thể hiện mức độ cảm nhận về tham nhũng thấp nhất
Trang 16(3) Tính toán điểm trung bình: Để một quốc gia hay vùng lãnh thổ được đưa vào chỉ số CPI, phải có ít nhất 3 nguồn dữ liệu có sẵn cho quốc gia/vùng lãnh thổ đó Điểm CPI của một nước chính là điểm trung bình của tất cả các điểm số đã được chuẩn hoá cho nước đó Điểm số CPI luôn là điểm đã được làm tròn
(4) Độ bất định của phép đo: Kết quả CPI của một nước/lãnh thổ luôn đi kèm với sai số chuẩn và khoảng tin cậy Hai thông số này thể hiện độ biến thiên trong điểm
số các nguồn dữ liệu của quốc gia/lãnh thổ đó
* Chỉ số tự do không có tham nhũng (Freedom From Corruption - FFC) Chỉ số FFC là một yếu tố được sử dụng trong việc tính toán Chỉ số tự do kinh tế (Index of Economic Freedom) của Quỹ Di sản Chỉ số FFC cơ bản được tính dựa trên chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Tổ chức minh bạch quốc tế nhưng được chuẩn hoá sang thang điểm từ 0 đến 100 bằng cách nhân số điểm CPI với 10 Ví dụ: nếu điểm dữ liệu CPI thô của quốc gia là 5.5, thì Chỉ số FFC sẽ là 55
Đối với các quốc gia không được tính toán theo chỉ số CPI, chỉ số FFC được xác định bởi thông tin định tính từ các nguồn thông tin đáng tin cậy như: Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Cơ quan Tình báo Kinh tế (The Economist Intelligence Unit)
2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1 Khái quát
Trong báo cáo năm 1996, Tổ chức Thương mại Kinh tế Thế giới (WTO) đã đưa
ra đánh giá về Đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư có trụ sở tại một quốc gia (quốc gia sở hữu) mua lại tài sản ở một quốc gia khác (quốc gia sở tại) với mục đích quản lý tài sản đó Trong hầu hết các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản
mà họ quản lý ở nước ngoài đều thể hiện dưới dạng các công ty kinh doanh Trong những trường hợp như vậy, nhà đầu tư nước ngoài thường được gọi là "công ty mẹ", còn tài sản được gọi dưới tên "đơn vị liên kết" hoặc "công ty con"
Trang 17Có ba danh mục chính của vốn đầu tư nước ngoài:
- Vốn chủ sở hữu là giá trị của khoản đầu tư của công ty nước ngoài vào cổ phiếu của một doanh nghiệp ở nước sở tại Một tỉ lệ sở hữu 10% trở lên tính trên vốn chủ sở hữu hoặc tính trên quyền biểu quyết được coi là ngưỡng kiểm soát tài sản
- Thu nhập tái đầu tư là phần lợi nhuận của các công ty đa quốc gia không được phân phối dưới dạng cổ tức hoặc được chuyển lại cho công ty con Lợi nhuận giữ lại của các chi nhánh hoặc công ty con được giả định là tái đầu tư vào hoạt động của chính nơi đó
- Vốn khác đề cập đến việc vay và cho vay ngắn hạn hoặc dài hạn giữa công ty
mẹ ở nước ngoài với chi nhánh hoặc công ty con
2.2.2 Lý thuyết hỗ trợ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”
Có nhiều lý thuyết cố gắng giải thích các yếu tố quyết định đến thu hút dòng vốn FDI Trong đề tài nghiên cứu, tác giả áp dụng hai lý thuyết chính sau để giải thích:
a Lý thuyết chiết trung của Dunning (1977)
Nội dung chính của Lý thuyết chiết trung cho biết rằng, công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư ở nước khác khi hội đủ cả ba lợi thế: lợi thế về sở hữu (Ownership-O), lợi thế về địa điểm (Location- L), lợi thế về nội bộ hóa (Internalization-I)
- Lợi thế sở hữu được giải thích cho việc công ty đang sở hữu những ưu thế so với công ty khác như công nghệ, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, kỹ năng quản lý Lợi thế sở hữu là tiền đề cho hoạt động FDI
- Lợi thế địa điểm có được khi công ty đầu tư tiến hành đầu tư tại một địa điểm
cụ thể Lợi thế địa điểm bắt nguồn từ vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, quy
mô thị trường lớn, chi phí cho các yếu tố sản xuất thấp, môi trường kinh doanh thân thiện Lợi thế địa điểm giải thích lý do tại sao một quốc gia lại hấp dẫn đầu tư hơn các nước khác hay tại sao một công ty lại chọn địa điểm này thay vì lựa chọn một địa điểm khác Ngoài ra, các công ty nước ngoài không chỉ căn cứ vào vị trí địa lý, tài nguyên
Trang 18thiên nhiên mà còn căn cứ vào văn hóa, luật pháp, chính trị, thể chế, môi trường và cơ cấu thị trường của nước nhận đầu tư Theo đó một công ty nước ngoài hoạt động ở một quốc gia khác, chính sách của Chính phủ nước sở tại là một yếu tố quan trọng (ví dụ: thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp, và các rào cản phi thuế quan, mức độ tham nhũng ) ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của một công ty nước ngoài
- Lợi thế nội bộ hóa là sự tương tác giữa hai lợi thế sở hữu và lợi thế địa điểm với nhau Nhờ nội bộ hóa hoạt động tại một địa điểm giúp làm giảm chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, thay vì phải nhận cấp phép hoặc xuất khẩu công nghệ
Theo lý thuyết chiết trung thì cả ba điều kiện kể trên điều phải được thỏa mãn trước khi có đầu tư trực tiếp nước ngoài, những lợi thế này không cố định mà thay đổi theo thời gian và sự phát triển, nên luồng FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ
có sự khác nhau Sự khác biệt này còn bắt nguồn từ việc các nước này đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển và tham nhũng đang ở mức độ nào? Do vậy, những quốc gia có mức độ tham nhũng cao, thì tham nhũng như một loại “thuế” đầu tư đối với các MNCs Điều này sẽ làm giảm động lực đầu tư của họ tại các quốc gia đó
b Lý thuyết Đầu tư quốc tế của Dunning (1981)
Theo Dunning (1981), có thể phân chia FDI thành ba loại phổ biến gồm: FDI tìm kiếm thị trường (MarketSeeking FDI), FDI tìm kiếm các nguồn lực (Resource-Seeking FDI), FDI tìm kiếm sự hiệu quả (Efficiency-Seeking FDI)
- FDI tìm kiếm thị trường: mục tiêu là mở rộng thị phần, đáp ứng nhu cầu thị trường nước sở tại Loại FDI này chịu sự tác động mạnh bởi quy mô thị trường, tăng trưởng của thị trường
- FDI tìm kiếm các nguồn lực: mục tiêu là khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu thô và tận dụng nguồn nhân công giá rẻ tại quốc gia sở tại để sản xuất hàng hóa, nguyên liệu tinh chế và sau đó xuất khẩu ra thị trường thế giới
- FDI tìm kiếm hiệu quả: loại FDI này nhắm đến các khu vực, vị trí địa lý, nơi
có trình độ khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng cho phép họ có thể đạt hiệu suất theo quy mô
Trang 19Cả 3 loại FDI này đều tác động làm tăng độ mở thương mại của nền kinh tế, bởi
vì bản chất của FDI là một dạng quan hệ điển hình trong hợp tác kinh tế quốc tế Trong đó, FDI luôn kéo theo sự dịch chuyển, luân chuyển của nguồn lực sản xuất, hàng hóa, dịch vụ từ Thế giới vào quốc gia sở tại và ngược lại, FDI cũng thúc đẩy sự dịch chuyển, luân chuyển từ quốc gia sở tại ra Thế giới
2.2.3 Các nhân tố tác động tới FDI
Khi nghiên cứu về FDI, có rất nhiều nhân tố được phân tích để đánh giá mức độ ảnh hưởng và mối quan hệ với luồng vốn này Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, ngoài yếu tố tham nhũng, tác giả sử dụng các nhân tố chính sau: Tăng trưởng kinh tế, quy
mô thị trường, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực
-Tăng trưởng kinh tế là một trong những nhân tố rất phổ biến, được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng khi phân tích về luồng vốn FDI, theo Fan và cộng sự (2007), Chen
và Khan (1997), Mbekeani (1997), các nhà đầu tư nước ngoài có ấn tượng đối với sự tăng trưởng trong quá khứ của một quốc gia, dấu hiệu của sự phát triển thể hiện triển vọng tiềm năng của thị trường đó Cùng quan điểm, Shatz và Venables (2000) cho rằng sự ấn tượng ban đầu sẽ đưa đến giai đoạn lựa chọn loại vốn FDI phù hợp với thực
tế ở mỗi nơi, đó là luồng vốn FDI với mục tiêu chính là phục vụ tốt nhu cầu của thị trường địa phượng (FDI tìm kiếm thị trường), hoặc với mục tiêu là giảm được chi phí đầu vào thấp hơn trong sản xuất (FDI tìm kiếm nguồn lực) Nếu là FDI tìm kiếm thị trường, việc MNCs xây dựng các nhà máy ở tại quốc gia đó sẽ giúp phục vụ tốt hơn nhu cầu người dân nước sở tại, rút ngắn được khoảng cách địa lý (giảm thuế quan hàng hóa, chi phí vận chuyển) và đối phó tốt hơn trước sự thay đổi bất ngờ của thị trường hoặc sở thích của dân chúng, đồng thời cạnh tranh tốt hơn với doanh nghiệp địa phương, dẫn đến giá thấp hơn cho sản phẩm, có lợi cho người tiêu dùng; nếu là FDI tìm kiếm nguồn lực, các MNCs sẽ tận dụng được nguồn lực tự nhiên (tài nguyên, lao động, ) tại nước sở tại, cắt giảm được chi phí sản xuất, giải quyết được vấn đề đầu vào cho chuỗi sản xuất
- Quy mô thị trường (hay GDP bình quân đầu người) đã được chấp nhận rộng rãi là một yếu tố quyết định, quan trọng trong khả năng thu hút vốn FDI (Chakrabarti,
Trang 202001) Theo Quazi (2014), khi quy mô thị trường của nước chủ nhà càng lớn, biểu hiện tiềm năng của thị trường càng lớn, thì càng thu hút được nhiều vốn FDI Một sự gia tăng trong quy mô thị trường là một tín hiệu tích cực về sức mua và sự mở rộng của thị trường tiêu thụ (Alemu, 2012) Các yếu tố trên dường như thể hiện cho loại vốn FDI tìm kiếm thị trường Dưới góc nhìn khác, Akin (2009) cho thấy FDI ở các nước đang phát triển, quy mô thị trường nhỏ thể hiện qua thu nhập thấp của dân chúng, không gắn liền với loại vốn FDI tìm kiếm thị trường, mà thiên về FDI tìm kiếm nguồn lực Nếu các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm kiếm các nơi có chi phí sản xuất thấp, sự sẵn có của lao động rẻ là một lý do quan trọng cho thu hút FDI Các doanh nghiệp có thể biện minh cho việc chuyển một phần quy trình sản xuất của họ ra nước ngoài, để tận dụng chi phí đầu vào lao động thấp tại các nước đang phát triển
- Nguồn vốn nhân lực không chỉ là yếu tố quyết định quan trọng của tăng trưởng kinh tế mà còn là yếu tố quan trọng trong việc thu hút vốn từ các MNCs Theo Blomström và Kokko (2002), chất lượng nguồn nhân lực của nước chủ nhà xác định
có bao nhiêu số lượng FDI mà nước này có thể thu hút được và quốc gia đó có thể hấp thụ các lợi ích từ MNCs trong việc rèn luyện và phát triển kỹ năng của lao động hay không Việc chuyển giao công nghệ từ các công ty mẹ ở nước ngoài cho các chi nhánh
và các công ty con ở quốc gia khác không chỉ thể hiện trong máy móc, thiết bị, quyền sáng chế, quản trị, mà còn được thực hiện thông qua đào tạo lao động địa phương Đối với các nước đang phát triển, mức vốn nhân lực là một yếu tố quan trọng mà MNCs, đặc biệt là các MNCs có giá trị gia tăng cao, đang tìm kiếm khi xác định vị trí đầu tư mới (Miyamoto, 2003) Điều này gần đây đã trở nên quan trọng hơn khi phương thức sản xuất ngày càng hiện đại về công nghệ, máy móc, thiết bị, MNCs cần tìm kiếm lực lượng lao động được trang bị kiến thức về kỹ thuật, kỹ năng và quản trị kinh doanh
- Số lượng, tính khả dụng và chất lượng của cơ sở hạ tầng là điều cần thiết cho hoạt động sản xuất và hoạt động thương mại liên kết đa quốc gia Cơ sở hạ tầng tốt hơn có thể giảm đáng kể chi phí đầu tư và do đó ảnh hưởng tích cực đến quyết định của nhà đầu tư (Shah và Ahmed, 2003) Erenburg (1993) tiếp tục lập luận rằng nếu cơ
sở hạ tầng không được cung cấp, khu vực tư nhân trong nước và các MNCs sẽ hoạt
Trang 21động kém hiệu quả và phải nỗ lực hơn để tự xây dựng mạng lưới riêng của họ, dẫn đến trùng lắp và lãng phí tài nguyên Tại các nước đang phát triển, Khan và Kim (1999) cho rằng, nếu cơ sở hạ tầng không phải là động cơ về đầu tư sản xuất, thì chính bản thân chất lượng hoặc sự thiếu thốn hạ tầng là nguyên nhân cho việc thu hút FDI của các MNCs có thế mạnh về công nghệ, xây dựng Theo nghiên cứu ODI (1997), cơ sở
hạ tầng nghèo nàn có thể được xem vừa là trở ngại, vừa mang tính cơ hội cho đầu tư nước ngoài Với đa số các quốc gia thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng nghèo nàn được xem như một trong các hạn chế chính trong thu hút FDI nhưng các nhà đầu tư nước ngoài cũng xem đó là cơ hội đầu tư nếu Chính phủ của nước tiếp nhận FDI cho phép họ tham gia vào lĩnh vực hạ tầng
- Kandiero (2006) cho rằng việc giảm thuế quan và giảm các rào cản phi thuế quan như việc cấp phép hoặc thủ tục rườm rà sẽ làm tăng FDI, làm tăng khả năng cạnh tranh đối với các quốc gia khác về thu hút đầu tư Đồng quan điểm trên, Alemu (2012)
có lập luận, mức độ mở cửa của nền kinh tế là một trong những yếu tố truyền thống tác động tới sự dịch chuyển của dòng vốn FDI Đối với các MNCs có xu hướng đầu tư để sản xuất rồi xuất khẩu sản phẩm hoàn thiện ra nước ngoài, thì việc Chính phủ có chính sách giao thương cở mở, sẽ giúp họ dễ dàng chuyển giao công nghệ, máy móc cũng như khả năng nhập khẩu nguyên vật liệu, và ngược lại Chính phủ có xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước, đóng cửa nền kinh tế, các MNCs rất ngại đầu tư vì chi phí xuất, nhập khẩu cao, cũng như khó khăn về thủ tục pháp lý, dẫn đến giảm sức hút đầu tư
2.3 Mối quan hệ giữa Tham nhũng và Đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.3.1 Tác động của tham nhũng vào FDI
Cụm từ "grabbing hand" được sử dụng trong các nghiên cứu về tham nhũng, được đề cập bởi các nhà kinh tế như Quazi (2014), Shleifer và Vishny (1993), Bliss
và Di Tella (1997), và Aidt (2003),… cho rằng tham nhũng giống như “một cái bắt tay” làm gia tăng các chi phí liên quan đến hoạt động kinh tế Thông qua “cái bắt tay” ấy, nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải mất các khoản tiền không chính thức hoặc không công khai liên quan đến việc trả hoa hồng cho các chính trị gia, cán bộ quan liêu trong các hợp đồng lớn hoặc hối lộ các quan chức địa phương về giấy phép, kết
Trang 22nối tiện ích, an ninh, thuế suất, … tất cả đều làm tăng tổng chi phí đầu tư và giảm lợi nhuận đầu tư Thực trạng trên dẫn đến nguy cơ làm mất uy tín thương hiệu của nhà đầu tư hoặc danh dự của quốc gia trong trường hợp các vụ bê bối về tham nhũng, hối
lộ bị phanh phui (Zhao và cộng sự, 2003) Hơn nữa, tham nhũng tạo ra sự méo mó, bất bình đẳng trong cạnh tranh trên thị trường khi các công ty có liên quan đến tham nhũng được quyền ưu tiên tiếp cận các thị trường sinh lời, các tài nguyên hoặc được nhận ưu đãi về đầu tư (Habib và Zurawicki, 2002) Nghiêm trọng hơn, tham nhũng
có thể ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất đầu tư công và chất lượng cơ sở hạ tầng (Tanzi và Davoodi, 1997) và dịch vụ, giáo dục, y tế (Gupta, 2000), tại vì chi phí cho tham nhũng thường đường được các công ty, doanh nghiệp cấn trừ vào chất lượng các công trình này
Theo Hossain S (2016), tham nhũng ở một quốc gia ảnh hưởng đến các nhà đầu tư theo nhiều cách Đầu tiên, nó làm tăng chi phí kinh doanh ở một quốc gia Thứ hai, nó tạo ra sự không chắc chắn cho công ty nước ngoài, vì quá trình đầu tư dính dáng đến sự quan liêu của các chính trị gia Thứ ba, nó khuyến khích các thành phần trung gian tham gia vào các hoạt động tham nhũng (chính quyền địa phương, công chức, ) Thứ tư, các nhà đầu tư có thể phải đối mặt với những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng bao gồm cả viễn cảnh đi tù, nếu họ bị bắt Thứ năm, họ có thể bị quốc gia sở tại và các quốc gia khác liệt kê vào danh sách đen nếu bị chứng minh rằng công ty từng có dính líu đến một việc làm phi pháp Thứ sáu, công ty đầu tư có thể không thu hút được những người tài năng ở nước sở tại Thứ bảy, sự nhận thức của khách hàng hoặc của công chúng về hành vi phi đạo đức có thể gây tổn hại cho hình ảnh thương hiệu và danh tiếng của công ty ở nước sở tại Thứ tám, nó có thể gây tổn hại cho hình ảnh thương hiệu của công ty ở chính quốc gia của mình Thứ chín, nó có thể dẫn đến thiệt hại tài chính về tiền phạt, ngay cả khi công ty không thừa nhận tội lỗi Thứ mười và cũng là nghiêm trọng nhất, tham nhũng nếu được dễ dàng chấp nhận dưới mọi hình thức, có xu hướng trở thành một cách sống tiêu cực, đáng lo ngại tồn tại trong xã hội Vì vậy, chính phủ của mỗi quốc gia cần phải thực hiện một hành động tương xứng và cụ thể để giảm tham nhũng, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh để tham nhũng không chiếm ưu thế trong hoạt động kinh tế
Trang 23Một số nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết “grabbing hand”, dẫn chứng về việc tỷ lệ gia tăng tham nhũng làm giảm dòng vốn FDI Ví dụ, Drabek và Payne (1999) thấy rằng mức độ không minh bạch cao của hệ thống chính quyền làm giảm dòng vốn FDI, việc tăng 1 điểm trong bảng xếp hạng minh bạch quốc tế có thể tăng thêm 4% dòng vốn FDI chảy vào Wei (2000) đã phân tích dòng vốn FDI chảy từ 12 nước đầu
tư đến 45 nước chủ nhà, và thấy rằng tham nhũng giống như một loại thuế suất và khiến dòng vốn FDI bị ảnh hưởng, Wei (2000) cũng đã nghiên cứu dòng vốn chảy từ
14 nước đầu tư đến 53 nước chủ nhà để phân tích tác động của tham nhũng đối với các dòng vốn đầu tư khác và thấy rằng tham nhũng làm giảm số lượng dòng vốn FDI nhiều hơn các dòng vốn đầu tư khác Habib và Zurawicki (2002) nghiên cứu dòng vốn FDI song phương từ 7 nước đầu tư đến 89 nước chủ nhà, và thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài nói chung là không thích tham nhũng, họ coi tham nhũng là vô đạo đức và khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả, nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng sự khác biệt về mức độ tham nhũng giữa nước đầu tư và nước sở tại cũng rất quan trọng, vì các nhà đầu tư nước ngoài miễn cưỡng đối phó với những hoạt động không bình thường xảy ra tại một đất nước có mức độ tham nhũng khác với quốc gia của họ Voyer và Beamish (2004) đã nghiên cứu một mẫu số của gần 30.000 dự án FDI của Nhật Bản tại 59 quốc gia, và thấy rằng tham nhũng có tác động tiêu cực đến FDI của Nhật Bản ở các nền kinh tế mới nổi (những nước thường có mức độ tham nhũng cao), nhưng điều này không xảy ra ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển Trái ngược với giả thuyết “grabbing hand”, giả thuyết “helping hand” được hỗ trợ bởi các nhà kinh tế như Lui (1985), Beck và Maker (1986), và Saha (2001), lại cho rằng thay vì là trở ngại cho kinh doanh, tham nhũng có thể là một "chất xúc tác hiệu quả" giúp loại bỏ trở ngại từ các quy định, chính sách, rào cản kinh tế cứng nhắc, từ đó tạo thuận lợi cho các giao dịch, đưa đến thảo thuận hợp tác, thuận lợi cho quá trình đầu
tư ở nước sở tại Giả thuyết này đã thể hiện một mối quan hệ tích cực giữa tham nhũng
và FDI Một số quốc gia có mức độ tham nhũng cao, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn
Độ nhận được rất nhiều FDI, rõ ràng tham nhũng không ngăn chặn dòng vốn FDI chảy vào các nước này
Trang 24Bardhan (1997), Leff (1964) và Huntington (1968) có cùng quan điểm, họ nhận định tham nhũng hoạt động như một “bàn tay giúp đỡ” bằng cách "bôi trơn các bánh xe thương mại", cho phép các nhà đầu tư vượt qua các quy định nặng nề của chính phủ, nhanh chóng tiến tới việc đưa ra quyết định trong đầu tư kinh doanh, điều này thường hiện diện rõ nhất tại các quốc gia có hệ thống quản lý bộ máy hành chính yếu kém Rashid (1981) nhìn nhận tham nhũng có thể tạo thuận lợi cho việc ra quyết định, từ đó nâng cao hiệu quả, ông đã phát triển một mô hình lý thuyết cho thấy tham nhũng có thể là “chất bôi trơn” vào hệ thống kinh tế tạo thuận lợi cho việc đưa ra quyết định tối ưu Beck và Maker (1986) trình bày vấn đề trong cạnh tranh đấu thầu, các công ty muốn đạt được kết quả tốt nhất trong thực tế phải trả tiền hối lộ cao nhất;
và Braguinsky (1996) lập luận rằng trong một thị trường cạnh tranh, tham nhũng một cách có kiểm soát sẽ thúc đẩy sự đổi mới và làm suy yếu độc quyền
2.3.2 Tham nhũng tác dụng vào FDI theo hướng tích cực hay tiêu cực? Nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của tham nhũng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và phần lớn trong số họ đã đi đến kết luận tham nhũng cao ở một quốc gia ngăn chặn dòng vốn FDI chảy vào, và mức độ tác động của tham nhũng vào FDI phụ thuộc vào quy mô và bản chất của tham nhũng
Một nghiên cứu so sánh dựa trên ảnh hưởng của tham nhũng đối với FDI ở Trung Quốc và Ấn Độ, đã có kết luận tham nhũng ở Ấn Độ ảnh hưởng tiêu cực đến FDI, trong khi điều đó không xảy ra ở Trung Quốc Lý giải cho điều này, Ravi (2015) cho rằng các doanh nghiệp thường xem xét tham nhũng ở hai vấn đề, đầu tiên, phổ biến tham nhũng
và thứ hai, phân biệt tham nhũng Ở Trung Quốc tham nhũng có sự tùy ý rất thấp, trong khi ở Ấn Độ, sự tùy ý là rất cao, có nghĩa là nhà đầu tư không được bảo đảm về kết quả ngay cả khi đã trả tiền hối lộ Điều đó phần nào giải thích tại sao tham nhũng của Ấn Độ lại có tác động bất lợi đối với FDI, trong khi ở Trung Quốc, nó có tác dụng ngược lại Mặc dù các nước như Ấn Độ, Trung Quốc thu hút FDI thành công cho dù có mức
độ tham nhũng cao, nhưng không che giấu được thực tế là các nước này có thể tăng gấp đôi dòng vốn FDI nếu họ có mức tham nhũng thấp Các nước như Trung Quốc, Ấn Độ
Trang 25và Nigeria thu hút nguồn vốn FDI dưới mức tiềm năng của họ chủ yếu là do tham nhũng cao (Vittal, 2001) Ví dụ, Trung Quốc có thể tăng gấp đôi FDI của mình nếu tốt hơn về mặt pháp luật và bảo vệ tài sản Tương tự như vậy, nếu tham nhũng ở Ấn Độ giảm như
ở các nước ở khu vực Scandinavia, GDP và FDI của nó có thể tăng lần lượt là 1,5% và 12% (Vittal 2001)
2.3.3 Tác động ngược trở lại của FDI vào tham nhũng
Theo Pablo và Boliang (2016), mối liên hệ giữa đầu tư trong nước và tham nhũng phụ thuộc vào cách dòng vốn FDI tác động đến thị trường ở các nước chủ nhà
Ở các nước kém phát triển, các doanh nghiệp trong nước có năng suất kém hiệu quả hơn so với các công ty nước ngoài Do đó, việc gia nhập của các công ty nước ngoài sẽ làm gia tăng đầu tư trong nước và gia tăng sức ép phải cạnh tranh thị trường của doanh nghiệp nội địa, dẫn đến một thị trường có đặc lợi về kinh tế cao Đặc lợi kinh tế cao hơn sẽ làm tăng lợi ích mà các quan chức trong hệ thống công quyền muốn đòi hỏi, tương ứng với mong đợi của các nhà đầu tư (hối lộ phải tương xứng với đặc lợi kinh tế) Do đó, FDI trong nước sẽ liên quan nhiều hơn với tham nhũng ở các nước đang phát triển Mối liên hệ tích cực giữa FDI và tham nhũng này sẽ được giảm thiểu ở các nền kinh tế phát triển, nơi mà các mức độ cạnh tranh của nhà đầu tư nước ngoài cân bằng với các công ty trong nước, làm giảm các đặc lợi kinh tế mong đợi của nhà đầu
tư nước ngoài, từ đó làm giảm mức độ đòi hỏi từ các quan chức Như vậy, dòng vốn FDI dẫn đến đặc lợi kinh tế (mức nhận hối lộ) cao hay thấp phụ thuộc vào nguồn lực địa phương và sự khác biệt về năng suất giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Dòng vốn FDI sẽ tương quan với đặc lợi cao, trong đó tham nhũng cao hơn xuất hiện trong môi trường kinh tế mà đầu tư nước ngoài lấn áp đầu tư trong nước dẫn đến sức cạnh tranh nội địa bị hạn chế
3.3 Khảo lược các nghiên cứu liên quan
Wei (2000) đã thực hiện một nghiên cứu về tác động của tham nhũng lên đầu
tư quốc tế từ 12 quốc gia đầu tư đến 45 nước nhận đầu tư Với nguồn dữ liệu được thu thập trong năm 1989 từ OCED (International Direct Investment Database), qua hai cách phân tích bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) và mô hình
Trang 26Tobit, bài nghiên đã đưa ra 3 phát hiện sau: (1) Việc tăng thuế suất đối với các công ty
đa quốc gia hoặc tăng mức độ tham nhũng ở nước sở tại làm giảm luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào quốc gia đó; (2) Giả thuyết tham nhũng có tác động yếu tới dòng vốn FDI chảy vào khu vực các nước Đông Á không có ý nghĩa thống kê; (3) Các nhà đầu tư Mỹ không thích tham nhũng ở các nước chủ nhà, cả Mỹ và Nhật Bản đều
có sự phân biệt về tham nhũng ở khu vực Đông Á (nới có tham nhũng cao) so với các nơi khác trên thế giới
Bài nghiên cứu của Ardiyato (2012) sử dụng dữ liệu tại 82 nước đang phát triển và phát triển ở các khu vực châu Phi, châu Mỹ La tinh, châu Á, châu Đại Dương, Đông Nam Châu Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS), nghiên cứu này cố gắng xây dựng các mô hình thực nghiệm để điều tra mối quan hệ giữa FDI và tham nhũng và xác định các yếu tố quyết định của tham nhũng Cụ thể, nghiên cứu này xem xét liệu tham nhũng có lợi hay có hại cho dòng vốn FDI trong hoàn cảnh có
sự khác biệt về nội tại, cũng như khác biệt trong nhận thức và thái độ đối với tham nhũng, khác biệt về văn hóa và địa lý ở mỗi khu vực trên Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để phân tích mô hình hồi quy Kết quả cho thấy: (1) Tại các nước đang phát triển, tham nhũng và FDI có quan hệ cùng chiều, còn ở những nước phát triển, tham nhũng và FDI có quan hệ ngược chiều nhau; (2) Khi nghiên cứu theo từng khu vực, thì tác động của tham nhũng đối với dòng vốn FDI có xu hướng giảm dần Sự khác biệt trong nội tại của từng khu vực, cũng như sự tách biệt về văn hóa, địa lý sẽ ảnh hưởng đến dòng vốn FDI; (3) Ở khu vực thuộc các nước đang phát triển, tác động của tham nhũng đối với dòng vốn FDI biến mất ở hầu hết các khu vực Cụ thể, ở châu Phi cũng như Đông Nam Âu và CIS, tham nhũng dường như không ảnh hưởng đến dòng vốn FDI ở tất cả các mô hình, mặc dù tham nhũng là rất phổ biến ở những khu vực này; kết luận rằng các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đơn giản nhìn nhận tham nhũng như là một vấn đề hiển nhiên, dòng vốn FDI vẫn đến và đi phụ thuộc vào các yếu tố khác ngoài tham nhũng Ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực đến FDI ở hầu hết các mô hình Trong khi đó, tham nhũng cho thấy một tác động tích cực đến dòng vốn FDI tại khu vực châu Á và châu Đại Dương; (4) Đối với các nước phát
Trang 27triển, tốc độ tăng trưởng GDP và chi tiêu chính phủ trên đầu người là biến luôn luôn
có ý nghĩa thống kê trong các mô hình Tuy nhiên, sự cởi mở kinh tế và các biến tài nguyên thiên nhiên chỉ có ý nghĩa trong một nửa số mô hình
Nghiên cứu của Ravi S (2015) về ảnh hưởng của tham nhũng đối với FDI của Trung Quốc và Ấn Độ Nghiên cứu này phát hiện ra rằng: mức độ ảnh hưởng của tham nhũng đến dòng vốn FDI vào một quốc gia phụ thuộc vào bản chất của tham nhũng chứ không chỉ do quy mô tham nhũng quyết định Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng, cả hai đều có nền văn minh lâu đời trên thế giới; đều có dân số đông ngang nhau; đều là nền kinh tế lớn của Châu Á Tuy nhiên, cùng một mức độ tham nhũng nhưng Trung Quốc có thể thu hút FDI nhiều hơn, trong khi Ấn Độ lại không thành công, vấn đề này nằm trong bản chất của tham nhũng ở các nước này Khi phân tích tác động của tham nhũng đối với cơ hội đầu tư, các doanh nghiệp nước ngoài xem xét hai vấn đề liên quan: đầu tiên, mức độ phổ biến của tham nhũng; thứ hai, khả năng đầu tư được đảm bảo khi thực hiện tham nhũng Ở Trung Quốc, sự đảm bảo của tham nhũng là rất cao, trong khi ở Ấn Độ, điều này lại rất thấp, có nghĩa là người ta không được bảo đảm về kết quả đầu tư ngay cả sau khi đã trả tiền hối lộ Điều đó phần nào giải thích tại sao tham nhũng của Ấn Độ lại có tác động bất lợi đối với FDI, trong khi
ở Trung Quốc, nó có tác dụng ngược lại
Nghiên cứu của Quazi (2014) phân tích tác động của tham nhũng đối với dòng vốn FDI ở Đông Á và Nam Á, hai khu vực đón nhận dòng vốn FDI rất lớn trên thế giới Sử dụng phương pháp GLS với dữ liệu bảng 1995-2011, nghiên cứu này đã có những đánh giá như sau: (1) Ngoài các yếu tố thông thường quyết định về khả năng thu hút FDI được tìm thấy, nghiên cứu này cho thấy tham nhũng cũng là một yếu tố quyết định quan trọng và mạnh mẽ vào dòng vốn FDI ở khu vực Nam Á và Đông Á
Vì vậy, để thu hút thêm FDI, các nước này nên tập trung vào việc giảm tham nhũng bằng cách thực thi các chính sách chống tham nhũng thiết thực Việc phòng chống tham nhũng là một quá trình gian khổ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, vì tham nhũng có mối liên quan đặc biệt tới chính trị Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp chống tham nhũng có thể gặp khó khăn về chính trị trong ngắn hạn, nhưng trong dài
Trang 28hạn, các biện pháp này sẽ thúc đẩy một môi trường kinh tế lành mạnh; (2) Các yếu tố khác ngoài tham nhũng như Quy mô thị trường lớn hơn có thể thu hút thêm FDI, trong khi đó, sự bất ổn chính trị làm xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế nước chủ nhà và giảm dòng vốn FDI Lợi tức đầu tư cao hơn được kết luận
có tác động tích cực đến FDI, điều này cho thấy rằng các quyết định đầu tư được thúc đẩy bởi các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận; (3) Đông Á dường như là một điểm đến thu hút FDI hơn Nam Á, khu vực này là nơi có một số nền kinh tế có hiệu suất cao và công nghiệp hóa vượt trội so với các nền kinh tế Nam Á trong những năm gần đây Hơn nữa, một loạt các yếu tố thuận lợi khác như vị trí địa lý, cải cách kinh tế ổn định cùng với sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ đối với hệ thống chính trị, …nâng cao lợi thế cho khu vực Đông Á; (4) Sự phổ biến của văn hóa Nho giáo tại khu vực Đông Á (nhấn mạnh đến kỷ luật, sự hoà thuận, và các đặc điểm văn hóa độc đáo khác) tạo ra một môi trường đầu tư an toàn hơn so với khu vực Nam Á, điều này tạo ra thiện cảm đầu tư cho các công ty nước ngoài
Nghiên cứu của Cuervo-Cazurra (2007) phân tích ảnh hưởng của tham nhũng đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhận định: Việc tham nhũng, hay việc lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ phục vụ cho lợi ích cá nhân, đóng vai trò như một khoản thuế bất thường trong kinh doanh làm tăng chi phí hoạt động và bóp méo ý nghĩa của các khoản ưu đãi đầu tư (muốn nhận ưu đãi phải có sự trao đổi với quan chức) Tuy nhiên, có một nghịch lý, đó là các nền kinh tế chuyển đổi có mức độ tham nhũng cao nhưng vẫn đón nhận một lượng lớn FDI chảy vào, điều này tạo ra một điểm bất thường cần được thực nghiệm để đánh giá vấn đề này Tác giả sử dụng phương pháp tác động cố định (fixed effect) để hồi quy mô hình Nghiên cứu của Cuervo-Cazurra (2007) cho thấy tham nhũng được phân biệt thành: tham nhũng phổ biến (tham nhũng diễn ra tự nhiên và rộng khắp); và tham nhũng tùy ý (tham nhũng diễn ra bất thường, không thường xuyên) Tham nhũng phổ biến là một rào cản mạnh mẽ đối với FDI trong các nền kinh tế chuyển đổi bởi vì nó tạo ra một khoản chi phí tăng thêm cho nhà đầu tư nước ngoài ở mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội Ngược lại, tham nhũng tùy ý không hoạt động như một rào cản bởi vì nó chỉ tạo
ra sự không chắc chắn cao hơn trong đầu tư ở một khía cạnh nhất định Ý nghĩa của
Trang 29dòng suy nghĩ này là các nhà quản lý không thích tham nhũng, tuy nhiên, khi họ phải đối phó với nó, các nhà quản lý thích hình thức tham nhũng tùy ý hơn tham nhũng phổ biến Nghiên cứu này thể hiện tầm quan trọng của việc phân loại chi tiết các loại tham nhũng khác nhau, cũng như phân tích ảnh hưởng và tác động của từng loại tham nhũng đôi với dòng vốn FDI của nước nhận đầu tư
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã trình bày kết quả mới về những hậu quả và các yếu tố quyết định tới tham nhũng, mức độ tham nhũng cao có gắn liền với thương mại quốc tế, thuế suất và nguồn tài nguyên thiên nhiên Mặc dù có nhiều nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ giữa thương mại và tham nhũng, nhưng lại không có nghiên cứu một cách hệ thống về tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tham nhũng Nghiên cứu của Larraín và Tavares (2004) đã thực hiện một nghiên cứu về tác động của dòng vốn FDI vào tham nhũng ở cấp quốc gia, bài nghiên cứu bổ sung cho các nghiên cứu hiện tại theo các bước: (1) Nghiên cứu phát triển các công cụ về đo lường mức độ mở cửa của Quốc gia đối với FDI và thương mại, dựa vào khoảng cách về địa lý và văn hóa của nước đầu tư với các nền kinh tế lớn trên thế giới; (2) Bài nghiên cứu sử dụng một bộ dữ liệu của 20 quốc gia trong giai đoạn 1970-1994; và áp dụng phương pháp ước lượng OLS để giải quyết vấn đề; (3) Ước tính tác động của FDI đối với tham nhũng sau khi tính toán vai trò của mức độ mở cửa thương mại Một số kết quả quan trọng được suy luận từ phân tích: (1) Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố quyết định mạnh mẽ đến tham nhũng: dòng vốn FDI lớn hơn làm giảm mức độ tham nhũng của quốc gia; (2) Vai trò mạnh của hệ số FDI: nếu FDI tăng 1 phần trăm tính trên mức sản lượng đầu ra sẽ làm giảm chỉ số tham nhũng 0.3 điểm (tính theo thang điểm từ 1 đến 10)
Trang 30CHƯƠNG 3:
THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÔNG NAM Á 3.1 Thực trạng tham nhũng
Đông Nam Á, với hơn 600 triệu dân, là một trong những khu vực kinh tế và chính trị đa dạng, nơi có những nền kinh tế thịnh vượng và phát triển nhanh nhất, đồng thời cũng là nơi có những người dân nghèo nhất thế giới Hầu hết mọi hình thức chính phủ xuất hiện ở khu vực này: chế độ quân chủ, chế độ dân chủ một đảng, chính phủ quân sự và dân chủ đa đảng và có nhiều quốc gia trong khu vực đang trải qua quá trình chuyển đổi chính trị và kinh tế quan trọng
Hơn một thập kỷ trước, ASEAN đã nêu rõ một loạt các mục tiêu - Tầm nhìn ASEAN 2020 – tiến tới hội nhập khu vực sâu hơn, toàn diện hơn Như một phần của tầm nhìn, khu vực ASEAN sẵn sàng bước vào một kỷ nguyên mới về hợp tác và phát triển Trong bối cảnh như vậy, hoạt động giao thương xuyên biên giới, giao lưu văn hóa khu vực trở nên rất quan trọng, nhưng lại có rất ít nỗ lực được thực hiện để giải quyết vấn nạn tham nhũng trong khu vực, vì đây là yếu tố được đánh giá có khả năng cản trở các mục tiêu đã đề ra Sự gia tăng về số lượng giao dịch kinh tế (nhiều hàng hóa thông qua hải quan, nhiều nhà máy mới cần giấy phép, ) có thể dẫn đến tham nhũng nhiều hơn Hơn nữa, sự gia tăng dòng chảy của hàng hóa, tiền bạc hoặc con người qua biên giới có thể được đi kèm với sự gia tăng thương mại bất hợp pháp Hội nhập kinh tế tạo ra những cuộc tranh kinh tế khốc liệt, sẽ có người thua cuộc cũng như người chiến thắng Tuy nhiên, một số ít bộ phận nắm quyền lực về chính trị hoặc tiềm lực kinh tế mạnh có thể tận dụng quyền kiểm soát hoặc sự giàu có
để cạnh tranh không bình đẳng Nếu hội nhập kinh tế không được xây dựng trên một nền tảng minh bạch, trách nhiệm và toàn vẹn thì tầm nhìn của cộng đồng ASEAN sẽ bị
đe doạ Trong giai đoạn nghiên cứu, chỉ số FFC trung bình hàng năm của khu vực Đông Nam Á không có có sự biến động nhiều, với sự thay đổi không đáng kể qua các năm, được đánh giá là khu vực có tình trạng tham nhũng ở mức độ cao
Trang 31Nguồn: The Wall Street Journal and The Heritage Foundation Tính riêng các nước trong khu vực, mức độ chênh lệch tham nhũng giữa các nước là rất đáng kể, nếu Singapore được xem là các quốc gia có độ minh bạch cao, luôn nằm trong danh sách các nước có mức độ tham nhũng thấp nhất Thế giới (chỉ số FFC trung bình trên 90 điểm), thì các quốc gia còn lại trong khu vực được đánh giá có mức độ tham nhũng từ thấp tới trung bình, điển hình là Myanmar và Lào có chỉ số FFC trung bình thuộc nhóm thấp nhất thế giới (dưới 20 điểm)
Nguồn: The Wall Street Journal and The Heritage Foundation Nếu so sánh với thế giới, mức độ tham nhũng của khu vực Đông Nam Á là rất cao so với các khu vực khác, chỉ số FFC trung bình năm 2016 của khu vực (không tính
Trang 32Singapore) giúp khẳng định tình trạng tham nhũng tại đây là rất nghiêm trọng Ngoại trừ Singapore, các quốc gia khác trong khu vực đáng đối mặt với vấn nạm tham nhũng nghiệm trọng xuất hiện ở cả chính trị, kinh tế và xã hội Vấn đề tham nhũng trầm trọng tại Đông Nam Á được phản ánh trong báo cáo “Cộng đồng Liêm chính ASEAN: Vì một cộng đồng minh bạch và có trách nhiệm giải trình” công bố ngày 24/4/2015 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, báo cáo đã nhấn mạnh: “Vấn nạn tham nhũng tại Đông Nam
Á đe dọa sẽ làm suy yếu các kế hoạch thúc đẩy hội nhập kinh tế trong khu vực Nếu muốn đạt được các kỳ vọng về khối thịnh vượng chung, chu chuyển tự do đối với hàng hóa, dịch vụ, lao động có tay nghề, Các nhà lãnh đạo ASEAN cần thiết lập một thể chế trong khu vực để lồng ghép các nguyên tắc phòng, chống tham nhũng vào khuôn khổ của cộng đồng kinh tế cấp khu vực mà ASEAN đang hướng tới.” Theo bà Natalia Soebagjo, Chủ tịch tổ chức thành viên của Minh bạch Quốc tế tại Indonesia đã phát biểu rằng “Đấu tranh chống tham nhũng là một phần tất yếu để giảm bất bình đẳng thu nhập và đảm bảo sự phát triển bền vững.”
Nguồn: The Wall Street Journal and The Heritage Foundation Năm 2014, Tổ chức minh bach Quốc tế đã thực hiện một cuộc khảo sát đối với
588 giám đốc điều hành cấp cao đại diện cho các công ty Mỹ ở tất cả các nước ASEAN, đa số cho rằng tham nhũng là vấn đề hàng đầu ở các nước ASEAN, ngoại trừ Brunei và Singapore Về phần khảo sát công chúng, khi được hỏi về vấn đề tham
Asia-Pacific Middle East /
North Africa ASEAN South andCentral
America / Caribbean
America
Bảng 3.3: Chỉ số FFC trung bình các khu vực trên Thế giới
năm 2016
Trang 33nhũng lớn trong khu vực công, đo lường trên thang điểm từ 1 đến 5 (trong đó 1 có nghĩa là không có vấn đề gì và 5 có nghĩa là vấn đề rất nghiêm trọng), 50% số người được hỏi cảm thấy có sự gia tăng mức độ tham nhũng tổng thể trong khu vực, trong khi trung bình một phần ba cảm thấy rằng những nỗ lực của chính phủ trong việc chống tham nhũng đã có hiệu quả Hơn nữa, 78% người dân cho biết họ cảm thấy chính phủ của họ được điều hành bởi một bộ phận hoặc tổ chức hoạt động vì lợi ích riêng của chính họ (lợi ích nhóm)
Nguồn: Global Corruption Barometer 2013, Transparency International 3.2 Thực trạng thu hút FDI
Trong nhiều thập kỷ qua, ASEAN tăng cường thúc đẩy cải thiện môi trường đầu
tư, cũng như thúc đẩy tiến trình hội nhập để tiến tới thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN, điều này khiến Đông Nam Á đang trở thành điểm đến toàn cầu của nguồn vốn FDI Cùng với quy mô dân số lớn thứ 3 trên châu Á với hơn 600 triệu người, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ; tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao và nền kinh tế còn nhiều lĩnh vực tiềm năng hứa hẹn phát triển đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn của ASEAN đối với dòng vốn FDI toàn cầu Điều này làm các công ty nước ngoài tiếp tục
3.9 3.6 3.5 3.4 3.3 3.1 2.9 2.9 2.8 2.5 2.5 2.2
Cảnh sát Đảng phái chính trị
Công chức
Hệ thống tư pháp
Quốc hộ Doanh nghiệp Giáo dục
Y tế Quân đội Truyền thông
Tổ chức phi Chính phủ
Cơ quan tôn giáo
Bảng 3.4: Kết quản thăm dò ý kiến công chúng
ASEAN năm 2014
Trang 34tăng cường sự hiện diện của mình trong sản xuất, tài chính, cơ sở hạ tầng và các dịch
vụ khác tại Đông Nam Á Một số MNCs cũng công bố kế hoạch mở rộng hoạt động trong khu vực của họ hơn nữa, không chỉ ở một nước chủ nhà cụ thể mà còn trong các
dự án mới tại các nước thành viên ASEAN khác Chúng bao gồm MNCs châu Âu, các công ty Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canada, Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Đài Loan và các nước đối tác tiềm năng khác
Trong giai đoạn 1995-2017, dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia ASEAN liên tục tăng trưởng mạnh, và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong tương lai khi ASEAN liên tục tham gia vào các hiệp định hợp tác với các đối tác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU,… Thúc đẩy các Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Nguồn: World Bank Xét trong giai đoạn nghiên cứu, Singapore là nước dẫn đầu trong khả năng thu hút vốn FDI, trong khi đó Lào, Myanmar, Campuchia là những nước thu hút đầu tư thấp nhất khu vực, chỉ trung bình 300 triệu USD mỗi năm Tuy nhiên, càng về sau dòng vốn FDI chảy vào nhóm các nước Campuchia, Lào, Myanmar đều tăng trưởng mạnh Cùng với Việt Nam, ba nước này đã thu hút dòng vốn FDI tăng 8%, từ 17,4 tỷ USD năm 2015 lên 18,9 tỷ USD trong năm 2016 Kết quả là, tỷ trọng FDI của nhóm 4 nước này (CLMN) trong tổng FDI vào ASEAN tăng từ 10% năm 2015 lên 13% trong
26.0 28.0 31.6 21.2 28.0 21.4 22.1 16.5 27.3 39.2 43.0
64.6 84.1 50.7 47.5
108.1 101.6 115.1
133.0 130.6 134.0
122.6 135.5
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
Bảng 3.5: Tổng mức FDI vào ròng của khu vực Đông Nam Á
giai đoạn 1995-2017 (tỷ USD)