Đặt vấn đề Ở Việt Nam, chênh lệch về thu nhập và sự gia tăng bất bình đẳng bắt nguồn từ các nhân tố mang tính đặc trưng của nhóm dân số, sự khác biệt về địa lý, sự khác biệt về các động
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tỉnh Long An giai
đoạn 2016 - 2020
Người thực hiện: Tạ Văn Nguyễn Hoàng Lớp: Cao học Quản lý kinh tế (Cần Thơ) Giáo viên hướng dẫn: PGS – TS Nguyễn Quốc Tế
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2010 -2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tỉnh Long An giai
đoạn 2016 - 2020
Người thực hiện: Tạ Văn Nguyễn Hoàng Lớp: Cao học Quản lý kinh tế (Cần Thơ) Giáo viên hướng dẫn: PGS – TS Nguyễn Quốc Tế
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2010 -2014
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Hoàng Bảo
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp luận văn “ Bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014” là bài làm
của riêng tôi
Những kiến thức, số liệu sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2019 Người cam đoan
Võ Chí Thoàn
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng, số liệu và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.6 Cấu trúc của bài luận văn 3
Chương 2: Cơ sở lý luận về bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế 4 2.1 Khái niệm thu nhập và thu nhập bình quân đầu người 4
2.2 Bất bình đẳng trong thu nhâp 4
2.3 Các lý thuyết về bất bình đẳng trong thu nhập 4
2.3.1 Tỷ lệ Q5/Q1 5
2.3.2 Đường công Lorenz 5
2.3.3 Hệ số GINI 6
2.3.4 Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng thế giới 8
2.2 Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập 8
2.5 Các vấn đề nảy sinh từ phân phối thu nhập 9
2.6 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế 9
2.6.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 9
2.6.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 10
2.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 11
2.6.3.1 Các nhân tố kinh tế 11
2.6.3.2 Các nhân tố phi kinh tế 12
2.7 Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 13
2.7.1 Tác động tích cực của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế.……… 14
2.7.2 Tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 16
Trang 52.8 Các nghiên cứu trên thế giới về bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế 20
2.7 Các nghiên cứu trong nước về bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 25
2.8 Khung phân tích 28
Chương 3: Thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế 30
3.1 Thực trạng của Việt Nam 30
3.2 Tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam 36
3.3 Bất bình đẳng ở 63 tỉnh thành của Việt Nam 40
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu 42
4.1 Nguồn số liệu 42
4.2 Phương pháp nghiên cứu 42
4.3 Kết quả nghiên cứu bất bình đẳng ở 63 tỉnh thành của Việt Nam 43
4.3.1 Theo tương quan của hệ số Gini và thu nhập bình quân đầu người ở 63 tỉnh thành của Việt Nam 43
4.3.2 Theo độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng kinh tế ở 63 tỉnh thành của Việt Nam 44
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 50
Hạn chế của đề tài 52
Tài liệu tham khảo 53
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒTHỊ
Hình 2.1: Đường cong Loren……… 5
Hình 2.2: Hệ số Gini……….……… 6
Hình 2.3: Đường cong Kuznets……… 14
Hình 3.1: Hệ số Gini của Việt Nam và các nước trên thế giới……… 36
Hình 3.2: Tương quan tăng trưởng ……….……… 37
Hình 3.3: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người……….……… 38
Hình 3.4: Đường tăng trưởng thu nhập 2010 - 2012………… … 39
Hình 3.5: Đường tăng trưởng thu nhập 2010 - 2014……… 40
Hình 3.4: Tỷ lệ thu nhập bình quân……….……… 40
Hình 3.6: Tỷ trọng thu nhập …… …… ……… 41
Hình 4.1: Tương quan hệ số Gini và thu nhập bình quân đầu người… 43
Hình 4.2: Độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng 2010-2012…….…… 46
Hình 4.3: Độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng 2012-2014……… 47
Trang 8Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, chênh lệch về thu nhập và sự gia tăng bất bình đẳng bắt nguồn từ các nhân tố mang tính đặc trưng của nhóm dân số, sự khác biệt về địa lý, sự khác biệt về các động lực tăng trưởng nông nghiệp và phi nông nghiệp giữa các vùng, những thay đổi trong mô hình sản xuất từ mô hình nông nghiệp đến mô hình phi nông nghiệp và từ công việc tay nghề thấp đến công việc có kỹ thuật cao Thay đổi về sản xuất phụ thuộc vào quy mô sản xuất của từng vùng, những thay đổi này tương tác với các chênh lệch hiện tại giữa các vùng về nguồn lực con người
và yếu tố địa lý để thay đổi khả năng phân phối thu nhập tại Việt Nam Các nguyên nhân có thể đưa đến việc gia tăng bất bình đẳng: Theo quan điểm thị trường quá trình phân hóa là tất yếu Chủ thể thành công thì sẽ thịnh vượng và giàu có và ngược lại Theo quan điểm phát triển của không gian những nơi ở trung tâm thì có điều kiện để hấp thu đầu tư và giàu có Những nơi ở vùng ngoại
vi thì không thể thu hút đầu tư và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Tiến trình đô thị hóa đưa đến tăng năng suất, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh từ đó đưa đến tăng thu nhập so với các địa phương khác ở vùng sâu vùng xa Trình độ học vấn có tác động đến sự phân hóa, người học vấn có trình độ trí óc có thu nhập cao hơn rất nhiều so với thu nhập phổ thông
Tăng trưởng kinh tế giữa những địa phương là khác nhau rõ rệt và cơ cấu phân phối thu nhập giữa các địa phương cũng khác nhau Vì thế, rất cần một nghiên cứu đánh giá đầy đủ thực trạng của việc tăng trưởng kinh tế hướng tới phân phối thu nhập ở các tỉnh, thành phố Các nhà quản lý kinh tế ở trung ương và những địa phương này cần biết rõ các chính sách phát triển kinh tế của mình có thực sự hướng tới một xã hội với sự bình đẳng trong thu nhập hay chưa Đâu là những địa phương mà việc tăng trưởng kinh tế đã chuyển hóa đồng đều tới mọi tầng lớp dân
cư, và đâu là những địa phương phát triển kinh tế chỉ mang lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ dân cư nào đó Đưa ra các đánh giá và giải pháp để cải thiện tình hình
Trang 9Do đó, tôi chọn đề tài Bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm hướng tới trả lời những câu hỏi sau: Bất bình đẳng thu nhập ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố của bất bình đẳng thu nhập ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua
1.4 Đối tượng, số liệu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự thay đổi của bất bình đẳng thu nhập của 63 tỉnh thành phố trên cả nước
Phạm vi đề tài dựa trên bộ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam trong ba năm 2010, 2012 và 2014 Các số liệu tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tăng thu nhập bình quân đầu người của những địa phương được lấy từ các báo cáo do tổng cục thống kê công bố
Đơn vị nghiên cứu là cấp tỉnh
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu phân tích số liệu dựa trên việc mô tả và so sánh giữa các tỉnh với nhau
1.6 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của bài luận văn này gồm có 4 chương
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bất bình đẳng thu nhập và tăng
trưởng kinh tế
Trang 10Chương này có nhiệm vụ diễn tả các khía niệm về bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế Tổng quan các tài liệu trước đó về các hình thức đo lường, nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập, các chiều hướng ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Thực trạng vấn đề về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam
Nội dung của chương này là để mô tả dữ liệu về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập của các địa phương Sự thay đổi về bất bình đẳng thu nhập ở các địa phương từ 2010 đến 2014 Trình bày khai thác dữ liệu từ hai bộ dữ liệu VHLSS2010 và VHLSS2014 của Tổng Cục thống kê cho nghiên cứu
Chương 4: Phân tích dữ liệu
Mục tiêu của chương này là tiến hành phân tích, đo lường mức độ thay đổi bất bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế ở các địa phương Độ co giản của bất bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế xác định xu hướng thay đổi của các tiêu chuẩn đo lường mức độ bất bình đẳng Tìm ra bằng chứng tác động ngược trở lại của bất bình đẳng thu nhập tới phát triển kinh tế của các địa phương Đo lường các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi phân phối thu nhập
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Khái niệm thu nhập và thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân,
doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó Thu nhập có thể gồm các
khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh
Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư” Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm nghèo
Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ
2.3 Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế
Có rất nhiều thước đo bất bình đẳng thu nhập mỗi thước đo đều có những
ưu, nhược điểm chung Luận văn này chỉ giới thiệu các thước đo phổ biến nhất
Trang 122.3.1 Tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1)
Cách đơn giản nhất để đo lường bất bình đẳng về phân phối thu nhập là thống kê sắp xếp các cá nhân theo mức tăng dần rồi chia tổng dân số thành các nhóm Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận 20% thu nhập Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình thì 20% gia đình giàu nhất sẽ nhận tất cả thu nhập và các nhóm gia đình khác không nhận được gì
Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa 02 thái cực này Một chi tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1) Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản và dễ
sử dụng, chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn cảnh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư
2.3.2 Đường cong Lorenz
Hình 2.1 Đường cong Lorenz
Trang 13Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân
là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905) Đường cong Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng Đường chéo được vẽ từ tọa độ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập nhận đúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người thu nhập Nói cách khác, đường chéo đại diện cho sự công bằng hoàn hảo của phân phối thu nhập theo quy mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập họ nhận được Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách
dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm có thu nhập thấp nhất Đường cong Loren càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng
Đường Loren là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong Tuy nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hoá được mức độ bất bình đẳng và do đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong trường hợp phức tạp
Trang 14µ là chi tiêu bình quân đầu người
Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C Gini) được tính trên
cơ sở đường Loren Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng Nó được tính bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường cong Loren so với tỉ tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Đó là tỉ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A+B
Hệ số có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1 Hệ số Gini = 0 khi diện tích A = 0, có nghĩa đường Loren và đường đường chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối Ngược lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0 có nghĩa đương Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối (một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì)
Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập Các quốc gia có mức bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4; bất bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập cao khi Gini > 0,5
Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz, nó lượng hoá được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng như theo khu vực, vùng và quốc gia Tuy nhiên, thước đo này cũng hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố của các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz có hình dạng khác nhau)
Trang 152.3.4 Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới
Ngân hàng Thế giới (2003) đề xuất chi tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng tỉ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu nhập toàn bộ dân cư Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng cụ thể: Nếu tỉ trọng này nhỏ hơn 12% là bất bình đẳng cao về thu nhập; trong khoảng từ 12% - 17% có sự bất bình đẳng trung bình và lớn hơn 17% là bất bình đẳng thấp
Các thước đo bất bình đẳng ở trên không chỉ tính theo thu nhập mà còn tính theo chi tiêu hay sở hữu tài sản như đất đai Bất bình đẳng có thể tính riêng cho các vùng hay các nhóm dân cư
2.4 Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập
Có nhiều lý thuyết được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng bất bình đẳng trong thu nhập Nhìn chung có thể giải thích về bất bình đẳng trong thu nhập theo hai hướng
Thứ nhất: theo Mark ,thu nhập quốc dân được chia làm hai phần, phần thứ
nhất là tiền công người lao động, tiền công này chỉ đủ để người lao động trang trải cho cuộc sống của bản thân và gia đình Phần thứ hai là thu nhập của chủ doanh nghiệp, địa chủ Với phần thu nhập này, nhà tư bản chi tiêu cho bản thân
và gia đình nhưng vẫn dư ra một khoản để tiếp tục tái đầu tư mở rộng từ đó gia tăng sản xuất và lợi nhuận tăng thêm Người lao động vẫn chỉ đủ sống trong khi
đó nhà tư bản ngày một giàu thêm và gây nên tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập
Thứ hai: chia nguyên nhân bất bình đẳng trong thu nhập thành hai nhóm:
Bất bình đẳng trong thu nhập trong phân phối thu nhập từ tải sản Theo đó trong nền kinh tế thị trường, các tài sản do các cá nhân nắm giữ sẽ mang lại thu nhập cho họ tùy vào giá trị, giá thuê các tài sản đó mà thu nhập mang đến sẽ khác nhau Các tài sản này được hình thành chủ yếu từ việc thừa kế và tích lũy trong quá khứ
Trang 16Bất bình đẳng phân phối thu nhập từ lao động Mỗi lao động có những đặc điểm tâm sinh lý, vốn kiến thức, vốn xã hội khác nhau, do đó công việc khác nhau và thu nhập cũng sẽ khác nhau
2.5 Các vấn đề nảy sinh từ phân phối thu nhập
Sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội và mức chênh lệch giàu nghèo bao nhiêu thì được xem là bất bình đẳng Trả lời cho câu hỏi này nhiều nhà kinh tế đã xây dựng nên nhiều thước đo nhằm đánh giá bất bình đẳng trong thu nhập, trong
đó được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là hệ số Gini do Corrado Gini (1912) đề xuất
Bên cạnh đánh giá mức độ bất bình đẳng trong thu nhập, lý thuyết phân phối thu nhập cũng hướng đến vấn đề nghèo đói và các nguyên nhân của nó Trường phái cổ điển và tân cổ điển đều cho rằng bất bình đẳng và sự nghèo đói là tất yếu trong thị trường cạnh tranh Trong khi đó, theo quan điểm mácxít thì cho rằng đó là do việc bóc lột giá trị thặng dư của giới tư bản Lý thuyết kinh tế phúc lợi (1930) công nhận thất bại thị trường là nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo
và bất bình đẳng Chính phủ có thể can thiệp theo hướng ưu tiên tăng trưởng theo kiểu kinh tế nhà nước tư bản chủ nghĩa hoặc hướng tới bình đẳng xã hội theo kiểu của các nước xã hội chủ nghĩa
2.6 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng
2.6.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định
Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn Tiết kiệm
và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Trang 17Tăng trưởng là động lực thúc đẩy phát triển, là nhân tố quan trọng hàng đầu
và tạo điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội Tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào tăng số lượng các yếu tố như lao động giản đơn, vốn, đất đai, công nghệ thấp thì không thể phát triển bền vững và khó thực hiện tốt các chính sách xã hội Phát triển bền vững đòi hỏi tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào các nhân các nhân tố tăng sức sản xuất của lao động xã hội như nâng cao trình độ của người lao động, ứng dụng khoa học kỹ thật công nghệ cao, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất, tăng hiệu suất của tư liệu lao động và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
2.6.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi mức sản lượng quốc dân
GDP là thước đo được chấp nhận rộng rãi về mức sản lượng của nền kinh tế
Ở đây, chúng ta nói GDP thực tế chứ không phải GDP danh nghĩa, có nghĩa là đã loại bỏ sự biến động của giá cả theo thời gian Thước đo này có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng trong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế có thể tính theo sản lượng bình quân đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số Chính vì vậy, chỉ tiêu ý nghĩa hơn về tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước
Trang 18y là GDP thực tế bình quân đầu người
Mặc dù vậy, không phải quốc gia nào cũng khuyến khích tăng trưởng bằng mọi giá Có nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự tăng trưởng bằng những hy sinh
mà suy cho cùng là ảnh hưởng đến hàng loạt các mục tiêu Chúng ta cần nhận thức rằng tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào đó
2.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố bao gồm nhân tố kinh tế
và nhân tố phi kinh tế
2.6.3.1 Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế là những nhân tố có tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế bao gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên thiên nhiên
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được hiểu là vốn vật chất chứ không phải dưới dạng giá trị (tiền) Nó bao gồm toàn bộ
tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế như nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được trường phái Keynes đánh giá rất cao, cụ thể thông qua mô hình Harrod-Domar
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Trước đây, người ta quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng số lượng lao động Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực Đó là lao động có
kỹ năng sản xuất, có sáng kiến và phương pháp sản xuất Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển đóng góp bởi quy mô số lượng lao động, còn vốn nhân lực có trình độ cao thì các nước này còn thấp
Tiến bộ công nghệ là những nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng Yếu tố công nghệ cần được hiểu theo hai dạng Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra các nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ
Trang 19thuật Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất Vai trò của công nghệ được nhà kinh tế đánh giá cao đối với tăng trưởng như Solow (1959) cho rằng “toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn điều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật”
Tài nguyên bao gồm đất đai và các nguồn lực có sẳn trong tự nhiên Các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác và tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển Nguồn tài nguyên là có hạn, không thể tái tạo được, hoặc tái tạo phải mất rất nhiều thời gian, sức lực và chi phí Do đó, tài nguyên thiên nhiên được đưa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả và không lãng phí Sử dụng tài nguyên phải lựa chọ công nghệ để sử dụng có hiệu quả tiết kiệm tài nguyên là vấn đề sống còn của phát triển Hiện nay, các mô hình tăng trưởng thường không nhắc đến nhân tố tài nguyên với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng nữa
2.6.3.2 Các nhân tố phi kinh tế
Khác với nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị - xã hội, thể chế hay còn gội
là các nhân tố phi kinh tế có tác động gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế như nột số nhân tố: vai trò của nhà nước, các yếu tố văn hóa – xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc
Nhà nước là yếu tố vật chất tác động đến quá trình tăng trưởng Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố của cả đầu ra trong quá trình sản xuất Cơ chế chính sách có sức mạnh kinh tế thật sự bởi cơ chế đúng có thể sinh ra vốn tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng Ngược lại nhà nước đưa ra cơ chế sai sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh
tế
Nhân tố dân tộc và tôn giáo: Một quốc gia càng đa dạng về thành phần dân tộc và tôn giáo thì quốc gia càng có nguy cơ xung đột, bất ổn về chính trị Những xung đột và bất ổn về chính trị dẫn đến xung đột bạo lực gây lãng phí các ngồn
Trang 20lực đáng lẻ ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu khác cho quá trình phát triển
2.7 Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế
Sự liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế từ lâu đã trở thành chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển Nhiều nghiên cứu đã nỗ lực đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi lớn: Liệu các quốc gia có phải đối mặt với sự đánh đổi giữa giảm bất bình đẳng thu nhập và cải thiện thành tựu tăng trưởng hay không, liệu bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay không Nếu có, thì hình mẫu cụ thể của mối quan hệ là gì và tại sao Giả thuyết về mối liên hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế rất nhiều
và đa dạng
Nghiên cứu của Simon Kuznets (1955) với tiêu đề “Tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng thu nhập” được công bố trên Tạp chí Kinh tế Mỹ năm 1955 đã đặt nền móng cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập Ông là người đầu tiên giới thiệu ý tưởng về một liên kết giữa bất bình đẳng và phát triển Kuznets chỉ ra rằng sự phát triển liên quan đến sự dịch chuyển dân số từ các hoạt động truyền thống đến các hoạt động hiện đại Quá trình dịch chuyển này của dân số từ tham gia sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất công nghiệp cho phép Kuznets để dự đoán hành vi của bất bình đẳng trong quá trình phát triển: “Tăng trưởng ở các nước phát triển gắn liền với
sự dịch chuyển khỏi nông nghiệp, một quá trình thường được gọi là công nghiệp hóa và đô thị hóa Do đó, trong mô hình đơn giản, phân phối thu nhập cho toàn bộ dân số có thể được xem như là sự kết hợp giữa phân phối thu nhập cho người dân
ở nông thôn và đô thị Những gì mà chúng ta quan sát thấy về phân phối thu nhập trong hai khu vực đó là: (a) thu nhập bình quân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp hơn so với ở đô thị; (b) bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
ở nông thôn thấp hơn so với đô thị Với mô hình đơn giản này, chúng ta có thể đưa ra những kết luận gì Đầu tiên, với tất cả các điều kiện khác như nhau, tăng tỷ trọng của dân cư đô thị không nhất thiết làm giảm tăng trưởng kinh tế: thực ra, có
Trang 21một số bằng chứng cho thấy rằng tăng trưởng có thể cao hơn bởi vì năng suất bình quân đầu người ở đô thị tăng nhanh hơn trong nông nghiệp Nếu điều này đúng, thì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập tổng thể tăng lên ” Khi biểu diễn mối quan hệ này trên đồ thị sẽ có dạng chữ U ngược Vì vậy còn được gọi là
“lý thuyết chữ U ngược”
Hình 2.3 Đường cong Kuznets
Ý tưởng chính trong nghiên cứu của ông là mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập có thể biểu thị bằng một hình chữ
U ngược Điều này thường được biết đến trong các tài liệu kinh tế như là ‘giả thuyết Kuznets’ Giả thuyết này cho rằng, ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp bất bình đẳng thu nhập tăng cùng với sự gia tăng của thu nhập bình quân đầu người và chỉ giảm trong giai đoạn phát triển sau của quá trình công cuộc công nghiệp hóa – tạo ra một mối liên kết hình chữ U ngược giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng thu nhập – dựa trên một mô hình trong đó các cá nhân
di cư từ khu vực nông thôn có mức lương thấp và bất bình đẳng thu nhập thấp đến khu vực đô thị được đặc trưng bởi bất bình đẳng thu nhập cao và thu nhập trung bình cao
Trong những thập kỷ gần đây, một loạt các lý thuyết khác đã được giới thiệu để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng Thay vì tập trung vào giả thuyết của Kuznets, các nhà nghiên cứu đã đi sâu khảo sát tác động của bất bình đẳng lên tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu có kết luận rất khác nhau Một số nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng có mối quan hệ đánh đổi: chấp nhận bất bình đẳng nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn
Bất bình đẳng thu nhập ( hoặc GINI)
Thu nhập (GDP/người)
Trang 22Trong khi đó, một số khác lại cho thấy bất bình đẳng có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế
2.7.1 Tác động tích cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế
Quan điểm cho rằng bất bình đẳng thu nhập có thể ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế được dựa trên ba luận cứ cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã
hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn để có tăng trưởng nhanh hơn (Mankiw, 2004) Lý do cơ bản là để lấy thu nhập của người giàu chuyển cho người nghèo, chính phủ phải thực hiện các chính sách tái phân phối thu nhập, ví dụ như thông qua hệ thống thuế thu nhập luỹ tiến và các chương trình phúc lợi Với các chính sách này, những người có thu nhập cao phải nộp một phần lớn hơn trong thu nhập của họ cho chính phủ và những người nghèo nhận được các khoản trợ cấp từ chính phủ Điều này sẽ làm giảm động lực lao động và gây ra tổn thất cho xã hội
Nếu chính phủ lấy đi phần thu nhập tăng thêm mà một cá nhân nào đó có thể kiếm được thông qua tăng thuế để trợ cấp, thì cả người giàu và người nghèo
sẽ có ít động lực lao động chăm chỉ hơn: người giàu sẽ không tích cực làm việc, còn người nghèo dễ có tư tưởng ỷ lại, trông chờ đặc biệt khi thuế suất quá cao và các chương trình phúc lợi quá hào phóng Khi họ lao động ít hơn, tổng thu nhập của toàn xã hội sẽ giảm, và phần thu nhập dành cho mỗi người cũng giảm Do vậy, Nhà nước phải cân đối giữa những lợi ích thu được từ sự bình đẳng hơn và những thiệt hại do việc bóp méo các động cơ khuyến khích
Luận cứ thứ hai là giả thuyết Kaldor, sau đó được Stiglitz (1969) chính thức hóa, cho rằng xu hướng tiết kiệm biên của người giàu cao hơn so với người nghèo Nếu tốc độ tăng trưởng của GDP có quan hệ trực tiếp với tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập quốc dân, thì nền kinh tế có phân phối bất bình đẳng hơn có thể để tăng trưởng nhanh hơn so với các nền kinh tế phân phối thu nhập công bằng hơn
Vì vậy, phân phối lại thu nhập từ người giàu cho người nghèo bằng cách đánh
Trang 23thuế lũy tiến cao hơn sẽ làm giảm tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế với tư cách là một tổng thể
Theo lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, tiết kiệm là yếu tố then chốt quyết định quá trình tích lũy tư bản và giảm tiết kiệm sẽ làm giảm tăng trưởng kinh
tế Luận cứ cuối cùng ủng hộ cho quan điểm cần hy sinh mục tiêu công bằng
để nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn liên quan đến tính không thể chia cắt được của đầu tư Nếu các dự án đầu tư mới yêu cầu một khoản tiền ban đầu không có các thị trường vốn hiệu quả cho phép tổng hợp các nguồn lực của các nhà đầu tư nhỏ, thì phân phối sao cho tập trung được của cải sẽ hỗ trợ đầu tư mới và do đó dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn
2.7.2 Tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế
Cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy quan điểm trên đây của các nhà kinh
tế về việc chính phủ có thể chủ động chấp nhận bất bình đẳng thu nhập để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không phải được tất cả các nhà kinh tế ủng hộ Ở một thái cực khác, nhiều nhà kinh tế cho rằng bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển Họ đưa ra một số luận cứ cơ bản sau đây:
Theo Todaro (1998), thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo dẫn đến chế độ dinh dưỡng, tình trạng sức khoẻ kém và ít được tiếp cận với hệ thống giáo dục tiên tiến Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng xấu tới quá trình tăng trưởng Do vậy, đầu tư vào giáo dục và y tế, đảm bảo người nghèo được tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế công được coi là những biện pháp cần thiết giúp người nghèo có cơ hội tìm việc làm với năng suất cao hơn và có thu nhập tốt hơn Trình độ lao động cũng ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng tăng trưởng thông qua sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên tốt hơn Bên cạnh đầu tư vào con người, chính sách đầu tư công và giảm trợ cấp đối với các dịch vụ xã hội cao cấp có lợi cho người giàu cũng có tác động giảm chênh lệch về thu nhập và
có lợi cho tăng trưởng
Trang 24Lý thuyết kinh tế chính trị được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994) đưa ra lý giải về tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế Lý thuyết này được xây dựng trên ba cơ sở sau đây: (i) Chi tiêu nhằm mục tiêu tái phân phối và thuế
có tác động ngược chiều đến tăng trưởng do tác động tiêu cực của thuế đến tích lũy tư bản; (ii) Các loại thuế có xu hướng tỷ lệ thuận với thu nhập nhưng lợi ích của chi tiêu công nhìn chung được phân bổ đều cho tất cả các cá nhân Hệ quả là, mức thuế và chi tiêu công được cử tri ưa thích có mối quan hệ ngược với thu nhập của họ Người nghèo có xu hướng ưa thích sưu cao, thuế nặng và do đó được hưởng lợi nhiều từ các chương trình chi tiêu công Người giàu lại ưa thích thuế suất thấp để giảm bớt phần đóng góp tài trợ cho các chương trình chi tiêu công; (iii) Chính phủ lựa chọn chính sách được nhóm cử tri chiếm đa số ủng hộ Trong
xã hội phân phối bất bình đẳng, thu nhập của nhóm cử tri chiếm đa số sẽ thấp hơn mức thu nhập trung bình và họ có xu hướng ưa thích các chính sách phân phối lại nhiều hơn và hệ quả là tăng trưởng kinh tế sẽ thấp hơn
Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998) cho rằng trong những nước mà các chủ thể không được tiếp cận tự do với các nguồn vốn vay, bất bình đẳng hàm ý rằng một tỷ lệ tương đối lớn của dân số sẽ nằm dưới mức chi phí chuẩn của giáo dục Do vậy, đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ thấp và hệ quả là tăng trưởng cũng sẽ thấp Sự phân phối lại sẽ làm tăng tổng sản lượng và tăng trưởng bởi vì nó cho phép người nghèo có thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ Nếu nền kinh tế phát triển, thị trường vốn sẽ được hoàn thiện, và những tác động liên quan tới sự không hoàn hảo của thị trường vốn sẽ đóng vai trò quan trọng hơn ở những nước nghèo hơn là những nước giàu Do vậy, những tác động có thể dự báo của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sẽ lớn hơn về mức độ đối với những nước nghèo Lập luận về sự không hoàn hảo của thị trường vốn cũng rất phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ đói nghèo Trong khi bất bình đẳng không phải luôn có nghĩa rằng một tỷ lệ lớn của dân số là quá nghèo để tiếp cận vốn, thì một tỷ lệ lớn của đói nghèo sẽ không
Trang 25có nghi ngờ gì rằng có nhiều người hơn bị giới hạn về vốn Chẳng hạn, bất bình đẳng trong một nền kinh tế có thể cao trong khi cuộc sống của tất cả mọi người dân trong nước được cải thiện Do vậy, chúng ta có thể dự đoán một mối quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế và đói nghèo
Lý thuyết bất ổn định về chính trị – xã hội được xây dựng bởi các công trình nghiên cứu của Alesina và cộng sự (1996), Benhabib và Rustichini (1996), Grossman và Kim (1996) nhấn mạnh hệ quả của bất bình đẳng thu nhập đến sự bất ổn định chính trị và xã hội Cụ thể, bất bình đẳng thu nhập là một nhân tố quan trọng quyết định đến bất ổn về chính trị và xã hội và nó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng thông qua việc làm tăng rủi ro và giảm kỳ vọng về lợi ích từ đầu
tư Bất bình đẳng thu nhập làm gia tăng xung đột xã hội và hệ quả là làm cho quyền sở hữu tài sản ít được đảm bảo và làm giảm tăng trưởng Hơn nữa, sự tham gia của người nghèo vào tội phạm và những hành động chống đối xã hội là biểu hiện của lãng phí trực tiếp nguồn lực vì chúng không đóng góp vào hoạt động sản xuất Những hoạt động phòng chống tội phạm tiềm năng cũng biểu hiện một sự lãng phí nguồn lực khác nữa
Theo lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi Perotti (1996), bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh đẻ Bố mẹ phải tối ưu việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng cách cải thiện về chất lượng (giáo dục) hoặc tăng quy mô gia đình (sinh nhiều con hơn) Do giáo dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ mất đi khi ở trường, các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục và thay vào đó là vào số lượng con cái Tuy nhiên, tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào nguồn nhân lực, do vậy một xã hội có bất bình đẳng cao sẽ thể hiện một số lượng lớn những gia đình nghèo đầu tư vào số lượng hơn là vào giáo dục Bùng nổ dân số sẽ dẫn đến thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
Lý thuyết so sánh xã hội của Knell (1998) giải thích rằng sự liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập có thể mạnh hơn ở các nước giàu Ông đưa ra một mô hình được xây dựng trực tiếp từ Bénabou (1996) trong
Trang 26đó các cá nhân có sự so sánh xã hội Knell giả thiết rằng hành vi tối đa hóa lợi ích
cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mức thu nhập của họ mà còn phụ thuộc vào mức tiêu dùng trung bình của nhóm xã hội mà họ có liên quan Trong một xã hội
mà thu nhập được phân phối bất bình đẳng, các hộ gia đình nghèo bị lôi cuốn theo cách sống của tầng lớp thượng lưu và có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn Kết quả
là mức đầu tư vào vốn nhân lực sẽ thấp và tăng trưởng kinh tế thấp Như vậy kết luận rút ra từ nghiên cứu này là bất bình đẳng sẽ làm tăng trưởng chậm lại
Khác với kinh nghiệm thu được từ các nước phát triển, nhiều nghiên cứu như Todaro (1998) cho rằng người giàu ở các nước đang phát triển được biết đến là chi phần lớn thu nhập của họ cho các mặt hàng xa xỉ được nhập khẩu, vàng, đồ trang sức, nhà ở đắt tiền hoặc tìm kiếm thiên đường an toàn ở nước ngoài cho các khoản tiết kiệm của họ Trên thực tế, tiết kiệm và đầu tư như vậy không làm tăng thêm các nguồn lực sản xuất của quốc gia, mà trái lại, chúng làm xói mòn đáng kể các tài nguyên quốc gia Với hành đó, nếu chiến lược phát triển
mà dẫn đến gia tăng nhanh bất bình đẳng về phân phối thu nhập sẽ tạo cơ hội để duy trì vị thế của nhóm người giàu, đồng thời gây tổn thất cho cả nền kinh tế Trong dài hạn, một chiến lược như vậy thường có tác dụng “phản tăng trưởng và phát triển”
Ngoài các trào lưu ở trên, lý thuyết liên kết của Benabou (1996) cung cấp một khuôn khổ mà ở đó tác động của tái phân phối lên tăng trưởng không nhất thiết là tuyến tính Có hai tác động ngược chiều nhau Tái phân phối sẽ tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáo dục ở một nước với thị trường vốn không hoàn hảo, và sẽ xấu nếu nó chỉ đơn thuần chuyển giao thu nhập từ người giàu sang người nghèo bởi vì nó làm giảm lợi tức từ đầu tư và nỗ lực của người giàu Do vậy, tăng trưởng là có liên kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối
và tái phân phối là có liên kết hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng
Như vậy, các lý thuyết đã đưa ra nhiều kênh mà qua đó bất bình đẳng thu nhập có thế tác động đến tăng trưởng và sự tác động này có thể diễn ra theo nhiều chiều Hơn nữa, nó cũng rất khó để xác định kênh nào sẽ có vai trò chi phối nếu chỉ sử dụng các lý thuyết và phân tích định tính Do vậy, để nghiên cứu mối
Trang 27quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập cần thiết phải xem xét các kênh tạo ra bất bình đẳng và ước lượng tác động của những kênh này đến tăng trưởng kinh tế
đi cùng với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn
Những nghiên cứu theo hướng này đã sử dụng số liệu về GDP thực tế bình quân đầu người, các thước đo bất bình đẳng thu nhập, và các biến điều kiện khác để khảo sát mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế GDP bình quân đầu người ban đầu của các quốc gia cũng được đưa vào với tư cách là biến điều kiện, bởi vì các nước có GDP bình quân đầu người thấp hơn thường tăng trưởng nhanh hơn so với các nước có thu nhập cao Ngoài ra, các biến điều kiện khác như trình độ học vấn, đầu tư vốn vật chất, những thay đổi tỷ giá thương mại, và các biến chính trị – xã hội (chẳng hạn chỉ số tham nhũng hay dân chủ) cũng được coi có tương quan với tăng trưởng kinh tế trong nhiều nghiên cứu khác
Các nghiên cứu đầu tiên của Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994), và Perrotti (1996) cho thấy các quốc gia có mức bất bình đẳng thấp hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn Đặc biệt, nghiên cứu của Persson
và Tabellini đã tìm ra bằng chứng ủng hộ cho mô hình kinh tế chính trị của họ
Trang 28Họ ước tính các phương trình hồi quy trên hai bộ số liệu – chuỗi số liệu lịch sử từ năm 1830 đến năm 1985 cho 9 quốc gia và chuỗi số liệu sau chiến tranh của 56 quốc gia từ 1960 đến 1985 Với các chuỗi lịch sử, hệ số cho tỷ lệ thu nhập của nhóm 20 phần trăm giàu nhất mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê Theo họ, kết quả này hàm ý bất bình đẳng thu nhập làm giảm tốc độ tăng trưởng do làm tăng áp lực phải phân phối lại Tuy nhiên, một trong những biến then chốt trong
mô hình kinh tế chính trị của họ là tỷ lệ dân số có quyền bỏ phiếu lại không có tác động đáng kể đến tăng trưởng như mô hình của họ dự đoán Với bộ số liệu sau chiến tranh,hệ số ước lượng cho tỉ lệ thu nhập của nhóm trung lưu (nhóm phần năm thứ ba) mang giá trị dương và ý nghĩa thống kê trong các nền dân chủ, nhưng không có ý nghĩa thống kê trong quốc gia phi dân chủ Họ giải thích điều này như một bằng chứng bổ sung ủng hộ mô hình của họ, bởi vì một phần thu nhập lớn hơn cho tầng lớp trung lưu có nghĩa làm giảm áp lực tái phân phối trong một nền dân chủ, nhưng có thể ít ảnh hưởng lên chính sách trong chế độ độc tài Nhìn chung, Persson và Tabellini kết luận rằng, “Bất bình đẳng có ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua kênh đầu tư, và hiệu ứng này chỉ hiện diện trong các nền dân chủ.”
Các kết quả của Persson và Tabellini về sự khác biệt giữa các nền dân chủ
và phi dân chủ đã bị thách thức bởi một số tác giả khác Alesina và Rodrik bác bỏ giả thuyết cho rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng là khác nhau giữa các nền dân chủ và phi dân chủ Họ cho rằng mô hình kinh tế chính trị không
dự đoán được sự khác biệt mang tính hệ thống giữa các nền dân chủ và phi dân chủ, bởi vì chế độ phi dân chủ cũng chịu những áp lực tương tự như các chính phủ dân chủ nhằm đáp ứng nhu cầu của tầng lớp trung lưu Họ cho rằng sự khác biệt giữa kết quả của họ và kết quả của Persson và Tabellini là do khác biệt trong cách đo lường bất bình đẳng và định nghĩa được sử dụng để xác định các nước dân chủ
Perotti cũng kết luận rằng dân chủ không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng Ông cho rằng ảnh hưởng khác biệt mà Persson
và Tabellini phát hiện xuất hầu hết các nền dân chủ là các nước có thu nhập cao
Trang 29và phi dân chủ là nước thu nhập thấp Hơn nữa, ông thấy có ít bằng chứng về mối liên kết ngược chiều giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm trung lưu và chi tiêu cho y
tế, an sinh xã hội, giáo dục hoặc thuế suất biên
Các nghiên cứu kinh tế lượng ban đầu kết luận rằng phân phối thu nhập bình đẳng hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu chéo giữa nhiều quốc gia có trình độ phát triển kinh tế và bất bình đẳng rất khác nhau Nghiên cứu đầu tiên toàn diện nhất dựa trên số liệu chéo quốc tế là của Perotti (1996) Ông đã xem xét chi tiết mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng phụ thuộc ra sao vào chính sách tài khóa, bất ổn xã hội và chính trị, và tính không hoàn hảo của thị trường vốn thông qua ảnh hưởng đến đầu tư cho vốn nhân lực, giáo dục và tỷ lệ sinh Kết luận tổng quát của ông là có mối liên kết mạnh giữa bất bình đẳng, bất
ổn xã hội và chính trị, và tăng trưởng kinh tế và xã hội công bằng hơn có tỷ lệ sinh thấp và tỷ lệ đầu tư cao cho giáo dục Cả hai đều được phản ánh trong tỷ lệ tăng trưởng cao hơn
Một vài năm sau khi các nghiên cứu trên công bố, Li và Zhou (1998), Barro (1999), và Forbes (2000) đã thách thức những kết quả này Li và Zhou sử dụng số liệu mảng từ 46 quốc gia và kết luận rằng bất bình đẳng thu nhập có mối tương quan dương, và thường có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, khi họ ước tính phương trình hồi quy số liệu chéo dựa trên tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ năm 1960 đến năm 1990 giữa 34 đến 42 quốc gia,
hệ số của chỉ số Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê như trong các nghiên cứu khác sử dụng số liệu chéo, giống như kết quả của Alesina và Rodrik
Vì vậy, họ cho rằng mối tương quan dương giữa bất bình đẳng và tăng trưởng trong các nghiên cứu trước đó là do sử dụng số liệu chéo có kết quả trái ngược với sử dụng số liệu mảng
Barro (1999) là một trong những người tiên phong trong các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng và nghiên cứu của ông là một thách thức lớn đối với các kết quả trước đó Barro đã sử dụng bộ số liệu của khoảng 100 quốc gia để ước tính một mô hình tăng trưởng cho các quốc gia đó cho 3 giai đoạn 10 năm Ông phát hiện mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và bất bình đẳng, được đo bằng hệ
Trang 30số Gini, là phi tuyến Đặc biệt, ông nhận thấy bất bình đẳng hơn đi cùng với tăng trưởng thấp hơn ở các nước thu nhập thấp và tăng trưởng cao hơn ở các nước thu nhập cao hoặc các nước phát triển Ông cũng phát hiện thấy hệ số của Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa thống kê trong toàn bộ mẫu bao gồm tất cả các quốc gia khi bỏ quan biến tỷ lệ sinh Như vậy, các quốc gia có tỷ lệ sinh cao hơn (thường
là các nước chậm phát triển) cũng có bất bình đẳng cao hơn và việc bỏ sót biến tỷ
lệ sinh trong các nghiên cứu trước đó có thể đã tạo ra sai lệch âm trong các ước lượng của họ về tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng
Forbes (2000) cũng đóng góp vào quan điểm xét lại mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng Chỉ giới hạn nghiên cứu số liệu mảng cho 45 quốc gia với với bộ số liệu về phân phối thu nhập có chất lượng tốt, và sử dụng phương pháp ước lượng tiên tiến có tính đến sự khác biệt không quan sát được giữa các quốc gia (điều này không được phản ánh trong các bộ số liệu thông thường về các biến điều kiện), bà phát hiện rằng “tăng 10 điểm hệ số Gini của một quốc gia có tương quan với 1,3 phần trăm tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn cho 5 năm tới.” Bà coi điều này biểu thị một “mối quan hệ ngắn hạn giữa bất bình đẳng
và tăng trưởng trong một quốc gia”, và rằng nó không “trực tiếp mâu thuẫn với kết luận trước đó về mối quan hệ ngược chiều giữa các quốc gia trong dài hạn”
Các nghiên cứu sử dụng số liệu quốc tế bao gồm nhiều quốc gia có các đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội rất khác nhau có thể không thật sự hữu ích cho phân tích thực nghiệm dựa trên số liệu mảng giữa các tỉnh về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Một số nghiên cứu gần đây đã khảo sát mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế giữa các bang hoặc giữa các tỷnh trong cùng một quốc gia Nhiều nhà nghiện cứu cho rằng
số liệu chéo giữa các bang tỏ ra ưu việt hơn so với số liệu chéo giữa các quốc gia
vì đồng nhất hơn Các quốc gia có sự khác nhau về cấu trúc nên số liệu rất khó so sánh Partridge (1997) đã nghiên cứu mối liên kết giữa bất bình đẳng và tốc
độ tăng trưởng giữa các bang của Hoa Kỳ trong ba thập kỷ từ năm 1960 đến năm
1990
Trang 31Nghiên cứu của ông bao gồm hai thước đo bất bình đẳng vào đầu của mỗi giai đoạn 10 năm – hệ số Gini tính theo thu nhập của các hộ gia đình trước thuế dựa trên số liệu điều tra dân số và tỷ trọng thu nhập của các nhóm phần năm thứ
ba (tầng lớp trung lưu) Kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra rằng cả hai thước đo bất bình đẳng có hệ số ảnh hưởng mang giá trị dương và có ý nghĩa thống kê đến tốc độ tăng trưởng, mặc dù hai thước đo bất bình đẳng có tương quan âm trong mẫu nghiên cứu của ông (tỷ trọng thu nhập cao hơn cho tầng lớp trung lưu thường ngụ ý một hệ số Gini thấp hơn) Vì vậy, bang có bất bình đẳng cao hơn (được đo bằng hệ số Gini) đi cùng với tốc độ tăng trưởng cũng cao hơn, nhưng kết quả này chỉ được thỏa mãn khi tỷ trọng thu nhập của nhóm trung lưu được giữ không thay đổi, và do đó phản ánh những tác động của sự gia tăng tỷ trọng thu nhập của các nhóm thu nhập cao nhất trên cơ sở giảm tỷ trọng thu nhập của các nhóm thu nhập thấp nhất
Frank (2009) giới thiệu một bộ dữ liệu mới, toàn diện về các thước đo bất bình đẳng cấp bang ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1945 đến 2004 Sau Chiến tranh Thế chiến II ở nhiều bang tỷ lệ thu nhập của nhóm dân cư giàu nhất khá ổn định trong một thời gian dài, sau đó bất bình đẳng thu nhập tăng lên đáng kể trong những năm 1980 và 1990 Kết quả từ mô hình thực nghiệm cho thấy về bản chất bất bình đẳng và tăng trưởng có mối quan hệ dương trong dài hạn và nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập được tập trung nhiều hơn vào tay những người giàu khi xã hội càng phát triển
Dahlby and Ferede (2013) xem xét mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế dựa trên bộ dữ liệu mảng giữa các tỉnh của Canada Nghiên cứu này tìm lời giải đáp cho câu hỏi phải chăng có một sự đánh đổi giữa các chính sách tái phân phối và tăng trưởng kinh tế, hay tái phân phối thu nhập có thể kích hoạt kinh tế tăng trưởng nhanh hơn Các tác giả đã tiến hành phân tích kinh tế lượng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế theo tỷnh ở Canada và ba thước đo khác nhau về bất bình đẳng thu nhập Họ phát hiện mối quan hệ giữa chúng không có ý nghĩa thống kê Các tác giả sau đó xem xét bằng chứng cho thấy việc tăng thuế suất biên đối với cá nhân có thu nhập cao cũng như tăng thuế
Trang 32thu nhập doanh nghiệp sẽ tạo ra chi phí đáng kể cho nền kinh tế trong khi không làm tăng nguồn thu về thuế Trừng phạt người có thu nhập cao là một cách tự hủy hoại, mặc dù cải thiện mạng lưới an sinh xã hội sẽ cung cấp cho người dân Canada nhiều hơn cơ hội để tiếp cận các dịch vụ này
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những kết quả không thống nhất và thậm chí trái ngược nhau Forbes (2000) phát hiện năm yếu tố có vai trò quan trọng giải thích cho những kết quả mâu thuẫn này: (i) sử dụng các biến khác nhau, (ii) các mẫu nghiên cứu khác nhau, (iii) chất lượng dữ liệu khác nhau, (iv) khoảng thời gian khác nhau và (v) sai lệch vì bỏ biến trong các nghiên cứu sử dụng số liệu chéo Bà kết luận rằng các lý do quan trọng nhất dẫn đến sự khác biệt là tính đặc thù quốc gia, sự khác biệt về thời gian nghiên cứu, sai lệch vì
bỏ biến và độ dài của thời kỳ được xem xét Mặt khác, Banerjee và Duflo (2003) cho rằng ảnh hưởng của bất bình đẳng đến tăng trưởng có dạng hình chữ U ngược theo nghĩa khi bất bình đẳng thu nhập còn ở mức thấp các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn bằng cách chấp nhận bất bình đẳng cao hơn, tuy nhiên bất bình đẳng thu nhập quá cao (vượt qua một ngưỡng nhất định) sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế
2.9 Các nghiên cứu trong nước về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế
Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng thu nhập và công bằng xã hội là những chủ đề được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm
Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới gồm David Dollar và các cộng
sự, trong báo cáo nghiên cứu “Economics Growth, Poverty and Household welfare” năm 2004 đã sử dụng một cơ sở dữ liệu dồi dào về kinh tế học vĩ mô và điều tra về hộ gia đình để phân tích các nội dung như: lý do thành công của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của hộ gia đình từ khi tiến hành đổi mới kinh tế đến năm 2000; triển vọng phát triển kinh
tế của Việt Nam; tác động của tăng trưởng kinh tế đến phúc lợi của hộ gia đình được đo lường thông qua các biến số như chi tiêu hộ gia đình cho tiêu dùng, y tế,
Trang 33giáo dục; hiệu quả của các chính sách của Chính phủ trong cuộc chiến chống đói nghèo
Đề tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế: Một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam” của Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005) đã phân tích một số yếu tố và khía cạnh nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu về chất lượng tăng trưởng của tổng thể nền kinh tế Việt Nam Các phân tích tập trung vào ba vấn đề liên quan tới chất lượng tăng trưởng, bao gồm: hình thái đầu tư vào hình thành tài sản vốn vật chất và vốn con người; nhận dạng mô hình tăng trưởng của Việt nam giai đoạn 1990-2003, đặc biệt chú trọng tới đóng góp của vốn con người và phân tích diễn biến bất bình đẳng về phân phối thu nhập cũng như ảnh hưởng của tăng trưởng và bất bình đẳng tới giảm tỷ lệ nghèo Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị Nghiên cứu có đưa ra bức tranh bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Viêt Nam, tuy nhiên khi chạy mô hình nghiên cứu mới chỉ dừng lại xem xét tác động bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế đến nghèo đói ở Việt Nam Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế đóng góp lớn vào giảm nghèo, trái lại bất bình đẳng làm tăng nghèo đói nhưng ở mức thấp hơn
Đề tài cấp Bộ mã số B2006-06-05 của Nguyễn Văn Công (2006) với tiêu
đề “Tác động của phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” đã nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế Đề tài đã xây dựng một mô hình chéo để kiểm định tác động của phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1992-2004 trong đó bất bình đẳng được đại diện bằng khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% người giàu nhất (Q1)
và 20% người nghèo nhất (Q5) cho từng tỉnh Các số liệu tổng hợp được lấy từ các cuốn Niên giám thống kê, còn các số liệu theo tỉnh được lấy từ bốn cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1992-93; 1997-98; 2002; và 2004 Kết quả cho thấy bất bình đẳng thu nhập có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Việc sử dụng tỷ lệ Q1/Q5 đại diện cho bất bình đẳng thu nhập của nghiên cứu này được coi là quá đơn giản vì không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư Bộ số liệu mà nghiên cứu sử dụng đã quá lạc hậu và
Trang 34không cập nhật được những thay đổi mạnh trong hình mẫu của bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ năm 2005 đến nay
Phạm Xuân Nam (2007) trong bài báo “Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, sau khi điểm qua những kết quả của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam và tác động xã hội của nó, đã bàn về những quan điểm và giải pháp cơ bản để có thể thực hiện được mục tiêu “kép” là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Về quan điểm, tác giả cho rằng quan điểm tổng quát của Đảng cộng sản Việt Nam “tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” cần phải cụ thể hoá thành những nội dung chủ yếu như tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội phải làm tiền đề và điều kiện cho nhau, cần khắc phục tàn dư của chủ nghĩa bình quân, đề cao vai trò của quản lý vĩ mô của Nhà nước và không thể tách rời yếu tố văn hoá trong phát triển Trên cơ sở quan điểm đó, tác giả kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu “kép”, đó là các chính sách
vĩ mô cần tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cơ hội tiếp cận một cách công bằng với các đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện phân phối theo lao động, theo đóng góp và theo hiệu quả kinh tế, cần có chính sách điều tiết và phân phối lại thu nhập, không chỉ qua phúc lợi xã hội mà cần mở rộng thành hệ thống chính sách an sinh xã hội với nhiều tầng nấc khác nhau
Lê Quốc Hội (2009) cũng có một số nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập như: “Tác động của tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập đến xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” và “Thách thức và giải pháp cho vấn đề bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong thời gian tới” Các nghiên cứu này đều là nghiên cứu định tính và hoặc chỉ mới nghiên cứu định lượng về tác động của tăng trưởng đến bất bình đẳng thu nhập chứ chưa tập trung xem xét tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Đề tài cấp nhà nước của Hoàng Đức Thân (2010) với tiêu đề “Quan điểm
và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta” đã phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ gắn kết giữa tăng
Trang 35trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó trong giai đoạn 1986-2010, đặc biệt chú trọng vào thời kỳ 10 năm (2001-2010); Xây dựng và đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong thời kỳ mới ở Việt Nam Các kết luận đưa ra đều dựa trên các phân tích định tính và mô tả thống kê
Tuy nhiên, những công trình trong nước về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế kể trên còn có những hạn chế sau:
Các công trình khoa học trong nước chủ yếu nghiên cứu định tính Cần
có nghiên cứu tổng hợp cả định tính và định lượng về mối liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Các công trình mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về bất bình đẳng Cần nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế mà trước hết là tác động của giữa bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu định lượng của Nguyễn Văn Công (2006) về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mới nghiên cứu cho giai đoạn 1992-2004, chưa cập nhật được tình hình mới khi Việt nam đã là thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới, đặc biệt giai đoạn suy giảm tăng trưởng kinh tế từ năm 2008 có tác động đến hình mẫu của mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
2.10 Khung phân tích
Từ những cơ sở lý thuyết xây dựng sơ đồ như sau:
Nguồn: Tác giả nghiên cứu
Phân phối thu nhập từ tài sản: