Nhiều nghiên cứu đã công bố cho thấy người quản lý quản trị lợi nhuận QTLN xuất phát từ những mục đích, những động cơ đã định trước như: vì lợi ích cá nhân của người quản lý, để tránh vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
NGÔ HOÀNG ĐIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HCM – Naêm 2019
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
NGÔ HOÀNG ĐIỆP
Ngành: Kế toán
Mã số: 9.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP HCM – Năm 2019
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi
nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được sử
dụng trong luận án là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tài liệu tham khảo điều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Tác giả
Ngô Hoàng Điệp
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 5
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG HÀNH VI QTLN 8
1.1.1 Nghiên cứu về các mô hình đo lường 8
1.1.1.1 Mô hình đo lường hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích 8
1.1.1.2 Mô hình đo lường hành vi QTLN thông qua việc tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh 14
1.1.2 Nghiên cứu kiểm định sự phù hợp của các mô hình đo lường 17
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI QTLN 20
1.2.1 Cấu trúc của HĐQT 21
1.2.1.1 Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc điều hành 21
1.2.1.2 Tính độc lập của Hội đồng quản trị 22
1.2.1.3 Qui mô Hội đồng quản trị 23
1.2.1.4 Số lần họp của Hội đồng quản trị 24
1.2.1.5 Chuyên môn về tài chính của thành viên Hội đồng quản trị 25
1.2.1.6 Thành viên nữ trong HĐQT 26
1.2.2 Ủy ban kiểm toán 26
1.2.2.1 Qui mô Ủy ban kiểm toán 26
1.2.2.2 Chuyên môn tài chính của thành viên ủy ban kiểm toán 27
1.2.2.3 Số lần hợp của ủy ban kiểm toán 28
1.2.3 Kiểm toán độc lập 28
1.2.3.1 Qui mô công ty kiểm toán 29
1.2.3.2 Thay đổi công ty kiểm toán 30
1.2.3.3 Phí kiểm toán 30
Trang 51.2.4 Cấu trúc sở hữu vốn 31
1.2.4.1 Sở hữu quản lý 31
1.2.4.2 Sở hữu Nhà nước 32
1.2.4.3 Sở hữu Nước ngoài 32
1.2.4.4 Sở hữu tổ chức 33
1.2.4.5 Sở hữu tập trung 34
1.3 KHE HỔNG NGHIÊN CỨU 35
1.3.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu đã công bố 35
1.3.2 Định hướng nghiên cứu của luận án 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 39
2.1 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI HÀNH VI QTLN 39
2.1.1 Định nghĩa 39
2.1.2 Phân loại 41
2.2 MỘT SỐ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN PHỔ BIẾN 42
2.2.1 QTLN thông qua các khoản dồn tích 42
2.2.2 QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh 46
2.3 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 47
2.3.1 Lý thuyết đại diện 47
2.3.2 Lý thuyết các bên liên quan 50
2.3.3 Lý thuyến tín hiệu 51
2.3.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực 53
2.3.5 Lý thuyết kế toán thực chứng 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 57
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 57
3.1.2 Qui trình nghiên cứu 59
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 61
3.2.1 Nghiên cứu định tính 61
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 65
3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 71
3.4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH HỒI QUY 73
3.4.1 Giả thuyết nghiên cứu 73
Trang 63.4.2 Mô hình hồi quy 77
3.5 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH HỒI QUY 78
3.5.1 Đo lường biến phụ thuộc 78
3.5.2 Đo lường biến độc lập 84
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 88
4.1 MỨC ĐỘ QTLN TẠI CÁC CTNY TRÊN TTCK VIỆT NAM 88
4.1.1 QTLN thông qua các khoản dồn tích (A_EM) 88
4.1.2 QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (R_EM) 91
4.1.3 Kết luận về mức độ QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam 94
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 95
4.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 97
4.3.1 Thống kê mô tả các biến nhân tố tác động đến hành vi QTLN 97
4.3.2 Kết quả phân tích tương quan và hồi quy 100
4.4 BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 116
4.4.1 Nhóm giả thuyết Hội đồng quản trị 116
4.4.2 Nhóm giả thuyết Ban kiểm soát 121
4.4.3 Nhóm giả thuyết kiểm toán độc lập 123
4.4.4 Nhóm giả thuyết cấu trúc sở hữu vốn và cơ cấu vốn 125
4.4.5 Nhóm giả thuyết về quy mô và hiệu quả kinh doanh 131
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 135
CHƯƠNG 5: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 137
5.1 NHẬN XÉT 137
5.2 KIẾN NGHỊ 141
5.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 149
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 151
KẾT LUẬN 152
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Bùi Văn Dương, người hướng dẫn khoa học của tác giả, đã tận tình định hướng nghiên cứu và hướng dẫn chi tiết giúp tác giả hoàn thành luận án này Những lời chỉ bảo, nhận xét, đánh giá cùng với những lời động viên quý báu của thầy đã giúp cho tác giả vượt qua được nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận án
Kế đến, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy, cô Trường ĐH Kinh
tế TP HCM đã tận tình giảng dạy cho tác giả các môn học phần tiến sĩ Những kiến thức quý thầy cô truyền đạt sẽ góp phần rất lớn để tác giả có thể đi tiếp con đường nghiên cứu sau này
Sau cùng, xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Kế toán Kiểm toán Trường
ĐH Mở TP HCM đã tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để tác giả học tập và hoàn thành được luận án này
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A_EM Quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích
BCTN Báo cáo thường niên
BIG 4 Bốn công ty kiểm toán hàng đầu: Ernst and Young ,
KPMG, PriceWaterhouseCoopers, Deloitte Touche
BIG 5
Năm công ty kiểm toán hàng đầu: Arthur Andersen, Ernst and Young , KPMG, PriceWaterhouseCoopers, Deloitte Touche
BIG 6
Sáu công ty kiểm toán hàng đầu: Arthur Andersen,
Ernst and Young , Coopers & Lybrand, KPMG, Price
Waterhouse, Deloitte Touche
HOSE Sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Pooled OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất
PWC Công ty kiểm toán PriceWaterhouseCoopers
QTLN Quản trị lợi nhuận
Trang 9R_EM Quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh
TTCK Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
UPCOM Thị trường các công ty chưa niêm yết
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Mẫu nghiên cứu của luận án 68
Bảng 3.2 Ý nghĩa của hệ số tương quan 69
Bảng 3.3 Bảng mô tả giả thuyết nghiên cứu 74
Bảng 3.4 Kết quả hồi quy các hệ số α, β 83
Bảng 3.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình mô hình Roychowdhury (2006) 84
Bảng 3.6 Bảng mô tả biến độc lập và phương pháp đo lường 84
Bảng 4.1 Thống kê mô tả biến phụ thuộc A_EM 89
Bảng 4.2 Thống kê mô tả biến phụ thuộc A_EM (trị tuyệt đối) theo năm 90
Bảng 4.3 Thống kê mô tả biến phụ thuộc A_EM (trị tuyệt đối) theo ngành 90
Bảng 4.4 Thống kê mô tả biến phụ thuộc A_EM (dương) theo ngành 91
Bảng 4.5 Thống kê mô tả biến phụ thuộc A_EM (âm) theo ngành 91
Bảng 4.6 Thống kê mô tả biến phụ thuộc R_EM 92
Bảng 4.7 Thống kê mô tả biến phụ thuộc R_EM (trị tuyệt đối) theo năm 93
Bảng 4.8 Thống kê mô tả biến phụ thuộc R_EM (trị tuyệt đối) theo ngành 93
Bảng 4.9 Thống kê mô tả biến phụ thuộc R_EM (dương) theo ngành 94
Bảng 4.10 Thống kê mô tả biến phụ thuộc R_EM (âm) theo ngành 94
Bảng 4.11 Thống kê mô tả các biến độc lập định tính 98
Bảng 4.12 Thống kê mô tả các biến độc lập định lượng 98
Bảng 4.13 Ma trận tương quan hồi quy Person mô hình 1 101
Bảng 4.14 Ma trận tương quan hồi quy Person mô hình 2 104
Bảng 4.15 Kết quả hồi quy mô hình 1 107
Bảng 4.16 Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình 1 109
Trang 11Bảng 4.17 Kết quả hồi quy mô hình 2 111
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình 2 113
Bảng 4.19 Bảng tổng kết kết quả hồi quy hai mô hình nghiên cứu 115
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận án 60
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích 72
Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu hành vi QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh 73
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO NGHIÊN CỨU
Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin hữu ích về tình hình hình tài chính, kết quả kinh doanh, các dòng tiền và những thông tin bổ sung khác giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định kinh tế (Epstein và Jermakowicz, 2008; Mackenzie và cộng sự, 2012) Mức độ hữu ích của thông tin tài chính phụ thuộc nhiều vào chất lượng thông tin về lợi nhuận (Ball và Shivakumar, 2005) Thông tin về lợi nhuận và các bộ phận hợp thành của nó ngày càng đóng vai trò quan trọng cho các bên liên quan, có thể đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và dự đoán được dòng tiền trong tương lai (Dechow, Kothari và Watts, 1998) Chính vì vậy, chất lượng thông tin về lợi nhuận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Tính linh hoạt của kế toán cho phép người quản lý vận dụng để cung cấp thông tin thích hợp và đáng tin cậy giúp cho các bên liên quan đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời thay đổi quyết định cho phù hợp với thực tế kinh doanh của họ, nhưng cũng chính sự linh hoạt này tạo cơ hội cho người quản lý tham gia quản trị lợi nhuận (Healy và Wahlen, 1999; Dechow và Skinner, 2000) Nhiều nghiên cứu đã công bố cho thấy người quản lý quản trị lợi nhuận (QTLN) xuất phát từ những mục đích, những động cơ đã định trước như: vì lợi ích cá nhân của người quản lý, để tránh vi phạm các thỏa thuận trên các hợp đồng, để đạt lợi ích từ thị trường vốn (đạt được lợi nhuận mục tiêu, để phát hành cổ phiếu với giá cao, để được lợi khi sáp nhập, chia tách hay mua bán doanh nghiệp), hoặc phản ứng lại với các chính sách của Nhà Nước như giảm số thuế TNDN, để được ưu đãi đầu tư, ưu đãi về thuế,… Bên cạnh
đó, người quản lý có thể QTLN bằng cách cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí đào tạo, tăng thời gian bán chịu cho khách hàng, giảm giá bán niêm yết nếu mua hàng với số lượng lớn,… QTLN có liên quan chặt chẽ đến chất lượng thông tin của BCTC của các công ty và là chủ đề thường xuyên được quan tâm
Trang 13trong nghiên cứu lĩnh vực kế toán (Collins, Pincus và Xie, 1999; Barth, Landsman và Lang, 2008)
Từ những năm cuối của thế kỷ XX đến nay, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu, thu thập nhiều bằng chứng về hành vi QTLN của người quản lý, tìm kiếm
ra những mô hình hữu hiệu để phát hiện hành vi QTLN, cũng như tìm hiểu những động cơ, kỹ thuật của người quản lý khi thực hiện hành vi QTLN Hành vi QTLN thường được xem là hành vi tiêu cực, đã để lại nhiều vụ bê bối trong quá khứ ở lĩnh vực tài chính ở Việt Nam và trên Thế giới Những vụ tai tiếng có tác động tiêu cực đến niềm tin của công chúng đối với thị trường chứng khoán, ngân hàng, kiểm toán, nhà quản lý doanh nghiệp và thậm chí cả Chính phủ (Sanders và cộng sự, 1996) Sự kiện Enron - tập đoàn năng lượng hàng đầu của Hoa Kỳ - đã lừa dối nhà đầu tư, lừa dối các bên liên quan vào đầu thế kỷ XXI là một ví dụ, trong đó một trong những thông tin được điều chỉnh là thông tin về lợi nhuận Tại Việt Nam, có khá nhiều vụ tai tiếng đã được phát hiện và công bố liên quan đến công ty CP Bông Bạch Tuyết (BBT), Tổng Công ty CP Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVX), Công ty CP Tập Đoàn
Kỹ Nghệ Trường Thành (TTF),
Việt Nam hiện nay là thành viên của nhiều hiệp ước kinh tế như WTO, AEC, đòi hỏi phải hội nhập nhanh các định chế quốc tế để tăng tính minh bạch thông tin công bố Liên quan đến CTNY, Nhà Nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để hoàn thiện dần hệ thống pháp lý cần thiết nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của TTCK, thu hút vốn đầu tư thông qua TTCK, đồng thời cũng hướng đến mục tiêu gia tăng chất lượng thông tin BCTC của các CTNY Cùng với những nỗ lực từ phía Nhà nước, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã có những khám phá ban đầu về hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Một số nghiên cứu điển hình
đã tìm ra các mô hình đo lường hành vi QTLN phù hợp với số liệu công ty niêm yết trên CTCK Việt Nam như nghiên cứu của Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015), Võ Thị Quý và Dương Trọng Nhân (2017), Phạm Thị Bích Vân (2012, 2013) Một số công trình nghiên cứu cố gắng khám phá các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam như luận án tiến sĩ của Nguyễn Phương
Trang 14Hồng (2016), luận án tiến sĩ của Nguyễn Hà Linh (2017) Mỗi một nghiên cứu trên
đã tìm ra được một số nhân tố tác động, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ quan tâm đến hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng việc tìm hiểu, phát hiện, đo lường hành vi QTLN và xác định các nhân tố tác động và mức
độ tác động đến hành vi QTLN là rất cần thiết xét về lý luận khoa học và ứng dụng thực tế Về lý luận, luận án mong muốn góp phần làm rõ lý thuyết liên quan đến hành
vi QTLN thông qua cơ sở dồn tích và QTLN thông qua việc tác động vào các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh Về mặt ứng dụng, luận án kỳ vọng đo lường mức độ QTLN của người quản lý tại CTNY và xác định các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam, đưa ra các kiến nghị cho các bên liên quan để kiểm soát hành vi QTLN, nâng cao chất lượng BCTC của CTNY
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi QTLN của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất những kiến nghị nhằm kiểm soát hành vi QTLN, nâng cao chất lượng BCTC của CTNY Luận án đề xuất 2 mục tiêu:
Thứ nhất, đo lường và đánh giá thực trạng hành vi QTLN của người quản lý tại các CTNY trên TTCK Việt Nam
Thứ hai, xác định các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi QTLN của người quản lý tại các CTNY trên TTCK Việt Nam Từ đó, luận
án đưa ra những kiến nghị nhằm kiểm soát hành vi QTLN, nâng cao chất lượng BCTC cho CTNY Việt Nam
Trên cơ sở những nghiên cứu về hành vi QTLN trong nước và trên thế giới, tác giả nhận thấy chủ đề QTLN thu hút được nhiều sự quan tâm của rất nhiều chuyên gia, nhiều nhà nghiên cứu Các nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào QTLN dựa trên cơ sở dồn tích và chưa đi sâu nghiên cứu các nhân tố thuộc BKS tác động đến hành vi QTLN Điểm mới của nghiên cứu này là xem xét QTLN trên cả hai hình thức QTLN là QTLN dựa trên cơ sở dồn tích và QTLN thông qua việc tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại CTNY trên TTCK Việt Nam, đưa cả các nhân
Trang 15tố thuộc BKS vào mô hình nghiên cứu như quy mô BKS, tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn tài chính, tỷ lệ thành viên nữ trong BKS, với mong muốn có cái nhìn toàn diện và bao quát hành vi QTLN và các nhân tố tác động đến hành vi này
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu và nhằm đạt được hai mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày trên, luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam thực hiện QTLN ở mức độ nào?
Câu hỏi 2: Những nhân tố nào tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến
hành vi QTLN của người quản lý tại các CTNY trên TTCK Việt Nam như thế nào?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành vi QTLN và các nhân tố tác động đến hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp
Hành vi QTLN được xác định thông qua hai chỉ tiêu đại điện, tương ứng với hai loại QTLN Đối với QTLN thông qua các khoản dồn tích thì chỉ tiêu đại diện là khoản dồn tích bất thường Đối với QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì chỉ tiêu đại diện là tổng khoản bất thường của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, chi phí tuỳ biến và chi phí sản xuất
Phạm vi nghiên cứu
- Xét về không gian: Luận án phân tích các nhân tố tác động đến hành vi QTLN của người quản lý tại các công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán của Việt Nam (HOSE và HNX), không bao gồm các công ty đại chúng giao dịch cổ phiếu trên sàn Upcom Mẫu phân tích được giới hạn là các công ty không thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các quỹ đầu tư
Số liệu được thu thập thủ công từ BCTC, BCTN và BCQT của các CTNY Một số số liệu được cung cấp từ công ty Vietstock
- Xét về thời gian: Luận án sử dụng số liệu báo cáo năm, giai đoạn 2010 – 2016
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 16Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó phương pháp định lượng là chính Cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu định tính: Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn
chuyên sâu với các chuyên gia, tham vấn ý kiến về các biến nhân tố đưa vào mô hình nghiên cứu Người tham gia phỏng vấn là những chuyên gia đang là thành viên HĐQT, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của công ty đang niêm yết trên TTCK Việt Nam, kiểm toán viên thuộc Big 4 có trình độ chuyên môn từ cử nhân trở lên và có thời gian công tác tối thiểu 5 năm
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng phương pháp này để kiểm
định giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân
tố đến hành vi QTLN Luận án xác định biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình phát hiện hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích – Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005), mô hình phát hiện hành vi QTLN thông qua tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh – Mô hình Roychowdhury (2006) Các biến độc lập là các biến nhân tố có được từ kết quả nghiên cứu định tính, kết hợp với hai biến phụ thuộc trên hình thành hai mô hình nghiên cứu Bằng phương pháp hồi quy
đa biến dữ liệu bảng trên phần mềm phân tích Stata 13.0, luận án xác định các nhân
tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố đến hành vi QTLN của người quản
lý Đồng thời, thông qua kết quả xác định 02 biến phụ thuộc, bằng phương pháp thống
kê mô tả, luận án xem xét mức độ QTLN của người quản lý tại các CTNY trên TTCK Việt Nam
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Về mặt nghiên cứu: Trên thế giới, hành vi QTLN được sự quan tâm nghiên cứu
của rất nhiều chuyên gia từ hơn 30 năm qua Tại Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính toàn diện liên quan đến các nhân tố tác động đến hành vi QTLN tại CTNY Với thực trạng này, luận án mong muốn: (1) Hệ thống hoá các lý thuyết nền tảng về hành vi QTLN, đánh giá thực trạng của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên quan đến hành vi QTLN (QTLN thông qua các khoản dồn tích và QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh) và xác định các
Trang 17nhân tố tác động cũng như mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi này; và (2)
mở rộng thêm cánh cửa khoa học nghiên cứu về hành vi QTLN tại Việt Nam Với nghiên cứu này, tác giả mong muốn sẽ góp một phần kết quả của mình nhằm tăng tính toàn diện liên quan đến các nghiên cứu về hành vi QTLN của người quản lý tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu của luận án kỳ vọng sẽ có ý nghĩa thực tiễn đối
với: (1) Những nhà hoạch định chính sách, các đơn vị lập pháp có cái nhìn sâu sắc hơn, bao quát hơn, từ đó xây dựng được hệ thống các quy định mang tính khả thi cao hơn, phù hợp với đặc thù của đất nước, gắn kết với xu thế hội nhập quốc tế; (2) Các công ty niêm yết có thể tự đánh giá và tự kiện toàn hệ thống quản trị cho công ty mình, từ đó gia tăng chất lượng BCTC doanh nghiệp; và (3) Những đối tượng có lợi ích trực tiếp (như nhà đầu tư, chủ nợ,…) có thể đánh giá mức độ QTLN của công ty
mà họ đầu tư, từ đó có thể gia tăng hiệu quả của các quyết định đầu tư, giảm thiểu rủi
ro
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Kết cấu chính của luận án gồm:
Phần mở đầu: Trình bày vai trò của thông tin lợi nhuận đối với người sử dụng thông tin kế toán dẫn đến khả năng người quản lý doanh nghiệp thực hiện QTLN để đạt được những mục tiêu đã định trước Trên cơ sở những phân tích này tác giả đã xác định mục tiêu nghiên cứu, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và giới thiệu phương pháp nghiên cứu của luận án
Chương 1- Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Trình bày khái quát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác định khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu
Trang 18Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Trình bày kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, bàn luận kết quả nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu của luận án
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và bàn luận, tác giả nêu nhận xét và đề xuất các giải pháp kiến nghị cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng và rất cần thiết cho bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Tác giả phát hiện có 03 hướng nghiên cứu chính liên quan đến hành vi QTLN: Đó là (1) Các nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN, (2) nghiên cứu về động cơ QTLN và (3) nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi QTLN Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, luận án sẽ trình bày các công trình nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN được vận dụng phổ biến và các nghiên cứu về nhân tố tác động đến hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp
Từ kết quả phân tích tổng quan vấn đề nghiên cứu, luận án sẽ đưa ra khe hổng nghiên cứu và biện luận cho định hướng nghiên cứu của luận án
Nội dung của chương này gồm:
- Các nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN;
- Các nghiên cứu về nhân tố tác động đến hành vi QTLN;
- Khe hổng nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về các mô hình đo lường
1.1.1.1 Mô hình đo lường hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích
Các công trình nghiên cứu đã cố gắng tìm ra phương pháp để phát hiện và đo lường hành vi QTLN Dựa trên nguyên tắc cơ sở dồn tích của kế toán thì lợi nhuận đạt được trong một kỳ sẽ bao gồm lợi nhuận thu bằng tiền và lợi nhuận dồn tích Lợi nhuận thực thu bằng tiền được tính dựa vào doanh thu thực thu bằng tiền trừ chi phí
đã thực chi bằng tiền Lợi nhuận dồn tích chính là hiệu số giữa doanh thu bán chịu và chi phí chưa thực chi bằng tiền như chi phí trích trước, chi phí khấu hao, chi phí dự phòng phải trả, chi phí trả trước, các khoản dự phòng giảm giá… đã phát sinh trong
kỳ kế toán.Người quản lý doanh nghiệp không thể điều chỉnh được lợi nhuận đã thu bằng tiền Đối với lợi nhuận dồn tích thì họ có thể điều chỉnh được, bằng cách điều chỉnh khoản lập dự phòng giảm giá, gia tăng công nợ bán chịu, thay đổi thời gian khấu hao để điều chỉnh chi phí khấu hao để đạt được mức lợi nhuận như mong muốn
Trang 20Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng người quản lý dùng thủ thuật điều chỉnh chủ yếu là tìm cách tác động đến sự chênh lệch giữa dòng tiền thực tế tại doanh nghiệp và lợi nhuận, tạo ra các khoản dồn tích bất thường (DA) trên báo cáo tài chính
Để phát hiện hành vi QTLN, cách tiếp cận phổ biến là tính tổng dồn tích (TA) trên báo cáo tài chính trừ đi các khoản dồn tích bình thường (NDA) phát sinh tại doanh nghiệp NDA là những khoản dồn tích được thực hiện đúng theo nguyên tắc của kế toán DA là những khoản dồn tích do người quản lý tạo ra để làm thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong hơn 30 năm qua, trên thế giới, nhiều mô hình được ứng dụng để phát hiện hành vi QTLN của người quản lý doanh nghiệp Các công cụ đo lường được phát triển dần qua thời gian và ngày một hữu hiệu hơn Luận án hệ thống hóa quá trình phát triển của các mô hình phát hiện hành vi QTLN trên thế giới như sau:
Mô hình Healy (1985)
Mô hình Healy (1985) có thể được xem là mô hình đầu tiên cố gắng đo lường hành vi QTLN Healy (1985) lập luận rằng, QTLN được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do đó tổng dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận trên báo cáo và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Ông cho rằng dồn tích bình thường kỳ vọng sẽ bằng 0 (zero) nên dồn tích bất thường cũng chính là tổng dồn tích tại một thời điểm
và được xác định bằng công thức bên dưới Nếu tổng dồn tích không bằng 0 thì đó là biểu hiện của QTLN Vì là sự nỗ lực đầu tiên để phát hiện hành vi QTLN nên mô hình này được đánh giá là còn nhiều thiếu sót
Trang 21Mô hình DeAngelo (1986)
DeAngelo (1986) cho rằng dồn tích bình thường NDA phát sinh là ngẫu nhiên Nếu doanh nghiệp ở trạng thái đứng yên thì NDA ở thời điểm t bằng với NDA ở thời điểm t-1 Vì vậy, sự khác biệt giữa NDA ở thời điểm t và thời điểm t-1 chính là DA
và cũng chính là biểu hiện của hành vi QTLN DeAngelo (1986) đã tiến thêm một bước, đã xác định dồn tích bất thường riêng biệt cho mỗi DN bằng cách tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ kế tiếp nhau trên tổng tài sản
Trong đó:
DAit: Biến dồn tích bất thường
TAit: Tổng biến dồn tích năm t
TAit-1: Tổng biến dồn tích năm t-1
Ait -1 : Tổng tài sản của năm t-1
Trong TA đã bao gồm cả NDA nên dù mô hình có bước phát triển hơn mô hình của Healy (1985) nhưng mô hình này cũng bị phê phán vì kết quả của mô hình trên thực tế bao gồm cả dồn tích bình thường NDA
Mô hình Jones (1991)
Jones (1991) tin rằng sự biến đổi của doanh thu sẽ mang đến sự thay đổi của vốn kinh doanh, dẫn đến sự thay đổi trong việc tính toán các khoản trích trước và khấu hao tài sản cố định Tất cả các điều này đều tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp Jones (1991) đã dùng biến doanh thu (REV) và biến tài sản cố định (PPE) như là các biến độc lập để đo lường DA
Tổng biến dồn tích = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Khoản dồn tích bình thường (NDA) sẽ được tính bằng phương trình sau:
Trang 22Trong đó:
NDAit: Biến dồn tích bình thường
Ait - 1 : Giá trị sổ sách của tổng tài sản doanh nghiệp i tại năm t-1
Δ REVit: Chênh lệch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp i trong năm t so với doanh thu năm t-1 của doanh nghiệp i
PPE it: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp i năm t
α, β1, β2 : Các thông số ước tính
i = 1,2,3…n: Số lượng doanh nghiệp khảo sát
Các tham số α, β1, β2 được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất của mô hình :
Công thức tính DA như sau:
Các mô hình cải tiến mô hình của Jones (1991)
Được coi là mô hình nổi tiếng, khắc phục được những sai sót của mô hình Healy (1985) và DeAngelo (1986), trong rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm, mô hình Jones (1991) được sử dụng rất phổ biến để phát hiện hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích Tuy nhiên, bản thân cha đẻ của mô hình Jones (1991) cũng khẳng định hạn chế của mô hình là đã đưa vào biến nghiên cứu là Δ REV để tính phần dồn tích bình thường Bởi vì khi doanh thu bị khai khống hoặc hạch toán không đúng niên
độ thì xác định NDA sẽ trở nên không còn đáng tin cậy Để khắc phục lỗi này các mô hình cải tiến cho mô hình Jones (1991) lần lượt được công bố
a) Dechow, Sloan và Sweedney (1995)
Dechow, Sloan và Sweedney (1995) đã cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách
bổ sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích bình thường là nợ phải thu Họ cho rằng,
Trang 23người quản lý điều chỉnh doanh thu không liên quan đến tiền thì phải ghi nhận nợ phải thu
ΔARit là sự thay đổi khoản phải thu của công ty i năm t so với năm t -1
Mô hình Dechow, Sloan và Sweedney (1995) đưa thêm vào biến ΔARit để loại
bỏ sự gia tăng của doanh thu tương ứng với sự gia tăng của khoản nợ phải thu, khắc phục những hạn chế của mô hình Jones (1991) Dechow, Sloan và Sweedney (1995) cũng chứng minh mô hình của mình có khả năng phát hiện hành vi QTLN tốt hơn mô hình Jones (1991) và các mô hình trước đó
b) Kothari, Leone và Wasley (2005)
Kothari, Leone và Wasley (2005) đã phát triển mô hình của Jones (1991) và Mô hình Dechow, Sloan và Sweedney (1995) trên cơ sở xem xét thêm biến ROA Họ cho rằng, việc đo lường DA ở mô hình Jones (1991) và Jones cải tiến (1995) có thể bị lỗi
đo lường nghiêm trọng là không xét đến hiệu suất hoạt động của công ty Chính vì vậy, Kothari đã đưa vào mô hình Dechow, Sloan và Sweedney (1995) thêm biến ROA Mục đích của Kothari, Leone và Wasley (2005) là xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và hiệu suất hoạt động của công ty
Trong đó, ROAit-1 là lợi nhuận trên tổng tài sản của năm t -1
c) Yoon, Miller và Jiraporn (2006)
Yoon, Miller và Jiraporn (2006) cho rằng mặc dù mô hình Jones (1991) và các mô hình Jones cải tiến được xem là phù hợp để phát hiện hành vi QTLN của người quản
lý ở rất nhiều quốc gia nhưng lại không phù hợp để phát hiện hành vi này ở Hàn Quốc Họ đã tiếp tục cải tiến mô hình của Jones điều chỉnh (1995) bằng việc đưa thêm các biến nợ phải trả, chi phí trả cho nhân viên hưu trí và thay tổng tài sản đầu năm trên mô hình Jones điều chỉnh bằng chỉ tiêu doanh thu thuần Họ cho rằng tổng dồn tích thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của doanh thu bằng tiền, thay đổi của chi
Trang 24phí bằng tiền và một số chi phí không dùng tiền như chi phí khấu hao, chi phí cho nhân viên hưu trí Người quản lý không những QTLN thông qua việc tác động vào doanh thu với nợ phải thu, mà còn tác động vào cả chi phí với nợ phải trả Trên cơ sở
đó, nhóm tác giả đã xây dựng 03 yếu tố như mô hình bên dưới
Trong đó:
NDAit: Biến dồn tích bình thường
REVit: Doanh thu bán hàng thuần doanh nghiệp i tại năm t
Δ REVit: Chênh lệch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp i trong năm t so với doanh thu bán hàng năm t-1
AR it : Nợ phải thu năm i
EXPit: Tổng giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng và chi phí quản lý không bao gồm chi phí không dùng tiền
PAYit: Nợ phải trả cuối năm t của doanh nghiệp i
RETit: Chi phí cho nhân viên hưu trí năm t của doanh nghiệp i
β0 β1 β2 β3 = Các thông số ước tính
ε it: Sai số năm t của doanh nghiệp i
i = 1,2,3…n: Số lượng doanh nghiệp khảo sát
d) Mô hình Raman and Shahrur (2008)
Mô hình Raman và Shahrur (2008) phát triển mô hình của Kothari, Leone và Wasley (2005) bằng cách thêm tiếp vào biến MTB là tỷ số giữa giá thị trường của cổ phiếu với giá trị sổ sách của cổ phiếu đó vào cuối năm Việc thêm vào mô hình biến MTB xuất phát từ gợi ý của McNichol (2002), Cohen và cộng sự (2005), cho rằng công ty có tiềm năng phát triển cao thì khả năng có tổng dồn tích cao
Trong đó: MTB it là tỷ số giá thị trường và giá trị sổ sách của công ty i ở năm t
Trang 251.1.1.2 Mô hình đo lường hành vi QTLN thông qua việc tác động vào các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Mô hình Roychowdhury (2006)
Bên cạnh hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích, người quản lý còn có thể thực hiện QTLN thông qua tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Nếu mô hình phát hiện hành vi QTLN thông qua các khoản dồn tích là mô hình Jones (1991)
và các mô hình Jones cải tiến thì mô hình được sử dụng phổ biến để phát hiện hành
vi QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh là mô hình Roychowdhury (2006) Roychowdhury (2006) đã xem xét mức độ bất thường của 3 yếu tố: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, chi phí tuỳ biến, chi phí sản xuất để xác định mức độ QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Các bước thực hiện như sau:
Bước 1: Xác định mức độ bình thường của dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất
và chi phí tuỳ biến
Mức độ bình thường của dòng tiền hoạt động được xác định theo công thức:
Trong đó:
CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở năm t
SALESit: Doanh thu của công ty i ở năm t
ΔSALESit: Sự thay đổi của doanh thu của công ty i ở năm t so với năm t-1
Ait-1: Tổng tài sản đầu năm
Mức độ bình thường của chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất được định nghĩa là tổng giá vốn hàng bán và sự thay đổi của hàng tồn kho trong năm
Giá vốn hàng bán (COGSit) được xác định theo công thức:
Biến động hàng tồn kho trong năm (ΔINVit) được tính theo công thức:
Trang 26Sau khi xác định giá vốn hàng bán (COGSit) và biến động hàng tồn kho trong năm (ΔINVit), xác định mức độ bình thường của chi phí sản xuất (PRODit) được tính theo công thức:
sẽ được nhân với -1
R_EM = Ab_CFO *(-1) + Ab_PROD + Ab_DiscEXP*(-1)
Mô hình Gunny (2010)
Phát triển từ ý tưởng của Roychowdhury (2006), vào năm 2010, Gunny đã đề xuất
mô hình nghiên cứu về hành vi QTLN thông qua tác động vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chủ yếu tập trung vào 4 dấu hiệu bất thường:
(1) Việc sụt giảm tùy chỉnh của chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D)
(2) Việc sụt giảm tùy chỉnh của các chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (SG&A)
(3) Việc lựa chọn thời gian thanh lý tài sản cố định nhằm báo cáo lợi nhuận (4) Việc sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu thụ nhằm cắt giảm giá thành dẫn đến việc cắt giảm giá bán hoặc nới lỏng các chính sách bán chịu nhằm cải thiện tình hình tiêu thụ
Phương pháp của Gunny (2010) thực hiện qua 2 bước:
Trang 27Bước 1: Xác định mức độ bình thường của chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí
bán hàng và quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận từ thanh lý tài sản và chi phí sản xuất bằng các mô hình sau (các mô hình được ước tính theo năm và ngành nghề):
RD: Chi phí nghiên cứu và phát triển
SGA: Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Gain A: Lợi nhuận từ bán thanh lý tài sản
PROD: Giá vốn hàng bán cộng thay đổi trong hàng tồn kho
ASales: Thanh lý tài sản dài hạn
ISales: Thanh lý khoản đầu tư dài hạn
Thông qua bốn (4) mô hình trên, Gunny (2010) đã đưa ra dự đoán các công ty có chi phí RD (hoặc SG&A) thấp bất thường (thuộc 20% nhóm cuối cùng) và các công ty
có lợi nhuận từ thanh lý tài sản (hoặc chi phí sản xuất) cao bất thường (thuộc 20% nhóm đứng đầu) là các đối tượng tình ghi có thực hiện hành vi QTLN
Bước 2: Xác định mức độ bất thường của QTLN thông qua tác động vào các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh bằng mô hình:
Trang 28Abnormal RM t = γ0 + γ1BENCHt + γ2SIZEt + γ3MTBt + γ4ROAt + εt
Trong đó:
Abnormal RM: Các bất thường của QTLN thông qua tác động vào các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh được xác định bằng: bất thường về chi phí R&D, bất thường về chi phí SG&A, bất thường về lợi nhuận từ bán tài sản và bất thường
về chi phí sản xuất
BENCH: Biến giả với giá trị bằng 1 nếu lợi nhuận thuần chia cho tổng tài sản
có giá trị giữa 0 và 0.01 hoặc trong trường hợp thay đổi của lợi nhuận thuần chia cho tổng tài sản giữa thời gian t-1 và t có giá trị giữa 0 và 0.01, biến này
có giá trị bằng 0 trong các trường hợp còn lại
SIZE: Logarit tự nhiên của tổng tài sản
MTB: Giá thị trường của vốn chủ sở hữu đem chia cho giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu
ROA: Lợi nhuận thuần trước các khoản thu nhập bất thường chia cho tổng tài sản năm sau
1.1.2 Nghiên cứu kiểm định sự phù hợp của các mô hình đo lường
Một số các mô hình đo lường hành vi QTLN được công bố trước mô hình Jones (1991) như mô hình Healy (1985), mô hình DeAngelo (1986) không được nhiều công trình nghiên cứu vận dụng do bản thân cách xác định biến dồn tích bất thường đã bộc
lộ một số điểm không hợp lý Ví dụ, mô hình Healy (1985) cho rằng dồn tích bình thường kỳ vọng sẽ bằng 0 nên dồn tích bất thường cũng chính là tổng dồn tích tại một thời điểm DeAngelo (1986) cho rằng dồn tích bất thường chính là mức chênh lệch giữa tổng dồn tích của hài kỳ kế tiếp nhau trên tổng tài sản Cách lý luận này cũng bị nhiều phê phán do trong nội tại của tổng dồn tích đã bao gồm luôn khoản dồn tích bình thường
Dechow, Sloan, và Sweeney (1995) cho rằng mô hình Jones điều chỉnh (1995) là
mô hình tốt nhất để phát hiện hành vi QTLN Chen (2011) nghiên cứu 77 công ty niêm yết có BCTC lỗ liên tiếp hai năm liền Trung Quốc, giai đoạn 2007-2008, đã đưa
Trang 29ra 03 nhận định sau khi kiểm định sự phù hợp của mô hình Jones (1991) và các mô hình Jones điều chỉnh (1995, 2005): Thứ nhất, mô hình Jones điều chỉnh vẫn là sự lựa chọn tốt nhất để phát hiện hành vi QTLN so với các phương pháp đo lường khác; Thứ hai, mô hình Jones điều chỉnh đôi khi gặp vấn đề, do đó cần sử dụng thêm cách tiếp cận khác cùng một lúc, sau đó so sánh với kết quả từ Jones điều chỉnh; Thứ ba, mọi nỗ lực tìm ra một phương pháp tốt hơn để phát hiện hành vi QTLN vẫn phải tiến hành, mô hình Jones điều chỉnh vẫn không có mô hình khác thay thế Phụ lục số 06 của luận án thống kê một số công trình nghiên cứu gần đây về các nhân tố tác động đến hành vi QTLN trên thế giới, đa số các tác giả đều sử dụng mô hình Jones (1991)
và Jones cải tiến (1995, 2005, 2006) để xác định biến dồn tích bất thường, đại diện cho mức độ QTLN của người quản lý tại doanh nghiệp
Với số liệu thị trường chứng khoán Việt Nam, Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015) kiểm định mức độ tương thích của ba mô hình được ứng dụng phổ biến vào số liệu của 308 công ty niêm yết năm 2014 ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng, trong ba mô hình gồm mô hình Jones (1991), mô hình Dechow, Sloan và Sweeney (1995) và mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) thì
mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) là phù hợp nhất để nhận diện hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Bên cạnh đó, Nguyễn Anh Hiền và Cộng sự (2015), trong đề tài nghiên cứu khoa học Cấp trường, nhóm tác giả sử dụng số liệu của 380 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, niên độ 2013 và 2014 Tác giả đã đưa ra kết luận, mô hình Kothari, Leone
và Wasley (2005) là mô hình phù hợp nhất phát hiện hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu còn cho thấy có sự khác biệt trong mức độ QTLN của các công ty niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX, các công ty gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì mức độ QTLN sẽ cao hơn những doanh nghiệp khác, xu hướng QTLN giảm ở năm 2014 so với năm 2013 Tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015), Võ Thị Quý và Dương Trọng Nhân (2017) sử dụng số liệu của 300 công ty phi tài chính đang niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE, giai đoạn 2013-2015, cũng chứng minh
Trang 30được rằng mô hình Jones (1991) và Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) là phù hợp hơn mô hình Dechow, Sloan và Sweeney (1995) trong việc phát hiện hành vi QTLN tại các công ty niêm yết trên HOSE
Ở chiều ngược lại, Islam, Ali và Ahmad (2011) phân tích hiệu quả của mô hình Jones cải tiến trong việc phát hiện hành vi QTLN, mẫu nghiên cứu là các công ty phát hành ra công chúng lần đầu trong giai đoạn 1985-2005, niêm yết trên sàn chứng khoán Dhaka của Bangladesh Họ khẳng định rằng mô hình Jones điều chỉnh có hiệu quả trong việc phát hiện hành vi QTLN ở hầu hết các nước phát triển, nhưng không hiệu quả trong bối cảnh thị trường vốn ở Bangladesh Sau đó, nhóm tác giả đã thêm các biến doanh thu, khấu hao, chi phí hưu trí vào mô hình Jones cải tiến Mô hình mới tạo ra hiệu quả hơn trong việc phát hiện hành vi QTLN với số liệu của Bangladesh Như vậy, Islam, Ali và Ahmad (2011) đã dựa trên mô hình của Jones cải tiến để xây dựng một mô hình phù hợp hơn để phát hiện hành vi QTLN với số liệu của của Bangladesh Tương tự như Islam, Ali và Ahmad (2011), Phạm Thị Bích Vân (2012)
đã sử dụng số liệu niên độ 2010 của 54 doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau đang niêm yết trên TTCK TP HCM, sử dụng mô hình Jones (1991) để kiểm định khả năng phát hiện hành vi QTLN tại Việt Nam Tác giả đã đưa ra kết luận rằng
“Mô hình Jones (1991) không hiệu quả trong việc phát hiện hành vi QTLN của các doanh nghiệp niêm yết TTCK Việt Nam” Sau đó, Phạm Thị Bích Vân (2012) đã thay thế chỉ tiêu tổng tài sản đầu năm trong mô hình Jones (1991) bằng chỉ tiêu doanh thu bán hàng, bỏ đi biến tài sản cố định và thêm vào biến khấu hao và biến chi phí dự phòng Mô hình mới của Phạm Thị Bích Vân (2012) hữu hiệu hơn trong việc phát hiện hành vi QTLN tại Việt Nam
Kết quả công bố trên cho thấy mặc dù mô hình Jones (1991) và các mô hình cải tiến của Jones (1991) được giới nghiên cứu vận dụng và đánh giá cao nhưng các mô hình này không hoàn toàn phù hợp với mọi quốc gia, bởi lẽ mỗi quốc gia có đặc điểm
về vốn, chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa…là không hoàn toàn giống nhau Việc tìm kiếm phương pháp tốt nhất để nhận diện và đo lường hành vi QTLN không dừng lại Phạm Thị Bích Vân (2013), thu thập số liệu của 111 công ty niêm yết trên HOSE
Trang 31niên độ 2009-2011, trình bày bốn cách đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Cách thứ nhất, Bích Vân (2013) tham chiếu kết quả nghiên cứu của Leuz và cộng sự (2003), đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính tỷ lệ giữa độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chia cho
độ lệch chuẩn của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện sự che giấu lợi nhuận càng cao Cách thứ hai, tham chiếu kết quả nghiên cứu của Barton
và Simko (2002), đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính tỷ lệ giữa tài sản hoạt động thuần (Tài sản - Nợ phải trả - tiền và các khoản tương đương tiền - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) chia cho doanh thu thuần Tỷ lệ này càng nhỏ thì sự trung thực của chi tiêu lợi nhuận càng cao Cách thứ ba, tác giả dựa theo kết quả nghiên cứu của Penman (2001), đo lường độ trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính tỷ số giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ này càng nhỏ thì độ trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận càng cao Cách thứ tư là của chính của chính tác giả, sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận được tính bằng tỷ số giữa biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (Discretionary Accruals) chia cho lợi nhuận sau thuế Tỷ số này càng nhỏ thì độ trung thực của lợi nhuận càng cao Theo Bích Vân (2013) “Các bên liên quan khi đánh giá sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên Báo cáo tài chính thì cần tiến hành đồng thời bốn cách nêu trên Nếu bốn cách trên đưa ra cùng một kết quả thì các bên liên quan có thể đưa ra quyết định của mình Ngược lại, nếu bốn cách cho ra kết quả không thống nhất thì các bên lên quan nên cẩn trọng hơn khi đưa ra quyết định của mình hoặc thực hiện các điều tra, phân tích, đánh giá sâu hơn để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận”
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI QTLN
Bên cạnh các nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi QTLN, nghiên cứu về động
cơ QTLN thì phần lớn các nghiên cứu khác được công bố trong và ngoài nước tập trung vào tìm kiếm các nhân tố tác động đến hành vi QTLN từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm kiểm soát hành vi này Kết quả nghiên cứu có nhiều khác biệt, có thể
do mỗi quốc gia có đặc thù riêng về quy định pháp lý, văn hóa, chính trị… Luận án
Trang 32lựa chọn và trình bày một số nghiên cứu điển hình và mang tính tổng quát đã được công bố trong và ngoài nước trong thời gian gần đây tại phụ lục 06
1.2.1 Cấu trúc của HĐQT
1.2.1.1 Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc điều hành
Hội đồng quản trị được tổ chức ở công ty bao gồm đại đa số là các thành viên độc lập để kiểm soát hoạt động và quyền lực của Ban giám đốc, chịu trách nhiệm trước
cổ đông, đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định của pháp luật và điều
lệ công ty, quan tâm đến quyền lợi của cổ đông Chính vì thế, ở một số quốc gia Luật quản trị công ty không chấp nhận Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức danh Giám đốc điều hành
Có hai quan điểm khác nhau về vấn đề kiêm nhiệm CEO của Chủ tịch HĐQT Lý thuyết đại diện cho rằng việc kiêm nhiệm này là không tốt cho hoạt động của doanh nghiệp do làm mất đi tính giám sát và kiểm soát Giám đốc điều hành (Rechner và Dalton, 1991) Lý thuyết quản lý thì ngược lại, cho rằng việc kiêm nhiệm là tốt cho doanh nghiệp vì nó tạo sự đồng thuận, thống nhất trong mọi quyết định, mệnh lệnh
sẽ tốt hơn và nhanh hơn những đơn vị tách hai vị trí này ra hai người khác nhau (Donaldson và Davis, 1991)
Klein và cộng sự (2002) đã chỉ ra rằng các khoản dồn tích bất thường có quan hệ cùng chiều với vị trí CEO kiêm một vị trí lãnh đạo trong HĐQT, nghĩa là việc kiêm nhiệm sẽ làm gia tăng mức độ QTLN Một số nghiên cứu khác cũng có kết quả tương
tự như Wang và Liang (2008), Roodposhti và Cnashmi (2010), Roodposhti và cộng
sự (2010), Gulza (2011), Murhadi (2009), Nekhili và cộng sự (2016)
Ngược lại, Tian và Lau (2001) cho rằng doanh nghiệp kiêm nhiệm CEO sẽ hoạt động tốt hơn doanh nghiệp không có kiêm nhiệm CEO Song và cộng sự (2006) cho rằng việc kiêm nhiệm CEO sẽ phát huy hiệu quả hơn khi cơ cấu vốn Nhà nước ở mức cao Một số nghiên cứu gần đây cũng có kết quả tương tự, khi cho rằng việc kiêm nhiệm CEO của chủ tịch HĐQT có tác động ngược chiều với mức độ QTLN như Liu
và cộng sự (2012), Soliman và cộng sự (2013), Waweru và George (2013), Iraya và cộng sự (2015), Abbadi và cộng sự (2016)…
Trang 33Bên cạnh đó, Chtourou (2001), Moradi và Salehi (2012), Suzan Abed và Cộng sự (2012), González và García-Meca (2014), Nguyễn Hà Linh (2017) đã không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa kiêm nhiệm CEO với hành vi QTLN Trong hai mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), mô hình 1 chứng minh được rằng công ty có Chủ tịch HĐQT không kiêm nhiệm Giám đốc điều hành thì chất lượng thông tin BCTC cao hơn so với có kiêm nhiệm
1.2.1.2 Tính độc lập của Hội đồng quản trị
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính độc lập của Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến việc kiểm soát hành vi QTLN Tính độc lập của HĐQT được tính bằng tỷ
lệ thành viên HĐQT độc lập trên tổng số thành viên HĐQT Lý thuyết đại diện cho rằng sự hiện diện của nhiều thành viên độc từ bên ngoài thì tính độc lập sẽ cao và họ
sẽ làm việc vì lợi ích chung của cổ đông, giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông với người quản lý Kết quả nghiên cứu thường cho thấy HĐQT với một tỷ lệ cao những người ở bên ngoài (tính độc lập cao) có khả năng làm giảm mức độ QTLN, gia tăng chất lượng thông tin trên BCTC
Xie và cộng sự (2003) đã sử dụng mẫu nghiên cứu giai đoạn 1992 - 1994 của 282 công ty Mỹ, sử dụng mô hình phát hiện hành vi QTLN của Jones (1991) cho rằng ở những công ty có tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT cao thì ít khả năng phát sinh hành vi QTLN Niu (2006) với dữ liệu của công ty tại Canada giai đoạn 2001-2004 tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa độ lớn của khoản dồn tích với mức độ độc lập của HĐQT Bằng việc thống kê số liệu của 155 công ty niêm yết ở Tây Ban Nha giai đoạn 1999 - 2001, Osma và Noguer (2007) đã chứng minh được rằng các qui định về thể chế của HĐQT, của Giám đốc điều hành có tác dụng kiểm soát hành vi QTLN Metawee (2013) đã tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa mức độ độc lập của HĐQT với mức độ QTLN khi sử dụng mẫu nghiên cứu gồm các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Ai Cập giai đoạn 2008-2010 Các nghiên cứu có kết quả tương tự như Roodposhti và cộng sự (2010), Alves (2014), Liu và cộng sự (2015), Abbadi và cộng sự (2016)
Trang 34Ngược lại, một số nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ QTLN với tính độc lập của HĐQT Al-Rassas và cộng sự (2015) sử dụng hai mô hình phát hiện hành vi QTLN Jones điều chỉnh (1995) và mô hình Yoon (2006) trên dữ liệu 508 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia đã chứng minh được rằng HĐQT có thành viên độc lập không điều hành càng nhiều càng làm gia tăng mức
độ QTLN Nghiên cứu của Liu và cộng sự (2012) và Soliman và cộng sự (2013) cũng
có kết quả tương tự
Bên cạnh đó, Gao và cộng sự (2002) đã không tìm thấy mối quan hệ giữa mức độ độc lập của HĐQT và mức độ QTLN khi nghiên cứu mẫu các công ty của Trung Quốc Kết quả nghiên cứu tương tự được công bố bởi Gulza (2011), Yang và cộng
sự (2009), Murhadi (2009), Suzan Abed và Cộng sự (2012), Moradi và cộng sự (2012), Nekhili và cộng sự (2016) Nghiên cứu của Nguyễn Hà Linh (2017) với số liệu công ty niêm yết Việt Nam cũng không tìm thấy mối tương quan giữa số lượng thành viên độc lập với mức độ QTLN của người quản lý Trong hai mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), mô hình 2 không ủng hộ kỳ vọng của tác giả khi không tìm thấy mối quan hệ giữa tính độc lập của HĐQT với chất lượng thông tin của BCTC, kết quả hồi quy mô hình 1 của tác giả đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa nhân tố này với chất lượng thông tin BCTC tại CTNY Việt Nam
1.2.1.3 Qui mô Hội đồng quản trị
Có nhiều nghiên cứu đã được công bố về tác động của quy mô HĐQT đến hành
vi QTLN Qui mô HĐQT được tính bằng số lượng thành viên HĐQT tại ngày kết thúc năm Một mặt, HĐQT gồm nhiều thành viên có thể có nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức và nêu nhiều ý kiến đóng góp sẽ tăng cường khả năng giám sát của HĐQT
Lý luận này xuất phát từ lý thuyết sự phụ thuộc nguồn lực Mặt khác, HĐQT có nhiều thành viên nhưng các thiếu liên kết giữa các thành viên HĐQT sẽ tạo tăng thêm cơ hội cho người quản lý gia tăng QTLN
Ayemere và cộng sự (2015) sử dụng số liệu của 230 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán của Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 2009-2012 đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa số lượng thành viên thuộc HĐQT với mức độ QTLN Rất nhiều
Trang 35nghiên cứu có kết quả tương tự như Suzan Abed và Cộng sự (2012), Abbadi và cộng
sự (2016), Soliman và cộng sự (2013), Lakhal (2015) Nghiên cứu của Nguyễn Hà Linh (2017) sử dụng mô hình Jones (1991) để xác định biến dồn tích bất thường đã chứng minh được rằng số lượng thành viên HĐQT càng lớn thì mức độ QTLN càng nhỏ
Ngược lại, Kao và Chen (2004) sử dụng dữ liệu của 1.097 công ty; Abdul Rahman
và Ali (2006) sử dụng 97 công ty Malaysia; Jaggi và cộng sự (2009) sử dụng dữ liệu của công ty Hong Kong trong giai đoạn 1998-2000 cùng phát hiện ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô của HĐQT và mức độ QTLN Nekhili và cộng sự (2016) sử dụng số liệu 85 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Pháp, giai đoạn 2001-
2010, vận dụng mô hình Jones điều chỉnh (2005) đã chứng minh được mối quan hệ cùng chiều giữa số lượng thành viên HĐQT với mức độ QTLN
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) sử dụng mô hình Jones điều chỉnh (1995) và mô hình EBO (Edward Bell Ohlson Model) để xác định biến dồn tích bất thường trên hai mô hình nghiên cứu Tác giả đã không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô HĐQT với chất lượng thông tin trên BCTC được công bố bởi CTNY Việt Nam
1.2.1.4 Số lần họp của Hội đồng quản trị
Bên cạnh ảnh hưởng của tính độc lập và quy mô của HĐQT đến hành vi QTLN, một số nghiên cứu cho rằng số lần họp của HĐQT cũng có tác động đến hành vi này Thông thường các công ty niêm yết phải công bố báo cáo tài chính quý nên mỗi năm
ít nhất phải có 04 lần họp để thông qua báo cáo cáo tài chính giữa niên độ Trên thực
tế, để có thể nhanh chóng nắm bắt công việc, thông tin và thống nhất một số nội dung quan trọng trong hoạt động kinh doanh, chia cổ tức, vấn đề tăng vốn,…số lượng cuộc họp HĐQT tại các công ty niêm yết có thể sẽ nhiều hơn
Xie và cộng sự (2003) sử dụng số liệu năm của 282 công ty Mỹ đã chỉ ra rằng nếu HĐQT tổ chức họp thường xuyên thì có thời gian xem xét đến nhiều vấn đề, trong đó
có giám sát hành vi QTLN Họ đã chứng minh rằng hành vi QTLN có mối quan hệ ngược chiều với số lần họp của HĐQT.Ronen và Yaari (2008) cho rằng một HĐQT
Trang 36năng động, tổ chức nhiều cuộc họp sẽ có nhiều khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình phù hợp với lợi ích của cổ đông, đồng thời nỗ lực hơn trong việc giám sát việc công
bố báo cáo tài chính Các nghiên cứu có kết quả tương tự như Sarkar và cộng sự (2008), Services, P (2011), Yang và cộng sự (2009), Abbadi và cộng sự (2016) Bên cạnh đó, Gulzar và cộng sự (2011) nghiên cứu 1.001 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải, giai đoạn 2002 - 2006 đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hành vi QTLN và tần suất họp HĐQT Nghiên cứu của Alves (2012), Metawee (2013) cũng cho kết quả tương tự
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã đồng thuận không tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ thường xuyên họp của HĐQT với chất lượng trên BCTC tại CTNY Việt Nam
1.2.1.5 Chuyên môn về tài chính của thành viên Hội đồng quản trị
Một trong các nhiệm vụ khá quan trọng của HĐQT là kiểm soát quá trình lập Báo cáo tài chính để công bố Để có thể kiểm soát chất lượng của báo cáo tài chính, họ cần phải có kiến thức tổng quát về kế toán, tài chính, có năng lực phân tích, có tầm nhìn chiến lược và khả năng quản trị rủi ro Lý thuyết sự phụ thuộc nguồn lực cho rằng hội động quản trị đa dạng bao gồm những thành viên có lĩnh vực chuyên môn khác nhau sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp Do vậy, chuyên môn về tài chính của thành viên HĐQT cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi QTLN, đến chất lượng thông tin được trình bày trên Báo cáo tài chính
Xie và cộng sự (2003) đã chứng minh rằng hành vi QTLN khó có thể xảy ra ở một doanh nghiệp mà HĐQT có kiến thức chuyên sâu về tài chính Nghiên cứu của Park và cộng sự (2004), Lin và Hwang (2010) chỉ ra rằng sự có mặt trong HĐQT các chuyên gia từ các tổ chức trung gian bên ngoài có thể góp phần làm giảm các khoản dồn tích bất thường Ayemere và cộng sự (2015) sử dụng số liệu của 50 công ty niêm yết Nigeria, giai đoạn 2006-2013; Abbadi và cộng sự (2016) sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 558 doanh nghiệp của Jordan, giai đoạn 2009-2013 cũng tìm mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính với mức độ QTLN Ngược lại với kết quả trên, Metawee (2013) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ thành
Trang 37viên HĐQT có chuyên môn tài chính với mức độ QTLN Kết quả hồi quy trên mô hình 1 của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) cho rằng doanh nghiệp có số lượng thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính càng lớn thì chất lượng thông tin trên BCTC sẽ cao hơn nhưng tác giả không tìm thấy mối quan hệ giữa nhân tố này đến chất lượng thông tin trên BCTC ở mô hình nghiên cứu 2
1.2.1.6 Thành viên nữ trong HĐQT
Zelechowski và Bilimoria (2004) cho rằng thành viên nữ thường có kỹ năng quản
lý cao hơn thành viên nam, bao gồm việc quen với những vấn đề pháp lý liên quan đến nguồn nhân lực, giao tiếp, tiếp thị và truyền thông Srinidhi và cộng sự (2011), Thiruvadi and Huang (2011) cho rằng càng nhiều thành viên nữ trong HĐQT thì chất lượng báo cáo tài chính sẽ gia tăng Letender (2004) cho rằng sự đa dạng về giới trong HĐQT sẽ dẫn đến sự bất đồng ý kiến, nhưng sự bất đồng này có giá trị, nó sẽ dẫn đến việc ra quyết định tốt hơn và HĐQT hoạt động tích cực hơn Bathula (2008) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa sự đa dạng về giới tính trong HĐQT với chất lượng thông tin lợi nhuận Luckerath - Rover (2011) tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa thành viên nữ trong HĐQT với chất lượng thông tin báo cáo của doanh nghiệp Ngược lại, Adams và Ferreira (2009, Akpan và cộng sự (2014) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa thành viên nữ HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty
1.2.2 Ủy ban kiểm toán
Các nhân tố thuộc nhóm này được đề xuất chủ yếu xuất phát từ lý thuyết đại diện
và lý thuyết sự phụ thuộc nguồn lực Hội đồng quản trị cần kiểm soát hoạt động của Ban giám đốc, giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và người quản lý, bố trí nguồn lực cần thiết cho hoạt động quản trị của họ
1.2.2.1 Qui mô Ủy ban kiểm toán
Hiệu quả kiểm soát của ủy ban kiểm toán bị ảnh hưởng bởi số lượng thành viên
và sự phối hợp giữa các thành viên Nguồn lực quá ít sẽ không đủ để thực hiện hết nhiệm vụ nhưng số lượng quá nhiều, thiếu chuyên môn, giao tiếp và phối hợp không đồng bộ có thể dẫn đến hiệu quả công việc thấp Lin và cộng sự (2006) nghiên cứu
106 công ty ở Mỹ đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi QTLN với các nhân tố
Trang 38liên quan đến ủy ban kiểm toán công ty như tính độc lập, kích cỡ, chuyên môn về tài chính, mức độ năng động và cơ cấu sở hữu vốn Kết quả của họ cho thấy số lượng thành viên trong ủy ban này có quan hệ ngược chiều với mức độ QTLN Nghiên cứu của Ayemere và cộng sự (2015) cũng cho kết quả tương tự
Ngược lại, Danoshana và cộng sự (2013) cho rằng số lượng thành viên của ủy ban kiểm toán có quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của công ty, nghiên cứu dựa trên số liệu 25 công ty niêm yếu trên thị trường chứng khoán Sri Lanka từ năm 2008 đến 2012 Bên cạnh đó, Bedard và cộng sự (2004) nghiên cứu mẫu gồm 300 công ty của Mỹ ở niên độ 1996; nghiên cứu của Baxter và Cotter (2009) trên dữ liệu công ty niêm yết của Malaysia năm 2001, Soliman và cộng sự (2013) sử dụng mẫu số liệu của Ai Cập, Bamahros và cộng sự (2015) sử dụng số liệu của Malaysia, Nekhili và cộng sự (2016) sử dụng số liệu của Pháp cũng không tìm ra mối quan hệ giữa số lượng thành viên ủy ban kiểm toán với hành vi QTLN
1.2.2.2 Chuyên môn tài chính của thành viên ủy ban kiểm toán
Sự hiện diện của thành viên có chuyên môn về tài chính có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các thành viên khác, đảm bảo độ tin cậy cho Báo cáo tài chính Xie
và cộng sự (2003), Choi và cộng sự (2004), Abbott và cộng sự (2004), Bédard và cộng sự (2004) cho rằng sự hiện diện ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính trong Ủy ban kiểm toán sẽ làm giảm mức độ QTLN của người quản lý Soliman
và cộng sự (2013) nghiên cứu trên mẫu dữ liệu gồm 50 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Ai Cập trong khoảng thời gian 2007-2010 cho thấy sự hiện diện của thành viên Ủy ban kiểm toán có hiểu biết về tài chính có mối quan hệ ngược chiều với khoản dồn tích bất thường, chính là đại diện của hành vi QTLN Bamahros và cộng sự (2015) nghiên cứu số liệu của 525 công ty niêm yết của Malaysia cũng có kết quả ngược chiều giữa tỷ lệ thành viên UBKT có chuyên môn tài chính với mức độ QTLN Bên cạnh đó, Abdul Rahman và Ali (2006) dựa trên dữ liệu 2 năm (2002 và 2003) của 97 công ty, Lin và cộng sự (2006) nghiên cứu số liệu năm 2000 của 106 công ty niêm yết của Mỹ đều không mối quan hệ có ý nghĩa liên
Trang 39quan đến sự hiện diện của thành viên Ủy ban kiểm toán có chuyên môn về tài chính với hành vi QTLN
1.2.2.3 Số lần hợp của ủy ban kiểm toán
Một ủy ban kiểm toán độc lập và khôn khéo đóng vai trò quan trọng đảm bảo tính năng động và hiệu quả của việc kiểm soát Menon và Williams (1994) cho rằng hiệu quả hoạt động của Ủy ban kiểm toán có thể được đo lường bởi số lượng các cuộc họp Sau nhiều năm nghiên cứu, số lượng cuộc họp của Ủy ban kiểm toán có góp phần gia tăng chất lượng thông tin lợi nhuận của doanh nghiệp hay không là vấn đề khó thể xác định rõ bởi lẽ kết quả nghiên cứu còn nhiều khác biệt
Nghiên cứu của Xie và cộng sự (2003) cho thấy tần suất cuộc họp của ủy ban kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin của kế toán tài chính Song và Windram (2004) cho rằng ủy ban kiểm toán tổ chức họp thường xuyên sẽ góp phần tăng chất lượng của Báo cáo tài chính Cùng quan điểm, Abbott và cộng sự (2004), Ebrahim (2007) và Soliman và cộng sự (2013) đều chứng minh được mối quan hệ ngược chiều giữa số lượng cuộc họp của ủy ban kiểm toán với khoản dồn tích bất thường, chính là đại diện của hành vi QTLN Garven (2015)nghiên cứu cấu trúc quản trị doanh nghiệp đến hành vi QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh (R_EM), chứng minh được rằng số lượng các cuộc họp ủy ban kiểm toán có quan hệ ngược chiều với R_EM
Bên cạnh những phát hiện trên, Bédard và cộng sự (2004) sử dụng hai nhóm công
ty của Mỹ, một nhóm có mức độ QTLN cao, một nhóm có mức độ QTLN thấp, đã không tìm thấy mối quan hệ giữa hành vi QTLN với số lần họp của Ủy ban kiểm toán Davidson và cộng sự (2005) sử dụng dữ liệu nghiên cứu gồm 434 công ty niêm yết ở Malaysia năm 2000 cũng chứng được rằng Ủy ban kiểm toán có siêng năng, năng động cũng không hiệu quả trong việc kiểm soát được hành vi QTLN
1.2.3 Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập được xem là công cụ quan trọng của cổ đông nhằm đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của Báo cáo tài chính Báo cáo kiểm toán phải nêu ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính được lập phù hợp với các quy
Trang 40định được chấp nhận Vấn đề đặt ra là chất lượng kiểm toán đạt đến mức độ nào và liệu rằng các bên liên quan có thể tin tưởng báo cáo tài chính đã qua kiểm toán hay không? Những nghiên cứu trước đây cho rằng, chất lượng của kiểm toán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như quy mô của công ty kiểm toán, sự thay đổi kiểm toán và phí kiểm toán Các nhân tố thuộc nhóm này được đề xuất xuất phát từ lý thuyết đại diện
và lý thuyết tín hiệu với mục tiêu là làm giảm thông tin bất cân xứng, tạo tín hiệu tốt đẹp cho các bên liên quan
1.2.3.1 Qui mô công ty kiểm toán
Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy nếu công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big 4 thì sẽ kiểm soát được hành vi QTLN Chen và cộng sự (2005) nghiên cứu trên mẫu dữ liệu công ty đại chúng của Đài Loan các năm 1996-1998 cho rằng chất lượng kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát khả năng QTLN và các công ty kiểm toán Big 5 cung cấp chất lượng kiểm toán cao, góp phần kiểm soát hành vi QTLN Tương tự, Charles và cộng sự (2010), Lin và Hwang (2010), Gerayli
và cộng sự (2011), Inaam và cộng sự (2012), Soliman và cộng sự (2013), Al-Rassas
và cộng sự (2015), Ahmad và cộng sự (2016), Abbadi và cộng sự (2016) cùng chứng minh được rằng doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4 thì mức độ QTLN sẽ giảm
đi Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) cho rằng công ty được kiểm toán bởi Big 4 thì chất lượng thông tin BCTC sẽ tốt hơn thể hiện ở kết quả hồi quy trên mô hình 2 Tương tự như nghiên cứu với số liệu là các công ty niêm yết tại Việt Nam của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), nghiên cứu của Nguyễn Hà Linh (2017) cũng cho rằng công ty kiểm toán Big 4 có tác động ngược chiều với mức độ QTLN của người quản
lý tại CTNY Việt Nam
Có phần khác biệt với những kết quả nghiên cứu trên, một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô công ty kiểm toán với hành vi QTLN, điển hình như Chtourou (2001) với số liệu Mỹ, Moradi và cộng sự (2012) với số liệu của Iran, Bamahros và cộng sự (2015) với số liệu của Malaysia, Nekhili và cộng sự (2016) với
số liệu của Pháp